Tải bản đầy đủ (.doc) (70 trang)

QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH HUẾ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 70 trang )

Chuyên đề tốt nghiệp

PHẦN THỨ NHẤT - ĐẶT VẤN ĐỀ

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO đã mang lại nhiều thuận
lợi cho sự phát triển cho nền kinh tế chung của cả nước. Hội nhập quốc tế trong
lĩnh vực ngân hàng đồng nhất với quá trình tự do hoá tài chính ngày càng cao
khiến môi trường hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại (NHTM)
có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, làm tăng sức ép buộc các NHTM trong nước
phải hoàn thiện mình hơn nếu không muốn bị loại khỏi “cuộc chơi”.
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại là một trong những hoạt
động truyền thống và quan trọng, “ở một số ngân hàng lợi nhuận thu được từ tín
dụng chiếm từ 60 - 70% trên tổng thu nhập”. [15] .Đây là một trong những hoạt
động cạnh tranh gay gắt với sự ra đời của các ngân hàng thương mại cổ phần.
Các ngân hàng thương mại (NHTM) đã tận dụng được lợi thế của mình ra đời
trước có thương hiệu và chiếm thị phần lớn trên thị trường tài chính trong nước.
Các ngân hàng TMCP mặc dù ra đời sau, nhưng cũng khẳng định mình bằng
công nghệ hiện đại, con người và chiến lược marketing… từng bước giữ vững vị
trí của mình trên thị trường đầy tiềm năng của Việt Nam.
Cho dù các ngân hàng đã và đang phát triển, đang trong quá trình hoàn
thiện hay ở giai đoạn mở rộng quy mô thì việc quản trị rủi ro trong hoạt động
ngân hàng vô cùng quan trọng, nhất là rủi ro hoạt động tín dụng, khi trên thực tế
lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập.
Do đó, việc quản trị rủi ro tốt sẽ mang lại sự an toàn cho hoạt động ngân hàng và
phòng ngừa được những rủi ro tiềm ẩn trong tương lai.
Môi trường tài chính đang mang lại cho ngân hàng có nhiều cơ hội gia tăng
lợi nhuận và nhiều áp lực cạnh tranh và những rủi ro lớn. Vì vậy, việc quản trị rủi ro
trở thành một trong những vũ khí cạnh tranh sắc bén trong ngành.
Từ những lý do nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “QUẢN TRỊ RỦI
RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI



SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

1


Chuyên đề tốt nghiệp

CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG CHI NHÁNH HUẾ” để làm chuyên đề tốt
nghiệp.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt các mục đích sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu như: Tín dụng, tíndụng
ngân hàng, rủi ro và các loại rủi ro, rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng,
rủi ro trong hoạt động tín dụng...
- Đánh giá, phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tín
dụng tại đơn vị nghiên cứu.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả họat động tín dụng và
quản trị rủi ro tín dụng của đơn vị nghiên cứu.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản của tín dụng ngân hàng - Hoạt động cho
vay, bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, đầu tư,
thấu chi…và về những rủi ro của các hoạt động trên.
Nghiên cứu rủi ro trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng và công tác quản
trị rủi ro của NHTMCP NT CN Huế.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
+ Không gian: Nghiên cứu các hoạt động tín dụng và công tác quản trị rủi
ro tín dụng tại NHTMCP NT CN Huế.
+ Thời gian: Các dữ liệu thu thập từ năm 2007 đến 2009.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp điều tra và phân tích số liệu điều tra
Trên cơ sở các tài liệu đã được tổng hợp, vận dụng các phương pháp phân
tích thống kê như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân gia quyền, lượng tăng
(giảm) tuyệt đối liên hoàn, tốc độ phát triển liên hoàn, phương pháp dãy số theo

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

2


Chuyên đề tốt nghiệp

thời gian và phương pháp so sánh, các phương pháp thống kê kinh tế để tiến hành
các hoạt động thu thập, điều tra và phân tích số liệu.
5.2 Phương pháp thu thập số liệu
+ Nguồn sử dụng số liệu: Các số liệu và thông tin về hoạt động tín dụng
được thu thập từ các báo cáo qua các năm của Vietcombank Huế như: Báo cáo
tổng kết; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo tài chính, Báo cáo phát
hiện, Báo cáo phân loại nợ và trích lập, xử lý dự phòng rủi ro và Báo cáo tổng kết
của NHNN Thừa Thiên Huế cũng như các tư liệu nghiên cứu hiện có về Quản trị
rủi ro tín dụng ngân hàng đã được đăng tải trên các báo, tạp chí và trên Internet…
+ Phương pháp phân tích thống kê.
5.4 Tổng hợp và phân tích tài liệu
Tổng hợp tài liệu được thực hiện bằng phương pháp phân tổ thống kê theo
chỉ tiêu mức dư nợ mà các cán bộ tín dụng đang quản lý… , nghiên cứu các
nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng và các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt
động cấp tín dụng.
Sau khi tổng hợp các tài liệu, vận dụng các phương pháp số tương đối, số
tuyệt đối, số bình quân, phương pháp dãy số theo thời gian, phương pháp so

sánh, liên hệ và phân tích xác định mối quan hệ giữa các nhân tố.
5.5 Phương pháp chuyên gia và chuyên khảo
Quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp thu thập ý kiến của
những chuyên gia trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, các nhà chiến lược và
tham khảo kinh nghiệm công tác quản trị rủi ro để làm căn cứ cho việc đưa ra các
giải pháp hạn chế một cách có hiệu quả, và làm cơ sở cho các đề xuất, cũng như
giải pháp mang tính thực tiễn, có sức thuyết phục.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

3


Chuyên đề tốt nghiệp

PHẦN THỨ HAI - NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ QUẢN
TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 KHÁI NIỆM VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo là tin tưởng, tín nhiệm.
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu
sang người sử dụng và sau một thời gian nhất định sẽ thu hồi một lượng giá trị
lớn hơn ban đầu. Đó là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay
mà qua đó sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức
tiền tệ hoặc hàng hoá trong một thời hạn xác định và với nguyên tắc bên đi vay
có trách nhiệm hoàn trả lượng giá trị lớn hơn ban đầu một cách vô điều kiện cho
bên cho vay khi đến hạn.

