Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng thao tác lập luận phân tích trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (991.81 KB, 89 trang )

TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết đưa ra những lí lẽ,
dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận mà
làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến của mình và hành
động theo những gì mình đề xuất. Chính vì thế, văn nghị luận đã hình
thành từ xa xưa cùng với sự phát triển của tư tưởng và văn hóa giáo dục
dân tộc. Nó là phương tiện đắc lực giúp vào quá trình phát triển ấy.
Trong nhà trường, việc rèn luyện viết văn nghị luận là yêu cầu rất
trọng yếu trong quá trình học tập. Văn nghị luận giúp cho học sinh tập
vận dụng tổng hợp các tri thức văn học, tri thức xã hội và đời sống vào
quá trình làm văn, rèn luyện kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ và đặc biệt
giúp đắc lực vào việc phát triển tư duy khoa học, tư duy lí luận ở họ.
Những đề bài nghị luận đặt ra những vấn đề tư tưởng và học thuật đòi
hỏi học sinh phải huy động những hiểu biết lí luận và thực tiễn để giải
quyết nhằm xây dựng cho họ một phương pháp, tư tưởng khoa học để có
nhận thức đúng và thái độ đúng trước những vấn đề bàn luận cũng tức là
giúp học sinh có sự chuẩn bị cần thiết để tiến tới những hành động đúng
đắn, tích cực và sáng tạo trong đời sống hiện tại và tương lai.
Để học sinh phổ thông tạo được những văn bản hay, đầy sáng tạo,
việc dạy các em sử dụng tốt các thao tác lập luận là vô cùng quan trọng.
Vì vậy, SGK Ngữ Văn từ THCS đến THPT đã đưa ra các thao tác lập
luận thành từng nội dung cụ thể nhằm giúp học sinh hiểu sâu bản chất
các thao tác cụ thể để từ đó vận dụng tốt các thao tác đó trong quá trình
tạo lập văn bản.
Tuy nhiên phần Làm Văn này còn đi vào chiều rộng, có chú ý đến
kĩ năng làm văn cho học sinh nhưng còn chung chung. Những học sinh



VŨ THỊ HOA

1

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

vẫn còn lơ mơ về các thao tác lập luận trong khi đây lại là những công
cụ đắc lực trong việc làm văn. Vì vậy, thiết nghĩ giúp học sinh nhận ra
những đặc điểm cơ bản và tác dụng thiết thực của thao tác lập luận trong
văn nghị luận là vô cùng cần thiết.
Một trong những thao tác cơ bản và cần thiết trong khi viết văn
nghị luận là thao tác lập luận phân tích. Thao tác này được đề cập đến
trong chương trình Ngữ Văn THCS nhưng đến chương trình Ngữ Văn
11 THPT, thao tác này được đi sâu nghiên cứu. Khóa luận “Hệ thống bài
tập rèn luyện kĩ năng sử dụng thao tác lập luận phân tích trong văn nghị
luận cho học sinh lớp 11 THPT” xin được đề cập đến một số dạng bài
tập làm văn liên quan đến thao tác lập luận phân tích trong văn nghị
luận. Qua đó giúp học sinh nắm vững hơn thao tác này và vận dụng
thành thạo trong khi viết văn nghị luận.
Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài:
“Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng thao tác lập luận
phân tích trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11”.
2. Lịch sử vấn đề
Phân tích là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa thiết thực đối với

con người trong cuộc sống hàng ngày. Vì thế, khi nghiên cứu văn bản
nghị luận, các tác giả, các nhà nghiên cứu Làm Văn rất quan tâm, chú
trọng đi vào khai thác, nghiên cứu về cách thức tổ chức phân tích cho
văn bản. Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, mỗi tác giả lại
đưa ra những cách tiếp cận khác nhau. Cụ thể là:
Các tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Quang
Ninh, Cao Đức Tiến, Hà Bình Trị trong cuốn Làm Văn 10 (Tài liệu giáo
khoa thực nghiệm ban Khoa học xã hội) [101,3] đã nêu khái quát về kiểu
bài phân tích văn học và sau đó đã nêu ra các loại đề về kiểu bài này

VŨ THỊ HOA

2

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

như: Phân tích một đoạn văn; phân tích một bài thơ hay một đoạn thơ;
phân tích tích cách nhân vật; phân tích tâm trạng nhân vật; phân tích
nghệ thuật.
Sau đó, các tác giả đưa ra ba yêu cầu chung của bài phân tích văn
học. Bao gồm: không được xa rời yêu cầu của đề và văn bản phân tích.
Các kiến thức vận dụng phải nhằm mục đích làm sáng tỏ yêu cầu của đề
và văn bản phân tích. Lời văn vừa cần có những thuộc tính trong sáng,
rõ ràng của văn phong khoa học, vừa cần có những thuộc tính truyền
cảm, hấp dẫn của văn phong nghệ thuật.

