Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

Phân tích cơ sở khi quy định các điều kiện chi ngân sách nhà nước; thực trạng áp dụng các điều kiện chi ngân sách nhà nước và ý kiến cá nhân của em để khắc phục

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (172.54 KB, 19 trang )

Mở đầu
Ngân sách nhà nước (NSNN) là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong
một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Xung
quanh quỹ NSNN có hai hoạt động chủ yếu là thu và chi ngân sách. Để quản
lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm
của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng NSNN, tăng tích
lũy nhằm thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời
sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đặc biệt trong quá
trình hội nhập kinh tế, quốc tế như hiện nay thì việc xiết chặt các quy định về
điều kiện chi ngân sách là cần thiết. Chính vì vây em xin chọn đề bài “ Phân
tích cơ sở khi quy định các điều kiện chi ngân sách nhà nước; thực trạng
áp dụng các điều kiện chi ngân sách nhà nước và ý kiến cá nhân của em để
khắc phục những khó khăn trong quá trình áp dụng”. để làm bài tập học
kỳ của mình, để làm rõ hơn nữa vấn đề chi NSNN của nước ta hiện nay- trong
thời kỳ hội nhập sâu rộng.

1


Giải quyết vấn đề
1. Một số vấn đề chung về chi NSNN
1.1 Khái niệm:
- Chi NSNN là phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo dự
toán ngân sách đã được chủ thế quyền lực quyết định nhằm duy trì sự hoạt
động của bộ máy Nhà nước và bảo đảm nhà nước thực hiện được các chức
năng của mình.
- Luật NSNN 2002 cũng đã đưa ra khái niệm chi NSNN ở dạng liệt kê
tại khoản 2 Điều 2 như sau: “Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi
phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động


của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi
khác theo quy định của pháp luật.”.
1.2. Đặc điểm của chi NSNN:
Một là chi NSNN là hoạt động phân phối và sử dụng quỹ NSNN,
hoạt động này chỉ được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật và
theo dự toán NSNN do cơ quan quyền lực Nhà nước quyết định.
Điều 15 Luật NSNN 2002 quy định: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có
quyền quyết định về tổng số chi, cơ cấu, nội dung, mức động các khoản chi
NSNN và quyết định phân bổ ngân sách trung ương.”. Điều 25 Luật NSNN
2002 giao cho Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp quyền quyết định dự toán
chi ngân sách địa phương và quyết định phân bổ ngân sách cấp mình. Mọi
hoạt động chi ngân sách phải được thực hiện trên cơ sở các quyết định của
Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp.
Nội dung chi NSNN phải nằm trong bản dự toán NSNN hàng năm do
Quốc hội thông qua. Quốc hội là cơ quan quyền lực duy nhất có quyền quyết
định tổng số chi NSNN, bao gồm chi ngân sách trung ương và chi ngân sách
địa phương, tổng số chi và mức chi cho từng lĩnh vực cụ thể… Chi NSNN là
nội dung quan trọng, quyết định đến hiệu quả quản lý Nhà nước của bộ máy
Nhà nước, vì vậy, phải được thông qua theo nguyên tắc tập thể, tập trung trí
tuệ của tập thể những người đại diện cho các tầng lớp nhân dân và trải qua
một quy trình nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật. Quy trình này được
quy định cụ thể tại Chương IV Luật NSNN 2002, cụ thể: Thủ tướng Chính
2


phủ quyết định lập dự toán NSNN năm sau, trong đó có nội dung chi NSNN.
Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính ra quyết định
hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán NSNN… Trên cơ sở
quyết định của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn lập dự toán NSNN ở từng địa phương. Các cơ

quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc thu chi phải lập dự toán ngân sách
trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để cơ
quan quản lý cấp trên xem xét, tổng hợp, báo cáo cơ quan tài chính cùng cấp.
UBND cấp tỉnh lập dự toán ngân sách địa phương, báo cáo Thường trực
HĐND cấp tỉnh xem xét, cho ý kiến, gửi Bộ Tài chính và các cơ quan có liên
quan để tổng hợp, lập dự toán NSNN trình Chính phủ để Chính phủ trình
Quốc hội xem xét và quyết định thông qua bản dự toán.
Hai là chi NSNN được tiến hành bởi các chủ thể quyền lực gồm hai
nhóm:
+ Nhóm chủ thể đại diện cho Nhà nước thực hiện việc quản lý, cấp
phát, thanh toán các khoản chi NSNN. Đó là các cơ quan đại diện cho nhà
nước thực thi quyền hạn có liên quan tới việc xuất quỹ NSNN cho các mục
tiêu đã được phê duyệt. Nhóm chủ thể này gồm Bộ tài chính; Sở tài chính –
vật giá tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Phòng tài chính quận, huyện,
thị xã thuộc tỉnh, thành phố; Sở kế hoạch và đầu tư và Kho bạc nhà nước
(KBNN).
+ Nhóm chủ thể sử dụng NSNN. Đây là nhóm chủ thể được hưởng kinh
phí từ NSNN để trang trải các chi phí trong quá trình hoạt động của mình.
Nhóm chủ thể này rất đa dạng nhưng có thể phân thành ba loại chủ yếu gồm:
Các cơ quan nhà nước, kể cả các cơ quan hành chính thực hiện khoán biên
chế và kinh phí quản lý hành chính; Các đơn vị, kể cả đơn vị sự nghiệp có
thu; Các chủ dự án sử dụng kinh phí NSNN.
1.3. Phân loại chi NSNN:
Trong công tác quản lý NSNN, việc phân loại các khoản chi có ý nghĩa
quan trọng. Lựa chọn tiêu chí thích hợp để phân loại các khoản chi NSNN có
tác dụng hỗ trợ cho việc phân tích, đánh giá một cách chính xác, hiệu quả của
từng loại chi, từ đó có thể đưa ra những định hướng, những sửa đổi chính sách
chi NSNN một cách hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí NSNN.

