Tải bản đầy đủ (.doc) (229 trang)

Bồi dưỡng năng lực công tác thanh niên của đội ngũ 8 chính trị viên ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (856.84 KB, 229 trang )

Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án
là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận án

Hong Ngõn


5

MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2. Các công trình khoa học đã công bố ở trong nước
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC
CÔNG TÁC THANH NIÊN CỦA ĐỘI NGŨ CHÍNH TRỊ VIÊN
Ở CÁC ĐƠN VỊ CƠ SỞ LÀM NHIỆM VỤ HUẤN LUYỆN,
SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
2.1 Đội ngũ chính trị viên và năng lực công tác thanh niên của đội
ngũ chính trị viên ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn luyện,
sẵn sàng chiến đấu
2.2 Quan niệm, vai trò, tiêu chí đánh giá và những vấn đề có tính nguyên
tắc bồi dưỡng năng lực công tác thanh niên của đội ngũ chính trị viên
ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu


Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC CÔNG TÁC THANH NIÊN CỦA ĐỘI NGŨ
CHÍNH TRỊ VIÊN Ở CÁC ĐƠN VỊ CƠ SỞ LÀM NHIỆM VỤ
HUẤN LUYỆN, SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU QUÂN ĐỘI NHÂN
DÂN VIỆT NAM
3.1 Thực trạng bồi dưỡng năng lực công tác thanh niên của đội ngũ
chính trị viên ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn
sàng chiến đấu.
3.2 Nguyên nhân và những kinh nghiệm bồi dưỡng năng lực công tác
thanh niên của đội ngũ chính trị viên ở các đơn vị cơ sở làm
nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu
Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC CÔNG TÁC THANH NIÊN CỦA ĐỘI NGŨ CHÍNH
TRỊ VIÊN Ở CÁC ĐƠN VỊ CƠ SỞ LÀM NHIỆM VỤ HUẤN
LUYỆN, SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
4.1 Những nhân tố tác động và yêu cầu bồi dưỡng năng lực công tác thanh
niên của đội ngũ chính trị viên ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn
luyện, sẵn sàng chiến đấu giai đoạn hiện nay.
4.2 Những giải pháp cơ bản bồi dưỡng năng lực công tác thanh niên
của đội ngũ chính trị viên ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn
luyện, sẵn sàng chiến đấu giai đoạn hiện nay.
KẾT LUẬN
NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang


5
10
10
13

23
23
60

82
82
112

129
129
139
179
181
182
196


6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết đầy đủ

Viết tắt

1.


Chính trị quốc gia

CTQG

2.

Chính trị viên

CTV

3.

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

4.

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNH,HĐH

5.

Công tác đảng, công tác chính trị

CTĐ,CTCT

6.


Công tác thanh niên

CTTN

7.

Đoàn viên, thanh niên

ĐV,TN

8.

Huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu

HL,SSCĐ

9.

Nhà xuất bản

Nxb

10.

Quân đội nhân dân

QĐND

11.


Trong sạch vững mạnh

TSVM

12.

Vững mạnh toàn diện

VMTD

13.

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
CTTN là bộ phận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác quần
chúng của Đảng và công tác xây dựng Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách


7
mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng CTTN, coi
thanh niên là lực lượng “rường cột của nước nhà” và Đoàn Thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, đội quân xung kích cách mạng,
trường học XHCN của thanh niên. Ngày nay trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh
CNH,HĐH đất nước, thanh niên và CTTN càng có vị trí, vai trò đặc biệt quan
trọng đối với sự phát triển của dân tộc.

Các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ trong Quân đội nhân dân Việt
Nam giữ vị trí vai trò cực kỳ quan trọng trong xây dựng và thực hiện nhiệm vụ
chính trị của quân đội, là lực lượng thường xuyên cơ động sẵn sàng chiến đấu và
chiến đấu cao, là nơi trực tiếp tổ chức cho bộ đội thực hiện mọi nhiệm vụ, chức
năng của quân đội. Thanh niên ở các đơn vị đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ
trong quân đội là lực lượng đông đảo, xung kích trong thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, nhiệm vụ chính trị của đơn vị; là nguồn phát triển
Đảng, nguồn đào tạo cán bộ cho quân đội và bổ sung lực lượng cho các tổ chức,
các ngành, lĩnh vực trong công cuộc đổi mới đất nước. CTTN ở các đơn vị cơ sở
làm nhiệm vụ HL,SSCĐ trong quân đội có vai trò hết sức quan trọng, vừa tăng
cường sức mạnh chiến đấu của quân đội, vừa góp phần tăng cường sức mạnh toàn
diện của đất nước, của dân tộc, đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt,
đồng thời phục vụ cho nhiệm vụ lâu dài của quân đội và cách mạng.
Tiến hành CTTN ở đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ là trách nhiệm
của cấp ủy đảng, chính ủy, CTV, người chỉ huy, các cơ quan chức năng và mọi
cán bộ, đảng viên trong đơn vị, trong đó trách nhiệm chủ yếu thuộc về đội ngũ
CTV. Đội ngũ CTV có vai trò hết sức quan trọng, là người “trực tiếp chỉ đạo,
quản lý, điều hành” toàn diện CTTN; quyết định chất lượng, hiệu quả CTTN ở
đơn vị. Để làm tốt chức trách, nhiệm vụ đối với CTTN, nhất thiết đội ngũ CTV
phải không ngừng được bồi dưỡng nâng cao năng lực CTTN.
Ý thức được điều đó, những năm qua các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ
HL,SSCĐ trong quân đội đã luôn quan tâm bồi dưỡng nâng cao năng lực


8
CTTN của đội ngũ CTV, phẩm chất, năng lực CTTN của đội ngũ CTV cơ bản
đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ CTTN, góp phần quan trọng nâng cao chất
lượng, hiệu quả CTTN ở đơn vị. Tuy nhiên, nhận thức đối với việc bồi dưỡng,
nâng cao năng lực CTTN của đội ngũ CTV ở một số đơn vị chưa thực sự đầy
đủ, năng lực CTTN của một số CTV còn hạn chế, nhất là kỹ năng tổ chức các