Cùng bàn về vấn đề phân tích, các tác giả Trần Đình Sử (chủ biên),
Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Hà Bình Trị, Trần Đăng Xuyền cũng đưa ra
những nét khái quát về kiểu bài phân tích văn học. Cụ thể, sau khi đưa ra
định nghĩa “phân tích văn học”, các tác giả đã nêu ra yêu cầu chung đối
với bài phân tích văn học. Song, theo các tác giả thì bài phân tích văn
học có các yêu cầu sau:
Không chấp nhận sự suy diễn chủ quan, tùy tiện mà cần thiết phải
có một thái độ khách quan, khoa học.
Giá trị bài phân tích văn học là đem lại những hiểu biết đúng đắn,
xác thực, cụ thể về một hiện tượng văn học.
Yêu cầu lí tưởng đối với một bài phân tích là phải được trình bày
rành mạch, bố cục rõ ràng, suy luận chặt chẽ, dẫn chứng tiêu biểu.
Và theo những tác giả trên thì kiểu bài này có các dạng đề sau:
Phân tích tác phẩm văn học; phân tích vấn đề văn học.
Sau đó, các tác giả này đi sâu vào cách làm các kiểu bài cụ thể.
Các tác giả Trần Đình Sử (chủ biên), Phan Trọng Luận, Nguyễn
Minh Thuyết trong cuốn Làm Văn 12 (NXB Giáo dục, 1994) [55, 20] đã
dành hẳn một bài trong phần hai: “Một số kiểu bài nghị luận” để bàn về

VŨ THỊ HOA

3

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN


phân tích văn học. Sau khi đưa ra khái niệm về bài phân tích văn học,
các tác giả này cũng đi sâu vào cách làm từng kiểu bài phân tích văn
học, như: Phân tích tác phẩm văn học; phân tích vấn đề văn học.
Trong cuốn Làm Văn 12 (Sách chỉnh lí hợp nhất 2000 – NXB Giáo
dục) [55,20], các tác giả Trần Đình Sử, Phan Trọng Luận, Nguyễn Minh
Thuyết đã đưa ra một số phương pháp phân tích văn học, như:
Muốn phân tích một đối tượng thì ta phải chia tách nhỏ đối tượng
thành bộ phận hay từng phương tiện để phân tích. Để thực sự bước vào
phân tích nội dung bên trong của hiện tượng văn học, có thể thực hiện
các bước:
 Phân tích đối tượng theo quá trình.
 Phân tích đối tượng theo mối quan hệ của nó với môi trường, hoàn
cảnh xung quanh.
 Phân tích đối tượng theo mối quan hệ tương đồng hay tương phản
với các đối tượng cùng loại.
Như vậy, cùng bàn về một vấn đề nhưng cách hiểu, cách trình bày
đánh giá của tác giả đã có sự khác nhau. Điều đó cho thấy các ý kiến về
yêu cầu và cách phân tích của các nhà nghiên cứu chưa thực sự đồng
nhất, có nhiều nội dung còn trình bày khá sơ lược. Đó là nguyên nhân
dẫn đến những khó khăn cho người giảng dạy thao tác phân tích. Hơn
nữa, điều đó còn dẫn tới tình trạng lúng túng, gượng gạo trong việc sử
dụng thao tác lập luận này để trình bày về một vấn đề hợp lí và thuyết
phục.
Có thể nói, đã có một số tài liệu triển khai, đề cập tới nội dụng
phân tích. Tuy nhiên, việc đưa ra những phương pháp cụ thể, hợp lí để
dạy thao tác lập luận phân tích là điều còn rất mới mẻ, bởi lẽ, đây là điều
còn cần tất nhiều những suy nghĩ, bàn bạc. Hệ thống bài tập trong SGK