3



Có nhiều cách phân loại các khoản chi NSNN khác nhau.
- Căn cứ vào mức độ định kỳ của các khoản chi có thể phân các khoản
chi ngân sách thành hai nhóm: Chi thường xuyên và chi không thường xuyên.
+ Chi thường xuyên là khoản chi nhằm thực hiện nhiệm vụ thường
xuyên của Nhà nước về quản lý các mặt của đời sống xã hội. Đây là những
khoản chi mang tính ổn định, định kỳ, lặp đi lặp lại và là khoản chi mang tính
tiêu dùng, vì vậy nó không có tính tích lũy. Những khoản chi này gồm: Chi
cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin,
văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ; chi cho hoạt
động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; chi cho các hoạt
động sự nghiệp kinh tế; chi cho quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội…
Chi thường xuyên theo định kỳ được bố trí kinh phí đều trong năm để chi.
+ Chi không thường xuyên là những khoản chi như: Chi đầu tư phát
triển kinh tế; chi trả nợ gốc và lãi khoản tiền do Chính phủ vay, chi viện trợ,
cho vay theo quy định của pháp luật, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của
trung ương/cấp tỉnh…
-Căn cứ vào các lĩnh vực hoạt động có sử dụng kinh phí ngân sách, các
khoản chi NSNN có thể phân chia thành chi phát triển; chia quản lý hành
chính; chi quốc phòng an ninh; chi cho giáo dục; chi về y tế.
Chi phát triển gồm những khoản chi không gắn với nghiệp vụ của nhà nước,
là các khoản chi nhằm duy trì phát triển các dịch vụ kinh tế và dịch vụ xã hội.
Như chi cho phát triển nông nghiệp và nông thôn, chi xây dựng các công trình
công cộng, choc ho phát triển thương mại, công nghiệp giao thong vận tải…
Chi quản lý hành chính gồm những khoản chi nhằm duy trì hoạt động của bộ
máy cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước cao cấp.
Chi cho quốc phòng, an ninh gồm những khoản chi để xây dựng và củng cố
lực lượng vũ trang, để thực hiện công tác bảo vệ tri an trong nước.
Chi cho hoạt động giáo dục, đào tạo gồm các khoản chi nhằm duy trì và

phát triển hoạt động giáo dục đào tạo.
Chi cho y tế là các khoản chi để duy trì và phát triển dịch vụ y tế.
2. Cơ sở quy định điều kiện chi NSNN theo quy định của pháp luật hiện
hành

4


* Điều kiện chi NSNN được hiểu là những đòi hỏi, yêu cầu mà pháp
luật đặt ra mà chỉ khi đáp ứng đầy đủ những yêu cầu, đòi hỏi đó, hoạt động
chi ngân sách mới được thực hiện.
2.1. Các điều kiện chi NSNN theo quy định của pháp luật hiện hành
và một số nhận xét, đánh giá:
Các điều kiện chi NSNN được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 5 Luật
NSNN và hướng dẫn tại Điều 51 Nghị định 60/2003/NĐ-CP như sau:
“Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện
sau đây:
1. Đã có trong dự toán ngân sách nhà nước được giao, trừ các trường
hợp sau:
a) Dự toán ngân sách và phân bổ dự toán ngân sách chưa được cơ
quan có thẩm quyền quyết định theo quy định tại Điều 45 của Nghị định này;
b) Chi từ nguồn tăng thu so dự toán được giao và từ nguồn dự phòng
ngân sách theo quyết định của cấp có thẩm quyền;
2. Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định;
3. Đã được Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy
quyền quyết định chi;
4. Ngoài các điều kiện quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều này;
trường hợp sử dụng vốn, kinh phí ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng cơ
bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải
qua đấu thầu hoặc thẩm định giá thì còn phải tổ chức đấu thầu hoặc thẩm

định giá theo quy định của pháp luật;
5. Các khoản chi có tính chất thường xuyên được chia đều trong năm
để chi; các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời
điểm như đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi
có tính chất không thường xuyên khác phải thực hiện theo dự toán quý được
đơn vị dự toán cấp I giao cùng với giao dự toán năm. ”.
2.2.1. Khoản chi dự định thực hiện phải có trong dự toán ngân sách
được giao:
Lập dự toán NSNN là quá trình xây dựng và quyết định dự toán thu, chi
ngân sách của Nhà nước trong thời hạn 1 năm. Thực chất bản dự toán NSNN
là sự phản ánh những chương trình, kế hoạch hành động hay chính sách của