hoạt động thực tiễn CTTN.
Hiện nay, tiến hành CTTN ở đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ trong
quân đội, bên cạnh những điều kiện thuận lợi cũng đặt ra những khó khăn, thách
thức. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên
lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, đạo đức, lối sống. Những tệ nạn xã hội và mặt trái
của cơ chế kinh tế thị trường đang hàng ngày, hàng giờ tác động vào nhận thức,
tư tưởng, đạo đức, lối sống của thanh niên. Lực lượng thanh niên ở đơn vị cơ sở
làm nhiệm vụ HL,SSCĐ chủ yếu thuộc diện chiến sĩ thực hiện Luật nghĩa vụ
quân sự, thời hạn 18 tháng, bên cạnh những mặt ưu điểm về phẩm chất chính trị,
trình độ học vấn, sức khoẻ cũng còn bộc lộ những hạn chế về nhận thức, tư
tưởng, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong công tác, giải quyết các mối
quan hệ xã hội...
Tình hình trên đang đòi hỏi CTTN ở đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ
phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Mặt khác,
thực hiện Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị (Khóa IX), đội ngũ CTV ở đơn vị cơ
sở được kiện toàn từ nhiều nguồn khác nhau, chất lượng không đồng đều; năng
lực CTĐ,CTCT nói chung, năng lực CTTN của CTV nói riêng còn hạn chế, chưa
đáp ứng ngang tầm với yêu cầu chức trách, nhiệm vụ. Vì vậy, bồi dưỡng năng
lực CTTN của đội ngũ CTV ở đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ trong quân
đội hiện nay trở thành vấn đề cấp thiết, cần được đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ
cả về lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng CTTN ở đơn vị cơ sở
và xây dựng đội ngũ CTV trong quân đội vững mạnh. Với ý nghĩa đó, nghiên
cứu sinh chọn vấn đề “Bồi dưỡng năng lực công tác thanh niên của đội ngũ


9
chính trị viên ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu
Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Mục đích:

Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn, đề xuất
những giải pháp cơ bản bồi dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ CTV ở các đơn vị
cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ:
- Luận giải làm rõ những vấn cơ bản về năng lực CTTN, bồi dưỡng năng
lực CTTN của đội ngũ CTV ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL, SSCĐ.
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm
bồi dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ CTV ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,
SSCĐ.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản bồi dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ
CTV ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ Quân đội nhân dân Việt Nam
giai đoạn hiện nay.
* Đối tượng nghiên cứu:
Bồi dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ CTV
* Phạm vi nghiên cứu:
Hoạt động bồi dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ CTV, bao gồm CTV và
CTV phó tiểu đoàn, đại đội ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ. Phạm vi
khảo sát thực tế chủ yếu tập trung ở một số trung đoàn bộ binh, trung đoàn, lữ
đoàn các quân, binh chủng làm nhiệm vụ HL,SSCĐ thuộc các đơn vị chủ lực ở
phía Bắc và phía Nam. Các tư liệu, số liệu sử dụng trong luận án được giới hạn
từ năm 2006 đến nay.
3. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
*Cơ sở lý luận:


10
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác vận động quần chúng cách mạng, thanh
niên và CTTN; về cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ trong quân đội; các nghị
quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, chỉ thị, hướng dẫn của Tổng cục Chính

trị về CTTN, công tác giáo dục, đào tạo, xây dựng đội ngũ CTV và bồi dưỡng
năng lực CTTN của đội ngũ CTV.
* Cơ sở thực tiễn:
Thực tiễn hoạt động CTĐ,CTCT, CTTN và bồi dưỡng năng lực CTTN của
đội ngũ CTV ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ Quân đội nhân dân
Việt Nam; các tài liệu tổng kết CTĐ,CTCT, công tác cán bộ, CTTN, công tác
giáo dục, đào tạo đội ngũ CTV, bồi dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ CTV.
Các số liệu điều tra, khảo sát của tác giả trong quá trình nghiên cứu thực tiễn.
* Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án vận dụng
tổng hợp phương pháp nghiên cứu của các khoa học liên ngành và chuyên
ngành, trong đó đặc biệt chú trọng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp,
lôgic - lịch sử, hệ thống cấu trúc, so sánh, điều tra khảo sát, tổng kết thực tiễn và
phương pháp chuyên gia.
4. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Nêu ra quan niệm về năng lực CTTN và quan niệm, tiêu chí đánh giá bồi
dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ CTV ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ
HL,SSCĐ Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Rút ra những kinh nghiệm bồi dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ CTV ở
các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Đề xuất một số nội dung, biện pháp bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm,
phương pháp công tác, kỹ năng hoạt động CTTN cho đội ngũ CTV ở các đơn vị
cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay.
5. Ý nghĩa của luận án


11
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho cấp
uỷ, tổ chức đảng, chính uỷ, CTV, người chỉ huy, cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ
chính trị các đơn vị cơ sở trong quân đội vận dụng bồi dưỡng năng lực CTTN của

đội ngũ CTV, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả CTTN ở đơn vị, xây dựng
đơn vị VMTD, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy
và học tập môn CTĐ,CTCT trong các nhà trường quân đội.
6. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương (8 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.


12
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Thanh niên và CTTN là vấn đề có ý nghĩa chiến lược nên được các nhà
lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học ở các quốc gia trên thế giới quan tâm. Đã có
rất nhiều bài phát biểu, bài viết của các nhà lãnh đạo các nước trong khu vực và
trên thế giới, cũng như các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học bàn về
thanh niên và CTTN. Đặc biệt, các nhà khoa học, chính trị, quân sự Xô Viết và
Trung Quốc đã nghiên cứu khá sâu sắc, toàn diện về thanh niên, CTTN.
1.1.1. Các công trình khoa học ở Liên Xô
Những nguyên lý Lê-nin-nit về giáo dục thanh niên của Phó tiến sĩ sử học
X.M.Lê-pê-khin, Nxb Lê-nin-Grat, 1975. Dựa trên cơ sở Học thuyết Mác Lênin về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc giáo dục thanh niên, tác giả đã
luận giải làm rõ nội dung những nguyên lý Lê-nin-nit về giáo dục thanh niên;
phương pháp, hình thức và kinh nghiệm trong công tác giáo dục đoàn viên thanh
niên của Đoàn thanh niên cộng sản Lênin Liên Xô. Trong đó, tác giả đã luận giải
sâu sắc “những nguyên tắc cơ bản” của sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô
đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin Liên Xô. Theo tác giả, sự lãnh đạo của
Đảng đối với Đoàn Thanh niên cộng sản là toàn diện trên tất cả các mặt, các hoạt
động của Đoàn, từ “hướng dẫn Đoàn làm công tác giáo dục cộng sản chủ nghĩa

cho thế hệ trẻ” đến “lựa chọn, sắp xếp, giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, củng cố đội
ngũ nòng cốt của Đảng trong Đoàn”...[67, tr.52-53].
Trong cuốn Bàn về thanh niên của M.I.Calinin, Nxb Thanh niên, Hà Nội
1982. Bằng những trải nghiệm của bản thân, tác giả đã đúc rút những kinh nghiệm
quý báu trong công tác giáo dục thanh niên, đồng thời ông cũng đưa ra những yêu
cầu cụ thể về phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác của cán bộ làm
CTTN nói chung, cán bộ đoàn nói riêng. Theo M.I.Calinin: Trong công tác với