VŨ THỊ HOA


4

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

còn khá sơ sài, học sinh chưa có điền kiện vận dụng lí thuyết vào thực
hành.
3 .Mục đích nghiên cứu
Đề tài: “Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng thao tác lập
luận phân tích trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11” nhằm rèn luyện
kĩ năng sử dụng thao tác lập luận phân tích nhằm giúp học sinh nắm
vững được nó cũng như vận dụng vào quá trình làm văn một cách thành
thạo và kết hợp nhuần nhuyễn với các thao tác khác.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
-Tìm hiểu, xác định cơ sở lí thuyết và thực tiễn cho việc vận dụng
thao tác lập luận phân tích.
-Đề xuất các dạng bài tập sử dụng thao tác lập luận phân tích.
-Tổ chức thể nghiệm để kiểm tra tính khả thi của những đề xuất
trong khóa luận đã đề ra.
5. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
-Đối tượng: Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng thao tác lập
luận phân tích trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11
-Phạm vi: Các bài học thao tác lập luận phân tích trong chương
trình SGK Ngữ Văn 11 THPT: Thao tác lập luận phân tích, luyện tập
thao tác lập luận phân tích. Nghiên cứu quá trình dạy, học và vận dụng
thao tác lập luận phân tích cho học sinh lớp 11 THPT Thuận Thành số 1,

tỉnh Bắc Ninh, nơi chúng tôi thực tập.
6. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp thống kê: đây là một trong những phương pháp của
toán học. Tôi sử dụng phương pháp này để xử lí các số liệu thu thập
được trong quá trình điều tra thể nghiệm.

VŨ THỊ HOA

5

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

-Phương pháp điều tra khảo sát: Sử dụng phương pháp này nhằm
tìm hiểu việc học tập và giảng dạy, rèn luyện kĩ năng phân tích trong văn
nghị luận cho học sinh lớp 11. Qua đó, nắm được thực trạng dạy học
Làm Văn ở trường THPT. Từ đó, nghiên cứu đề tài một cách tích cực,
góp phân nâng cao hiệu quả dạy học Làm Văn ở trường THPT.
-Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
+Xây dựng cơ sở thực nghiệm sư phạm thông qua việc đưa ra một số
dạng bài tập về thao tác lập luận phân tích trong văn nghị luận. Cơ sở
thể nghiệm được xây dựng dựa vào các tri thức về giáo dục, tâm lí, về
trình độ nhận thức của từng đối tượng và căn cứ vào hệ thống tri thức về
thao tác lập luận phân tích trong chương trình Ngữ văn 11
+Tổ chức thực hiện cho học sinh viết các đoạn hoặc bài văn nghị luận về
các dạng khác nhau của thao tác lập luận phân tích.

+Thông qua quá trình thể nghiệm đó, đánh giá nhận thức của học sinh,
từ đó rút ra một số đề xuất về việc giảng day, học tập các thao tác lập
luận trong SGK Ngữ văn 11 THPT đồng thời khẳng định mức độ thành
công của đề tài.
7. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận cung cấp một số khái niệm cơ bản có liên quan đến
thao tác lập luận phân tích, đồng thời đưa ra một số dạng bài tập về thao
tác đó. Qua đó, góp phần rèn luyện kĩ năng học tập và thực hành thao tác
lập luận phân tích của các em học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 11 THPT
trong việc viết đoạn hoặc bài văn nghị luận.
8. Bố cục của khóa luận
Để triển khai nội dung nghiên cứu, tôi chia khóa luận ra làm ba
phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận.

VŨ THỊ HOA

6

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

Phần mở đầu khóa luận trình bày những nội dung cơ bản có tính
định hướng trong việc nghiên cứu nội dung đề tài là: lí do chọn đề tài,
lịch sử vấn đề, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mục đích,nhiệm vụ
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra trong phần mở đầu,
chúng tôi còn giới thiệu về bố cục của khóa luận, qua đó đánh giá tầm