5


Nhà nước trong một tài khóa xác định. Hàng năm, các cơ quan đơn vị có sử
dụng NSNN phải lập dự toán trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Dự toán
NSNN của cả nước được Chính phủ tổng hợp trình Quốc hội quyết định.
Quốc hội tiến hành phân bổ dự toán ngân sách trung ương; HĐND các cấp
phân bổ dự toán ngân sách của cấp mình. Dự toán chi NSNN hàng năm được
lập dựa vào các căn cứ sau: Nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, cơ quan ngang bộ,
các cơ quan khác ở trung ương và các cơ quan nhà nước ở địa phương. Cơ
chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp và tỷ lệ % phân
chia các khoản thu và mức bổ sung cho ngân sách cấp dưới (trong năm tiếp
theo của thời kỳ ổn định). Lập NSNN dựa trên các chính sách, chế độ, tiêu
chuẩn, định mức hiện hành về thu chi NSNN như chi tiền lương, sinh hoạt phí
cho cán bộ… Đối với các đơn vị thụ hưởng ngân sách, viêc lập dự toán ngân
sách cho ngân sách của cơ quan phải dựa vào số kiểm tra về dự toán ngân
sách được thông báo.
Việc pháp luật quy định các khoản chi NSNN muốn được thanh toán,

chi trả phải có trong dự toán ngân sách được giao là phù hợp bởi mọi nhu cầu
chi dự kiến cho năm kế hoạch phải được xác định trong dự toán kinh phí từ cơ
sở thông qua các bước xét duyệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền từ thấp
đến cao. Chỉ sau khi dự toán chi đã được Quốc hội xét duyệt và thông qua
mới trở thành căn cứ chính thức để phân bổ số chi cho mỗi ngành, mỗi cấp.
Xét ở góc độ pháp lý, khoản kinh phí đã được ghi trong dự toán chi NSNN
thể hiện cam kết thanh toán của Nhà nước đối với các đơn vị sử dụng ngân
sách. Dựa trên cam kết này, các đơn vị sử dụng ngân sách có quyền đòi hỏi
Nhà nước phải cấp đủ cho mình số kinh phí mà Nhà nước đã cam kết với điều
kiện đơn vị sử dụng ngân sách chứng minh được rằng họ có đầy đủ những
điều kiện được cấp ngân sách theo quy định của pháp luật.
Đây là điều kiện đầu tiên mà khoản chi phải thỏa mãn để có thể được
thanh toán từ quỹ NSNN. Có thể thấy rằng, đây chính là điều kiện ở cấp trung
ương đối với các khoản chi bởi nó quy định khoản chi đó phải nằm trong dự
toán ngân sách - đạo luật ngân sách thường niên mà chỉ cơ quan lập pháp cao
nhất là Quốc hội mới có quyền thông qua. Đối với HĐND các cấp, căn cứ vào
nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao và tình hình thực tế tại địa
phương quyết định dự toán chi ngân sách địa phương, quyết định điều chỉnh

6


dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết. Quy định này đưa
ra nhằm đảm bảo các khoản dự định chi sẽ phù hợp với tổng thể các khoản
chi khác, đảm bảo cân đối được NSNN cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội sao cho phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội mà Nhà
nước đề ra trong năm ngân sách.
Bên cạnh đó, việc quy định điều kiện chi NSNN là phải có trong dự
toán ngân sách được giao đã tạo ra tính công khai trong hoạt động chi ngân
sách, bởi tất cả đã có trong bản dự toán ngân sách được giao, những đơn vị
nào đủ điều kiện là đã có thể được cấp kinh phí từ ngân sách. Từ đó, tránh

được những khoản chi bất minh, chi không rõ mục đích, gây thất thoát lớn
cho quỹ NSNN.
Tuy nhiên, điều kiện này cũng có một số ngoại lệ, quy định rõ tại Điều
52, 59 Luật NSNN 2002 và Điều 45 Nghị định 60/2003/NĐ-CP.
- Ngoại lệ thứ nhất là trong trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán
ngân sách và phương án phân bổ ngân sách chưa được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định thì cơ quan tài chính các cấp được phép tạm cấp kinh
phí cho các nhu cầu không thể trì hoãn được cho tới khi dự toán ngân sách và
phương án phân bổ ngân sách được quyết định. Mức tạm cấp hàng tháng tối
đa không quá mức chi bình quân 01 tháng của năm trước, Chi nghiệp vụ phí
và công vụ phí… Đây thực chất là việc Nhà nước đưa ra một phương án có
tính bổ sung nhằm tạo sự linh hoạt trong hoạt động của các chủ thể sử dụng
ngân sách trong tình thế cấp bách nhưng chưa có dự toán ngân sách, đảm bảo
ứng phó kịp thời với các trường hợp xảy ra ngoài dự kiến, tạo điều kiện để
các chủ thể sử dụng ngân sách có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ được
giao. Tuy nhiên, các chủ thể được tạm cấp kinh phí phải đảm bảo hoàn trả
ngay khi dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách được quyết định, nguồn vốn
đã được chuyển về. Đây là quy định thể hiện sự linh hoạt của các nhà làm
luật, tạo điều kiện để việc thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng thụ hưởng
ngân sách không bị gián đoạn.
- Ngoại lệ thứ hai là trong quá trình chấp hành NSNN, có sự thay đổi
về thu chi, khoản chi từ nguồn tăng thu so với dự toán được giao và từ nguồn
dự phòng ngân sách theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Nguồn tăng thu
là nguồn thu phát sinh tăng thêm, nằm ngoài dự toán ngân sách vì vậy chi từ