Một khái niệm mới trong hoạt động của các ngân hàng thương mại hiện
nay là Cấp tín dụng: Theo Luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 do Quốc
hội Nước CHXHCN VN thông qua ngày 12/12/1997, “Cấp tín dụng là việc Tổ
chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc
có hoàn trả bằng các nghiệp vụ Cho vay, Chiết khấu, Cho thuê tài chính, Bảo
lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”[11]. Như vậy cấp tín dụng là hoạt
động của tín dụng ngân hàng được biểu hiện qua các nghiệp vụ cụ thể.
1.1.2 Đặc trưng của tín dụng
Tín dụng có 03 đặc trưng cơ bản, đó là:
- Lòng tin: Từ khái niệm nguyên thủy của tín dụng và lý thuyết hiện hành,
một khi đã quyết định cho ai vay một lượng giá trị xác định thì người cho vay tin
rằng khoản tín dụng sẽ được người đi vay hoàn trả đầy đủ bởi các cơ sở để người
cho vay xác lập niềm tin này đã được hình thành trước khi họ quyết định.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

4


Chuyên đề tốt nghiệp

- Tính thời hạn: Một hợp đồng tín dụng được xác lập cho dù dưới hình
thức nào thì nghĩa vụ hoàn trả phải xác định thời hạn. Đó còn là yêu cầu bắt buộc
trong giao kết dân sự của bất kỳ hợp đồng tín dụng ở dạng nào.
- Tính hoàn trả: Đây là đặc trưng cơ bản nhất và là tiêu chí để phân biệt
với các quan hệ tài chính khác. Hoàn trả là đối tượng của lòng tin trong khái
niệm của tín dụng, không có hoàn trả thì lòng tin cũng mất.
1.1.3 Các hình thức cấp tín dụng
1.1.3.1 Cho vay
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng và là một nghiệp vụ chính trong

hoạt động của ngân hàng thương mại, theo đó ngân hàng giao cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền có mục đích và thời hạn xác định theo thoả thuận và với
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Người ta phân chia các loại cho vay khác
nhau dựa vào các căn cứ khác nhau:
Căn cứ vào thời hạn cho vay, bao gồm 3 loại sau:
Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống.
Hầu hết các khoản tín dụng ngắn hạn được dùng để bổ sung nguồn vốn lưu động
của các doanh nghiệp nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, một phần khác dùng để
đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của cá nhân. Loại cho vay này chiếm tỷ trọng tương
đối lớn trong tổng dư nợ của các NHTM.
Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 5 năm. Nguồn
vốn này chủ yếu sử dụng để đầu tư mua sắm TSCĐ, cải tiến hoặc đổi mới thiết
bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ
và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay trên 5 năm. Khoản tín dụng này dùng
để đầu tư vào các dự án có thời gian hoàn vốn dài, khấu hao chậm như: Xây
dựng các công trình, nhà máy lớn, xây dựng nhà ở, cơ sở hạ tầng v.v….
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng mà phía ngân hàng cho
vay theo hai hình thức sau:

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

5


Chuyên đề tốt nghiệp

Cho vay không có bảo đảm (Cho vay tín chấp): Là loại cho vay không có
thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, chủ yếu dựa vào niềm tin và uy
tín của khách hàng để cấp tín dụng.

Cho vay có tài sản bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
1.1.3.2 Bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng (BLNH) là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín
dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận
bảo lãnh. Cam kết trả thay này có thể kèm theo điều kiện hoặc vô điều kiện.
1.1.3.3 Hoạt động chiết khấu chứng từ có giá và bao thanh toán
Chiết khấu chứng từ có giá:
Chứng từ có giá là văn kiện xác định quyền sở hữu một lượng giá trị nhất
định mà khi giao dịch có thể chuyển hoá thành tiền. Gồm Trái phiếu, Kỳ phiếu,
Sổ tiết kiệm, Séc, Thương phiếu, Bộ chứng từ xuất khẩu không đính kèm hối
phiếu trả chậm cũng được xem là chứng từ có giá…
Có hai loai chiết khấu chủ yếu: Chiết khấu có truy đòi và chiết khấu miễn
truy đòi.
1.1.3.4 Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính (CTTC) là hoạt động tín dụng trung dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên
cơ sở hợp đồng cho thuê được ký kết giữa Bên cho thuê với Bên thuê.
1.1.3.5 Cho vay theo hạn mức thấu chi
Thấu chi là một kỹ thuật cấp tín dụng cho khách hàng, cho phép khách
hàng chi vượt số dư có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng theo
một hạn mức xác định để thực hiện các giao dịch rút tiền mặt hoặc thanh toán kịp
thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng cá nhân.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