13
thanh niên, không được phép sao chép một cách thiếu suy nghĩ những phương pháp
của “ người lớn tuổi”, cũng như không được dùng mệnh lệnh hành chính mà chúng
ta thường gặp trong các tổ chức kinh tế... “Điều quan trọng ở đây là phải tính đến
những đặc điểm lứa tuổi của thanh niên, đến tính nhạy cảm đặc biệt của họ, đến
lòng khao khát của họ vươn tới những lý tưởng cao đẹp...”; “Việc coi thường những
đặc điểm lứa tuổi chỉ có thể làm cho công tác đoàn bị khô héo, cằn cỗi đi, chỉ có thể
làm cho thanh niên khiếp sợ và xa lánh Đoàn” [10, tr.13,14].
Về CTTN trong quân đội, Đại tướng Quân đội Liên Xô A.A. Ê-pi-sép, tác
giả cuốn sách Một số vấn đề Công tác đảng công tác chính trị trong các lực
lượng vũ trang Liên Xô, Nxb QĐND, Hà Nội, 1978, đã luận giải làm rõ sự lãnh
đạo của Đảng đối với các tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản trong Quân đội và
Hải quân Liên Xô. Theo tác giả, đoàn viên thanh niên trong Quân đội và Hải
quân là cánh tay đắc lực của các cán bộ chỉ huy, các cơ quan chính trị và các tổ
chức đảng; là lực lượng có vai trò ngày càng quan trọng trong huấn luyện chiến
đấu và trong việc hoàn thành các nhiệm vụ công tác khác. Do vậy, tổ chức đảng,
cơ quan chính trị phải thường xuyên lãnh đạo và hướng dẫn Đoàn thanh niên.
Cũng theo tác giả, hiệu quả công tác đoàn ở đơn vị phụ thuộc vào trình độ năng
lực, uy tín của đội ngũ cán bộ đoàn. Do đó, các cấp uỷ đảng, người chỉ huy, cơ
quan chính trị, nhất là các “chỉ huy phó phụ trách chính trị và các bí thư Đảng”
phải thường xuyên chăm lo bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tác

phong công tác cho đội ngũ cán bộ đoàn. Tuy nhiên, theo tác giả, “phương pháp
cơ bản để nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ đoàn cũng giống như của các
cốt cán của Đảng vẫn là tự học” [57, tr.206].
Ngoài ra, bàn về thanh niên và CTTN còn có các công trình nghiên cứu của
các tác giả như: Cán bộ đoàn phải là người như thế nào của A.Vi-nô-gra-đôp,
Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1979; Hình thành niềm tin Cộng sản cho thế hệ trẻ của
V.A.Xu-khôm-lin-xki, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1983; Tâm lý học về công tác
của người bí thư chi đoàn của I.Umanxki, A.Lutoskin, Nxb Thanh niên, Hà Nội,
1984; Đào tạo và giáo dục cán bộ đoàn của V.I.Vanôp và B.Lixin, Nxb Thanh


14
niên, Hà Nội, 1985; Giáo dục trong thực tiễn của A.X.Ma-ca-ren-cô, Nxb Thanh
niên, Hà Nội, 1990; Thanh niên trong quá trình tái sản xuất xã hội của
V.I.Tsuprov, Viện xã hội học, Hà Nội, 1998; Công tác đảng, công tác chính trị
trong các lực lượng vũ trang Xô Viết thời kỳ 1918 - 1973, Viện lịch sử quân sự,
Bộ Quốc phòng Liên Xô, Nxb QĐND, Hà Nội, 1976. Với những cách tiếp cận
khác nhau, các công trình đã luận bàn về vai trò của thanh niên và CTTN; nội
dung, phương thức giáo dục thanh niên; yêu cầu về phẩm chất, năng lực, phương
pháp tác phong công tác của cán bộ làm CTTN và cán bộ đoàn; những kinh
nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực công tác nói chung,
năng lực CTTN nói riêng của đội ngũ cán bộ đoàn.
1.1.2. Các công trình khoa học ở Trung Quốc
Ở Trung Quốc, CTTN nói chung, CTTN trong Quân Giải phóng nhân dân
Trung Quốc nói riêng được các nhà lãnh đạo, quản lý, các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu. Giáo trình công tác chính trị của Quân Giải phóng nhân dân Trung
Quốc dùng trong các học viện, nhà trường trong thời kỳ mới do Nxb Đại học quốc
phòng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc xuất bản và phát hành tháng 10
năm 1987 (hiện đang sử dụng), người dịch Dương Minh Hào, Dương Thuỳ Trang,
phòng biên tập sách quốc tế, Nxb QĐND, Hà Nội. Trong đó, tập thể tác giả Chư

Mãn, Lưu Vĩnh Thọ, Triệu Canh Quần, Chu Nghị Đỉnh đã luận giải làm rõ vị trí,
vai trò của CTTN trong quân đội; phân tích làm rõ tính chất, vai trò, hệ thống tổ
chức chi đoàn ở đại đội; vị trí, vai trò của đội ngũ CTV và cán bộ đoàn đối với
CTTN ở đơn vị. Theo tập thể tác giả, để nâng cao chất lượng công tác chi đoàn ở
đại đội, một mặt phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, CTV, người
chỉ huy, cơ quan chính trị; tích cực đổi mới nội dung, hình thức hoạt động của chi
đoàn; mặt khác “phải thường xuyên chăm lo bồi dưỡng nâng cao trình độ tư tưởng
và năng lực hoạt động thực tế của cán bộ đoàn”. Về nội dung, hình thức bồi dưỡng
năng lực công tác cho cán bộ đoàn bao gồm: Tổ chức cho họ “học tập chủ nghĩa
Mác - Lênin; đường lối, phương châm, chính sách của Đảng; truyền thống và kinh
nghiệm tốt đẹp về công tác Đoàn thanh niên cộng sản, không ngừng nâng cao giác