7


khoản này cũng không thể nằm trong dự toán ngân sách. Chi từ nguồn tăng
thu ở cấp ngân sách nào sẽ do cơ quan có thẩm quyền của cấp ngân sách đó

quyết định. Số tăng thu này sẽ được sử dụng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ,
tăng chi đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ tài chính, tăng dự phòng ngân
sách. Còn các khoản chi từ nguồn dự phòng ngân sách được sử dụng trong
trường hợp có nhu cầu chi đột xuất ngoài dự toán ngân sách. Khoản chi ngoài
dự toán này sẽ giúp giải quyết kịp thời vấn đề phát sinh đột xuất ngoài dự
kiến. Trường hợp có nhu cầu chi đột xuất ngoài dự toán nhưng không thể trì
hoãn được mà dự phòng ngân sách không đủ đáp ứng, Thủ tướng Chính phủ,
Chủ tịch UBND phải sắp xếp lại các khoản chi trong dự toán được giao hoặc
sử dụng các nguồn dự trữ để đáp ứng nhu cầu chi đột xuất đó.
Tóm lại, đây chính là điều kiện đầu tiên, cốt lõi và quan trọng nhất mà
khoản chi cần thỏa mãn để có thể được cấp ngân sách.
2.2.2. Khoản chi dự định thực hiện phải đúng chế độ, tiêu chuẩn,
định mức do cấp có thẩm quyền quyết định:
Đây là điều kiện thứ hai mà một khoản chi cần phải đáp ứng để được
cấp ngân sách. Mỗi lĩnh vực chi, mỗi khoản chi mang những điểm đặc thù
riêng có, vì vậy, không thể có một tỷ lệ dự toán chi chung cho tất cả các
khoản chi, các lĩnh vực chi. Các chủ thể lập dự toán NSNN khi đưa ra bản dự
toán với những khoản phân bổ ngân sách đã tính toán rất kỹ đến đặc thù từng
lĩnh vực chi và hơn thế là chiến lược kinh tế - xã hội đã được hoạch định. Vì
vậy, các khoản chi phải phù hợp với chiến lược kinh tế - xã hội đã được xây
dựng. Do đó, mỗi lĩnh vực được quy định một chế độ, tiêu chuẩn, định mức
chi khác nhau. Ví dụ: Từ năm 2001 đến nay, hàng năm, Nhà nước dành 2%
tổng chi ngân sách cho lĩnh vực khoa học – công nghệ; đối với lĩnh vực giáo
dục là 20% tổng chi; hơn 10% tổng chi là tỷ lệ dành cho an ninh quốc
phòng...
Nhà nước ban hành các chế độ, tiêu chuẩn, định mức về chi ngân sách,
tạo cơ sở để quản lý chi ngân sách một cách khoa học và thống nhất. Việc xây
dựng các định mức, tiêu chuẩn, chế độ phải căn cứ vào các văn bản pháp luật
và phải dựa trên con số liên quan trên thực tế. Ví dụ: Tiêu chí xây dựng định
mức: Đầu biên chế đối với quản lý hành chính. Đầu dân số các loại sự

nghiệp. Sự nghiệp giáo dục, đào tạo: Đầu học sinh. Sự nghiệp y tế: Đầu

8


giường bệnh, đối với chữa bệnh. Ngoài ra còn phân vùng và một số tiêu chí
phụ như tỷ lệ chi cho con người và chi cho hoạt động. Thủ tướng Chính phủ
vừa ký Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ban hành Định mức phân bổ dự toán
chi thường xuyên ngân sách nhà nước áp dụng cho năm ngân sách 2011 - năm
đầu của thời kỳ ổn định ngân sách mới. Theo đó, định mức phân bổ dự toán
chi quản lý hành chính cho khối cơ quan hành chính từ 19-30 triệu đồng/biên
chế/năm (tùy thuộc vào số biên chế của cơ quan). Đối với khối các cơ quan
Tư pháp, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ, định mức phân bổ năm
2011 là 30 triệu đồng/biên chế/năm).
Điều kiện này đã đặt ra một giới hạn cho các khoản chi dự định thực
hiện, ràng buộc chúng luôn phải nằm trong định mức đã được xác định trong
dự toán. Việc chi NSNN theo định mức, chế độ, tiêu chuẩn đã tạo ra sự công
bằng trong việc sử dụng NSNN giữa các ngành, địa phương, hạn chế tình
trạng sử dụng ngân sách không đúng mục đích, gây thất thoát, lãng phí; đảm
bảo chỉ đủ, chi đúng, hạn chế việc chi quá mức rồi lại xin cấp thêm. Thêm vào
đó, việc quy định rõ chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi cũng sẽ tạo điều kiện
để các cơ quan có nhiệm vụ giám sát, kiểm soát ngân sách có căn cứ phát hiện
và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm trong sử dụng quỹ NSNN.
Tuy nhiên, việc quy định định mức cho các khoản chi ngân sách có thể
làm giảm tính chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách, hơn nữa có thể làm
xuất hiện tình trạng các đơn vị sử dụng ngân sách chỉ quan tâm chi cho hết số
ngân sách đã được phân bổ mà không quan tâm đến hiệu quả của khoản chi
đó. Thêm vào đó, việc xác định các định mức, tiêu chuẩn, chế độ sao cho phù
hợp là một vấn đề rất cần được quan tâm theo dõi và có những điều chỉnh,
thay đổi sao cho phù hợp với tình hình đất nước từng giai đoạn, thời kỳ nhất