quan trọng của việc nghiên cứu đề tài này.
Phần nội dung của khóa luận được triển khai trong ba chương.
Trong đó mỗi chương được tôi trình bày các phương diện khác nhau của
đề tài.Cụ thể:
Chương 1: Tập trung trình bày cơ sơ lí luận và thực tiễn về phân
tích, thao tác lập luận phân tích trong văn nghị luận và những vấn đề cơ
bản nhất của thao tác lập luận phân tích trong văn nghị luận.
Chương 2: Tập trung vào việc trình bày hệ thống bài tập rèn luyện
kĩ năng sử dụng thao tác lập luận phân tích trong văn nghị luận cho học
sinh lớp 11 THPT. Trong đó bao gồm: nguyên tắc chung đối với việc
xây dựng hệ thống bài tập và trình bày một số dạng bài tập tiêu biểu.
Chương 3: Thực nghiệm. Phần này trình bày cách thức vận dụng
đề tài vào quá trình dạy và học. Từ đó thấy được những kinh nghiệm
cũng như hiệu quả trong việc vận dụng thao tác lập luận phân tích trong
khi viết văn nghị luận.
Phần cuối là kết luận của khóa luận. Trong phần này, tôi xin khái
quát lại hệ thống vấn đề đã được triển khai trong các phần trên. Qua đó,
tôi trình bày một số đề xuất cho việc dạy và học thao tác lập luận phân
tích ở SGK Ngữ Văn 11.

VŨ THỊ HOA

7

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN


Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Thao tác lập luận với tư cách là một hoạt động của tư duy
a) Khái niệm thao tác
Trong cuốn từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì thao tác
được định nghĩa như sau: “Thực hiện những động tác nhất định để làm
một việc gì đó trong sản xuất”
Trong tâm lí học, thao tác được xem là những hệ thống những hành
động trong tư duy. Thao tác chính là cốt lõi của các cách thức hành động
bị quy định và phụ thuộc chặt chẽ bởi phương tiện, điều kiện cụ thể.
Thao tác là một yếu tố không thể thiếu được trong hành động của
con người. Nó nảy sinh từ nhu cầu hành động của con người. Nhu cầu
ấy chi phối tới việc xác định hành động như thế nào để đạt được những
mục đích cụ thể, những nhiệm vụ cụ thể. Thao tác là cách để làm nên
nội dung hành động. Vì vậy nó là yếu tố có tính chất cơ động kĩ thuật, có
thể lắp ghép trong các chuỗi hành động miễn sao nó phù hợp với mục
đích thực hiện hành động đó.
b) Khái niệm tư duy
Trong thực tiễn cuộc sống, có rất nhiều cái mà ta chưa biết, chưa
hiểu. Song để làm chủ được thực tiễn, con người cần phải hiểu thấu đáo
những cái chưa biết đó, phải vạch ra những cái bản chất, mối quan hệ,
liên hệ có tính quy luật của chúng. Quy trình đó gọi là tư duy.
“Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản
chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng
trong thế giới khách quan trước đó ta chưa biết. Như vậy, tư duy chính
là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát

VŨ THỊ HOA


8

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

hiện ra tính quy luật của sự vật, hiện tượng bằng những hình thức như
biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí.
c) Khái niệm thao tác lập luận
Lập luận là trình bày hệ thống lí lẽ và luận điểm của mình một cách
chặt chẽ, rành mạch, gãy gọn theo một trật tự hợp lí, đúng với quy luật
logic nhằm khẳng định hoặc bênh vực một ý kiến nào đó, làm sáng tỏ
vấn đề mà người nói, người viết cho là đúng đắn. Hay nói một cách
khác, lập luận là quá trình liên kết, xâu chuỗi luận điểm, luận cứ nhằm
làm rõ luận đề theo một chính kiến, một quan điểm nhất định để người
đọc hiểu và tin vào những luận điểm mà người viết muốn dẫn người đọc
đến. Lập luận là sản phẩm của tư duy logic con người, do vậy lập luận
phải có lí lẽ, bằng chứng thuyết phục, lại phải biết trình bày, dẫn dắt sao
cho lập luận chặt chẽ, thuyết phục. Mặt khác, lập luận phải có đích, đích
của lập luận là tìm ra chân lí mới, rút ra những tri thức này từ tri thức
khác, là con đường đi đến nhận thức chân lí một cách khoa học.
Lập luận trong văn nghị luận ngoài có các yếu tố luận điểm, luận
cứ, luận chứng, còn có cách lập luận, phương pháp lập luận. Trong đó,
luận điểm chính là ý kiến xác định của người viết về vấn đề đặt ra. Luận
cứ là các tài liệu dùng làm cơ sở cho việc thuyết minh cho luận điểm.
Còn luận chứng là sự phối hợp tổ chức các lí lẽ và dẫn chứng để thuyết
minh cho luận điểm. Thực chất đây là cách đưa luận cứ vào quỹ đạo

logic để tạp thành sức thuyết phục của luận điểm.
Để lập luận, người ta phải sử dụng các thao tác lập luận. Đặc điểm
của thao tác lập luận là người viết phải sử dụng ngôn ngữ để nêu sự
thực, trình bày lí lẽ và qua đó đánh giá sự đúng - sai, đưa ra các phán
đoán, nêu ra các kiến giả, phát biểu ý kiến, thể hiện rõ lập trường quan
điểm của bản thân. Việc trình bày lí lẽ được người viết thể hiện thông

