Tải bản đầy đủ (.pdf) (71 trang)

Sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4 5 tuổi khám phá môi trường xung quanh theo hướng phát huy tính tích cực

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (531.13 KB, 71 trang )

Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2
Mở đầu

1. Lí do chọn đề tài
GDMN là khâu đầu tiên của quá trình giáo dục thường xuyên cho mọi
người, là giai đoạn đầu tiên của việc hình thành và phát triển nhân cách con
người.
Kinh nghiệm giáo dục của nước ta, nhân loại và nhiều thành tựu hiện
nay nghiên cứu về trẻ em đã khẳng định rằng, trẻ em ở lứa tuổi mầm non ( 0 6 tuổi) có sự tăng trưởng rất lớn lao về cơ thể, về trí tuệ và tình cảm. Chẳng thế
mà, A. X. Macarenco - nhà giáo dục xô viết vĩ đại những năm 30 - 40 của thế
kỉ XX đã từng khẳng định rằng: Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ
được hình thành từ lúc trước tuổi lên năm. Những điều dạy cho trẻ trong thời
kì đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ. Về sau việc giáo dục đào tạo con
người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, còn những nụ hoa thì
đã được vun trồng trong năm năm đầu tiên. Hoặc công trình nghiên cứu gần
đây của viện nghiên cứu trẻ em trước tuổi học được PTS Phạm Mai Chi khẳng
định: ... Sự phát triển về trí tuệ nó thường xảy ra trong bốn năm đầu cũng
giống như mười ba năm tiếp theo. Người ta ước tính khoảng 50% sự phát triển
trí tuệ của con người là đạt được ở giai đoạn bào thai đến bốn tuổi, từ 4 - 8 tuổi
đạt được 30% và tiếp tục hoàn thiện đến tuổi trưởng thành nhưng tốc độ chậm
dần sau tuổi mười tám . Từ những khẳng định trên, chúng ta thấy GDMN cần
phải thực hiện việc chăm sóc - giáo dục trẻ ngay từ những năm tháng đầu đời,
giúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt: đức, trí, thể, mĩ và lao động. Chăm
sóc - giáo dục trẻ em từ những năm đầu tiên của cuộc sống là một việc hết sức
cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và
bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người chủ tương lai của đất nước.
Bước sang thế kỉ XXI, đòi hỏi những con người lao động mới cần có trí
tuệ, năng động, sáng tạo, tích cực. TTC là một phẩm chất không thể thiếu của
mỗi con người trong xã hội ấy. Việc hình thành và phát triển TTC của trẻ là



Đỗ Thị Huệ

1

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

một nhiệm vụ quan trọng của giáo dục. Điều 5, luật giáo dục năm 2005 ghi rõ:
Phương pháp giáo dục phải phát huy được TTC, tự giác, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, kĩ năng thực hành, lòng
say mê học tập và ý chí vươn lên.
Hoạt động khám phá khoa học giúp trẻ có những hiểu biết về các sự vật,
hiện tượng trong môi trường xung quanh, đồng thời kích thích trẻ tìm hiểu,
khám phá các đối tượng xung quanh trẻ. Khi tham gia các hoạt động khám
phá khoa học về môi trường xung quanh trẻ thường rất hào hứng và sôi nổi.
Vậy làm thế nào để phát huy được sự thích thú, say mê, tích cực đó của trẻ?
Để làm được việc đó, giáo viên cần phải sử dụng các phương pháp cũng như
các hình thức dạy học một cách hợp lí. Thí nghiệm là một trong các phương
pháp mà giáo viên có thể sử dụng để giúp trẻ chiếm lĩnh các tri thức về môi
trường MTXQ một cách tích cực. Qua các thí nghiệm, trẻ sẽ chủ động tiếp thu
tri thức mới đồng thời có niềm tin vào nguồn tri thức mà mình có được. Tuy
nhiên thực tế ở nhiều trường mầm non cho thấy, đa số các giáo viên sử dụng
phương pháp thí nghiệm theo lối thụ động, không phát huy được vai trò là chủ
thể chiếm lĩnh tri thức của trẻ.
Là một giáo viên mầm non trong tương lai với những kiến thức mà tôi

đã trau rồi trong qúa trình học trên ghế nhà trường và trong quá trình đi thực
tập tôi hi vọng mình có thể đóng góp một công sức nhỏ bé của mình vào việc
chăm sóc và giáo dục để phát huy TTC cho trẻ khi LQVMTXQ.
Chính từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5 tuổi khám
phá môi trường xung quanh theo hướng phát huy tính tích cực.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất quy trình sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5
tuổi khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC.

Đỗ Thị Huệ

2

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng phương pháp thí nghiệm
hướng dẫn trẻ 4-5 tuổi khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC.
- Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng
dẫn trẻ khám phá MTXQ ở một số trường mầm non.
- Đề xuất quy trình sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4-5
tuổi khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC.
Thực nghiệm sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5 tuổi
khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC và bước đầu đánh giá kết quả

thực nghiệm.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được quy trình sử dụng phương pháp thí nghiệm phù hợp
theo hướng phát huy TTC của trẻ thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
hoạt động hướng dẫn trẻ khám phá khoa học.
5. đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ
4 - 5 tuổi khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC.
- Phạm vi nghiên cứu: Trẻ 4 - 5 tuổi ở một số trường mầm non.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học.
7. Cấu trúc đề tài

Đỗ Thị Huệ

3

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

Mở đầu

Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp thí
nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5 tuổi khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC
1.1. Cơ sở lí luận.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
Chương 2: Sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5 tuổi khám
phá MTXQ theo hướng phát huy TTC
2.1. Các nguyên tắc khi sử dụng phương pháp thí nghiệm.
2.2. Quy trình sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng dẫn trẻ 4 - 5 tuổi khám
phá MTXQ theo hướng phát huy TTC
2.2.1. Quy trình thiết kế hoạt động sử dụng phương pháp thí nghiệm hướng
dẫn trẻ 4-5 tuổi khám phá MTXQ theo hướng phát huy TTC.
2.2.2. Một số bài trong chương trình CTLQVMTXQ sử dụng phương pháp thí
nghiệm dạy học theo hướng phát huy TTC của trẻ.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận và kiến nghị sư phạm.