6



Chuyên đề tốt nghiệp

Hạn mức thấu chi = Số dư tài khoản tiền gửi bình quân kỳ trước x Tỷ lệ
thấu chi kỳ này
Hoặc:
Hạn mức thấu chi = hạn mức tín dụng x Tỷ lệ thấu chi kỳ này
1.2 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.2.1 Đối với nền kinh tế
Có thể thấy rằng mọi hoạt động của nền kinh tế đều có liên quan đến tài
sản mà biểu hiện giá trị của nó là tiền. Tiền lưu thông trong nền kinh tế chính là
Vốn. Tất cả các ngành kinh tế đều cần vốn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh,
sản xuất, dịch vụ hay những mục tiêu khác.
1.2.1.1 Tín dụng góp phần điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế phù hợp với yêu
cầu hội nhập
Đất nước ta đã và đang tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đó là việc Việt Nam đã tham gia vào Khu vực Mậu dịch Tự do châu Á (AFTA),
Ký Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, chính thức gia nhập vào Tổ
chức thương mại Thế giới (WTO).
Để giải quyết những vấn đề của hội nhập, tận dụng những lợi thế có được
và giảm bớt những tác động bất lợi, đòi hỏi Nhà nước phải có các chính sách và
giải pháp khác nhau, trong đó có vai trò của chính sách tài chính - tiền tệ mà hoạt
động tín dụng ngân hàng là kênh quan trọng nhất.
1.2.1.2 Tín dụng góp phần nâng cao năng lực canh tranh cho các thành phần
kinh tế
Theo sơ đồ trọng số về các yếu tố thành công của một doanh nghiệp thì:
“Vốn (40%) – Công nghệ (40%) – Thông tin và quản lý (20%)”[16]. Trong điều
kiện công nghệ như nhau, thông tin và quản lý tương tự thì ai có nguồn lực về
vốn tốt hơn thì người đó sẽ thắng. Do vậy, khi doanh nghiệp tiếp cận được nguồn
vốn tín dụng thì sẽ có điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên

thương trường.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

7


Chuyên đề tốt nghiệp

1.2.2 Đối với ngân hàng
1.2.2.1 Cấp tín dụng là hoạt động chính mang lại nguồn thu nhập lớn nhất
Với các nước phát triển trên thế giới thì lợi nhuận thu được của các ngân
hàng từ các hoạt động dịch vụ chiếm tỷ trọng khá lớn. “Ở Việt Nam thì tín dụng
là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, chiếm trên 70% tổng thu
nhập, có ngân hàng tỷ lệ này chiếm đến 90%”[17]. Trong khi hoạt động dịch vụ
chưa phát triển thì các ngân hàng gia tăng dư nợ cho vay nhằm tăng lãi thu về từ
hoạt động tín dụng. Qua đó cho thấy tầm quan trọng của của hoạt động tín dụng
có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Đồng thời nó cũng
chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn đi kèm.
1.2.2.2 Là kênh tiêu thụ vốn
Từ khái niệm ngân hàng là một trung gian tài chính giữa Cung và Cầu về
vốn, trong đó Cung là các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức, doanh
nghiệp… mà ngân hàng huy động được và cầu là các đối tượng cần vốn từ ngân
hàng để bổ sung và phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, chúng
ta dễ nhận thấy rằng tín dụng ngân hàng chính là kênh tiêu thụ nguồn vốn huy
động của ngân hàng. Hay nói cách khác, tín dụng chính là đầu ra chủ yếu trong
hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
1.3 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
TTHƯƠNG MẠI
1.3.1 Khái niệm rủi ro

Rủi ro là sự kiện không may mắn xảy ra luôn gắn liền với các hoạt động
và môi trường sống của con người. Rủi ro là một phạm trù có thuộc tính bên
trong, có nội hàm, ngoại biên phản ánh bản chất của sự kiện. Nhiều nhà kinh tế,
nhà kinh doanh trên thế giới và Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra một số khái
niệm rủi ro sau:
“Rủi ro là những bất trắc có thể đo lường được”[6].
“Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi”[4].

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

8


Chuyên đề tốt nghiệp

“Rủi ro là một tình trạng trong đó có các biến cố xảy ra trong tương lai có
thể xác định được”.
Khái niệm về rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
→ “Là sự không chắc chắn về kết quả trong tương lai”[6]
→ “Là sự mất mát hoặc tổn thất không thể lường trước một cách chính
xác”[4].
Để dự đoán và đo lường rủi ro, có 3 câu hỏi được đặt ra:
- Điều gì có thể xảy ra?
- Xác xuất hay tần số xuất hiện rủi ro nhiều hay ít?
- Nếu xảy ra thì tổn thất, thiệt hại từ rủi ro gây ra ở mức độ nào?
Người ta chia rủi ro thành hai loại: Rủi ro môi trường và rủi ro đặc thù.
♦ Rủi ro môi trường còn được gọi là rủi ro thị trường được chia thành hai
loại: Rủi ro môi trường vĩ mô và rủi ro môi trường cạnh tranh.
+ Rủi ro môi trường vĩ mô: Môi trường mà ngân hàng hoạt động chứa đầy
rủi ro và gây cho ngân hàng những thiệt hại về tài chính. Rủi ro này rất khó kiểm

soát nên chúng được gọi là “rủi ro không kiểm soát được”[3].
+ Rủi ro môi trường cạnh tranh: Một ngân hàng trong hoạt động kinh doanh
thường chịu tác động của khách hàng hoặc các đối thủ từ nhiều phía, từ đó luôn
nhận được rất nhiều tác động đầy rủi ro.
♦ Rủi ro đặc thù: Đây là loại rủi ro do đặc thù của ngành hay lĩnh vực kinh
doanh tạo ra như: Rủi ro về quản lý, cung cấp các dịch vụ tài chính, thích ứng
vốn, tài sản thế chấp…
1.3.2 Các loại rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng
1.3.2.1 Rủi ro tín dụng
Là rủi ro phát sinh khi một hoặc các bên tham gia hợp đồng tín dụng
không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại. Đối với NHTM rủi ro tín dụng
phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu đựơc đầy đủ cả gốc và lãi của
các khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng hạn.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

