Tải bản đầy đủ (.docx) (9 trang)

Thực trạng và giải pháp thực hiện đổi mới giáo dục đại học hướng đến phát triển năng lực người học đáp ứng nhu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (160.26 KB, 9 trang )

HỘI THẢO QUỐC TẾ NĂM 2015
“PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY”
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI
HỌC HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC ĐÁP ỨNG
NHU CẦU XÃ HỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Họ và Tên: Ngô Thị Hoài Nam
Học hàm, học vị: Thạc sĩ
Tóm tắt bài tham luận
Mục tiêu chung trong Luật Giáo dục Đại học 2012 nêu rõ: “Đào tạo người học
có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp,
năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng
với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề
nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân”. Đồng
thời, giáo dục đại học là bậc đào tạo quan trọng, cung ứng nguồn nhân lực có tri
thức, có khả năng nghiên cứu khoa học và tiếp cận kịp thời với khoa học - kỹ thuật
tiên tiến của thế giới. Trong khi đó, Việt Nam đã và đang phải thực hiện giai đoạn
2 của lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ Việt Nam theo cam kết gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới (WTO), trong đó có dịch vụ giáo dục bậc cao và năm 2015 là
năm đầu tiên mở cửa thị trường lao động ASEAN. Để nguồn nhân lực bậc cao của
Việt Nam đáp ứng được nhu cầu xã hội, đạt được những mục tiêu đã đặt ra, cần
thiết phải thực hiện việc đổi mới toàn diện giáo dục đại học hướng đến phát triển
năng lực người học.
Bài tham luận tập trung phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục đại học tại Việt
Nam hiện nay, cơ hội và thách thức cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội.
Qua đó, tác giả xác định những vấn đề cần đặt ra khi thực hiện đổi mới giáo dục
đại học và đề xuất các giải pháp thiết thực đối với Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Lao
động – Thương binh và Xã hội, Bộ chủ quản các Trường Cao đẳng, Đại học, với
các cơ sở đào tạo, với đội ngũ giảng viên từ thể chế đến chính sách tuyển dụng, tổ
chức quá trình đào tạo và phương pháp giảng dạy.
Nội dung bài tham luận
Đặt vấn đề


Giáo dục học đại học nước ta đang đứng trước ngưỡng cửa mới khi Việt Nam
đã và đang phải thực hiện giai đoạn 2 của lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ theo
cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), trong đó có dịch vụ giáo
dục bậc cao và đặc biệt năm 2015 - năm đầu tiên mở cửa thị trường lao động
ASEAN. Điều đó đòi hỏi cần thiết phải đánh giá được thực trạng của giáo dục đại
học, trên cơ sở đó xác định các giải pháp thiết thực nhằm thực hiện đổi mới giáo
dục đại học hướng đến phát triển năng lực người học đáp ứng nhu cầu xã hội trong
giai đoạn hiện nay.


1. Sự cần thiết của việc thực hiện đổi mới giáo dục đại học hướng đến phát
triển năng lực người học
1.1. Thực trạng giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay
Vừa qua, Tổ chức xếp hạng các trường đại học trên thế giới Consejo Superior
de Investigaciones Cientificas (CSIC) đã công bố trên Webometrics bảng xếp hạng
khoảng 22.000 trường đại học, cao đẳng trên toàn thế giới trong năm 2014. Căn cứ
xếp hạng của CSIC dựa trên các thông tin có được từ website do các trường đại
học, cao đẳng công bố về số lượng sinh viên, giảng viên, cơ sở vật chất học tập,
chương trình đào tạo, số lượng các công bố quốc tế được đăng tải hoặc trích dẫn,
tầm ảnh hưởng của các công bố khoa học được đăng tải hoặc trích dẫn, và hoạt
động hợp tác quốc tế. Việt Nam có gần 120 trường đại học, cao đẳng được đánh
giá trong số 417 trường (tính đến thời điểm tháng 3/2014) và vị trí hàng đầu của
nước ta là Đại học Quốc gia Hà Nội xếp ở vị thứ 23 Đông Nam Á, 179 Châu Á và
899 trên thế giới. Điều đó có nghĩa giáo dục đại học Việt Nam đã có những bước
tiến quan trọng. Tuy nhiên, trong thời gian tới, giáo dục bậc cao này cần thiết phải
thực hiện đổi mới một cách toàn diện để ngang tầm với khu vực và thế giới.
Giáo dục đại học hiện nay đang trong giai đoạn cải cách nhưng bộc lộ nhiều
hạn chế bởi còn bị ràng buộc nhiều của cơ chế, chính sách và phương thức kiểm
soát về chất lượng trong từng trường cũng như sự kiểm soát giữa Bộ chủ quản với
các trường chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Cụ thể:

Một là, sự trái chiều giữa các văn bản pháp quy. Đơn cử, Nghị quyết số
14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện
giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 nêu rõ: “…Xây dựng và thực hiện
lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để
người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông chuyển tiếp tới
các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài”. Tuy nhiên, theo hướng dẫn
tại Thông tư số 55/2012/TT-BGDĐT ngày 25/12/2012 về đào tạo liên thông trình
độ cao đẳng, đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo lại quy định về tuyển sinh đào
tạo liên thông theo kiểu bó buộc và không tạo điều kiện thuận lợi cho người học
như người học phải tốt nghiệp sau 36 tháng kể từ ngày được cấp bằng hoặc dưới
36 tháng phải dự thi trong kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học chính quy do Bộ
Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm. Qua đó cho thấy, giáo dục đại học chưa
thực sự hướng đến phát triển năng lực người học. Quan điểm về học tập hiện nay
là học tập suốt đời nhưng những rào cản trên đã hạn chế không ít việc lựa chọn
ngành nghề của người học cũng như tư vấn của các bậc phụ huynh đối với con
mình trước ngưỡng cửa tốt nghiệp phổ thông trung học. Đây chính là nguyên nhân
dẫn đến trào lưu “bằng mọi giá phải đậu đại học”.
Hai là, các quy định liên quan đến đào tạo mang tính cứng nhắc, như quy định
về xây dựng chương trình đào tạo. Các trường được giao quyền tự chủ trong việc
phát triển chương trình đào tạo nhưng phải xây dựng trên cơ sở chương trình
khung của Bộ Giáo dục và đào tạo và số lượng tín chỉ của các học phần trong
chương trình khung này đã chiếm một tỷ lệ khá lớn, xấp xỉ 1/3 trong tổng số lượng
tín chỉ của chương trình đào tạo. Điều này đã hạn chế việc lựa chọn các học phần
giảng dạy, chưa kể đến nội dung của một số học phần không còn phù hợp với thực


tiễn.
Ba là, chương trình đào tạo của các bậc thuộc giáo dục đại học được công khai
nhưng chưa xác thực. Trong chương trình đào tạo từ cao đẳng đến đại học và sau
đại học đều được các trường xác định người học sẽ đạt được kỹ năng thành thạo,

nhưng mức độ thành thạo chưa được phân biệt giữa các trình độ này. Hầu hết các
trường chỉ mới công bố chuẩn đầu ra đối với bậc cao đẳng và đại học nhưng mức
độ khác nhau giữa hai bậc này không có sự khá biệt lớn. Điều đó có nghĩa, mô
hình vòng xoắn ốc kiến thức, kỹ năng trong giáo dục đại học Việt Nam chưa được
chú trọng và kết quả đầu ra giữa các bậc học chưa thực sự phân định rõ ràng, thiếu
tính liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Từ đó
dẫn đến khó khăn trong kiểm soát chất lượng đào tạo trên cơ sở chương trình đào
tạo được ban hành.
Bốn là, kiểm soát các nhân tố quyết định đến chất lượng đào tạo còn chưa chặt
chẽ. Vẫn còn tình trạng người học phải học trong điều kiện thiếu cơ sở vật chất,
thiếu phòng thực hành. Cơ sở vật chất của các trường cao đẳng, đại học như thư
viện điện tử, chất lượng – số lượng đầu sách, truy cập Internet, phòng multimedia,
các phương tiện giảng dạy overhead, computer, projector, loa… cũng như các hoạt
động ngoại khóa chưa thể một sớm một chiều đáp ứng được nhu cầu của người dạy
và người học, đặc biệt là ở các trường công lập bởi nguồn ngân sách của nhà nước
còn hạn hẹp. Điều này cản trở không ít đến việc cải tiến chất lượng; Chất lượng
giảng viên còn hạn chế, đặc biệt đối với các ngành kinh tế và kỹ thuật, sinh viên
vừa tốt nghiệp được giữ lại trường hoặc được tuyển dụng vào các trường làm giảng
viên mà chưa trải qua kinh nghiệm thực tiễn, phần lớn khá nghèo nàn về phương
pháp giảng dạy. Điều này dẫn đến chất lượng giảng dạy chủ yếu mang nặng tính lý
thuyết; Tổ chức quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ còn mang tính hình thức.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ nhưng người học không có quyền lựa chọn giảng
viên hoặc người học phải tích lũy đủ tín chỉ trong khoảng thời gian cho phép tối đa
học tại trường… Vì vậy, tổ chức đào tạo theo cơ chế này nhưng các trường chưa
thể thực hiện được việc sàn lọc giảng viên để nâng cao chất lượng đào tạo. Bên
cạnh đó, cán bộ quản lý giáo dục còn thiếu về số lượng lẫn chất lượng, thiếu tâm
huyết và thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp.
Bên cạnh những hạn chế nêu trên, một số trường cao đẳng, đại học hiện nay đã
chủ động và thúc đẩy mạnh mẽ liên kết giáo dục với các trường thuộc các nước
phát triển. Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo bước đầu đã thực hiện được vai trò