định.
2.2.3. Khoản chi dự định thực hiện phải được Thủ trưởng đơn vị sử
dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định chi:
Khi đã đáp ứng đủ hai điều kiện trên thì vấn đề còn lại là ra quyết định
chi. Đây có thể coi là điều kiện đủ để một khoản chi NSNN có thể được thực
hiện trên thực tế. Một khoản chi đã nằm trong dự toán NSNN, đã đúng với
chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quyết định nhưng nếu

9


không được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền
quyết định chi thì khoản chi đó cũng không thể thực hiện được.
Thủ trưởng đơn vị là người đứng đầu một cơ quan, là người điều hành,
chịu trách nhiệm về tình hình hoạt động của toàn đơn vị. Vì thế, thủ trưởng
đơn vị là người nắm rõ mọi vấn đề liên quan đến tài chính của đơn vị như
khoản chi nào là cần thiết và phải chi như thế nào cho hợp lý. Quy định này
không chỉ đảm bảo quyền quản lý của những người đứng đầu đơn vị sử dụng
ngân sách mà còn đảm bảo cho hoạt động chi được tiến hành đúng, đủ và hiệu
quả. Không những thế, quy định này cũng góp phần tăng cường tính sáng tạo,
tự chủ của thủ trưởng các đơn vị trong việc cân nhắc và đưa ra những quyết
định chi sao cho phù hợp với tình hình của đơn để đạt được hiệu quả cao bởi
nếu như quyết định chi sai, chi không đúng mục đích làm thất thoát NSNN thì
người phải chịu trách nhiệm ở đây chính là thủ trưởng cơ quan hoặc người
được thủ trưởng ủy quyền quyết định chi.
Trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách trong việc sử
dụng NSNN được quy đỉnh rất rõ tại khoản 4 Điều 52 Nghị định
60/2003/NĐ-CP. Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách: “(a) Quyết định chi
đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và trong phạm vi dự toán được cấp có
thẩm quyền giao; (b) Quản lý, sử dụng ngân sách và tài sản nhà nước theo

đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức; đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả.
Trường hợp vi phạm, tuỳ theo tính chất và mức độ, sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt
hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật. ».
Đối với những khoản chi do cơ quan tài chính cấp phát trực tiếp thì
quyết định chi là lệnh chi tiền của cơ quan tài chính. Đối với các khoản chi cơ
quan tài chính không cấp phát trực tiếp thì khi có nhu cầu chi, đơn vị sử dụng
ngân sách lập và gửi KBNN giấy rút dự toán NSNN cùng với quyết định chi
do thủ trưởng đơn vị ký.
2.2.4. Một số điều kiện cụ thể khác:
* Khoản chi dự định thực hiện phải có đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán đầy
đủ:
Đây là một điều kiện cụ thể được quy định tại Thông tư 79/2003/TT-BTC
về việc hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN

10


qua KBNN. Theo đó, các khoản chi dự định thực hiện phải có đủ hồ sơ,
chứng từ thanh toán hợp lệ. Tùy theo tính chất của từng khoản chi mà hồ sơ,
chứng từ thanh toán được quy định khác nhau.
Ví dụ: Đối với bảng chi thanh toán cá nhân (như chi tiền lương,
thưởng) thì hồ sơ, chứng từ bao gồm: Bảng đăng ký biên chế, quỹ lương đã
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phế duyệt; danh sách những người
hưởng lương, phụ cấp lương; bảng tăng giảm biên chế và quỹ tiền lương được
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Dù quy định này không phải là điều kiện chính của chi NSNN nhưng rõ
ràng là một điều kiện cần thiết bởi nó tạo cơ sở pháp lý chắc chắn cho việc
thực hiện các khoản chi trên thực tế, giúp hoạt động này được tiến hành chính
xác, dễ dàng bởi đã có đủ hóa đơn, chứng từ kèm theo. Đặc biệt, quy định này