9


Chuyên đề tốt nghiệp

1.3.2.2 Rủi ro lãi suất
Là rủi ro do sự biến động của lãi suất gây nên. Nếu Ngân hàng có tài sản
Nợ nhạy cảm với lãi suất lớn hơn tài sản Có nhạy cảm với lãi suất, thì khi lãi suất
tăng lợi nhuận của Ngân hàng sẽ bị giảm. Ngược lại, lãi suất giảm làm tăng lợi
nhuận của Ngân hàng.
1.3.2.3 Rủi ro thanh toán
Là rủi ro nguy hiểm nhất của Ngân hàng, có liên quan đến sự sống còn
của Ngân hàng. Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả
năng thanh toán, tức là phải đáp ứng đựơc nhu cầu thanh toán trong hiện tại,

tương lai và các nhu cầu thanh toán đột xuất. Nếu không đáp ứng được các nhu
cầu thanh toán đó ngân hàng có thể bị mất khả năng thanh toán và nguy cơ phá
sản.
1.3.2.4 Rủi ro hối đoái
Là rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái gây nên. Những rủi ro này có
thể phát sinh trong tất cả các nghiệp vụ có liên quan đến ngọai tệ ngân hàng như:
Cho vay, huy động vốn bằng ngoại tệ, mua bán ngoại tệ, đầu tư chứng khóan
bằng ngoại tệ....
1.3.2.5 Các rủi ro khác
Ngoài những rủi ro cơ bản trên hoạt động ngân hàng còn chịu những rủi ro
khác như:
-

Rủi ro môi trường: là rủi ro do môi trường hoạt động của ngân

hàng gây nên, bao gồm: rủi ro do biến động của thiên nhiên ( lũ lụt, động đất ...),
rủi ro về kinh tế ( khủng hoảng, suy thoái kinh tế... ), rủi ro do sự thay đổi chính
sách pháp luật của Nhà nước gây bất lợi cho Ngân hàng.
-

Rủi ro về công nghệ: loại rủi ro này thường xảy ra trong các trường

hợp: Ngân hàng đã đầu tư rất lớn vào phát triển công nghệ nhưng hiệu quả sử
dụng lại không cao, không tiết kiệm được chi phí như mong muốn.
-

Các rủi ro khác: rủi ro hoạt động, rủi ro quốc gia, rủi ro pháp lý...

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly


10


Chuyên đề tốt nghiệp

1.3.3 Các nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng
1.3.3.1 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng
- Không chấp hành đúng các qui định của luật pháp liên quan đến hoạt
động ngân hàng trong quá trình cấp tín dụng
- Việc mở rộng tín dụng quá mức tạo điều kiện cho rủi ro tín dụng của
Ngân hàng tăng lên. Mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩa với việc lựa chọn
khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát của cán bộ tín dụng đối với việc sử
dụng khoản vay giảm xuống đồng thời cũng làm cho việc tuân thủ chặt chẽ theo
quy trình tín dụng bị lơi lỏng.
- Các qui định, thể lệ cho vay, qui trình cấp tín dụng thiếu chặt chẽ. Đây
là loại nguyên nhân thuộc về chính sách, chế độ cho vay. Một nhà nghiên cứu về
rủi ro ngân hàng đã có câu triết lý đơn giản rằng: “Cho vay càng dễ, thu nợ càng
khó”;
- Năng lực, chất lượng thẩm định yếu kém: Nếu những người làm công tác
thẩm định không đủ khả năng sẽ làm sai lệch kết quả thẩm định theo hướng gia
tăng rủi ro như: Dự án không khả thi nhưng vẫn cho kết quả tốt, làm cho quyết
định đưa ra bị sai lầm, gây thiệt hại cho ngân hàng.
1.3.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng
- Đối với các doanh nghiệp, kinh nghiệm và năng lực hoạt động kinh
doanh còn đang ở trình độ thấp, hầu hết các doanh nghiệp này đều không nắm
bắt được thông tin kịp thời, thiếu thích nghi với cạnh tranh. Vì vậy, khi dự án vay
vốn gặp khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng gặp vấn đề, rủi ro tín dụng là
điều không thể tránh khỏi.
- Lợi dụng điểm yếu của NHTM, nhiều khách hàng đã tìm cách lừa đảo để
được vay vốn. Họ lập phương án sản xuất kinh doanh giả, giấy tờ thế chấp cầm

cố giả mạo, hoặc đi vay nhiều Ngân hàng với cùng một bộ hồ sơ.
- Sử dụng sai mục đích so với hợp đồng tín dụng khiến cho nguồn trả nợ
trở nên bấp bênh. Vì vậy, khi khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, việc thang
toán gốc và lãi đúng hạn rất khó xảy ra, rủi ro tín dụng xuất hiện.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

11


Chuyên đề tốt nghiệp

1.3.3.3 Nhóm nguyên nhân khách quan
- Do môi trường pháp lý chưa hoàn thiện và đồng bộ, hoặc thay đổi
theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp thì cũng khiến các khoản vay NHTM gặp
khó khăn.
- Do thiên tai địch hoạ: Đây là nguyên nhân bất khả kháng cộng với kế
hoạch phòng chống yếu kém không hạn chế được tối đa thiệt hại do thiên tai
gây ra.
1.4 QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.4.1 Khái niệm quản trị rủi ro
Cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về quản trị rủi ro, có nhiều
nghiên cứu về quản trị rủi ro và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau.
“Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện
và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn
thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro”[4].
A.Saunder và H.lange định nghĩa rủi ro tín dụng: “Rủi ro tín dụng là
khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả
năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể

được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn”.
Timothy W.Koch cho rằng: “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu
nhập thuần và thị của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay
thanh toán trể hạn”[4].
1.4.2 Mục tiêu của quản trị rủi ro ngân hàng
Mục tiêu của quản trị rủi ro cũng giống như mục tiêu hoạt động kinh
doanh của một ngân hàng thương mại là mang lại lợi nhuận cao nhất và an toàn
nhất. Quản lý và hạn chế tối đa các rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh doanh,
đảm bảo an toàn cho các giao dịch, bao gồm an toàn cho hoạt động cấp tín dụng.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