Đỗ Thị Huệ

4

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

Nội dung
Chương 1: cơ sở lí luận và thực tiễn

1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
1.1.1.1. Một số đặc điểm thể chất của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
Thể chất là chất lượng cơ thể con người có thể sử dụng vào thực hiện
một việc nào đó trong học tập, lao động, thể thao,
Phát triển thể chất là quá trình thay đổi hình thái và chức năng sinh học của cơ
thể con người, là tổng hợp các đặc tính về hình thái và chức năng sinh học của
cơ thể con người, là tổng hợp các đặc tính về hình thái của cơ thể, đặc trưng
cho quá trình hình thành của nó ở mỗi giai đoạn phát triển.
Nói đến sự phát triển thể chất ở trẻ em là đề cập đến sự lớn lên của trẻ
về mặt hình thể bên ngoài, những thay đổi và hoàn thiện chức năng của các cơ
quan tương ứng với từng độ tuổi trẻ 4 - 5 tuổi là thời kì thuận lợi để trẻ tiếp thu
và củng cố các kĩ năng cần thiết. Trẻ em lứa tuổi này lớn nhanh, cảm thấy như
gầy hơn, mắt trẻ tròn trĩnh, mập mạp đã có ở độ tuổi nhà trẻ. Đặc trưng của trẻ
em lứa tuổi là cơ thể phát triển chưa ổn định và khả năng vận động còn hạn
chế.
Tuy nhiên, nhờ có sự phát triển của hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ tuần
hoàn và hệ xương trẻ có thể thực hiện thành thạo các động tác đòi hỏi có sự
phối hợp trên cơ thể như: thể dục nhịp điệu, múa hát kết hợp giúp trẻ 4 - 5 tuổi
phát triển về tinh thần vận động. Trẻ thích tìm hiểu MTXQ, thích chơi một
mình, tinh thần phát triển nhanh. Ngôn ngữ phát triển mạnh, trẻ học được bài
hát dài, vận động của trẻ khéo léo, nhanh nhẹn hơn. Trẻ có thể học chữ, học
vẽ, viết được.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thể chất của trẻ. Chính vì thế, giáo
dục thể chất cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận của giáo dục toàn

Đỗ Thị Huệ

5


Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

diện cho trẻ, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình giáo dục trẻ.
Cần phải thực hiện mục đích GDMN là: Giáo dục trẻ khoẻ mạnh, nhanh
nhẹn, cơ thể phát triển hài hoà, cân đối. Đặc biệt thực hiện tốt ba nhiệm vụ
giáo dục thể chất đã đề ra: sức khỏe, giáo dưỡng, giáo dục.
1.1.1.2. Một số đặc điểm sinh lí của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
Hệ thần kinh: Từ lúc trẻ mới sinh ra hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bị
đầy đủ để thực hiện các chức năng của mình. Trẻ em từ 4 - 5 tuổi quá trình ức
chế dần phát triển, trẻ đã có khả năng phân tích đánh giá, hình thành kĩ năng,
kĩ xảo vận động và phân biệt được các hiện tượng xung quanh.
Hệ vận động: Bao gồm hệ xương, hệ cơ và khớp.
- Hệ xương: Trẻ chưa hoàn toàn cốt hoá, thành phần hoá học xương của
trẻ có chứa nhiều nước và chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có
nhiều sụn xương, xương mềm, dễ bị cong gãy.
- Hệ cơ: Cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ
mảnh thành phần nước trong tương đối nhiều, nên sức mạnh của cơ bắp còn
yếu, cơ nhanh mệt mỏi. Do vậy, trẻ em ở lứa tuổi này không thích nghi với sự
căng thẳng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp
trong thời gian luyện tập.
Khớp của trẻ có đặc điểm là ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp
còn mềm yếu, dây chằng còn lỏng lẻo, tính vững chắc của khớp tương đối yếu.
Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp được rèn luyện,
từ đó tăng dần tính vững chắc của khớp.
Hệ tuần hoàn: Là một hệ thống đường ống khép kín do tim và mạch

cấu tạo thành. Trẻ bốn tuổi do phát triển lồng ngực, tim ở tư thế thẳng giống
người lớn. Các mạch máu của trẻ rộng hơn so với người lớn. Mạch của trẻ năm
tuổi là 100 lần/phút. Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập,
nên đa dạng hoá các dạng bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường
độ vận động phối hợp động và tĩnh một cách nhịp nhàng.

Đỗ Thị Huệ

6

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

Hệ hô hấp: Phổi của trẻ em lớn dần theo tuổi, nhịp thở của trẻ bốn tuổi
là 25 - 30 lần/phút, đối với trẻ năm tuổi là 20 - 25 lần/phút. Số nhịp thở của trẻ
giảm dần theo lứa tuổi.
Bộ máy hô hấp của trẻ còn nhỏ không chịu đựng được những vận động
quá sức kéo dài kiên tục. Những vận động đó sẽ làm cho các cơ đang vận
động bị thiếu oxi. Việc tăng dần vận động trong quá trình luyện tập sẽ tạo
điều kiện cho cơ thể trẻ thích ứng với tăng lượng oxi cần thiết và ngăn ngừa
được lượng oxi quá lớn trong cơ thể.
Hệ trao đổi chất: Cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi phải bổ sung liên
tục năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan
và mô. Quá trình hấp thụ các chất ở trẻ vượt cao hơn quá trình phân huỷ và đốt
cháy. Tuổi càng nhỏ quá trình lớn lên và sự hình thành các tế bào và mô của
trẻ diễn ra càng mạnh.

Dựa vào đặc điểm sinh lí của trẻ MGN mà người lớn cần có nội dung và
phương pháp chăm sóc cho trẻ ăn, ngủ, học và vui chơi hợp lí, khoa học giúp
cho cơ thể trẻ được phát triển khoẻ mạnh. Đây chính là điều kiện tốt nhất để
giúp trẻ có năng lực tham gia vào quá trình học tập, khám phá MTXQ.
1.1.1.3. Một số đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
ở tuổi mẫu giáo nhỡ, hoạt động vui chơi đạt tới dạng chính thức và
đang phát triển tới mức hoàn thiện. Trong hoạt động vui chơi trẻ có thể lựa
chọn nội dung và chủ đề chơi, lựa chọn bạn cùng chơi và tự do tham gia vào
trò chơi mà mình thích. Trẻ biết thiết lập các mối quan hệ giữa các vai chơi và
hình thành các nhóm chơi diễn ra cùng một lúc. Nhu cầu chơi trong nhóm bạn
phát triển mạnh. Từ đó hình thành xã hội trẻ em .
Về mặt đời sống tình cảm của trẻ có nhiều bước chuyển biến. Trẻ có
nhu cầu rất lớn, nhu cầu được người khác yêu thương như: Khi được mọi
người yêu thương trẻ rất phấn khởi và ngược lại trẻ rất buồn khi người khác