VŨ THỊ HOA

9

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

qua các phương thức tư duy logic như: Khái niệm, phán đoán, suy lí và
hệ thống dẫn chứng nhằm đạt được mục đích khiến người đọc tin theo.
Vậy thao tác lập luận chính là thao tác được sử dụng để thực hiện một
hành động lập luận.
Khi lập luận, người ta có thể dùng nhiều thao tác: chứng minh, giải
thích, so sánh, bác bỏ, bình luận. Các thao tác này, học sinh được học rất
kĩ trong nhà trường từ THCS - THPT.
1.1.2 Phân tích với tư cách là một thao tác bộ phận trong kĩ năng làm
văn nghị luận
1.1.2.1 Khái niệm văn nghị luận
-Nghị: lấy lời lẽ mà giải thích.
-Luận: bàn bạc, mở rộng, suy xét, phê phán.

Văn nghị luận nói chung là loại văn mà người viết dùng vốn hiểu biết
của mình về một vấn đề cụ thể đã được đặt ra để giải thích, chứng minh,
bàn bạc, mở rộng hoặc phê phán vấn đề cụ thể đó để người đọc (người
nghe) hiểu, tin và làm theo ý kiến của mình.
1.1.2.2 Các thao tác lập luận cơ bản
-Phân tích: Chia một sự vật nào đó ra thành nhiều phần rồi tổng
hợp nó lại thành một khối, khối ở đây chính là khối ngôn ngữ tạo nên tác
phẩm văn chương. Phân tích (theo từ Hán Việt có nghĩa là chia khối
ngôn ngữ tạo nên tác phẩm để tìm hiểu và thẩm định giá trị nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm văn chương ấy.
Trong nghị luận xã hội, thao tác lập luận phân tích cần sử dụng
đúng lúc, đúng chỗ, đúng mục đích, vì nếu quá lạm dụng thì sẽ làm cho
bài văn bị vụn vặt theo kiểu “vạch lá tìm sâu”. Phân tích vấn đề nhưng

VŨ THỊ HOA

10

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

dựa trên cơ sở hiểu biết chắc chắn, thái độ khách quan để đánh giá thì
không thuyết phục, thậm chí phản tác dụng.
-So sánh: Là thao tác yêu cầu phải so sánh hai hay nhiều tác giả, bài
thơ, đoạn văn… sống cùng thời, có chung một chủ đề, nội dung… Thao
tác này tương đối khó vì cần phải so sánh, đối chiếu cả về nội dung lẫn

hình thức để xác định giá trị của từng tác giả, tác phẩm, điểm giống hay
khác nhau giữa những chi tiết, hình ảnh trong câu thơ, đoạn thơ để qua
đó người viết tìm ra điểm hay, hấp dẫn hoặc có cơ sở để giải thích ý
nghĩa, giá trị mà tác phẩm đó mang lại.
-Bác bỏ: Bác bỏ là dùng lý lẽ và dẫn chứng để gạt bỏ những quan
điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác, từ đó nêu ý kiến đúng của mình
để thuyết phục người nghe, người đọc. Người viết có thể bác bỏ một luận
điểm, luận cứ hoặc cách lập luận bằng cách nêu tác hại, chỉ ra nguyên nhân
hoặc phân tích những khía cạnh sai lệch, thiếu chính xác…của luận điểm,
luận cứ, lập luận ấy.
-Bình luận: Bình luận là nhằm đề xuất và thuyết phục người đọc
(người nghe) tán đồng với nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một
hiện tượng (vấn đề) trong đời sống hoặc trong văn học.
1.1.2.3. Thao tác phân tích trong văn nghị luận
Phân tích là một thao tác lập luận cơ bản của quá trình tư duy cũng
như là thao tác cơ bản khi làm một bài văn nghị luận. Phân tích được
hiểu là việc chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố để đi sâu xem xét một
cách kĩ lưỡng nội dung và mối quan hệ bên trong cũng như bên ngoài.
Khi phân tích cần chia tách đối tượng thành nhiều yếu tố theo
những tiêu chí, quan hệ nhất định (Quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đối