12


Chuyên đề tốt nghiệp

1.4.3 Nội dung của quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng
1.4.3.1 Sàng lọc, lựa chọn khách hàng
Sự lựa chọn đối nghịch trong thị trường cho vay đòi hỏi ngân hàng phải
sàng lọc và lực chọn khách hàng vay. Để hạn chế rủi ro tín dụng, ngân hàng
phải lực chọn khách hàng vay có triển vọng tốt ra khỏi những người vay có
triển vọng xấu.
Muốn cho việc sàng lọc khách hàng vay có hiệu quả, ngân hàng phải tập
hợp các thông tin tin cậy về những người vay tiền. Trên cơ sở các thông tin thu
nhập được tiến hành tính điểm tín dụng, đánh giá xếp loại khách hàng có triển
vọng tốt hay xấu để quyết định cho vay.
1.4.3.2 Theo dõi giám sát việc sử dụng vốn vay
Để hạn chế việc khách hàng sư dụng vốn vay sai mục đích hoặc sử dụng
vốn vào các hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao, dẫn đến ít có khả năng

để thanh toán. Trong quá trình cho vay, nhân viên tín dụng thường xuyên phải
kiểm tra đánh giá tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng, vấn đề tuân thủ
theo các điều khoản đã ghi trong hợp đồng tín dụng, nếu họ không tuân theo có
thể sử dụng biện pháp cưỡng chế thi hành những quy định của hợp đồng.
1.4.3.3 Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng
Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng là một trong những nguyên
lý quan trọng trong quản lý rủi ro tín dụng, đây là một cách để ngân hàng thu
được thông tin cần thiết về những người vay tiền của họ.
1.4.3.4 Đảm bảo tiền vay
Là một trong những công cụ quan trọng để quản lý rủi ro tín dụng. Biện
pháp đảm bảo tiền vay hữu hiệu nhất là sử dụng tài sản thế chấp. trong trường
hợp khách hàng không trả được vốn vay và lãi, ngân hàng có thể bán tài sản đảm
bảo để bù lại tổn thất của mình do món vay gây nên.
1.4.3.5 Bảo hiểm tín dụng
Trong hoạt động tín dụng, có những khách hàng vay mang nhiều rủi ro,
nhưng là những khách hàng tiềm năng. Để có thể hạn chế rủi ro mà vẫn giữ được

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

13


Chuyên đề tốt nghiệp

khách hàng , ngân hàng có thể chuyển rủi ro cho các chủ thể khác có khả năng
chịu đựng rủi ro bằng cách thực hiện bảo hiểm tín dụng.
1.4.3.6 Lập quỹ dự phòng rủi ro
Quỹ dự phòng rủi ro tạo ra nguồn bù đắp tổn thất cho ngân hàng khi có rủi
ro xảy ra. Do vậy, lập quỹ dự phòng rủi ro được coi là một trong những biện
pháp quan trọng để tăng khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng, giúp ngân hàng

có thể ổn định và phát triển được hoạt động kinh doanh trong trường hợp rủi ro
xảy ra. Mỗi NHTM cần phải trích lập dự phòng rủi ro đúng và đủ theo quy định
của pháp luật.
1.4.4 Một số chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Để có thể đánh giá đúng mức độ rủi ro tín dụng của các NHTM cần phải
dựa trên một số chỉ tiêu sau:
• Tổng dư nợ tín dụng trên tổng tài sản Có
Dư nợ tín dụng
Tổng tài sản có
Đây là chỉ số tổng quan về quy mô hoạt động của ngân hàng. Chỉ tiêu này
phản ánh hiệu quả tín dụng của một đồng tài sản Có.
Có thể đánh giá kèm với chỉ tiêu:
Dư nợ tín dụng
Tổng nguồn vốn huy động
Từ đó có thể đánh giá được rằng hiệu quả sử dụng vốn nói chung của
ngân hàng và hiệu quả sử dụng vốn huy động của ngân hàng. Rủi ro tín dụng chỉ
có thể xảy ra khi bản thân ngân hàng cho vay quá nhiều so với tiêu chuẩn an toàn
của Ngân hàng Nhà nước, so với quy mô vốn lưu động. Hiện nay, các ngân hàng
thường cho vay với tỷ lệ chiếm khoảng trên 70% trong toàn bộ danh mục tài sản
Có. Nếu cho vay quá mức sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán, khả năng quản
lý của ngân hàng, khi đó khả năng xảy ra rủi ro tín dụng sẽ rất lớn.
• Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

14



Chuyên đề tốt nghiệp

Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng. Chỉ tiêu này càng
thấp càng tốt, nhưng ngược lại không thể đánh giá rằng khi số này vượt quá tiêu
chuẩn chung của ngành thì xấu. Để có thể đánh giá đựơc một cách chính xác hơn
về tình hình nợ quá hạn của ngân hàng ta cần phải đánh giá kèm theo chỉ tiêu
vòng quay của các khoản nợ quá hạn này, khả năng giải quyết các khoản nợ quá
hạn hay vòng quay của các khoản nợ quá hạn cao thì khả năng ngân hàng gặp rủi
ro tín dụng sẽ thấp, ngựơc lại rủi ro tín dụng sẽ cao.
• Nợ khó đòi trên tổng nợ quá hạn
Nợ quá hạn khó đòi
Tổng nợ quá hạn
Tỷ lệ này đánh giá các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, được xác định là
không có khả năng thu hồi vốn. Tỷ lệ này cao chứng tỏ khả năng thu hồi vốn
thấp, nguy cơ mất vốn cao, chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp.
• Mức độ chênh lệch thời lượng của tài sản Có với tài sản Nợ
Chỉ tiêu này phản ánh nếu kế hoạch huy động vốn không có sự nhất quán
thì sẽ dẫn đến nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng rất cao và có thể ảnh hưởng đến
toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự chênh lệch
của thời lượng có thể dựa vào công thức sau:
E = A - L
Trong đó:

A = - DA*A*i
1+i
L = - DL * L * i
1+i

i : lãi suất
DA, DL : thời lượng của toàn bộ tài sản Có và tài sản Nợ

A, L: giá trị của TS Có và TS Nợ
Trong trường hợp E < 0 chứng tỏ rằng ngân hàng gặp rủi ro trong hoạt
động kinh doanh, trong đó có cả rủi ro tín dụng.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