15
ngộ chính trị và trình độ nghiệp vụ”; “giáo dục họ nhiệt tình công tác thanh niên,
nghiên cứu sâu về công tác thanh niên, làm cho họ biết làm công tác giáo dục đoàn,
biết làm công tác tư tưởng, biết hoạt động xung quanh công tác trung tâm, biết tổ
chức hoạt động văn thể” [22, tr.454-455].
Trong cuốn Điều lệ công tác chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung
Quốc (ban hành kèm theo thông tư ngày 5 tháng 12 năm 2003 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Trung quốc), người dịch Dương Minh Hào, Triệu
Anh Ba, Phòng biên tập sách quốc tế, Nxb QĐND, Hà Nội, đã xác định rõ vị trí,
vai trò, nguyên tắc, cơ cấu tổ chức và hoạt động của tổ chức Đoàn thanh niên cộng
sản trong Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc; nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức
đoàn; các quy định về nguyên tắc, thủ tục tiến hành đại hội đoàn các cấp; chức
trách, quyền hạn của ban chấp hành đoàn; chức trách, nhiệm vụ của CTV đại đội,
CTV tiểu đoàn đối với CTTN; công tác của người bí thư chi đoàn, liên chi đoàn.
Theo đó, CTV đại đội, CTV tiểu đoàn là người “Chỉ đạo công tác” của ban chấp
hành chi đoàn, liên chi đoàn Thanh niên Cộng sản của đơn vị [129, tr. 51,53]; bí thư
chi đoàn, liên chi đoàn là người “Chủ trì công việc hàng ngày” của chi đoàn, liên

chi đoàn [129, tr.82]. Bí thư chi đoàn, liên chi đoàn phải căn cứ theo chỉ thị của chi
bộ, đảng uỷ và tổ chức đoàn cấp trên, kết hợp tình hình thực tế ở chi đoàn, liên chi
đoàn; xác định và triển khai công tác thảo luận của ban chấp hành chi đoàn, liên chi
đoàn; kiểm tra tình hình thực hiện nghị quyết của hội nghị chi đoàn, liên chi đoàn
và ban chấp hành chi đoàn, liên chi đoàn đề ra; đại diện ban chấp hành chi đoàn,
liên chi đoàn báo cáo công tác với hội nghị đoàn viên và tổ chức đoàn cấp trên; chủ
động duy trì mối quan hệ mật thiết với uỷ viên ban chấp hành chi đoàn, liên chi
đoàn, thường xuyên trao đổi tình hình, nghiên cứu công tác; báo cáo, xin ý kiến chỉ
đạo của đảng bộ, thủ trưởng cùng cấp về công tác…[129, tr.82-83].
1.2. Các công trình khoa học đã công bố ở trong nước
1.2.1. Về thanh niên và công tác thanh niên
Với quan điểm nhất quán và xuyên suốt: “Công tác thanh niên là vấn đề
sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của


16
cách mạng” [28, tr.42] nên CTTN đã được Đảng ta và Bác Hồ đặt ra từ rất sớm.
Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã có rất nhiều nghị quyết chuyên đề về
CTTN. Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài nói, bài viết quan trọng về thanh
niên và CTTN. Nhiều tập thể và cá nhân các nhà khoa học, từ nhiều góc độ tiếp
cận khác nhau đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề này. Đặc biệt trong
những năm đổi mới, trước yêu cầu ngày càng cao của việc phát huy nhân tố con
người cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhiều công trình nghiên cứu
về thanh niên và CTTN đã được công bố. Tiêu biểu như:
Đề tài cấp bộ, mã số KTN - 96 - 01: Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế
hệ trẻ Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới, do Phạm Đình Nghiệp làm chủ
nhiệm, nghiệm thu năm 1998. Đề tài đã tập trung phân tích làm rõ thực trạng của
việc giác ngộ lý tưởng cách mạng của thế hệ trẻ Việt Nam và công tác giáo dục
lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ, cùng một số những dự báo và các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ

Việt Nam trong tình hình mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam với công tác vận động thanh niên trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Ban Dân vận Trung ương,
Nxb CTQG, Hà Nội 2001. Công trình nghiên cứu đã chỉ ra khái niệm về công
tác vận động thanh niên của Đảng; phân tích làm rõ những luận điểm cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về công
tác vận động thanh niên; đánh giá những mặt được và chưa được, nguyên nhân
thành công, hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới công tác vận
động thanh niên của Đảng ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước.
Đề tài khoa học Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của Trung ương Đoàn Thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh, nghiệm thu tháng 7 năm 2002. Trên cơ sở quán triệt
và cụ thể hoá quan điểm của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và
CTTN; xuất phát từ hoàn cảnh, điều kiện khách quan của đất nước và xu


17
hướng phát triển của tình hình, đề tài đã xác định chính sách, mục tiêu và hệ
thống các giải pháp để thực hiện chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam
đến năm 2010.
Ngoài ra, bàn về thanh niên và CTTN còn có các đề tài: Quan hệ biện
chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt
Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học của Lê Thị Hoài Thanh, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003; Phát triển lý tưởng Xã hội Chủ nghĩa
cho thanh niên Việt Nam hiện nay của Nguyễn Đức Tiến, Nxb CTQG, Hà Nội,
2005; Biến động cơ cấu xã hội giai cấp và vấn đề giáo dục chính trị cho thanh niên
ở nước ta của Phùng Văn Thiết, Nxb QĐND, Hà Nội, 2006... Các đề tài, luận án
trên đã luận bàn xoay quanh các vấn đề về giáo dục chính trị, truyền thống, đạo
đức, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên giai đoạn hiện nay. Mặc dù
không trực tiếp bàn về CTTN ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ, song

kết quả nghiên cứu của các đề tài, luận án là một trong những cơ sở quan trọng
để xác định mục tiêu, nội dung nhiệm vụ CTTN trong quân đội hiện nay nói
chung, ở đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ nói riêng.
Tiếp cận nghiên cứu về thanh niên và CTTN ở phạm vi, góc độ khác nhau
còn có các bài báo khoa học như: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Trần Lưu Hải,
Tạp chí Xây dựng Đảng, số 7 - 2008; Giáo dục truyền thống cho thanh niên trong
thời kỳ hội nhập của Trương Hoàng Giang, Tạp chí Thanh niên, Số 25 - tháng 10 2008; Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước về công tác thanh
niên của Dương Tự Đam, Tạp chí Thanh niên, Số 1- tháng 1 - 2009; Đổi mới
phương thức tập hợp thanh niên vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của
Nguyễn Hoàng Hiệp, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, Số 3 - 2009; Tăng cường
giáo dục về văn hoá, lối sống cho thanh niên hiện nay của Nguyễn Năng Nam,
Tạp chí Thanh niên, Số 28 - tháng 10 - 2010; Vai trò của tổ chức đoàn trong tập
hợp thanh niên của Trần Thông, Tạp chí Thanh niên, Số 30 - tháng 10 - 2010;