Đỗ Thị Huệ

7

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

thờ ơ, lạnh nhạt. Trẻ biết đồng cảm và dễ xúc cảm với những người thân trong
gia đình, với bạn bè và những người xung quanh..
Ví dụ: Khi người thân đau ốm, trẻ không chỉ buồn mà mong muốn làm
công việc gì đó để giúp đỡ người thân trong gia đình như lấy nước, lấy khăn

mặt. Trẻ biết biểu lộ tình cảm với thiên nhiên, yêu quý thiên nhiên và bắt đầu
nhìn nhận loài vật.
Các loại tình cảm cấp cao được hình thành, tình cảm đạo đức, tình cảm
trí tuệ, tình cảm thẩm mĩ và bắt đầu phát triển mạnh.
Ngoài ra, ở trẻ MGN có sự phát triển động cơ hành vi và sự hình thành hệ
thống thứ bậc các hành vi cao hơn so với trẻ mẫu giáo bé. ở trẻ đã xuất hiện
những động cơ mới. Đó là động cơ vì người khác và động cơ thi đua.
Bước sang tuổi MGN có nhiều động cơ chi phối trẻ hoạt động nhưng
các động cơ này kết hợp với nhau theo thứ bậc động cơ. Đây là một cấu tạo
tâm lí mới của trẻ ở lứa tuổi này. Sự hình thành hệ thống thứ bậc động cơ giúp
trẻ hành động theo một phương hướng xác định. Nghĩa là tính mục đích của
hành động bắt đầu được hình thành.
Thông qua những đặc điểm tâm lí của trẻ MGN mà giáo viên có thể tạo
hứng thú cho trẻ trong quá trình khám phá MTXQ. Từ đó, giúp trẻ nâng cao
quá trình học tập, phát triển quá trình tâm lí.
1.1.1.4. Một số đặc điểm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
Trẻ bốn tuổi các động tác đã linh hoạt hơn: Các bé đã có thể cầm, nắm,
vẽ một cách thành thạo. Bé gái thường tỏ ra có năng khiếu hơn trong những
trò chơi giàu trí tưởng tượng. Trong khi đó, các bé trai lại có năng khiếu về
các mối quan hệ không gian. Chẳng hạn, bé trai giỏi hơn bé gái trong một việc
gắn một đồ vật cho khớp với một đồ vật khác, các trò chơi xếp hình, lắp
ghép
Cuộc sống mô phỏng: Trẻ thích các trò chơi đóng vai (cô giáo, bác
sĩ...). Trò chơi này có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tưởng tượng

Đỗ Thị Huệ

8

Lớp K32MN



Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

của trẻ đồng thời giúp trẻ học cách chơi và hoạt động cùng nhau, xây dựng và
mô phỏng kĩ năng giao tiếp xã hội. Nó còn giúp trẻ hoàn thành chức năng kí
hiệu tưởng tượng. Chẳng hạn, dùng giấy thay tiền, dùng giấy làm thức ăn
trong trò chơi bán hàng.
Trẻ tư duy vào những hình ảnh: Trẻ tư duy vào những hình ảnh có trong
đầu giúp trẻ phát triển trí tuệ.
Ví dụ: Trong trò chơi chim bay, cò bay. Khi hỏi: Nhà có bay không?.
Trẻ có thể không trả lời. Vì chim có cánh còn nhà không có cánh. Trẻ 4 - 5
tuổi: có thể hình dung ra các sự vật cụ thể rõ ràng.
Khái niệm về thời gian: Trẻ cũng phát triển hơn. Trẻ có thể hiểu được
đêm, ngày, đêm qua, ngày tới, ngày hôm qua, ngày mai
Khái niệm về giới tính: Trẻ cũng biết phân biệt mình là con trai hay con
gái. Nhưng trẻ chưa thực sự hiểu về giới tính.
Trẻ bắt đầu thích vẽ hình người và thay vì chỉ vạch vẽ các đường nét
bằng những nét loằng ngoằng, trẻ có thể vẽ ( đầu, thân, chân), nhưng chưa cân
xứng tỉ lệ.
Ngôn ngữ phát triển mạnh: Trẻ biết nói bàn tay có hai bàn tay và có 10
ngón tay Trẻ biết đặt ra các câu hỏi cái gì, tại sao, như thế nào..?.
1.1.1.5 Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi
MGN là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của tư duy trực quan hình
tượng. Trẻ em có nhu cầu phát triển các quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật,
hiện tượng để giải bài toán nhận thức ngày càng đa dạng và phức tạp. Trẻ
MGN cũng đã có khả năng suy luận mặc dù những kết luận của trẻ còn rất
ngây thơ, ngộ nghĩnh. Trẻ chưa có khả năng tư duy trừu tượng trẻ thường dựa

vào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy luận những
vấn đề mới, nhưng chúng thường dừng lại ở những hiện tượng bên ngoài chứ
không đi sâu vào bản chất bên trong.

Đỗ Thị Huệ

9

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

Trẻ dễ lẫn lộn những thuộc tính bản chất và không bản chất của sự vật
hiện tượng. Vì vậy, cần phải cung cấp những biểu tượng một cách phong phú,
đa dạng, hệ thống hoá và chính xác hoá dần các biểu tượng về thế giới khách
quan.
Trẻ MGN đã biết so sánh các dấu hiệu giống và khác nhau của hai đối
tượng. Trong giao tiếp trẻ đã có ý thức đối với hành động và lời nói của mình.
Trẻ biết thực hiện nghĩa vụ bản thân và tuân thủ những quy định về nề nếp
trong vui chơi, học tập, lao động và sinh hoạt ở gia đình cũng như ở trường
mầm non.
Tình cảm của trẻ MGN rất mãnh liệt, trẻ thường biểu lộ tình cảm với
người thân, những nhân vật trong truyện, các con vật, cỏ cây, đồ vật, đồ chơi,
và các hiện tượng trong thiên nhiên. Trẻ biết rung cảm rất nhạy bén với những
cái đẹp trong thế giới xung quanh. Đối với trẻ cái đẹp, cái tốt là một. Vì vậy,
để giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ cần sử dụng đồ dùng trực quan đẹp, sinh
động và hấp dẫn.

1.1.2. Một số vấn đề về phương pháp thí nghiệm
1.1.2.1. Khái niệm phương pháp thí nghiệm
Có rất nhiều khái niệm về phương pháp thí nghiệm
- Một là: Phương pháp thí nghiệm là sự tự mày mò tìm kiếm, thí nghiệm
trong thức tiễn để đi đến kết luận về điều dự đoán trước hoặc trả lời những
thắc mắc trong suy nghĩ. [9]
- Hai là: Phương pháp thí nghiệm là việc tổ chức cho trẻ hành động tác
động vào đối tượng làm thay đổi đối tượng nhằm kiểm nghiệm một tính chất
nào đó của sự vật hoặc tạo dựng lại một hiện tượng nào đó trong tự nhiên. [13]
- Ba là: Phương pháp thí nghiệm được coi như một loại hình quan sát
diễn ra trong điều kiện nhất định. Thí nghiệm đòi hỏi sự tác động tích cực lên
đối tượng ( sự vật, hiện tuợng), làm thay đổi cho nó phù hợp với mục đích đặt
ra.[12]

Đỗ Thị Huệ

10

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

1.1.2.2 Phân loại phương pháp thí nghiệm
Có nhiều cách phân loại. Sau đây là cách phân loại của Trần Văn Biểu
(trường ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh - khoa Hoá).
Thí nghiệm trong hệ thống các phương tiện dạy: các phương tiện dạy
học cơ bản phổ biến rộng rãi trong nhà trường gồm 3 loại:

+ Phương tiện kĩ thuật dạy học ( các phương tiện nghe nhìn và máy dạy
học).
+ Phương tiện trực quan ( đồ dùng trực quan).
+ Thí nghiệm ngoại khoá là những thí nghiệm vui dùng trong các buổi
hội vui và những thí nghiệm ở ngoài trường như thí nghiệm thực hành ở nhà
của học sinh.
Trong các thí nghiệm trên thì thí nghiệm biểu diễn là quan trọng nhất.
1.1.2.3. ý nghĩa của phương pháp thí nghiệm
Thí nghiệm có vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học và quan
trọng đặc biệt trong dạy học.
- Thí nghiệm có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển
nhận thức của con người về thế giới. Thí nghiệm là một phần của hiện thực
khách quan được thể hiện hoặc tái tạo lại trong những điều kiện đặc biệt, trong
đó con người có thể chủ động điều khiển các yếu tố tác động vào quá trình
xảy ra để phục vụ cho những mục đích nhất định. Thí nghiệm giúp con người
gạt bỏ những cái phụ, không bản chất để tìm ra cái bản chất của sự vật, hiện
tượng. Thí nghiệm giúp con người phát hiện ra những quy luật còn ẩn náu
trong tự nhiên. Mặt khác, nó còn giúp con người kiểm chứng làm sáng tỏ giả
thuyết khoa học. Đúng như Ănghen đã nói:
Trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, cũng như lịch sử, phải xuất phát
từ những sự thật đã có, từ những hình thái hiện thực khác nhau của vật chất,
cho nên trong khoa học lý luận về tự nhiên, chúng ta không thể tạo ra mối liên

Đỗ Thị Huệ

11

Lớp K32MN



Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

hệ để ghép chúng vào sự thật, mà phải từ những sự thật đó, phát hiện ra mối
liên hệ ấy, rồi phải hết sức chứng minh mối liên hệ ấy bằng thực nghiệm.
- Thí nghiệm là nền tảng của việc dạy học các môn tự nhiên. Nó giúp
học sinh chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng và ngược lại khi làm
thí nghiệm học sinh sẽ làm quen với các đối tượng và trực tiếp nắm bắt các
đặc điểm, tính chất, của chúng. Nếu không có thí nghiệm thì:
+ Giáo viên sẽ tốn nhiều thời gian để giảng giải nhưng vẫn không rõ và
hết ý vì không phải mọi thứ đều có thể diễn đạt được trọn vẹn bằng lời. Lời
nói rất trừu tượng còn các thí nghiệm thì cụ thể.
+ Học sinh tiếp thu kiến thức thiếu chính xác và vững chắc. Các em sẽ
khó hiểu bài vì không có những biểu tượng rõ ràng, cụ thể về các chất, các
hiện tượng.
+ Học sinh sẽ chóng quên khi không hiểu bài, không có ấn tượng sâu
sắc bằng các hình ảnh cụ thể
- Thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tế. Nhiều thí nghiệm rất
gần gũi với đời sống, với các quy trình công nghệ. Chính vì vậy thí nghiệm
giúp học sinh vận dụng các điều đã học vào thực tế cuộc sống.
- Thí nghiệm giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng thực hành ( các thao
tác và cách thức tiến hành thí nghiệm), hình thành những đức tính cần thiết
của người lao động mới: cẩn thận, khoa học, kỷ luật.
-Thí nghiệm giúp học sinh phát triển tư duy, hình thành thế giới quan
duy vật biện chứng khi tự tay làm thí nghiệm hoặc được tận mắt nhìn thấy
những hiện tượng xảy ra, học sinh sẽ tin tưởng vào kiến thức đã học và cũng
thêm tin tưởng vào chính bản thân mình.
- Làm thí nghiệm rất dễ gây hứng thú học tập. Học sinh không thể yêu
thích bộ môn và không thể say mê khoa học với những bài giảng lí thuyết khô

khan.

Đỗ Thị Huệ

12

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

1.1.2.4. Quy trình tiến hành phương pháp thí nghiệm
Người ta phân biệt thí nghiệm đại trà và thí nghiệm cá nhân.
Khi thực hiện thí nghiệm đại trà, sau khi giáo viên trình bày ngắn gọn lí
thuyết dưới cách thức đàm thoại hoặc giải thích, toàn thể học sinh của lớp,
dưới sự lãnh đạo của giáo viên, đồng thời thực hiện những hành động như
nhau với cùng một loại thiết bị. Khi thiếu thiết bị, công cụ thí nghiệm, giáo
viên có thể cho học sinh làm thí nghiệm theo các nhóm, mỗi nhóm không quá
2 - 3 người, có nhiệm vụ hoàn thành những bài tập thí nghiệm một học sinh
khó lòng hoàn thành được ( do tính phức tạp của thiết bị, do phải quan sát và
ghi chép các kết quả). Học sinh trong nhóm sẽ thay phiên nhau làm các
phần công việc.
Thí nghiệm cá nhân được thực hiện khi mỗi học sinh phải đồng thời
hoàn thành các phần công việc khác nhau và thậm chí các công việc giống
nhau. Tất nhiên, việc giáo viên lựa chọn cách thức tiến hành thí nghiệm này
hay khác là tuỳ thuộc vào tính chất công việc vào trình độ của học sinh, vào
tình trạng thiết bị dùng để hoàn thành công việc thí nghiệm nói chung hoặc
những phần riêng biệt của công việc.

Khi sử dụng phương pháp thí nghiệm có các mức độ sau:
Mức độ 1: Giáo viên tiến hành thí nghiệm trước. Sau đó, giáo viên
hướng dẫn cách làm, trẻ quan sát và nêu kết quả thí nghiệm.
Mức độ 2: Giáo viên vừa tiến hành thí nghiệm, vừa nêu cách làm, trẻ
quan sát và nêu kết quả thí nghiệm.
Mức độ 3: Giáo viên hướng dẫn trẻ cách tiến hành thí nghiệm; trẻ làm
thí nghiệm, quan sát và nêu kết quả thí nghiệm.
Mức độ 4: Giáo viên không hướng dẫn cách tiến hành thí nghiệm; yêu
cầu trẻ tự làm thí nghiệm và nêu kết quả thí nghiệm.
Mức độ 1 và mức độ 2, giáo viên là người chủ động và học sinh là
người thụ động nắm bắt tri thức. Mức độ 3, giáo viên là người hướng dẫn, điều

Đỗ Thị Huệ

13

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

khiển, học sinh là người chủ động chiếm lĩnh tri thức. Mức độ 4, học sinh tích
cực, tự lực chiếm lĩnh kiến thức mới.
Quy trình thực hiện:
- Bước 1: Giáo viên xác định rõ đề tài, mục đích, yêu cầu thí nghiệm,
chỉ dẫn nội dung và các giai đoạn thí nghiệm với các công cụ, thiết bị cần thiết
lưu ý học sinh đảm bảo tính an toàn, bảo vệ các dụng cụ và tiết kiệm hoá chất
và các nguyên vật liệu khác