kiểm soát chất lượng đào tạo cũng như kiểm soát các điều kiện cần thiết để đảm
bảo thực hiện tốt các chương trình đào tạo tiên tiến này. Đây chính là cơ hội để các
trường tiếp cận với nội dung, phương pháp đào tạo tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm
và là đòn bẩy giúp các trường nâng cao chất lượng đào tạo, cung ứng nguồn nhân
lực có chất lượng cao.
1.2. Thực trạng về đáp ứng nhu cầu xã hội của nhân lực bậc cao Việt Nam
hiện nay
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tính đến
tháng 7 năm 2014, cả nước có khoảng 162.400 người có trình độ đại học trở lên
thất nghiệp; trong đó thanh niên từ 20-24 tuổi có tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở


lên thất nghiệp chiếm tới 20%. Người có trình độ cử nhân trở lên thất nghiệp liên
tục tăng (so với cuối năm 2013 số lượng cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp là hơn
72.000). Một con số đáng báo động về thực trạng giáo dục bậc cao này, bởi lẽ sự
lãng phí của việc đầu tư nguồn lực tài chính của cả Nhà nước và xã hội để đào tạo
ra lực lượng lao động này.
Một cuộc khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội)
thực hiện với quy mô gần 3.000 cựu sinh viên thuộc 5 khóa khác nhau (ra trường
từ năm 2006- 2010) của trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại Học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Huế, đã cho thấy những con số đáng quan
tâm: Có đến 26,2% cử nhân cho biết chưa tìm được việc làm, dù khái niệm việc
làm ở đây được hiểu rất rộng là bất cứ công việc gì tạo ra thu nhập, không nhất
thiết phải đúng với trình độ, chuyên ngành đào tạo. Trong số này, 46,5% cho biết
đã đi xin việc nhưng không thành công; 42% lựa chọn một giải pháp an toàn là tiếp
tục học lên hoặc học thêm một chuyên ngành khác.
Nguyên nhân sâu xa của thực trạng này được đánh giá dưới các góc độ sau:
Thứ nhất, quá trình đào tạo nhân lực bậc cao tiến hành một cách ồ ạt, không
theo nhu cầu xã hội, dự báo về nguồn nhân lực chưa thực sự hiệu quả. Sự phân