15


Chuyên đề tốt nghiệp

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG
VIỆT NAM - CHI NHÁNH HUẾ

2.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH HUẾ
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển của chi nhánh
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của tỉnh TT - Huế về hoạt động ngân hàng.
Theo Quyết định số 68-QĐNH ngày 10/08/1993 của Tổng giám đốc NHNT VN,
NHTM CP NT VN - CN Huế được thành lập và chính thức đi vào hoạt động
ngày 02/11/1993. Sự ra đời của NHTM CP NT VN - CN Huế đã đáp ứng tốt nhu
cầu của các doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn và các tỉnh lân cận trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, cung ứng vốn cho khách hành là DN,
tư nhân cá thể, giúp cho việc thanh toán được thuận tiện và kịp thời hơn góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế các ngành trên địa bàn mà NHTM CP NT VN CN Huế hoạt động.
Trong những năm đầu, số lượng cán bộ chỉ có 8 người với quy mô
nhỏ(,hiện nay với hơn 200 người) ,nhưng với uy tín của NHNT VN (một tập
đoàn tài chính lớn) cùng với sự nỗ lực của NHTM CP NT VN - CN Huế nên CN
đã tạo được những thuận lợi trong việc tìm kiếm đối tác không những trên địa

bàn TT - Huế mà cả hai tỉnh lân cận là Quảng Trị và Quảng Bình. Sau một thời
gian tìm kiếm và mở rộng thị trường CN Huế Quyết định mở CN cấp II Quảng
Bình. Ngày 06/10/2001 CN cấp II Quảng Bình được khai trương.
Sau 13 năm hoạt động (từ năm 1993 đến 2006), với sự đồng tâm nỗ lực
của ban lãnh đạo và đội ngũ cán bộ nhân viên, CN đã đạt được những thành quả
đáng khích lệ, số lượng cán bộ, dư nợ, huy động vốn, phát hành thẻ cũng như lợi
nhuận của CN tăng qua các năm. NHTM CP NT VN nói chung và CN Huế nói
riêng được trang bị công nghệ hiện đại với phong cách phục vụ nhiệt tình, CN

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

16


Chuyên đề tốt nghiệp

Huế đã không ngừng mở rộng thị phần và xây dựng được hình ảnh của mình
trong lòng khách hàng.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và quản lý của Chi nhánh Huế
Với cơ cấu tổ chức chặt chẽ và nhiệm vụ giữa các phòng ban được phân
chia rõ ràng, phù hợp với công việc, nhiệm vụ và chức năng của bộ máy ngân
hàng như sau:
Giám đốc
Là người đứng đầu chi nhánh, chịu trách nhiệm chung về mọi hoạt động
của CN. Giám đốc có quyền ra quyết định trong phạm vi phân theo quy định của
NHTM CP NT VN và chịu trách nhiệm trực tiếp với NHTM CP NT VN, đồng
thời chịu trách nhiệm trước cơ quan pháp luật nhà nước.
Phó giám đốc
Là người giúp việc cho giám đốc, theo sự phân công và uỷ quyền của
giám đốc, chịu trách nhiệm trước giám đốc về nhiệm vụ được giám đốc phân

công và uỷ quyền. CN có hai phó giám đốc:
1 Phó giám đốc trực tiếp quản lý các bộ phận sau: Phòng Kế toán, tổ vi
tính, phòng ngân quỹ, phòng kinh doanh - dịch vụ, tổ quản lý nợ, phòng giao
dịch số 1, phòng giao dịch số 2, công tác hành chính của phòng hành chính –
nhân sự.
1 Phó giám đốc trực tiếp quản lý các bộ phận sau: Phòng quan hệ khách
hàng, phòng thanh toán quốc tế, nghiệp vụ mua bán ngoại tệ.
Phòng kiểm tra nội bộ
Tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy trình nghiệp vụ, hoạt
động kinh doanh và quy chế hoạt động an toàn trong kinh doanh theo đúng quy
định của pháp luật, của ngân hàng Nhà nước và NHTM CP NT VN.
Tổ vi tính
Chịu trách nhiệm quản lý, bảo dưỡng toàn bộ mạng nội bộ của NHTM CP
NT VN - CN Huế.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

17


Chuyên đề tốt nghiệp

Tiếp nhận các quy trình kỹ thuật và các phần mềm ứng dụng nghiệp vụ
của NHTM CP NT VN để triển khai tại CN và làm đầu mối quan hệ với Trung
tâm tin học NHTM CP NT VN và các ngân hàng khác trong lĩnh vực tin học.
Phòng kế toán tài chính
Bộ phận quản lý tài khoản:
Quản lý và giám sát toàn bộ tài khoản khách hàng, tài khoản nội bộ CN,
tài khoản tiền gửi tiền vay của CN tại NHTM CP NT VN và các tổ chức tín dụng
khác.

Bộ phận quản lý chi tiêu nội bộ:
Thực hiện công tác hoạch toán kế toán theo đúng quy định, theo dõi việc
sử dụng vốn của CN.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