- Bước 2: Giáo viên phân chia học sinh thành nhóm (nếu cần thiết).
+ Học sinh độc lập tiến hành thí nghiệm, ghi chép, vẽ hình, giáo viên
quan sát, kiểm tra, kịp thời uốn nắn lệch lạc, giúp đỡ học sinh cá biệt.
+ Học sinh viết bản tường trình.
- Bước 3: Giáo viên chỉ định học sinh báo cáo về tiến trình và kết luận
thí nghiệm cho học sinh nhận xét lẫn nhau và có cùng tổng kết đánh giá
chung.
Nếu thí nghiệm có tính chất thực nghiệm thì cần có đối chứng , cần
quan sát, ghi chép nhật kí, phân tích tài liệu và số liệu, báo cáo kết quả và
đánh giá.
1.1.2.5. Những yêu cầu của thí nghiệm
- Thí nghiệm phải đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với lứa tuổi. Nội dung và
phương pháp tiến hành thí nghiệm phải phù hợp với đặc điểm nhận thức và
khả năng thực hành của từng lứa tuổi, phù hợp với thực tiễn của mỗi trường
hợp cụ thể. Thí nghiệm phải an toàn, không gây nguy hiểm đối với học sinh.
- Thí nghiệm phải phù hợp với mục đích, nội dung của bài dạy.
- Trong khi tiến hành thí nghiệm nếu học sinh gặp lúng túng giáo viên
cần có biện pháp gợi ý hướng dẫn học sinh giải quyết khó khăn.

Đỗ Thị Huệ

14

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2


1.1.3. Một số vấn đề về chương trình CTLQVMTXQ
1.1.3.1. Mục tiêu của CTCTLQVMTXQ
Chương trình gồm 3 mục tiêu chính sau đây:
Về kiến thức
- Cung cấp những biểu tượng mới, đồng thời củng cố và làm chính xác
hoá những biểu tượng cũ. Biểu tượng đã có là cơ sở của những biểu tượng mới
và vậy trước khi cung cấp những biểu tượng mới cần phải củng cố những biểu
tượng cũ. Lấy đó làm căn cứ để cung cấp những biểu tượng mới. Hơn thế nữa,
trẻ em từ lọt lòng đến sáu tuổi, khả năng ghi nhớ chưa bền vững nên trẻ nhanh
quên nên phải củng cố và làm chính xác hoá những biểu tượng cũ.
- Mở rộng những hiểu biết cho trẻ về tự nhiên, xã hội, con người và thế
giới đồ vật. Thế giới xung quanh rất đa dạng và phong phú, muôn hình muôn
vẻ. Việc cung cấp những biểu tượng mới, làm chính xác những biểu tượng cũ
thì mở rộng sự hiểu biết cho trẻ cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của thầy, cô giáo cũng như những người lớn nói chung. Muốn mở rộng hiểu
biết cho trẻ, cần tổ chức cho trẻ hoạt động nhận biết những sự vật và hiện
tượng mới lạ, đồng thời khám phá những mối quan hệ đơn giản giữa chúng.
- Cần giúp trẻ tích luỹ vốn kiến thức một cách hệ thống, tổng hợp và
khái quát. Trong khi tổ chức CTLQVMTXQ cần giúp trẻ gọi tên chính xác sự
vật, hiện tượng; nhận biết những dấu hiệu bề ngoài cơ bản có ý nghĩa trong
việc xác định đối tượng và mối quan hệ giữa đối tượng - đối tượng, mối liên
quan đối tượng - con người
Về kĩ năng
-Phát triển các thao tác tư duy, các quá trình tâm lí. Khi tổ chức chương
trình CTLQVMTXQ giáo viên cần cho trẻ biết so sánh sự giống và khác nhau
giữa các sự vật, hiện tượng; biết phân nhóm, phân loại sự vật hiện tượng
nhằm dạy trẻ tiến hành các thao tác tư duy, rèn luyện khả năng phân tích, tổng
hợp, so sánh và khái quát hoá sự vật hiện tượng xung quanh. Trong quá trình

Đỗ Thị Huệ


15

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

đó, cô cần tạo điều kiện để trẻ được hành động trực tiếp với sự vật, hiện tượng,
cần khuyến khích, gợi mở kích thích TTC tìm tòi khám phá thế giới xung
quanh trẻ. Đây chính là điều kiện quan trọng để trí tuệ của trẻ phát triển.
- Sự nhận biết của trẻ về các sự vật, hiện tượng cần có sự tham gia của
các quá trình tâm lí. Cảm giác và tri giác là hai quá trình tâm lí quan trọng,
không có hai quá trình tâm lí này sẽ không có sự nhận biết. Chính vì thế, giáo
viên cần quan tâm đến việc rèn luyện và phát triển cảm giác, tri giác cho trẻ.
Trong đó, cảm giác phải chính xác, nhanh nhạy.
- Rèn luyện trí nhớ và ghi nhớ có chủ định: Thường xuyên cho trẻ nhận
biết các đối tượng mới lạ, hấp dẫn. Giáo viên nên sáng tạo ra nhiều thủ thuật
nhằm kích thích hứng thú học tập của trẻ, cần phải có kế hoạch ôn tập và kiểm
tra kiến thức mà trẻ đã lĩnh hội được. Giáo viên yêu cầu trẻ thực hành những
bài tập chính xác, đơn giản nhằm rèn luyện chú ý và ghi nhớ có chủ định.
- Phát triển ngôn ngữ:
Mở rộng vốn từ, tích cực hoá vốn từ theo từ loại, hệ thống hoá vốn từ là
một trong những nhiệm vụ quan trọng mà chương trình CTLQVMTXQ hướng
tới. Cần mở rộng vốn từ cho trẻ và tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên sử dụng
vốn từ của mình.
Ngoài ra cần dạy cho trẻ diễn đạt mạch lạc, dễ hiểu, logic, thái độ diễn
đạt tự tin, mạnh dạn, biết nhận xét, biết tỏ thái độ và biết tôn trọng người khác

khi trình bày. Tập cho trẻ câu đủ thành phần, đủ ý, đúng ngữ pháp và những
câu có xúc cảm.
- Phát triển các kĩ năng tích hợp khác nhau như: vận động, âm nhạc, tạo
hình
Giáo dục
- Dạy trẻ biết yêu quý, gần gũi, có thiện cảm, mong muốn được bảo vệ
môi trường tự nhiên và xã hội. Tuỳ từng nội dung và từng lứa tuổi của trẻ nên
đặt ra các nhiệm vụ giáo dục đạo đức thật cụ thể. Những vấn đề quan trọng