18
Đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Cao Văn Trọng,
Tạp chí Thanh niên, Số 4 - tháng 11 - 2010 ... Nội dung mỗi bài báo đề cập một
góc độ nhất định về thanh niên và CTTN, nhưng đều có một điểm khẳng định
chung là muốn thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay tiếp tục xứng đáng là đội hậu
bị, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ
trong giai đoạn mới của cách mạng thì phải tăng cường bồi dưỡng nâng cao năng
lực lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, cán bộ chủ trì các cấp đối với CTTN.
Cùng với những công trình trên, những năm qua CTTN trong quân đội
cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Trong đó tiêu biểu có các
công trình:
Đổi mới hoạt động của các tổ chức quần chúng trong quân đội nhằm tăng
cường hiệu quả xây dựng quân đội về chính trị trong giai đoạn cách mạng mới,
Đề tài cấp Bộ Quốc phòng, mã số KXB - 96 - 06 do Nguyễn Ngọc Phú làm chủ

nhiệm, nghiệm thu năm 1999. Đề tài phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
đổi mới hoạt động của các tổ chức quần chúng trong quân đội đối với xây dựng
quân đội về chính trị; đánh giá thực trạng, dự báo xu hướng phát triển và đề xuất
hệ thống giải pháp đổi mới hoạt động của các tổ chức quần chúng trong quân đội.
Nâng cao chất lượng CTTN ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ
của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình hiện nay, Luận án tiến sĩ lịch
sử của Phạm Gia Cư, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2000. Luận án đã tập
trung làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn, bản chất CTTN và tính
tất yếu của việc nâng cao chất lượng CTTN ở đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ
HL,SSCĐ; đánh giá thực trạng, làm rõ nguyên nhân, dự báo xu hướng phát triển
của thanh niên và CTTN ở đơn vị; xác định mục tiêu, đề xuất một số giải pháp
cơ bản nhằm nâng cao chất lượng CTTN ở đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ
của quân đội hiện nay.
Ngoài ra bàn về CTTN trong quân đội còn có các đề tài: Đổi mới và tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với thanh niên quân đội hiện nay, Luận văn


19
thạc sĩ Xây dựng Đảng của Nguyễn Văn Lượng, Học viện Chính trị quân sự, Hà
Nội, 1995; Nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đoàn ở các đơn vị
học viên đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội tại Học viện Chính trị Quân sự,
Luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng của Vũ Cao Hội, Học viện Chính trị quân sự,
Hà Nội, 2001; Nâng cao chất lượng lãnh đạo công tác thanh niên ở các hệ học
viên Trường sĩ quan Đặc công hiện nay, Luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng của
Nguyễn Hữu Ngà, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, 2002...
Các công trình luận án, luận văn đã đề cập, luận bàn xoay quanh vấn đề đổi
mới và tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với CTTN ở đơn vị;
nâng cao chất lượng hoạt động của đoàn; nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo
CTTN của cấp ủy, chỉ huy đơn vị... Tuy nhiên, các công trình này chưa đi sâu bàn
về bồi dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ CTV ở đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ

HL,SSCĐ, nhưng các kết quả nghiên cứu đều có liên quan đến hướng nghiên cứu
của luận án là bồi dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ CTV ở các đơn vị cơ sở làm
nhiệm vụ HL,SSCĐ, tác giả luận án xem các công trình khoa học này là nguồn tài
liệu quan trọng để tiếp thu, kế thừa và tiếp tục phát triển.
Bàn về CTTN quân đội còn có các bài báo khoa học, như: Giáo dục, bồi
dưỡng, rèn luyện đoàn viên thanh niên quân đội hiện nay theo tư tưởng Bác Hồ của
Nguyễn Vĩnh Thắng, Thanh niên Quân đội, Số 35 - tháng 7 năm 2005; Để phong
trào thanh niên Quân đội là mũi nhọn xung kích của phong trào thanh niên cả
nước của Võ Văn Thưởng, Thanh niên Quân đội, Số 44 - 2007; Phát huy vai trò
xung kích của thanh niên quân đội trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của Bùi Văn Huấn, Tạp chí Cộng sản, số 793 - 2008; Phát
huy vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với tổ chức đoàn trong quân đội của
Nguyễn Ngọc Hải, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự, Số 4 - 2008; Thanh
niên quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, phấn đấu xứng danh Bộ đội
Cụ Hồ của Nguyễn Mạnh Dũng, Tạp chí Thanh niên, Số 12 - tháng 4 - 2010 ... Các
bài báo trên đã luận giải làm rõ nội dung, biện pháp CTTN trong quân đội hiện nay,
nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của tổ chức đảng, chính uỷ, CTV,
người chỉ huy, cơ quan chức năng đối với CTTN ở đơn vị cơ sở.


20
1.2.2. Về bồi dưỡng năng lực công tác thanh niên
Dưới góc độ khác nhau, trong những năm qua đã có một số đề tài nghiên
cứu về bồi dưỡng năng lực CTTN. Trong đó đáng lưu ý là những đề tài bàn về bồi
dưỡng năng lực CTTN dưới góc độ bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng công tác đoàn.
Trong cuốn Sổ tay cán bộ đoàn cơ sở của Lê Văn Cầu, Nxb Thanh niên, Hà
Nội, 2009, đã tập trung luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về Đoàn thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam, Đội thiếu niên tiền
phong Hồ Chí Minh; các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Đoàn; những vấn
đề cơ bản về đoàn viên; phương pháp công tác của người cán bộ đoàn cơ sở; kỹ

năng tổ chức trò chơi thanh niên…Đây là những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho
mỗi cán bộ đoàn cơ sở trong quá trình triển khai công việc, giúp cán bộ đoàn thực
hiện tốt hơn vai trò, trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, công trình này chỉ mới đề
cập đến kiến thức, kỹ năng công tác đoàn, chưa đề cập đến kiến thức, kỹ năng chỉ
đạo, quản lý, điều hành CTTN của người CTV trong quân đội.
Sổ tay bí thư chi đoàn của Phạm Đình Nghiệp và Lê Văn Cầu, Nxb
Thanh niên, Hà Nội, 2009, bao gồm 150 câu hỏi và trả lời xung quanh những
kiến thức cơ bản về Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp thanh
niên Việt Nam, Hội sinh viên Việt Nam, Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh;
những vấn đề cơ bản về chi đoàn; về tổ chức câu lạc bộ thanh niên, diễn đàn
thanh niên, tổ chức các hoạt động giã ngoại, tham quan, hội nghị; kỹ năng tổ
chức các trò chơi thanh niên và một số kiến thức, kỹ năng hoạt động bổ trợ cho
hoạt động của bí thư chi đoàn... Đây thực sự là cẩm nang của bí thư chi đoàn.
Tuy nhiên, cũng như Sổ tay cán bộ đoàn cơ sở, Sổ tay bí thư chi đoàn cũng chỉ
mới đề cập đến kiến thức, kỹ năng công tác đoàn của người bí thư chi đoàn, chưa
đề cập toàn diện đến kiến thức, kỹ năng CTTN; chưa gắn với vai trò, trách nhiệm
người CTV trong quân đội.
Ngoài ra còn có các công trình: Kỹ năng nghiệp vụ công tác thanh niên và
xây dựng Đoàn, Trường cán bộ thanh thiếu niên Trung ương, Nxb Thanh niên,