18


Chuyên đề tốt nghiệp

Giám đốc
PGĐ phụ trách rủi ro

P.
thanh
toán
quốc tế

Tổ
quản
lý nợ

PGĐ phụ trách kế tóan

P.
quản
lý rủi
ro


P. kinh
doanh
dịch vụ

P. Kế
toán

P.
Ngân
quỹ

Các
phòng
giao
dịch

Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
P. Quan
P.
P. Hành
P.
Sơ đồ tổ chức
Thương mại
Cổ phần NgoạiKiểm
thương Việt Nam - Chi nhánh Huế
hệ Ngân hàng
Tổng
chính
khách

hợp
nhân sự
tra nội
hàng
bộ

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

19


Chuyên đề tốt nghiệp

Phòng tổng hợp
Nghiên cứu và tham mưu cho ban giam đốc để xây dựng các kế hoạch
vốn, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ, lãi suất, tỷ giá… của CN; Thực hiện các báo
cáo định kỳ và đột xuất của CN, theo dõi công tác thi đua của CN.
Phối hợp với các phòng ban liên quan tính kết quả kinh doanh của CN.
Phòng kinh doanh dịch vụ
Bộ phận giao dịch viên:
Mở tài khoản, thu chi tiền mặt, phát hành kỳ phiếu, mua bán ngoại tệ, đổi
tiền, thu séc du lịch.
Chi trả kiều hối, trã lãi tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, chuyển tiền
trong nước, thanh toán thẻ cho khách vãng lai và cơ sở chấp nhận thẻ.
Phòng thẻ
Nhận biên lai của các cơ sở chấp nhận thẻ, nhận điện báo có từ trung tâm
thẻ và thanh toán với NHTM CP NT VN, đồng thời hạch toán hoàn ứng cho cơ
sở chấp nhận thẻ.
Phát hành thẻ tín dụng, ATM, phát triển và quản lý các cơ sở chấp nhận thẻ.
Phòng thanh toán quốc tế

Hạch toán các khoản chuyển tiền đến từ nước ngoài, nội bộ trong hệ
thống, liên hàng thanh toán bù trừ.
Phòng quan hệ khách hàng
Là đầu mối thiết lập quan hệ với khách hàng, duy trì và không ngừng mở
rộng mối quan hệ đối với khách hàng trên tất cả các mặt hoạt động, tất cả các sản
phẩm ngân hàng nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh doanh một cách an toàn,
hiệu quả và mở rộng thị phần NHTM CP NT VN.
Phòng quản lý rủi ro
Nghiên cứu phân tích, quản lý rủi ro bao gồm rủi ro chung (rủi ro hệ thống,
rủi ro thị trường…) và rủi ro riêng (rủi ro từng khách hàng, từng dự án) nhằm đảm
bảo phát triển tín dụng, mở rộng hoạt động một cách an toàn, hiệu qủa.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

20


Chuyên đề tốt nghiệp

Xây dựng chính sách quản lý rủi ro tín dụng: Xác định tỷ lệ nợ xấu tối đa
có thể chấp nhận được, cảnh báo các mặt hàng và lĩnh vực đầu tư cần hạn chế.
Trực tiếp thẩm định rủi ro đối với từng khoản cấp tín dụng đến khách
hàng: Cho điểm tín dụng, phân loại khách hàng, đánh giá các loại rủi ro trong
giao dịch tín dụng, hồ sơ tín dụng, hiệu quả từng khoản cấp tín dụng, thẩm định
dự án đánh giá TSĐB, thẩm định khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, đề xuất
tín dụng cho từng nhóm khách hàng.
Phòng xử lý nợ
Quản lý và trực tiếp thực hiện các tác nghiệp liên quan đến giải ngân, thu
hồi nợ; Đảm bảo số liệu trên hệ thống khớp đúng với số liệu trên hồ sơ; Đảm bảo
lưu trữ hồ sơ vay đầy đủ và an toàn; Đảm bảo các khoản cấp tín dụng đều tuân

thủ các bước quy định trong Quy trình tín dụng.
Kiểm soát tính tuân chủ của bộ hồ sơ vay theo đúng quy trình.
Tham gia vào quá trình thu nợ, thu lãi.
Các phòng giao dịch
Nghiệp vụ thông tin khách hàng: Tiếp nhận mở các hồ sơ khách hàng mới,
quản lý và giải quyết các yêu cầu thay đổi về tài khoản, kế toán trưởng, mẫu chữ ký.
Nghiệp vụ dịch vụ khách hàng:
Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tài khoản tiền gửi, tiết kiệm, kỳ
phiếu, trái phiếu, phát hành và thanh toán thẻ; Thực hiện chuyển tiền trong và
ngoài nước.
Mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hối.
Nghiệp vụ chuyển tiền và quản lý tài khoản:
Mở và quản lý tài khoản của khách hàng như tạo điện, bảng kê, tạo file đi
nước ngoài, đi liên hàng, bù trừ.
Phòng hành chính – nhân sự
Có nhiệm vụ quản lý hành chính và chức năng tham mưu cho Giám đốc
trong công tác quản lý tổ chức, nhân sự, quy hoạch đào tạo và đề bạt cán bộ.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

21


Chuyên đề tốt nghiệp

2.1.3 Tình hình huy động và sử dụng vốn tại chi nhánh Huế
2.1.3.1 Tình hình huy động vốn của chi nhánh
Huy động vốn là một hoạt động quan trọng của ngân hàng. Trong những
năm qua, NHTM CP NT VN – CN Huế đã có nhiều nổ lực trong công tác huy
động vốn bằng các biện pháp như: đa dạng hóa các hình thức huy động, phát

triển chiến lược marketing, quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị, đưa ra cơ chế lãi suất
hấp dẫn. Vì thế mặc dù năm 2008 là thời kỳ nền kinh tế thị trường khủng hoảng
nhưng ngân hàng vẫn duy trì được một lượng tiền huy động lớn qua các năm.
Số liệu bảng 2.1, 2.2 cho thấy: Vốn huy động của CN khá cao qua các
năm , tuy nhiên có sự giảm nhẹ ở năm 2008 cả VND và ngoại tệ sau đó lại tăng
trong năm 2009. Huy động VNĐ năm 2007 chiếm hơn 70% tổng vốn huy động,
năm 2008 có giảm nhưng không đáng kể, chỉ đạt 97.37 % so với năm 2007, năm
2009 tăng 24,56% so với năm 2008, số tuyệt đối tăng 101.767 triệu VNĐ, chiếm
71.65% trên tổng vốn huy động. Huy động ngoại tệ quy VNĐ năm 2008 cũng
giảm nhẹ 10.280 triệu VNĐ so với năm 2007, năm 2009 lại tăng 101.767 triệu
VNĐ và tăng 26,72% so với năm 2008. Tổng nguồn huy động năm 2009 tăng
mạnh so với 2008, tăng 25.16%. Nhìn chung, mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế nhưng NHTM CP NT vẫn có nguồn huy động khá cao để phục vụ
cho vấn đề kinh doanh của mình.