Đỗ Thị Huệ

16

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

nhất là giáo dục cho trẻ cái tâm tốt với môi trường sống: trẻ không tham lam,
không ích kỉ, biết sống nhân hậu với con người, động vật và cỏ cây hoa lá,
sống hoà đồng, gần gũi và gắn bó với môi trường xung quanh.
- Hình thành và rèn luyện thói quen và kĩ năng cần thiết, hành vi văn
hoá, văn minh như: các thói quen vệ sinh, lễ phép trong giao tiếp, kĩ năng lao
động tự phục vụ, chăm sóc cây cối và kĩ năng học tập.
Ngoài ra, còn giáo dục dinh dưỡng, giáo dục sức khoẻ giúp hình
thành ở trẻ một số khả năng tự phục vụ bản thân.
1.1.3.2. Mục tiêu của CTCTLQVMTXQ ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ
Chương trình gồm 3 mục tiêu chính sau đây:

Về kiến thức
Tiếp tục cho trẻ biết tên và đặc trưng của các sự vật, hiện tượng xung
quanh. Nhận biết và giải thích một số mối quan hệ đơn giản của sự vật, hiện
tượng. Trẻ biết sự phong phú và đa dạng của các sự vật, hiện tượng theo công
dụng, chất liệu.
Về kĩ năng
+ Có khả năng quan sát hai hay nhiều đối tượng cùng một lúc.
+ Biết so sánh đặc điểm giống và khác nhau của hai đối tượng. Bước
đầu biết phân nhóm các sự vật, hiện tượng theo các dấu hiệu đơn giản rõ nét.
Có khả năng dự đoán và suy luận hợp lí.
+ Có khả năng tập trung chú ý và ghi nhớ có chủ định.
+ Có khả năng thoả thuận, hợp tác với bạn bè trong học tập cũng như
khi vui chơi.
+ Biết sử dụng ngôn ngữ mạch lạc để nhận xét các sự vật, hiện tượng
xung quanh. Biết đặt câu hỏi cho mọi người.
Về thái độ
Trẻ cảm nhận nhận và yêu quý cái hay, cái đẹp trong thiên nhiên và
trong xã hội. Có thái độ nâng niu, trân trọng, giữ gìn các đối tượng xung

Đỗ Thị Huệ

17

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2


quanh. Có thói quen vệ sinh tốt và hành vi văn văn hoá, văn minh trong giao
tiếp, sinh hoạt ở nơi công cộng và khi cùng người lớn tham gia giao thông.
Biết hợp tác, chia sẻ với bạn bè trong vui chơi và học tập.
1.1.3.3. Nội dung CTLQVMTXQ ở độ tuổi MGN 4 - 5 tuổi

STT

Chủ đề

Đề tài
- Ngày hội đến trường.

1

Trường mầm non

- Lớp học của bé.
- Tết trung thu.
-Tôi là ai?

2

Bản thân

- Cơ thể tôi.
- Tôi cần gì để lớn và khoẻ mạnh ( lồng
ghép: chăm sóc vệ sinh, nề nếp thói quen).
- Gia đình tôi ( các thành viên, công việc

3


gia đình).
Gia đình

- Gia đình sống chung một ngôi nhà.
- Ngày hội của các cô giáo ( 20/11).
- Nhu cầu của gia đình ( lồng ghép vai trò
của dinh dưỡng với sức khoẻ).
- Giao thông ( lái xe, lái tàu, phi công)
- Xây dựng ( hợ xây, thợ mộc, kiến trúc sư).

4

- Dịch vụ ( bán hàng, thợ may, thợ làm
Nghề nghiệp

đầu).

(theo 6 loại nghề) - Chăm sóc sức khoẻ ( bác sĩ, y tá).
- Giúp đỡ cộng đồng ( cảnh sát, bộ đội,
người đưa thư, giáo viên).
- Lồng ghép ngày của các chú bộ đội.

Đỗ Thị Huệ

18

Lớp K32MN



Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2
- Sản xuất ( nông dân, công nhân, đầu bếp).
- Một số vật nuôi trong gia đình.

5

Thế giới động vật - Một số con vật sống trong rừng.
- Cá.
- Cây xanh.
- Tết nguyên đán - mùa xuân ( lồng ghép

6

Thế giới thực vật

thức ăn trong ngày tết).
- Một số loại rau.
- Một số loại quả ( lồng ghép thức ăn có giá
trị dinh dưỡng của các loại rau quả).

Ngày hội của bà,
7

mẹ, của cô và các
bạn gái (8/3).
Giao thông

8


- Một số luật lệ giao thông.
- Một số phương tiện giao thông.

Nước
9

Một số hiện
tượng thiên nhiên
Bác hồ với các
cháu thiếu nhi

1.1.4. Các nguyên tắc CTLQVMTXQ
Việc tổ chức CTLQVMTXQ là một trong những nội dung của GDMN.
Vì vậy, cần tuân theo những nguyên tắc sau đây:
1.1.4.1. Đảm bảo tính mục đích
Việc tổ chức CTLQVMTXQ phải hướng tới thực hiện mục tiêu chung
của GDMN là: hình thành ở trẻ những chức năng tâm lí, những cơ sở ban
đầu của nhân cách, năng lực làm người của trẻ và chuẩn bị cho trẻ vào học

Đỗ Thị Huệ

19

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2


phổ thông có hiệu quả. Các nội dung CTLQVMTXQ, việc tổ chức các
hình thức làm quen phải giải quyết tốt nhất các nhiệm vụ đề ra. Trên thực tế,
các nhiệm vụ giáo dưỡng như cung cấp kiến thức và rèn luyện năng lực trí tuệ
thường được chú trọng hơn các nhiệm vụ giáo dục. Điều đó dẫn đến kết quả là
năng lực ứng xử của trẻ chưa được giáo dục một cách đầy đủ. Vì vậy, khi
hướng dẫn trẻ các hoạt động LQVMTXQ đòi hỏi giáo viên mầm non phải xác
định đầy đủ cả nhiệm vụ giáo dưỡng và giáo dục, làm sao để giáo dục trẻ một
cách thiết thực và hiệu quả nhất, tránh hình thức giáo điều.
Ví dụ: Làm quen với phương tiện giao thông cần giáo dục trẻ có hành vi
văn hoá khi được đi trên các phương tiện giao thông thay bằng giáo dục - trẻ
biết bảo quản, sử dụng các phương tiện giao thông đó, làm quen với bác nông
dân không chỉ giáo dục trẻ biết kính trọng bác nông dân mà còn phải giáo dục
trẻ quý trọng sản phẩm do bác nông dân làm ra.
1.1.4.2 Đảm bảo tính giáo dục
Trước hết nội dung CTLQVMTXQ phải có tác dụng giáo dục, đó là
phải đảm bảo yêu cầu thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non hình thành
những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam ( QĐ 55 quy định mục tiêu kế hoạch đào tạo của nhà trẻ - trường mẫu
giáo, Bộ Giáo dục năm 1990). Không áp đặt, gò bó trẻ, nên yêu thương trẻ và
tôn trọng nhân cách của trẻ, lấy quan hệ tình cảm ( mẹ - con, chị - em, cô cháu), để tổ chức hướng dẫn, lôi cuốn trẻ hoà nhập vào MTXQ.
Nội dung kiến thức lựa chọn để dạy trẻ theo một trình tự, từ đơn giản
đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ gần đến xa, từ tổng thể đến chi tiết Cần chú
ý phát triển đối tượng, phát triển nội dung kiến thức cho trẻ quan sát nhận biết
phù hợp với trình độ phát triển nhận thức của lứa tuổi, vì đối tượng của trẻ rất
phong phú đa dạng. Không nên hình thành trong đầu óc trẻ những biểu tượng
về xung quanh một cách khô cứng, bất động. Cần cho trẻ quan sát, tri giác đối
tượng trong các thời điểm, hoàn cảnh và hình thức khác nhau. Chẳng hạn, cho