21
Hà Nội, 1993; Kỹ năng công tác thanh niên, Trường cán bộ thanh thiếu niên
Trung ương, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1995; Kỹ năng tổ chức các hoạt động
công tác thanh thiếu niên, Phạm Đình Nghiệp (chủ biên), Nxb Thanh niên, Hà
Nội, 2006. Dựa trên những chỉ dẫn của các nhà khoa học và kinh nghiệm thực
tiễn của nhiều lớp cán bộ hoạt động trong phong trào thanh niên và công tác
đoàn, các công trình này đã đưa ra một số hướng dẫn có tính kỹ năng, nghiệp vụ
cho công tác vận động thanh niên và công tác đoàn. Bao gồm: kỹ năng giao tiếp,
ứng xử với tuổi trẻ; kỹ năng công tác tuyên truyền; kỹ năng tổ chức các hoạt

động chính trị xã hội; hoạt động văn hoá, thể dục thể thao, lễ hội, sinh hoạt tập
thể và kỹ năng tổ chức các hoạt động kinh tế... Đây là những kiến thức và kỹ
năng cần thiết giúp cho cán bộ làm CTTN, nhất là cán bộ đoàn nâng cao năng
lực CTTN, đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của ĐV,TN. Tuy nhiên, với mục
đích cung cấp cho cán bộ làm CTTN những kiến thức, kỹ năng cơ bản về nghiệp
vụ công tác Đoàn, Hội, Đội nên các công trình trên chưa đề cập đến kỹ năng
lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành CTTN của người CTV trong quân đội.
Ngoài các công trình trên, bàn về bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng công tác
đoàn còn có các bài báo khoa học như: Cán bộ Đoàn phải “xứng tầm” với đòi hỏi
của thanh niên của Dương An, Tạp chí Thanh niên, Số 24 - tháng 12 - 2007; Xây
dựng phong cách làm việc của cán bộ Đoàn theo tư tưởng Hồ Chí Minh của Nhữ
Quang Thịnh, Tạp chí Thanh niên, Số12 - tháng 5 - 2008; Một số giải pháp nâng
cao chất lượng bí thư chi đoàn của Lương Trung Thành, Tạp chí Thanh niên, Số 33
- tháng 12 - 2008; Cán bộ đoàn hiện nay phải là người như thế nào của Trần Hậu
Tân, Tạp chí Thanh niên, Số 13 - tháng 5 - 2010 ...Các bài báo trên đều luận bàn
xoay quanh yêu cầu về phẩm chất, năng lực, phương pháp tác phong công tác và
những giải pháp bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn vững mạnh đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ công tác đoàn và phong trào thanh niên trong giai đoạn mới.
Với những hướng tiếp cận khác nhau, trong quân đội những năm gần đây
vấn đề bồi dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội nói


22
chung, đội ngũ CTV nói riêng đã có một số công trình, đề tài, bài viết quan tâm
nghiên cứu, tiêu biểu có các công trình:
Bồi dưỡng năng lực công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính
trị viên ở các đơn vị huấn luyện chiến đấu trong Quân đội ta hiện nay của Viện
Khoa học xã hội và nhân văn quân sự, Nxb QĐND, Hà Nội, 2006. Tập thể tác
giả đã luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về năng lực CTĐ,CTCT của đội ngũ
CTV, làm rõ đặc điểm, vai trò của đội ngũ CTV ở các đơn vị huấn luyện chiến

đấu trong quân đội ta hiện nay; đánh giá năng lực CTĐ,CTCT của đội ngũ phó
chỉ huy về chính trị (trong chế độ một người chỉ huy) ở các đơn vị huấn luyện
chiến đấu những năm qua; phân tích những yếu tố tác động đến năng lực
CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV hiện nay và trong những năm tới; đề xuất yêu cầu
và những giải pháp cơ bản bồi dưỡng năng lực CTĐ,CTCT của đội ngũ CTV ở
các đơn vị huấn luyện chiến đấu trong quân đội giai đoạn hiện nay. Theo hướng
tiếp cận của công trình này, năng lực CTTN của đội ngũ CTV được xếp nằm trong
nhóm năng lực tổ chức tiến hành các hoạt động CTĐ,CTCT trong các hoàn cảnh
và nhiệm vụ của phân đội. Mặc dù năng lực CTTN và bồi dưỡng năng lực CTTN
của đội ngũ CTV chưa được các tác giả luận bàn kỹ, song kết quả nghiên cứu của
công trình đã cung cấp cơ sở khoa học để luận án tiếp thu, vận dụng, kế thừa và
tiếp tục phát triển dưới góc độ bồi dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ CTV.
Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội
binh chủng hợp thành trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến
sĩ Xây dựng Đảng của Phạm Đình Bộ, Học viện chính trị quân sự, Hà Nội, 2007.
Luận án đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn bồi dưỡng năng lực công
tác của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội binh chủng hợp thành. Trên cơ sở
đó đề xuất một số giải pháp cơ bản bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán
bộ chính trị cấp phân đội binh chủng hợp thành trong Quân đội nhân dân Việt
Nam hiện nay. Trong đó, luận án đã luận giải khá rõ khái niệm, những yếu tố cấu
thành, con đường hình thành năng lực công tác của người cán bộ chính trị cấp


23
phân đội; khái niệm, nội dung, hình thức bồi dưỡng năng lực công tác của đội
ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội binh chủng hợp thành. Tuy nhiên, năng lực
CTTN của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội chưa được luận án đi sâu
nghiên cứu, mà chủ yếu mới chỉ được đề cập với tư cách là một nội dung trong
năng lực công tác của người cán bộ chính trị.
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu bàn về bồi dưỡng năng lực