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

22


Chuyên đề tốt nghiệp

Bảng 2.1 Tình hình huy động theo loại tiền của CN qua các năm 2007 - 2009
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu

Ngoại tệ
quy VNĐ
Nội tệ


Năm
2007

2008

391.125

380.845

1005.749 979.314

Tổng huy 1396.87
động
4

1360.15
9

So sánh
2009
08/07
+/%
482.612 97,37
10.280
1219.885 97,37
26.435
1702.49 97,3
7
36.71 7
5


09/08
+/%
101.767 126,721
240.571 124,565
342.33
8

125,169

( Nguồn: Phòng tổng hợp NHTMCP NT CN Huế )
Bảng 2.2 Tình hình huy động vốn theo thời gian của CN qua các năm 2007 2009
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ
tiêu

Năm 2007
Số tiền
%

Năm 2008
Số tiền
%

Năm 2009
Số tiền
%

So sánh (+/-)
08/07

09/08

Tiền
398.492 28,53 290.677 21,37 286.246 16,81 -4.431
gửi
107.815
khôn
g kỳ
hạn
Tiền
998.382 71,47 1069.482 78,63 1416.251 83,19 71.100 346.769
gửi
có kỳ
hạn
Tổng 1396.87 100
1360.15 100
1702.49 100
-36.715 342.338
cộng 4
9
7
( Nguồn : Phòng tổng hợp NHTMCP NT CN Huế )
Nhìn vào bảng 2.2 ta thấy lượng tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ lệ trên
tổng vốn huy động thấp hơn nhiều so với tiền gửi có kỳ hạn. Đồng thời tỷ lệ này
giảm qua các năm trong khi tiền gửi có kỳ hạn lại tăng. Tiền gửi không kỳ hạn
năm 2008 giảm mạnh với mức 107.815 triệu đồng so với năm 2007, và lại tiếp

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

23



Chuyên đề tốt nghiệp

tục giảm với mức 4.431 triệu đồng trong năm 2009. Ngược lại, tiền gửi có kỳ hạn
tăng đều qua các năm. Năm 2008 tăng 71.100 triệu đồng so với năm 2007 và
chiếm 78,63% trên tổng vốn huy động. Năm 2009 lại tiếp tục tăng 346.769 triệu
đồng so với năm 2008 và chiếm 83,19% trên tổng vốn huy động, một tỷ lệ cao.
Điều này thể hiện được nguồn huy động chủ yếu của ngân hàng là tiền gửi có kỳ
hạn, do trong những năm vừa qua với cơ chế lãi suất hấp dẫn cho các kỳ hạn đã
giúp ngân hàng thu hút được lượng tiền huy động khá lớn. Kết quả là trong năm
2009, tổng vốn huy động tăng 342.338 triệu đồng so với năm 2008. Đây là một
dấu hiệu tốt trong việc huy động của ngân hàng.
2.1.3.2 Tình hình sử dụng vốn
Từ nguồn vốn huy động tại chỗ và nguồn vốn vay bổ sung từ HO (Hội sở
chính), Chi nhánh sử dụng triệt để và tích cực, chủ yếu cho đầu tư tín dụng
(khoảng 70%), phần còn lại là dự trữ số dư trên TK tiền gửi để đảm bảo thanh
khoản (khoảng 15% tổng nguồn vốn huy động); dự trữ bắt buộc (gần 10%); tiền
mặt tại quỹ (~ 2%); còn lại là sử dụng khác. Theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước, để đảm bảo khả năng thanh toán, Ngân hàng chỉ được phép sử dụng tối đa
30% nguồn vốn huy động ngắn hạn để đầu tư TDH. Thực tế, dư nợ TDH năm
2009 chiếm 69,08% trên tổng dư nợ. Dưới đây là phần sử dụng cho đầu tư tín
dụng và thị phần trên địa bàn:
Bảng 2.3 Tình hình sử dụng vốn để cho vay của CN qua các năm 2007- 2009
Chỉ tiêu

Năm
2007

So sánh

2008
2009
08/07
09/08
+/%
+/%
Doanh số 1.573.288 2.105.462 2.126.992 532.174 33,83 21.530 1,02
cho vay
Doanh số 1.141.954 1.868.738 2.097.806 726.784 63,64 229.068 12,26
thu nợ
Dư nợ
1.275.16 1.441.85 1.533.67 166.69 13,0 91.822 6,37
2
4
6
2
7
Đơn vị tính: Triệu đồng
( Nguồn: Phòng tổng hợp NHTMCP NT CN Huế )

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

24


Chuyên đề tốt nghiệp

Từ nguồn huy động dồi dào, chi nhánh đã đáp ứng được nhu cầu cho vay
với doanh số cho vay tăng qua các năm. Cụ thể là, năm 2008 đạt 33,83% so với năm
2007, doanh số thu nợ tăng 63.64% cho thấy tình hình thu nợ của năm 2008 rất tốt.

Doanh số cho vay năm 2009 tăng nhẹ với mức 1,06%, doanh số thu nợ
tăng 12,26% so với năm 2008. Nhìn chung, sự tăng trưởng về tín dụng của CN
qua các năm có sự biến động tốt, và tình hình thu nợ cũng cao chứng tỏ được
năng lực quản lý tín dụng của ngân hàng.
Năm 2008 dư nợ của CN Huế chiếm 20,21% tổng dư nợ trên địa bàn
( biểu đồ 1 ), năm 2009 chiếm 15,90% trên tổng dư nợ của địa bàn ( biểu đồ 2 ).
Tổng dư nợ trên địa bàn năm 2008

Tổng dư nợ trên địa bàn năm 2009

SVTH : Nguyễn Thị Ly Ly

25


×