VŨ THỊ HOA

11

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2


KHOA NGỮ VĂN

tượng, quan hệ nhân quả, quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng liên
quan, quan hệ giữa người phân tích với đối tượng phân tích…)
Đặc biệt, khi phân tích cần đi sâu vào từng yếu tố, từng khía cạnh,
song cần đặc biệt chú ý đến quan hệ giữa chúng với nhau trong một
chỉnh thể toàn vẹn, thống nhất.
1.1.2.4. Mối quan hệ giữa các thao tác lập luận trong văn nghị luận
Thao tác nghị luận là những động tác được thực hiện theo trình tự
và yêu cầu kĩ thuật được quy định trong hoạt động nghị luận.
Phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận…là những thao tác thường
gặp trong văn nghị luận.
Mỗi thao tác đều có ưu thế riêng và cũng có hạn chế riêng. Người
nghị luận cần nắm vững các ưu thế và hạn chế đó để có thể vận dụng
những thao tác thích hợp, bảo đảm cho hoạt động nghị luận đạt được
hiệu quả cao.
1.1.3. Sự hình thành kĩ năng qua hệ thống bài tập
1.1.3.1.Quan niệm kĩ năng
Kĩ năng là một vấn đề được nhiều nhà tâm lí, giáo dục học quan
tâm. Xung quanh khái niệm này có nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Chẳng hạn, theo Bùi Văn Hiệu thì kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức,
khái niệm, định nghĩa, định luật…vào thực tiễn.
Mỗi tác giả đưa ra một cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng. Tuy
nhiên, tựu chung lại, các quan điểm trên, về cơ bản là thống nhất. Tổng
kết các quan niệm của tác giả, chúng tôi đi đến cách hiểu: kĩ năng là khả
năng thực hiện có kết quả một hành động hay một loạt hành động nào đó
bằng cách lựa chọn và vận dụng những kiến thức đã có để giải quyết

VŨ THỊ HOA


12

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ở một cấp độ tiêu chuẩn
xác định.
Vấn đề hình thành kĩ năng được nhiều nhà tâm lí học trong và
ngoài nước quan tâm, mỗi tác giả, mỗi trường phái có những ý kiến khác
nhau, song đều thống nhất với nhau rằng: kĩ năng được hình thành trong
hoạt động. A.N.Leonchiev đã mô tả mô hình cấu trúc của hoạt động như
sau: Hoạt động < hành động >thao tác và tương ứng chúng là các
yếu tố khách quan: đối tượng (động cơ)> mục đích >phương tiện
(điều kiện)
Thao tác được sinh ra từ hành động, mặt khác nó tạo ra cơ cấu kĩ
thuật của hành động.
1.1.3.2 Quan niệm về hệ thống bài tập
Khi tổ chức dạy thực hành làm văn, một số yếu tố không thể thiếu
đó là hệ thống bài tập. Có thể nói bài tập chính là công cụ, là phương
tiện để giáo viên thực hiện những ý đồ rèn luyện các kĩ năng cho học
sinh. Trong thực hành làm văn, hệ thống bài tập còn là cơ sở, là những
tài liệu thiết thực giúp học sinh trong quá trình tạo lập văn bản khác. Vì
vậy, thực hành phải được thực hiện ngay sau giờ học lí thuyết, trước giờ
viết bài.
1.1.3.3. Sự h́ình thành kĩ năng qua hệ thống bài tập
Qua thực hành, học sinh không chỉ nắm vững thêm kiến thức lí

thuyết mà còn thành thục hơn trong quá trình làm các bài tập thực hành.
Không chỉ nắm vững các kĩ năng khi viết một đoạn văn (bài văn) theo
yêu cầu phân tích mà học sinh còn thành thạo hơn khi viết một đoạn văn
(bài văn) nghị luận sử dụng hợp lí các thao tác khác nhau.