CTTN dưới góc độ bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ công tác đoàn như: Hướng dẫn
về tổ chức và hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong
Quân đội nhân dân Việt Nam của Tổng cục Chính trị, Nxb QĐND, Hà Nội,
1984; Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng công tác Đoàn, Ban Thanh niên quân đội,
Nxb QĐND, Hà Nội, 1998; Kiến thức và kỹ năng công tác đoàn, Ban thanh niên
Quân đội, Nxb QĐND, Hà Nội, 2001. Các công trình trên đã tập trung luận giải
làm rõ những vấn đề cơ bản của tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
trong Quân đội nhân dân Việt Nam; chức trách, nhiệm vụ, các mối quan hệ công
tác của cơ quan thanh niên, bí thư đoàn trong quân đội; hướng dẫn kỹ năng tổ
chức các hoạt động của đoàn thanh niên ở đơn vị cơ sở… Đây là những kiến thức
và kỹ năng cần thiết giúp cho đội ngũ cán bộ đoàn ở đơn vị cơ sở nâng cao trình
độ năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn CTTN ở đơn vị. Tuy nhiên, với mục đích
cung cấp cho cán bộ đoàn những kiến thức, kỹ năng cơ bản về nghiệp vụ công tác
Đoàn và phong trào thanh niên nhằm phần nào đáp ứng nhiệm vụ đổi mới nội
dung, phương thức hoạt động của Đoàn nên các công trình trên chưa đề cập đến
kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành CTTN của CTV ở đơn vị.
Ngoài các công trình khoa học trên, đề cập đến bồi dưỡng năng lực CTTN
cho cán bộ các cấp trong quân đội còn có các bài báo khoa học của các tác giả
như: Phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập, rèn luyện của cán bộ đoàn
trong quân đội của Nguyễn Ngọc Hải, Tạp chí Thanh niên, Số 8 - 2008; Nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ công tác thanh niên trong quân đội của Trọng Anh,
Thanh niên quân đội, Số 48 - tháng 9 - 2008; Yêu cầu về phẩm chất, năng lực của


24
cán bộ đoàn trong quân đội hiện nay của Nguyễn Ngọc Hải, Tạp chí Giáo dục lý
luận chính trị quân sự, Số 6 - 2008; Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ đoàn trong quân đội của Nguyễn Tú Anh, Tạp chí Thanh niên, Số 28 - tháng
10 - 2010.... Các bài báo khoa học đã đánh giá khái quát chất lượng đội ngũ cán
bộ đoàn trong quân đội hiện nay. Trên cơ sở tình hình, nhiệm vụ của cách mạng,

của quân đội, nhất là yêu cầu CTTN trong giai đoạn mới, các bài viết đã nêu lên
một số yêu cầu về phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn trong quân đội
nói chung, đội ngũ cán bộ đoàn ở đơn vị cơ sở nói riêng. Bằng cơ sở lý luận và
thực tiễn, các tác giả đã đề cập đến một số phương hướng và giải pháp chủ yếu
trong xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đoàn trong quân đội cả về bản lĩnh
chính trị, đạo đức cách mạng và năng lực công tác.
Kết luận chương 1
Xuất phát từ vai trò quan trọng của thanh niên đối với sự phát triển trường
tồn của các quốc gia, dân tộc, nên vấn đề thanh niên và CTTN luôn được các nhà
lãnh đạo, khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt,
các nhà chính trị, quân sự Xô Viết (trước đây) và Trung Quốc đã nghiên cứu khá
sâu sắc, toàn diện về thanh niên, CTTN nói chung, thanh niên và CTTN trong
quân đội nói riêng. Từ nhiều góc độ khác nhau, các đề tài khoa học, luận án và
các bài báo khoa học ở trong nước cũng đã đề cập đến một số vấn đề về CTTN và
bồi dưỡng năng lực CTTN của lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Đây là những tài liệu
quý, tác giả trân trọng và kế thừa. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình
nào nghiên cứu một cách trực tiếp, cơ bản, có hệ thống về năng lực CTTN và bồi
dưỡng năng lực CTTN của đội ngũ CTV ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ
HL,SSCĐ trong Quân đội nhân dân Việt Nam dưới góc độ khoa học chuyên
ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, đề tài luận án tuy có kế thừa
kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đi trước, song góc độ nghiên cứu,
hướng tiếp cận của luận án là hoàn toàn độc lập, không trùng lặp với bất kỳ công
trình khoa học nào đã được công bố cả ở trong nước và ngoài nước.


25
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC
CÔNG TÁC THANH NIÊN CỦA ĐỘI NGŨ CHÍNH TRỊ VIÊN
Ở CÁC ĐƠN VỊ CƠ SỞ LÀM NHIỆM VỤ HUẤN LUYỆN,

SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
2.1. Đội ngũ chính trị viên và năng lực công tác thanh niên của đội ngũ
chính trị viên ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu
2.1.1. Đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và công
tác thanh niên ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu
* Đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL, SSCĐ
Đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ là một trong những loại hình đơn vị
cơ sở trong Quân đội nhân dân Việt Nam, được tổ chức ở cấp trung đoàn, lữ
đoàn (và tương đương), được biên chế đầy đủ quân số, vũ khí, trang bị kỹ thuật
theo đúng quy định, có thể tác chiến hiệp đồng trong đội hình chiến dịch hoặc
tác chiến độc lập theo mệnh lệnh của cấp trên khi có chiến tranh xảy ra.
Đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ bao gồm các trung đoàn bộ binh
thuộc các sư đoàn bộ binh của quân khu, quân đoàn; trung đoàn, lữ đoàn binh
chủng thuộc các binh chủng, quân chủng; các đồn biên phòng, hải đoàn, đoàn,
thuộc bộ đội Biên phòng.
Nhiệm vụ, biên chế tổ chức của các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ
theo quy định của Bộ Tổng tham mưu. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào vị trí, vai trò,
chức năng của từng loại hình đơn vị mà biên chế tổ chức có sự khác nhau. Theo
biên chế của đơn vị và Chỉ lệnh huấn luyện chiến đấu hàng năm của Bộ Tổng
tham mưu, các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ phải thực hiện và hoàn
thành các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Quản lý, giáo dục, rèn luyện bộ đội, bảo đảm bất cứ lúc nào, ở đâu, hễ nhận
được mệnh lệnh là bộ đội có thể nhanh chóng chuyển từ hoạt động bình thường
sang hoạt động chiến đấu thời chiến một cách có tổ chức và sử dụng lực lượng,
vũ khí, trang bị để đánh địch một cách có hiệu quả.