luồng lao động từ các bậc học trung học cơ sở, trung học phổ thông chưa được
thực hiện một cách khoa học. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý lựa
chọn ngành nghề của người học cũng như của các bậc phụ huynh và đã dẫn đến
trào lưu “người người đại học, người người thạc sĩ”. Trong khi đó, người tốt
nghiệp ở các bậc học này phần lớn không đủ chuẩn về ngoại ngữ, tin học chưa kể
đến trình độ chuyên môn. Đó là những công cụ tối thiểu để có thể thích nghi nhanh
nhất với công việc trong thời đại công nghệ thông tin vũ bão như hiện nay.
Thứ hai, chương trình đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu tuyển dụng. Việc xây
dựng chương trình đào tạo phải dựa trên chương trình khung đã chi phối đến chuẩn
đầu ra mà các trường cần phải cam kết và trong một số trường hợp chuẩn đầu ra đã
không cần thiết so với nhu cầu xã hội. Các học phần trong chương trình chưa có
tính mở để người học có thể lựa chọn phù hợp với khả năng cũng như yêu cầu của
công việc trong tương lai. Chương trình đào tạo có tỷ trọng về đào tạo tay nghề
thấp, đặc biệt chưa có nội dung trải nghiệm thực tế trong một số học phần chuyên
ngành. Một số học phần có nội dung giảng dạy còn mang nặng tính lý thuyết kinh
điển hoặc cung cấp kiến thức có tính cụ thể mà không xuất phát từ chuẩn mực hay
quy luật. Điều đó dẫn đến người học thiếu khả năng ứng dụng, tổng hợp và kỹ
năng thực hành thấp. Theo số liệu khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích
chính sách thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội) thực hiện từ các doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực về công
nghệ thông tin, tài chính kế toán, ngân hàng thì hơn 50% sinh viên được tuyển
dụng cần phải đào tạo lại, đặc biệt có những doanh nghiệp còn cho biết cần ít nhất
2 năm để “tẩy rửa” những gì các em đã được học và thêm 2 năm nữa để dạy những
kỹ năng cần thiết thì mới đáp ứng được công việc của doanh nghiệp.
Thứ ba, phương pháp giảng dạy chưa thực sự hướng đến phát triển năng lực
người học. Phương pháp thuyết trình vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo trong


các trường cao đẳng, đại học. Giảng viên chủ yếu chuyển tải cho người học những
kiến thức mình đã tích lũy như cách thông báo tri thức của giảng viên mà chưa

thực sự trở thành người dẫn đường giúp người học đến sự tìm tòi, khám phá và
phát huy tính sáng tạo. Kiến thức liên môn của người dạy còn hạn chế chưa thể đáp
ứng được nhu cầu giải quyết các tình huống phức hợp trong nền kinh tế thị trường,
cạnh tranh mạnh mẽ hiện nay. Việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
được phổ biến tại các trường nhưng phần lớn chỉ dừng ở mức độ lạm dụng nhằm
chuyển đổi từ hình thức “đọc chép” sang “chiếu chép”. Các phòng học lý thuyết
lẫn thực hành vẫn chưa được kết nối internet bởi một số nhà quản lý đào tạo cho
rằng việc trang bị công nghệ thông tin hiện đại sẽ làm cho người học không tập
trung trong giờ học hoặc giảng viên không kiểm soát được người học. Đây là quan
niệm sai lầm, quan niệm “không kiểm soát được thì cấm” cần chấm dứt trong giáo
dục và đào tạo nhân lực bậc cao này.
Tuy nhiên, trong thời gian tới khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ theo
cam kết gia nhập WTO, trong đó có dịch vụ giáo dục bậc cao thì khả năng nguồn
nhân lực bậc cao được đào tạo ở các trường liên kết với nước ngoài sẽ tăng lên và
sự cạnh tranh về giáo dục đại học sẽ diễn ra khốc liệt.
Từ thực trạng trên cho thấy, giáo dục đại học Việt Nam cần thiết đổi mới
hướng đến phát triển năng lực người học đáp ứng nhu cầu xã hội.
2. Các vấn đề đặt ra trong việc đổi mới giáo dục đại học hướng đến phát triển
năng lực người học đáp ứng nhu cầu xã hội
2.1. Nhu cầu xã hội đối với nhân lực bậc cao trong bối cảnh hiện nay
Giáo dục đại học đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh
tế - xã hội và thị trường lao động là một tất yếu khách quan.
Sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế với
những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội nhưng
đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với nền giáo dục của nước ta. Giáo
dục Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng đứng trước một thử thách
lớn, đó là tri thức của loài người tăng nhanh nhưng cũng lạc hậu ngày càng nhanh.
Điều đó đòi hỏi nguồn nhân lực, đặc biệt nhân lực bậc cao cần có khả năng thích
ứng nhanh chóng với nhu cầu của công việc. Hay nói cách khác, thị trường lao
động ngày nay luôn đòi hỏi năng lực hành động của đội ngũ lao động. Vì vậy, phát