cũng khuyến khích các đơn vị sử dụng ngân sách hình thành thói quen sử
dụng hóa đơn, chứng từ khi thực hiện một khoản chi ngân sách để hoạt động
này được thực hiện dễ dàng, minh bạch, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thống kê, điều tra, nắm bắt tình hình tài chính của đơn vị.
* Đối với trường hợp sử dụng vốn, kinh phí NSNN để đầu tư xây dựng cơ
bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải
qua đấu thầu hoặc thẩm định giá thì trước khi khoản chi được thực hiện, còn
phải tổ chức đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật (khoản
4 Điều 51 Nghị định 60/2003/NĐ-CP):
Đây chính là khoản chi hành chính đảm bảo cho hoạt động thường
xuyên của bộ máy Nhà nước. Quy định này nhằm đảm bảo cho hoạt động chi
thường xuyên được chi đúng, chi đủ bởi việc tổ chức đấu thầu hoặc định giá
tài sản với mục đích xác định giá trị thực sự của tài sản sẽ tạo cơ sở để thực
hiện khoản chi một cách minh bạch, chính xác, tránh trường hợp đơn vị báo
giá cả không rõ ràng, mơ hồ để tham ô, dẫn đến thất thoát NSNN.
*Các khoản chi có tính chất thường xuyên được chia đều trong năm để
chi; các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời
điểm như đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi
có tính chất không thường xuyên khác phải thực hiện theo dự toán quý được
đơn vị dự toán cấp I giao cùng với giao dự toán năm (khoản 5 Điều 51 NĐ
60/2003/NĐ-CP):

11


Quy định này được đưa ra nhằm đảm bảo cho hoạt động chi được thực
hiện hợp lý, phù hợp với đặc tính của từng loại chi ngân sách khác nhau. Đối
với những khoản chi có tính chất thường xuyên, quy định này đảm bảo cho
thực hiện chi một cách đầy đủ và đồng đều, đáp ứng được nhu cầu quản lý bộ
máy Nhà nước. Đối với những khoản chi có tính chất không thường xuyên thì

thực hiện chi theo dự toán quý do đơn vị dự toán cấp I giao để đảm bảo chi
đúng, chi hiệu quả.
3. Thực tiễn áp dụng các điều kiện chi NSNN nước ta hiện nay
3.1. Những thành tựu:
Việc các đơn vị sử dụng NSNN có tuân thủ một cách nghiêm chỉnh các quy
định của pháp luật về điều kiện chi ngân sách hay không có ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả của hoạt động chi NSNN. Trong những năm vừa qua, thực
hiện đúng các quy định của Luật NSNN về điều kiện chi NSNN đồng thời với
việc thực hiện các chính sách tài khóa của Chính phủ, hoạt động chi NSNN đã
đạt được những thành tựu đáng kể. Theo Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện
NSNN năm 2012 của Bộ Tài chính, nhìn chung, hoạt động chi NSNN đã
tương đối đảm bảo được các điều kiện cơ bản của chi ngân sách theo luật
định. Lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế về cơ bản
được bảo đảm,kinh tế vĩ mô có bước chuyển biến tích cực, nhờ những giải
pháp chỉ đạo điều hành quyết liệt, lạm phát đã từng bước được kiềm chế, chỉ
số giá tiêu dùng (CPI) đã giảm dần từ quý III.Tình hình tiền tệ, tín dụng và
cán cân thanh toán quốc tế được kiểm soát. Tổng phương tiện thanh toán tăng
12,37% (kế hoạch là 15 - 16%). Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế tăng
14,41% (kế hoạch là dưới 20%). Cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tích
cực, tập trung ưu tiên cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, các lĩnh vực sản
xuất và xuất khẩu. Quán triệt thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, tuân thủ
nghiêm ngặt các điều kiện chi NSNN, nước ta đã phần nào kiềm chế được tỷ
lệ lạm phát ở những tháng cuối năm, giảm bớt được khó khăn cho người dân
lao động; tập trung được nguồn lực NSNN để chủ động phòng, chống, khắc
phục hậu quả của thiên tai, dịch bệnh; ổn định kinh tế vĩ mô.
Năm 2012, tình hình kinh tế trong nước và thế giới dần đi vào ổn định và đã
có những chuyển biến tích cực, tạo động lực để tăng thu NSNN. Thu ngân
sách nhà nước tăng 18,4%, chi ngân sách nhà nước tăng 13,8% so với dự