26
Huấn luyện nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng
chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống. Đấu tranh làm thất bại mọi

âm mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân
và công cuộc đổi mới xây dựng đất nước.
Duy trì kỷ luật quân đội, xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành điều lệnh,
giữ gìn an ninh, an toàn trong đơn vị và khu vực đóng quân.
Tiến hành các hoạt động CTĐ,CTCT: giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh cho cán bộ, chiến sĩ; phát huy truyền thống
yêu nước, yêu CNXH, truyền thống của Đảng, quân đội và đơn vị; thực hiện
nghiêm chương trình học tập chính trị, giáo dục pháp luật theo quy định cho các đối
tượng trong đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có
trình độ năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị; xây dựng hệ thống các tổ
chức đảng, chỉ huy, các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân trong đơn vị
vững mạnh; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng đơn vị VMTD.
Tham gia lao động sản xuất; chăm lo bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần
đối với cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và chính sách hậu phương quân đội. Chấp
hành nghiêm quy định của Nhà nước và quân đội về quản lý, sử dụng trang bị,
cơ sở vật chất hậu cần, kỹ thuật, tài chính.
Tuyên truyền vận động nhân dân, tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa
phương vững mạnh, góp phần phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giúp đỡ nhân
dân phòng chống và khắc phục hậu quả bão lũ, thiên tai, cứu hộ, cứu nạn...
Trong các nhiệm vụ trên, nhiệm vụ huấn luyện nâng cao chất lượng tổng
hợp và sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu là nhiệm vụ chính trị trung tâm.
Đặc điểm về tổ chức và hoạt động của đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ
Một là, đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ được biên chế đủ quân; cán
bộ, chiến sĩ hầu hết ở lứa tuổi thanh niên; cơ sở vật chất, vũ khí, trang bị tương
đối đầy đủ, đảm bảo cho nhiệm vụ HL,SSCĐ trong bất kỳ tình huống nào
Là lực lượng thường trực sẵn sàng chiến đấu và cơ động chiến đấu của
quân đội nên các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ thường xuyên được biên



27
chế đầy đủ các lực lượng, thành phần đơn vị trực thuộc với quân số và vũ khí
trang bị theo đúng mẫu biểu biên chế của Bộ tổng Tham mưu trong từng thời kỳ.
So với các đơn vị trong toàn quân, các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ
thường được ưu tiên kiện toàn đầy đủ hơn cả về số lượng và chất lượng con
người và vũ khí, trang bị.
Ở các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ, thanh niên là lực lượng đông
đảo, chiếm trên 80% tổng quân số của đơn vị, nhiều đại đội 100% cán bộ, chiến
sĩ đều ở lứa tuổi thanh niên [123, tr.1]. Đây là lực lượng chủ yếu, trực tiếp xung
kích thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của đơn vị; là đối tượng lãnh đạo chủ yếu
của các cấp uỷ, chi bộ và cũng là đối tượng chủ yếu của công tác quản lý, chỉ
huy của cán bộ các cấp; là nguồn phát triển Đảng, nguồn đào tạo cán bộ trước
mắt và lâu dài cho quân đội cũng như cho các tổ chức, các ngành của Đảng và
Nhà nước. Vì thế tiến hành CTTN ở đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ là một
nhiệm vụ hết sức quan trọng, bảo đảm cho đơn vị hoàn thành mọi nhiệm vụ mà
Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Hai là, hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng, hội
đồng quân nhân được kiện toàn tương đối đầy đủ, chặt chẽ, thống nhất. Tổ chức
cơ sở đảng là loại hình tổ chức cơ sở đảng ba cấp: đảng uỷ trung đoàn (lữ đoàn),
đảng uỷ bộ phận tiểu đoàn, chi bộ ở các đại đội và các ban của trung đoàn, các
phòng của lữ đoàn. (Riêng các tiểu đoàn trực thuộc sư đoàn thành lập tổ chức cơ
sở đảng hai cấp: đảng uỷ tiểu đoàn, chi bộ ở các đại đội và tiểu đoàn bộ). Tổ chức
chỉ huy gồm: chỉ huy trung đoàn, bên dưới có chỉ huy các tiểu đoàn, đại đội. Tổ
chức Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức quần chúng chủ yếu ở
đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ. Hội đồng quân nhân được thành lập ở các
đại đội và tương đương, là tổ chức đại diện cho mọi quân nhân, công nhân viên
chức quốc phòng để thực hiện và phát huy dân chủ về quân sự, chính trị, kinh tế
và đời sống, quyền và nghĩa vụ của mọi quân nhân, công nhân viên chức quốc
phòng. Ở một số đơn vị kỹ thuật, Không quân, Thông tin… (có sĩ quan, công nhân
viên chức quốc phòng là nữ) còn có tổ chức Phụ nữ, Công đoàn.



28
Để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ HL,SSCĐ, hệ thống tổ chức đảng, tổ
chức chỉ huy, tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân ở đơn vị cơ sở làm nhiệm
vụ HL,SSCĐ luôn được kiện toàn đầy đủ về số lượng và chất lượng, bảo đảm
chặt chẽ, thống nhất. Đội ngũ cán bộ các cấp gồm cán bộ quân sự, chính trị, hậu
cần, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ đều được ưu tiên bố trí đủ về số lượng và
chất lượng cao.
Bên cạnh đó, các đơn vị cơ sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ được Bộ Quốc
phòng đầu tư xây dựng nên cơ sở vật chất, nơi ăn chốn ở, dụng cụ huấn luyện,
thao trường bãi tập v.v… khá đầy đủ. Do vậy, các hoạt động của đơn vị từ huấn
luyện chiến đấu, xây dựng chính quy đến các hoạt động CTĐ,CTCT được diễn
ra trong điều kiện khá thuận lợi. Đây là cơ hội tốt để rèn luyện nâng cao năng lực
tiến hành CTTN của đội ngũ CTV.
Ba là, phải thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ, luôn ở trạng thái sẵn
sàng chiến đấu, với cường độ lao động quân sự lớn
Yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi các đơn vị cơ
sở làm nhiệm vụ HL,SSCĐ vừa phải huấn luyện quân sự nâng cao trình độ kỹ
chiến thuật, trình độ, khả năng tác chiến trên các địa bàn, vừa phải giáo dục chính
trị tư tưởng, nâng cao giác ngộ lập trường giai cấp, bản lĩnh chính trị cho cán bộ,
chiến sĩ. Vừa huấn luyện nâng cao trình độ mọi mặt, vừa trực ban sẵn sàng chiến
đấu, vừa xây dựng chính quy, tăng gia sản xuất cải thiện đời sống, giữ mối liên hệ
mật thiết giữa quân đội với nhân dân địa phương, kết hợp giữa làm công tác dân
vận giúp đỡ địa phương với xây dựng nền tảng chính trị xã hội vững chắc cho
quân đội; sẵn sàng tham gia cứu hộ, cứu nạn, khắc phục thảm họa môi trường…
Bên cạnh đó, do đặc điểm, nhiệm vụ, tính chất, quy mô, hình thức tác chiến
trong chiến tranh hiện đại rất phức tạp và quyết liệt, vì vậy nhiệm vụ huấn luyện
chiến đấu đặt ra những yêu cầu rất cao với mỗi đơn vị và mỗi cán bộ, chiến sĩ.
Phải huấn luyện sát với đối tượng tác chiến, sát với chiến trường; phải có khả

năng thích ứng cao, đối phó có hiệu quả với chiến tranh hiện đại có sử dụng vũ khí
công nghệ cao, bằng nghệ thuật quân sự truyền thống và phù hợp với vũ khí trang


×