VŨ THỊ HOA

13

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khảo sát về nội dung dạy học thao tác lập luận phân tích trong
sách giáo khoa Ngữ văn 11 THPT
Như chúng ta đã biết, trong chương trình Làm Văn trước đây,
giống như giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích được giảng dạy
với tư cách là một kiểu bài. Tuy nhiên, trong chương trình Ngữ văn hiện
nay, khi triển khai nội dung, phần Làm Văn không còn tồn tại khái niệm
kiểu bài mà thay vào đó là khái niệm kiểu văn bản. Do đó, các kiểu bài
nghị luận như giải thích, chứng minh, bình luận …và phân tích sẽ được
gọi bằng tên mới “thao tác lập luận”.
Quán triệt quan điểm trên, chương trình Ngữ văn hiện hành đã
xây dựng một số bài thao tác lập luận. Bộ sách cơ bản có bài “Thao tác
lập luận phân tích”. Đây là bài đầu tiên của một chuỗi bài về các thao tác
lập luận trong văn nghị luận. Theo phân phối chương trình, bài này được

giảng ở SGK Ngữ văn 11 (tập 1). Sau bài này, SGK còn bố trí thêm bài:
“Luyện tập thao tác lập luận phân tích”. Cách triển khai như vậy đã thể
hiện quan niệm tiến bộ trong việc biên soạn nội dung chương trình Ngữ
Văn nói chung và phần Làm Văn nói riêng. Quan điểm tiến bộ ấy xuất
phát từ chính mục đích của việc dạy học làm văn. Muốn làm được điều
đó, việc dạy học Làm Văn, một mặt phải trang bị hệ thống cơ sở lí
thuyết cho học sinh. Mặt khác phải tạo cho học sinh có điều kiện luyện
tập thực hành. Bởi lẽ, thực hành là con đường duy nhất giúp học sinh
củng cố và nâng cao các vấn đề lí thuyết đã học. Đồng thời đây cũng là
cơ hội tốt để các em vận dụng lí thuyết vào quá trình tạo lập văn bản.
Điều này, đòi hỏi nội dung lí thuyết của Làm Văn phải tỉ lệ thuận với
hoạt động thực hành.

VŨ THỊ HOA

14

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

Mỗi kiểu văn bản lại có những đặc trưng và phải căn cứ vào đặc
điểm văn bản để trình bày, để tổ chức thực hành. Đối với văn bản nghị
luận, muốn tạo ra những bài văn sinh động, tổ chức lập luận là khâu
quan trọng. Vì thế, khi trang bị kiến thức về văn bản nghị luận, một
trong những nội dung cần thiết là tổ chức lập luận cho văn bản. Vậy nên,
cách triển khai như vậy nhằm hướng tới mục đích cuối cùng của việc

dạy học làm văn, đáp ứng yêu cầu thực tế vận dụng của học sinh.
Tuy nhiên, để giúp học sinh vận dụng một cách đúng đắn và sáng
tạo thao tác lập luận phân tích, làm bài văn nghị luận sâu sắc, hấp dẫn và
thuyết phục mọi người thì cần phải có những cách thức tổ chức dạy học
thao tác lập luận phân tích theo hướng rèn luyện kĩ năng bằng việc đưa
ra các bài tập ở từng dạng cụ thể. Chương trình SGK vẫn còn bó hẹp số
lượng bài tập thực hành thao tác này cho học sinh. Cụ thể, số lượng bài
thực hành thao tác lập luận phân tích là 13 bài. Trong đó, dạng bài tập
nhận diện là 7 bài (chiếm 53,8%), dạng bài tập tạo lập là 3 bài (chiếm
23,1%) và dạng bài tập chữa lỗi được giáo viên trực tiếp khảo sát từ các
bài làm của học sinh là 3 bài (chiếm 23,1%).
1.2.2 Thực trạng dạy học của giáo viên
Có thể nói, trong chương trình Làm Văn hiện hành thì thao tác lập
luận phân tích còn là một nội dung khá mới mẻ. Bởi vậy, trên thực tế,
trong quá trình giảng dạy giáo viên mới chỉ bám sát vào SGK và SGV
để vừa dạy kiến thức, vừa rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh.
Trong giờ dạy kiến thức lí thuyết “Thao tác lập luận phân tích”
giáo viên thực hiện các nội dung SGK theo những định hướng trong
SGK. Thông thường, giáo viên đưa ra các câu hỏi gợi ý, hướng dẫn học
sinh phân tích ngữ liệu theo phần nội dung trong SGK, sau đó nhận xét,
bổ sung rồi rút ra kết luận theo phần ghi nhớ trong SGK. Cuối cùng,