triển và nâng cao kỹ năng của nguồn nhân lực bậc cao là một trong những nhiệm
vụ trọng yếu của Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động đa
dạng, đang thay đổi nhanh chóng trong giai đoạn hiện nay.
Việc gia nhập WTO của Việt Nam cũng như việc mở cửa thị trường lao động
ASEAN sẽ làm tăng nhu cầu nhân lực có trình độ cao và tạo ra một sự cạnh tranh
mạnh mẽ về số lượng lẫn chất lượng lao động. Đặc biệt, trong xã hội tri thức, nhân
công giá rẻ không còn là một lợi thế bởi việc phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu
dựa vào tri thức. Vì vậy, đổi mới giáo dục đại học nhằm thực hiện tốt vai trò then
chốt của giáo dục trong việc phát triển kinh tế xã hội thông qua việc đào tạo con
người, chủ thể sáng tạo và sử dụng tri thức.
Những vấn đề đặt ra trong việc đào tạo nhân lực bậc cao theo nhu cầu xã hội
như đã phân tích được thể hiện rõ trong đề án “Đổi mới giáo dục đại học Việt Nam


giai đoạn 2006-2020”, cụ thể mục tiêu trước năm 2020 Việt Nam cần đạt được là
khoảng 70% - 80% tổng số sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp - ứng
dụng. Khi đó, trọng tâm của những trường được giao thực hiện mục tiêu này sẽ là
đào tạo theo định hướng nghề nghiệp - ứng dụng, nghĩa là đào tạo những người có
đủ năng lực vận hành khu vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ trong xã hội.
Như vậy, việc đổi mới giáo dục đại học hướng đến phát triển năng lực người
học phải dựa vào nhu cầu xã hội đòi hỏi đi đôi với năng lực chuyên môn, người lao
động cần có những năng lực chung, đặc biệt là năng lực hành động; phát huy tính
năng động, sáng tạo, tự lực và tự chịu trách nhiệm trong hành động, biết cộng tác
trong công việc; sử dụng thành thạo công nghệ tin học và ngoại ngữ trong giao tiếp
và làm việc; có năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp; có khả năng chịu áp lực
và khả năng học tập suốt đời.
2.2. Đội ngũ quản lý giáo dục và giảng viên
Để đáp ứng được việc trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng theo
đòi hỏi của nhu cầu xã hội, thì từ chương trình giáo dục đến mục tiêu đào tạo, nội
dung học phần và phương pháp giảng dạy cần đổi mới toàn diện. Khi đó, cần xem

xét những vấn đề đặt đối với đội ngũ quản lý giáo dục và giảng viên.
Thứ nhất, đội ngũ quản lý giáo dục. Trình độ chuyên môn sâu và kinh nghiệm
của các trưởng khoa, trưởng bộ môn đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn,
thiết kế chương trình đào tạo để đạt chuẩn về kiến thức, khoa học và có tính linh
hoạt cao. Cán bộ quản lý giáo dục ở các phòng chức năng trong trường cao đẳng,
đại học đòi hỏi phải thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa nhà trường và xã hội, thực
hiện được chức năng khảo sát, tổng hợp và tham mưu về chất lượng đào tạo và nhu
cầu xã hội.
Thứ hai, đội ngũ giảng viên. Giảng viên là yếu tố quyết định hàng đầu trong
việc thực hiện đổi mới chất lượng đào tạo. Giảng viên với nhận thức đúng đắn, với
ý thức trách nhiệm và sự quyết tâm cao, kỹ năng thực hành nghề nghiệp và phương
pháp giảng dạy tốt, phù hợp với đối tượng người học là những yêu cầu cần thiết
của người thầy. Người thầy phải thực hiện được vai trò là người dẫn đường cho
người học và có thể là người đồng hành với người học trong tương lai. Như vậy,
giảng viên phải xác định được những vấn đề cần đổi mới, đó là đổi mới mục tiêu
giáo dục, đổi mới nội dung giáo dục, đổi mới phương tiện dạy học, đồng thời hình
thức tổ chức và phương thức đánh giá phải đáp ứng được yêu cầu đổi mới.
3. Giải pháp thực hiện đổi mới giáo dục đại học hướng đến phát triển năng
lực người học đáp ứng nhu cầu xã hội trong bối cảnh hiện nay
3.1. Giải pháp về thể chế
Giải pháp về thể chế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý
và tạo môi trường đổi mới giáo dục một cách thuận lợi. Cụ thể:
- Các quy định thuộc về quản lý giáo dục và đào tạo cần được chặt chẽ, khoa
học, có tính liên thông và tạo khả năng mở rộng các dịch vụ, đầu tư quốc tế trong
giáo dục. Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần tăng cường kiểm soát chặt chẽ
quá trình đào tạo từ việc mở trường, mở ngành đến chất lượng đầu ra mà các
trường đã cam kết.
- Thực hiện giao quyền cho các trường trong việc phát triển chương trình đào