Đỗ Thị Huệ


20

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

trẻ quan sát và nhận xét bầu trời trước cơn mưa ( mây đen, trời tối, sấm
chớp, gió), và bầu trời sau cơn mưa ( bầu trời trong xanh, không gợn mây,
gió nhẹ), hoặc trong lớp học cho trẻ quan sát quả cam ( chín vàng, ngọt,
mát, thơm). Việc cho trẻ quan sát đối tượng nhằm phát triển trí tuệ của trẻ (
quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát), và giáo dục trẻ gần gũi, gắn
bó với thiên nhiên và cuộc sống xung quanh.
1.1.4.3. Đảm bảo tính vừa sức
Tri thức về MTXQ rất phong phú, đa dạng và không phải tất cả đều phù
hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ nhỏ. Do vậy, việc lựa chọn nội dung phải
chú ý đến đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá biệt của trẻ nhỏ.
Xác định nội dung phải chú ý đến mức độ nhận thức của trẻ ở các lứa
tuổi: trẻ 0 - 2 tuổi: phát triển và hoàn thiện các giác quan của trẻ ( thị giác,
thính giác), phát triển sự chú ý và hứng thú với đối tượng quan sát, hình
thành thái độ đối với các đối tượng đó. Trẻ 3 - 4 tuổi: hình thành biểu tượng về
sự vật và hiện tượng mà chúng thường gặp trong cuộc sống, hướng chúng đến
thiết lập mối liên hệ. Trẻ 5 - 6 tuổi phát triển tư duy trực quan hình tượng: học
cách tìm hiểu đặc điểm cơ bản về cấu tạo của thực vật, động vật và thiết lập sự
phụ thuộc của nó với điều kiện sống. Phát triển hình thức tư duy logic đơn
giản: khả năng phân tích tổng hợp, biết nêu ra dấu hiệu riêng biệt và dấu hiệu
chung của động vật, thực vật, đồ vật, con người xung quanh và có khả năng

khái quát.
tính vừa sức được thể hiện trong việc lựa chọn đối tượng nhận thức cụ thể, gần
gũi, quen thuộc đối với trẻ và ngày càng mở rộng đối tượng nhận thức về số
lượng, mức độ quen thuộc cũng như phải nâng cao dần yêu cầu của việc tìm
hiểu đối tượng ngày càng chi tiết hơn để đi đến tri thức khái quát.
Tính vừa sức đòi hỏi việc cung cấp tri thức cho trẻ phải nằm giữa
ngưỡng trên và ngưỡng dưới của thông tin của tri thức ( ngưỡng dưới là giới
hạn mà tất cả đã rõ ràng đối với trẻ về sự vật và hiện tượng. Đây là cơ sở mà từ

Đỗ Thị Huệ

21

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

đó trẻ tiếp nhận được thông tin tri thức mới, ngưỡng trên là giới hạn mà quá
trình nhận thức là khó khăn đối với trẻ vì tri thức phức tạp đối với trẻ ở lứa tuổi
đó). Để xác định ngưỡng thông tin của tri thức, cần phải dựa vào đặc điểm lứa
tuổi, kinh nghiệm xã hội của từng cá nhân, mức độ phát triển hứng thú nhận
thức ở trẻ, tạo nên những hoàn cảnh hướng tới thông tin.
1.1.4.4. Đảm bảo tính phát triển
Phát triển về đối tượng cho trẻ làm quen: Các sự vật, hiện tượng ở xung
quanh chúng ta đều không tồn tại ở một trạng thái cố định mà nó luôn luôn
nằm trong sự thay đổi, phát triển không ngừng. Vì vậy, cần cho trẻ làm quen
với các sự vật, hiện tượng trong các trạng thái khác nhau và cho trẻ cảm nhận

được sự phát triển, thay đổi của chúng.
Ví dụ: Làm quen với bông hoa trẻ cần biết trước bông hoa là nụ, sau
bông hoa là quả hoặc hoa tàn.
Với thiên nhiên vô sinh hoặc các đồ vật, hiện tượng cần cho trẻ thấy
được cái quá khứ, cái hiện tại và cái tương lai của chúng.
Ví dụ: Làm quen với đồ dùng bằng gỗ trẻ biết những đồ dùng này được
làm từ gỗ của những loại cây khác nhau. Cái bàn hoặc sẽ vẫn được dùng để
làm việc hoặc sẽ biến thành củi là phụ thuộc vào cách sử dụng và bảo quản
của con người.
Phát triển về nội dung và phương pháp cho trẻ làm quen: Các sự vật,
hiện tượng xung quanh rất phong phú, đa dạng. Vì vậy cần áp dụng nguyên
tắc dạy một biết mười, tức là dạy trẻ cách tìm hiểu, khám phá một số đối
tượng tiêu biểu, từ đó sẽ làm quen với các đối tượng khác.
Ví dụ: Làm quen với một số loại hoa, cô hướng dẫn trẻ quan sát một số
đặc điểm của hoa hồng, hoa cúc, hoa lay ơn, còn những loại hoa khác trẻ tự áp
dụng cách cô hướng dẫn để tìm hiểu chúng.