12



toán. Dự toán chi NSNN năm 2012 là 606.331 tỷ đồng. Bội chi ngân sách giữ
ở mức 111.500 tỷ đồng, bằng 4,4% GDP thực hiện(giảm 0,9% so với dự
toán). Dư nợ công, dư nợ Chính phủ, dư nợ nước ngoài của quốc gia được
kiểm soát, bảo đảm trong giới hạn an toàn. Thực hiện Nghị quyết số 11/NQCP của Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương đã rà soát, điều chuyển 81,5
nghìn tỷ đồng vốn đầu tư phát triển để tập trung cho các dự án quan trọng, cấp
bách, có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng. Giải ngân vốn ODA đạt 3,65
tỷ USD, tăng 3% so với năm 2011. Kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt 96,9 tỷ
USD, tăng 34,2% so với năm 2011(số đã báo cáo Quốc hội là 31,6%). Nhập
siêu 9,84 tỷ USD bằng 10,16% tổng kim ngạch xuất khẩu (số đã báo cáo là
10,5%), là mức thấp nhất trong nhiều năm qua. Trong điều kiện thị trường
khó khăn, giá cả biến động, kết quả đó là sự cố gắng lớn.
3.2. Một số hạn chế, bấp cập và nguyên nhân:
3.2.1. Một số hạn chế, bất cập trong việc thực hiện các quy định của pháp
luật về điều kiện chi NSNN:
- Thứ nhất, bội chi NSNN và tình trạng nhiều khoản chi vượt quá dự
toán đã làm giảm ý nghĩa của hoạt động lập và phê chuẩn dự toán NSNN.
Mặc dù, do thực hiện các chính sách chống suy giảm kinh tế, bảo đảm an
sinh xã hội đã gia tăng sức ép chi ngân sách so với dự toán, nhưng Ủy ban Tài
chính – Ngân sách cũng đánh giá, có một số khoản chi vượt dự toán lớn đã
làm mất ý nghĩa của việc chấp hành dự toán chi. Tiết kiệm chi thường xuyên
chưa triệt để, chi quản lý hành chính vẫn vượt dự toán là một hạn chế cần
khắc phục. Qua giám sát cho thấy, quản lý chi ngân sách chưa thật chặt chẽ,
thanh quyết toán chưa nghiêm, còn để xảy ra vụ việc vi phạm, lãng phí, tiêu
cực.
Tổng kết lại, chi NSNN 5 năm 2006 - 2010 ước tăng 480.000 tỷ đồng
so với chỉ tiêu đề ra. Tốc độ tăng chi bình quân hàng năm đạt 19,8%/năm, cao
hơn chỉ tiêu đề ra (tăng 11,2%/năm). Quy mô chi NSNN năm 2010 tăng 2,5
lần so với năm 2005. Ủy ban Tài chính – Ngân sách cho rằng, xu thế chi vượt

dự toán lớn đã làm giảm ý nghĩa của việc lập dự toán và phê chuẩn dự toán,
thể hiện việc chấp hành kỷ luật chi ngân sách chưa nghiêm.
- Thứ hai: Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN còn thiếu, chưa
tương xứng với tình hình thực tế, gây khó khăn trong việc cấp phát, kiểm tra,

13


kiểm soát trong chi NSNN. Ví dụ: Hàng năm, Quốc hội phân bổ 2% tổng chi
NSNN cho lĩnh vực khoa học - công nghệ nhằm đẩy mạnh nghiên cứu và áp
dụng thành tựu khoa học để phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu ngày càng cao về hàm lượng khoa học công
nghệ trong sản phẩm, dịch vụ để tạo thế cạnh tranh trên thị trường thì tỷ lệ
đầu tư cho nghiên cứu và áp dụng khoa học – công nghệ vào đời sống nói
chung và sản xuất nói riêng như vậy là quá thấp. Điều này gây ảnh hưởng
không nhỏ cho sự phát triển kinh tế, đặc biệt là ngành ngoại thương của Việt
Nam. Còn đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo, hàng năm được dành 20% tổng
NSNN nhưng hiệu quả sử dụng ngân sách vẫn không cao.
4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
của pháp luật về điều kiện chi NSNN trong giai đoạn hiện nay
4.1. Với điều kiện khoản chi dự định thực hiện phải có trong dự toán
ngân sách được giao:
- Hoàn thiện các quy định của pháp luật về quy trình lập, phê duyệt,
chấp hành, quyết toán NSNN. Đây là những khâu quan trọng trong quá trình
NSNN. Luật NSNN đã có những quy định khá rõ ràng về thời hạn, yêu cầu,
nội dung và các trình tự, thủ tục thực hiện lập dự toán NSNN. Tuy nhiên, thực
tiễn thực hiện đã cho thấy những quy định này bộc lộ nhiều bất cấp, đòi hỏi
phải có sự sửa đổi, hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu quản lý. Điều này là một
đảm bảo để thực hiện tốt điều kiện đầu tiên của chi NSNN, giúp xây dựng
được những bản dự toán ngân sách với những khoản chi hợp lý, phù hợp với

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước từng thời kỳ, từng giai
đoạn.
- Cơ cấu lại các khoản chi NSNN cho phù hợp, theo kịp với tình hình
kinh tế - xã hội. Trong những năm gần đây, chi đầu tư phát triển có xu hướng
tăng. Tuy nhiên, thực tiễn ở nhiều nước phát triển cho thấy, cho cho đầu tư
phát triển phải là số chi huy động từ nhiều nguồn trong xã hội chứ không chỉ
dựa vào NSNN. Nếu chỉ trông chờ vào ngân sách thì khoản chi vừa hạn hẹp,
có khi chậm giải ngân, vừa không hiệu quả, làm ảnh hưởng đến tiến độ cũng
như chất lượng quá trình chi. Chi ngân sách phải cần được thực hiện theo
quan điểm phải gắn liền với việc xác định đúng đắn cơ cấu chi tối ưu, có tỷ