tạo theo nhu cầu xã hội nhưng phải được kiểm duyệt bởi Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Bộ chủ quản của các trường cao đẳng, đại học. Định kỳ sau một khóa đào tạo, cần
có quy định cụ thể về tiến hành rà soát, đánh giá và sửa đổi chương trình đào tạo
theo hướng phát triển kinh tế, xã hội.
- Thúc đẩy hoạt động dự báo nguồn nhân lực một cách có hiệu quả bằng cách
phối hợp, điều tra khảo sát từ các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động – Thương
binh và Xã hội, từ các doanh nghiệp về việc thành lập mới doanh nghiệp, nhu cầu
lao động trong nước và lao động xuất khẩu. Trên cơ sở đó, thực hiện tốt việc phân
luồng người học ở các cấp bậc phổ thông cơ sở, phổ thông trung học.
- Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống các trường đại học theo hướng phân tầng từ
bậc cao đẳng nghề đến đại học thực hành và đại học nghiên cứu.
- Các quy định về chính sách tuyển dụng cần linh hoạt. Cụ thể, đối với các học
phần thực hành tay nghề, cần thiết cho phép các trường đào tạo thực hành tuyển
dụng các giảng viên là công nhân tay nghề giỏi hay những cá nhân đạt các giải
quốc tế về lĩnh vực đào tạo nhưng chưa đảm bảo về bằng cấp. Đây là vấn đề khá
phổ biến ở các nước phát triển khi không chạy theo “cơ chế bằng cấp”.
3.2. Giải pháp về tổ chức quá trình đào tạo
Giải pháp về tổ chức quá trình đào tạo cần thực hiện đồng bộ ở các mặt sau:
Thứ nhất, phát triển chương trình đào tạo. Đổi mới giáo dục đại học thực hiện
theo theo hướng “Học để làm gì?”. Trên cơ sở khảo sát nhu cầu xã hội, các trường
xác định ngành nghề cần đào tạo và chủ động xây dựng chương trình đào tạo có sự
tham gia của các nhà tuyển dụng và sử dụng lao động để chương trình sát với nhu
cầu thực tiễn.
Thứ hai, tăng cường hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo. Hoạt động này
sẽ tạo cơ hội trao đổi kinh nghiệm và khoa học giáo dục, mở rộng quan hệ hợp tác
và giao lưu, trao đổi sinh viên giữa các trường theo xu hướng hiện nay ở các nước
phát triển.
Thứ ba, nâng cao chất lượng của giảng viên. Đội ngũ giảng viên được tuyển
dụng cần đảm bảo chất lượng; cần có kế hoạch, biện pháp cụ thể về bồi dưỡng, đào
tạo, đào tạo lại, sử dụng và sa thải; Tổ chức đào tạo nội bộ trong các trường cũng là

một cách thức hiệu quả nhất về tăng cường chất lượng, tiết kiệm thời gian và chi
phí.
Thứ tư, tổ chức quá trình giảng dạy. Tổ chức dạy học kết hợp với thực tiễn tại
xưởng trường hoặc trải nghiệm thực tiễn tại các doanh nghiệp vừa tạo điều kiện
cho người học đáp ứng được nhu cầu công việc và có điều kiện cải thiện thu nhập.
Các trường đào tạo thực hành cần mạnh dạn tiến hành ngoại khóa hoặc chương
trình bồi dưỡng ngắn hạn tại trường với công nhân có tay nghề giỏi hay những cá
nhân đạt các giải quốc tế về lĩnh vực đào tạo.
Thứ năm, cơ sở vật chất. Nhà trường cần trang thiết bị các phòng thực hành
cũng như các phòng lý thuyết kết nối internet để người học có thể chủ động tìm
kiếm thông tin ngay trong thời gian làm việc tại lớp.
Thứ sáu, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường với các doanh nghiệp
hoặc hội doanh nhân của các địa phương sẽ giúp nhà trường cũng như người học
được hỗ trợ lớn về chia sẻ kinh nghiệm, cơ hội thực tập và cơ hội việc làm. Nhà