Đỗ Thị Huệ

22

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

1.1.4.5. Đảm bảo tính trực quan, thẩm mĩ
Xuất phát từ đặc điểm nhận thức của trẻ là thiên về trực quan hành động

cho nên trong quá trình CTLQVMTXQ cần phải tăng cường các yếu tố trực
quan, nhằm giúp trẻ nhận thức thế giới khách quan một cách hiệu quả, toàn
diện và chính xác. Các đồ dùng trực quan sử dụng cho trẻ làm quen phải đảm
bảo yêu cầu sư phạm, thẩm mĩ. Đồ dụng trực quan là tranh, ảnh, mô hình thì
các đối tượng phản ánh trên đó phải giống như thực tế. Tránh sử dụng những
tranh ảnh dùng cho kể chuyện cổ tích để cho trẻ nhận biết về các sự vật, hiện
tượng xung quanh.
1.1.4.6. Đảm bảo tính khoa học, hệ thống
- Đảm bảo tính khoa học: Những kiến thức về MTXQ cần cung cấp cho
trẻ là những kiến thức sơ đẳng về sinh vật học, lịch sử, địa lí, vật lí Vì vậy,
việc tổ chức CTLQVMTXQ ở trường mầm non phải đảm bảo tính khoa học.
Cụ thể:
+ Kiến thức cung cấp cho trẻ phải đơn giản, chính xác, có hệ thống và
không được tuỳ tiện. Những kiến thức cung cấp cho trẻ lứa tuổi mầm non là
kiến thức tiền khoa học và kiến thức đời sống.
+ Hệ thống kiến thức cung cấp cho trẻ phải liên tục trong cả ba độ tuổi
và phải phù hợp với trình độ nhận thức của từng độ tuổi.
Ví dụ: ở tất cả các độ tuổi mầm non đều cho trẻ làm quen với động vật
nhưng ở mỗi độ tuổi khối lượng kiến thức không giống nhau; lứa tuổi càng lớn
thì phạm vi các đối tượng làm quen càng rộng, kiến thức càng sâu sắc và khái
quát hơn.
Việc phức tạp dần các nội dung cho trẻ làm quen cần phải tính đến sự
hình thành những mối liên hệ và sự phụ thuộc giữa các đối tượng của thực tiễn
chứ không phải bằng con đường mở rộng một cách đơn giản các sự kiện cần
lĩnh hội.

Đỗ Thị Huệ

23


Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

+ Kiến thức cung cấp cho trẻ thường đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến
phức tạp.
+ Cho trẻ làm quen với các đối tượng gần gũi, quen thuộc trước rồi mới
đến các đối tượng ở xa mà trẻ ít được tiếp xúc.
- Đảm bảo tính hệ thống: Tính hệ thống là cơ sở để giúp trẻ lĩnh hội nội
dung dễ dàng hơn. Nó đòi hỏi phải sắp xếp nội dung theo một trình tự nhất
định phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên, của xã hội cũng như của
quá trình nhận thức của con người.
Trình tự logic sắp xếp nội dung phải đi từ tri thức đơn giản (đặc điểm,
cấu tạo), đến phức tạp (mối quan hệ), từ cụ thể đến trừu tượng, từ tổng thể đến
chi tiết, từ gần gũi quen thuộc đến ít quen thuộc, xa lạđể trẻ có cơ hội sử
dụng các cơ quan cảm giác để nhận thức các sự vật, hiện tượng xung quanh,
cũng như luyện tập các kĩ năng nhận thức cơ bản để có biểu tượng về sự vật,
hiện tượng ngày càng đầy đủ và chính xác.
Tính hệ thống trong việc cung cấp tri thức còn thể hiện ở việc tạo ra mối
quan hệ giữa việc cung cấp tri thức mới trên cơ sở củng cố tri thức đã có ở trẻ,
trong việc ôn tập, củng cố một số nội dung tri thức về MTXQ qua nhiều hoạt
động của trẻ ở trường mầm non và cũng là cơ sở để bổ sung tri thức mới cho
trẻ.
1.1.4.7. Đảm bảo tính thực tiễn
Tính thực tiễn được thể hiện ở chỗ nội dung tri thức cung cấp đến cho trẻ
phải thiết thực đối với cuộc sống của chúng. Do vậy, cần hướng dẫn trẻ làm
quen với các sự vật, hiện tượng, con người gần gũi với cuộc sống hàng ngày

của trẻ. Trong cuộc sống, trẻ thường xuyên tiếp xúc với sự vật, hiện tượng gì,
với những người nào, với sự kiện gì, cần giúp cho trẻ có biểu tượng đúng về
chúng. Điều này giúp trẻ không những độc lập, tự tin hơn trong cuộc sống, có
thể giảm bớt nguy hiểm cho trẻ, mà còn hình thành thái độ tích cực đối với
MTXQ.

Đỗ Thị Huệ

24

Lớp K32MN


Khoá luận tốt nghiệp

ĐHSP Hà Nội 2

Tính thực tiễn còn được thể hiện ở việc lựa chọn những nội dung làm
quen với MTXQ cho trẻ phải dựa trên đặc điểm điều kiện môi trường tự nhiên
và hiện thực cuộc sống xã hội diễn ra ở địa phương. Cần chú ý các yếu tố của
môi trường tự nhiên như: thời tiết, khí hậu, các loại động thực vật phổ biến ở
địa phương và các sự kiện xã hội có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của trẻ ( các
ngày lễ lớn của dân tộc, các lễ hội ở địa phương, phong tục tập quán). Cần ưu
tiên cho trẻ tiếp cận với các đối tượng đặc trưng, phổ biến ở địa phương. Điều
này sẽ tạo được hứng thú của trẻ đối với đối tượng và giáo viên dễ dàng chuẩn
bị nhận thức cho trẻ.
Tri thức về MTXQ là vô tận và không thể tích luỹ đủ mọi tri thức cần
thiết cho cuộc sống. Do vậy, cách tốt nhất giúp trẻ tích luỹ đủ mọi tri thức về
MTXQ là hình thành ở chúng những kĩ năng nhận thức và thái độ tích cực
trong việc tìm hiểu MTXQ để chúng tự khám phá sự vật, hiện tượng và cuộc

sống xã hội xung quanh.
1.1.4.8. Đảm bảo tính phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ
Hoạt động là con đường trực tiếp quyết định đến sự hình thành và phát
triển nhân cách của trẻ. Do đó, cô giáo chỉ là người tổ chức, hướng dẫn. Còn
trẻ em là người chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động, làm quen với
các đối tượng nhận thức, bằng cách (nhìn, nói, sờ, mó, nếm, ngửi, tháo lắp).
Qua đó kích thích năng lực hoạt động trí tuệ cho trẻ (quan sát, so sánh, phân
tích, tổng hợp, khái quát)
Ví dụ: Cho trẻ làm quen với con mèo, trẻ phải được tự mình nhìn, ngắm,
vuốt lông mèo, trẻ phải được chơi với mèo, cho mèo ăn, phải xem mèo ăn như
thế nào, mèo vận động ra sao, mèo kêu như thế nào Còn cô giáo chỉ là
người gợi mở, hướng sự chú ý của trẻ vào các nội dung yêu cầu trẻ quan sát
nhận xét. Như vậy, sẽ phát huy được tính tích cực độc lập, sáng tạo của trẻ.
Tóm lại, những nguyên tắc trên đây có tính chất chủ đạo trong việc lựa
chọn nội dung cho trẻ làm quen với MTXQ. Giáo viên phải biết vận dụng linh

Đỗ Thị Huệ

25

Lớp K32MN


×