14


trọng hợp lý giữa chi đầu tư phát triển với chi thường xuyên, chi trả nợ, chi dự
phòng…
- Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp lập dự toán NSNN để tránh
tình trạng nơi thì chồng chéo về thẩm quyền, có nơi như lại không có cơ quan
lập dự toán (đặc biệt là vùng sâu, vùng xa).
4.2. Với điều kiện về chế độ, tiêu chuẩn, định mức của khoản chi:
- Hoàn thiện các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN
cho từng lĩnh vực, từng khoản chi cụ thể. Cần thiết phải ban hành những văn
bản cụ thể hóa các định mức chi để các đơn vị lập dự toán có cơ sở để xây
dựng dự toán đầy đủ, đúng và theo sát tình hình thực tiễn; các cơ quan có
thẩm quyền kiểm tra, kiểm soát có căn cứ để giám sát, phát hiện và xử lý sai
phạm. Các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi phải liên tục được xem xét và
điều chỉnh theo kịp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội đất nước và nhu
cầu sử dụng ngân sách của mỗi ngành, lĩnh vực, tránh tình trạng nơi cần thì
thiếu, nơi được chi nhiều thì sử dụng kém hiệu quả.
- Tăng cường cơ chế giám sát của các cơ quan có thẩm quyền đối với

việc sử dụng ngân sách trong định mức. Ngoài việc giám sát ngân sách có
được sử dụng đúng trong định mức hay không còn phải kiểm tra được ngân
sách được sử dụng như thế nào, đặc biệt là với các khoản chi thường xuyên.
4.3. Với điều kiện về quyết định chi của Thủ trưởng đơn vị sử dụng
ngân sách hoặc người được ủy quyền:
- Những người quyết định chi NSNN đòi hỏi phải có năng lực nghề
nghiệp cao, có trách nhiệm với công việc, trong việc chi phải đảm bảo tính
minh bạch rõ ràng, hóa đơn chứng từ hồ sơ đầy đủ, quyết định chi rõ ràng…
- Nâng cao mức độ tham gia, kiểm tra giám sát của nhân dân đối với
hoạt động chi ngân sách để các đơn vị sử dụng ngân sách có ý thức hơn trong
việc sử dụng nguồn vốn được cấp, đảm bảo đủ các điều kiện chi để chi đúng,
chi đủ, chi hợp pháp.
- Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi chặt chẽ để các chủ thể sử dụng ngân
sách chấp hành nghiêm túc các điều kiện chi trong hoạt động chi ngân sách.
Có chế tài tương xứng đối với những đơn vị sử dụng ngân sách không chấp
hành tốt các điều kiện chi NSNN theo luật định. Xây dựng chế tài xử lý đối
với các cá nhân có hành vi vi phạm điều kiện chi NSNN.

15


4.4. Với các điều kiện cụ thể khác:
- Hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế độ hóa đơn, chứng từ
trong giao dịch. Bổ sung những quy định liên quan đến việc bắt buộc sử dụng
hóa đơn trong một số giao dịch có giá trị nhỏ nhưng quan trọng và thiết yếu.
Đồng thời, đẩy mạnh hoạt động thanh toán qua ngân hàng thông qua các
chính sách khuyến khích, hỗ trợ các đơn vị sử dụng ngân sách sử dụng các
phương thức thanh toán qua thẻ, ủy nhiệm chi, thư tín dụng… để hoạt động
thanh toán được an toàn và đảm bảo, hạn chế được sự phức tạp của chế độ
hóa đơn, chứng từ.

- Xây dựng và giao nhiệm vụ cho cơ quan có thẩm quyền riêng để thực
hiện các thủ tục đấu thầu mua sắm, đầu tư có liên quan đến các khoản chi
NSNN để chuyên biệt hóa thủ tục và chuyên môn hóa hoạt động, làm cho việc
chi ngân sách trong trường hợp này được tiến hành dễ dàng và thuận tiện
nhất, tránh mất thời gian và hạn chế những sai sót trong hồ sơ do các đơn vị
sử dụng ngân sách chưa nắm rõ luật.
- Chế độ tạm ứng cần được thực hiện nhanh chóng đối với những
trường hợp cần chi cho các khoản thiết yếu phát sinh trong đầu tư xây dựng
cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi có tính chất không thường
xuyên khác nhằm đảm bảo hoạt động ổn định của các đơn vị sử dụng NSNN.

Kết luận
Những điều kiện chi NSNN được quy định nhằm đảm bảo cho hoạt
động chi ngân sách được minh bạch, chính xác, hiệu quả, phù hợp với các
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và duy trì hoạt động ổn định của bộ máy
Nhà nước. Tình hình thực hiện chi NSNN những năm qua đã cho thấy những
16


bước tiến rõ rệt trong hoạt động này nhờ tuân thủ các điều kiện chi theo luật
định. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, trong đó đặc biệt chú ý đến việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành liên quan đến các điều kiện chi ngân
sách sẽ là động lực lớn để thúc đẩy hoạt động chi đạt được hiểu qua cao, giảm
bội chi ngân sách một cách hiệu quả, tăng hiệu quả của nền tài chính công
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình luật ngân sách Nhà nước, Trường Đại học Luật Hà Nội.
2. Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc
hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


17


3. Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06?2003 của Chính phủ - Quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành luật Ngân sách Nhà Nước
4. Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 –Hướng dẫn thực hiện Nghị
định 60 của Chính phủ.
5. Dự toán chi ngân sách Nhà nước theo lĩnh vực năm 2012
6. Dự toán chi ngân sách Nhà nước, Chi ngân sách trung ương, Ngân sách địa
phương theo cơ cấu chi năm 2012
7. />
18


MỤC LỤC

19



×