trường và Khoa thường xuyên tổ chức các hội thảo nhằm gắn kết nhà trường với
doanh nghiệp và xã hội. Đồng thời, nhà trường cung ứng các khóa bồi dưỡng ngắn
hạn với các nội dung mà doanh nghiệp có nhu cầu, đây cũng là cơ hội để giảng
viên có môi trường cọ sát với thực tế.
3.3. Giải pháp về phương pháp giảng dạy
Giảng viên giữ vai trò trọng tâm trong giải pháp này.
Trước hết, người dạy không ngừng đổi mới phương pháp, nâng cao trình độ
chuyên môn, tham gia tích cực việc trao đổi học thuật cả trong và ngoài trường,
tìm kiếm các cơ hội tiếp xúc thực tế để trao dồi kiến thức, kỹ năng đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của người sử dụng lao động, tiến bộ khoa học kỹ thuật và bắt
kịp xu thế thời đại.
Tiếp theo, phương pháp giảng dạy cần được đổi mới một cách toàn diện với sự
hỗ trợ của các thiết bị hiện đại nhằm phát huy hoạt động tích cực của người học.
Phát triển các mục tiêu giảng dạy, nghiên cứu cơ sở lý luận và xây dựng kế hoạch

triển khai việc đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học phần
theo định hướng phát triển năng lực người học với cách thức xây dựng đề thi/kiểm
tra và đáp án theo hướng mở; tích hợp kiến thức liên môn; giải quyết vấn đề thực
tiễn. Như vậy, người học không chỉ thực hiện nhiệm vụ thi công mà còn cùng thầy
tham gia thiết kế các tiết học tại lớp đạt hiệu quả cao và cùng thảo luận những vấn
đề có tính thực tiễn khi còn học tại trường cũng như khi đã tốt nghiệp. Đây cũng là
quá trình người thầy hoàn thiện kiến thức và kỹ năng của chính mình.
Một số học phần cần hướng đến việc giảng dạy trực tuyến, sử dụng điện toán
đám mây để giúp người học có thể học tập, rèn luyện kỹ năng tại nhà và giảng viên
vẫn kiểm soát được chất lượng học tập.
Giảng viên thực sự thực hiện tốt đổi mới phương pháp giảng dạy, phát huy hiệu
quả sử dụng thời gian cũng như giúp cho người học tham gia tích cực vào bài
giảng chỉ khi giảng viên làm tốt các công việc cụ thể như sau: lập được kế hoạch
giảng dạy, chuẩn bị môi trường lớp học, cung cấp nguồn tài liệu cần thiết hỗ trợ
khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học, giảng dạy có trách nhiệm và chủ
động kiến thức giúp người học tiếp thu kiến thức từ nông đến sâu, luôn tạo được
không khí đối thoại giữa người học và người dạy và hướng người học đến việc độc
lập giải quyết vấn đề.
Bên cạnh những giải pháp cơ bản trên, về phía người học cũng cần xác định
rõ định hướng nghề nghiệp của bản thân, cần nỗ lực phát huy tính tự chủ, tự trang
bị các kỹ năng mềm, học cách quản trị thời gian, xác định tốt các yêu cầu công
việc cần đáp ứng trong tương lai từ đó lựa chọn, tổ chức quá trình học tiết kiệm và
hiệu quả. Tận dụng triệt để các cơ hội tiếp cận thực tiễn tại các doanh nghiệp trong
thời gian kiến tập, thực tập.
Kết luận
Thực hiện đổi mới giáo dục đại học hướng đến phát triển năng lực người học
đáp ứng nhu cầu xã hội trong bối cảnh hiện nay là vấn đề cần thiết nhằm đóng góp
nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước. Giải quyết vấn đề này luôn cần sự
chung tay góp sức từ nhà trường, doanh nghiệp và toàn xã hội.



Tài liệu tham khảo
1. Anderson, L. W. & Krathwohl, D. R. (2001), Phân loại tư duy cho việc dạy, học
và đánh giá, New York: Longman.
2. Robert J. Marzano (2013), Nghệ thuật và khoa học dạy học, NXB Giáo dục Việt
Nam.
3. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật Giáo dục Đại
học.
4. Các website: http://www. moet.gov.vn; ,
, .
5. />Liên hệ với tác giả theo địa chỉ:
Họ và Tên: Ngô Thị Hoài Nam
Chức vụ, Cơ quan công tác: Phó Trưởng Khoa Kế toán – Kiểm toán, Trường Cao
đẳng Thương mại
Địa chỉ liên hệ: 45 Dũng Sĩ Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0905012188 email:



×