VŨ THỊ HOA

15

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2


KHOA NGỮ VĂN

giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lí thuyết đã học vào
việc giải quyết các bài tập trong SGK.
Khi khảo sát chương trình, chúng tôi nhận thấy thời gian giành
cho bài “Thao tác lập luận phân tích” là một tiết và một tiết cho bài
“Luyện tập thao tác lập luận phân tích”. Do đó, giáo viên ít có điều kiện
mở rộng kiến thức và việc luyện tập cũng chưa được kĩ càng, sâu sắc. Vì
vậy, khi tạo lập văn bản nghị luận, học sinh vẫn chưa vận dụng được các
bước phân tích một cách có hiệu quả.
1.2.3 Thực trạng học tập của học sinh
Trong quá trình học thao tác lập luận phân tích, nhìn chung, học
sinh vẫn còn thụ động. Mặc dù, giáo viên khi lên lớp có cố gắng đổi mới
phương pháp dạy – học, lấy học sinh làm trung tâm, dạy học tích cực
hóa, nhằm tổ chức hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu chiếm lĩnh tri thức,
phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên, học sinh
chưa thực sự tiếp thu một cách chủ động, sáng tạo mà phần lớn các em
vẫn học theo kiểu cũ: nghe, ghi, chép, nhớ và tái hiện những gì giáo viên
nói mà chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học.
Trong các bài viết phân tích của học sinh, mặc dù đã được luyện
tập thao tác phân tích nhưng việc vận dụng của các em chưa thực sự
thuần thục. Mặt khác sự tự học và tư duy rèn luyện của các em còn
nhiều hạn chế. Do đó, khi đi vào tạo lập văn bản nghị luận phần lớn các
em vận dụng thao tác lập luận phân tích chưa được linh hoạt, sáng tạo.
Vấn đề chữa lỗi của học sinh sau khi giáo viên trả bài. Nhiều em
còn ngại sửa, thậm chí chỉ sửa qua loa hoặc không sửa trong khi giáo
viên hướng dẫn thực hành. Đó là một hạn chế lớn cần phải khắc phục ở
học sinh, nó cho thấy việc luyện tập thực hành vẫn chưa được các em ý
thức đầy đủ.


VŨ THỊ HOA

16

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

1.2.4. Đánh giá chung về thực trạng
Từ thực trạng dạy – học của giáo viên và học sinh như trên chúng
ta thấy: để việc dạy học Làm Văn thực sự chủ động, sáng tạo, học sinh
biết vận dụng thao tác lập luận phân tích một cách linh hoạt và có hiệu
quả theo yêu cầu đổi mới là không ít khó khăn. Khắc phục những khó
khăn đó không hề đơn giản, cần phải có thời gian. Hơn nữa, nó cũng đòi
hỏi phải có sự tận tình, sáng tạo của mỗi giáo viên khi dạy học. Việc đưa
các bài tập vào quá trình học sẽ giúp các em có thêm kĩ năng viết văn
nghị luận.

VŨ THỊ HOA

17

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2


KHOA NGỮ VĂN

Chương 2. HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ
DỤNG THAO TÁC LẬP LUẬN PHÂN TÍCH TRONG VĂN NGHỊ
LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 11
2.1. Nguyên tắc chung đối với việc xây dựng hệ thống bài tập
2.1.1. Đảm bảo tính khoa học
Nguyên tắc dạy học này đòi hỏi, trong quá trình dạy học sinh
những tri thức khoa học chân chính, chính xác, phản ánh những thành
tựu hiện đại của khoa học, kĩ thuật và văn hóa, phải dần dần giúp học
sinh tiếp xúc với một số phương pháp nghiên cứu, có thói quen suy nghĩ
và làm việc một cách khoa học, những phẩm chất và tình cảm cao quý
của con người mới.
Trong trường hợp này, đảm bảo tính khoa học có nghĩa là bài tập
đúng, chính xác, hiện đại và đặc biệt là phải phù hợp với tâm lí lứa tuổi
học sinh. Bài tập đưa ra phải đúng với chuyên môn: ngữ liệu cần chính
xác, yêu cầu rõ ràng, rành mạch, phù hợp với lí luận dạy học hiện đại là
phát huy chủ thể học sinh, hơn nữa bài tập đưa cần chứa kiến thức, kĩ
năng giúp học sinh rèn luyện đúng mục đích nêu ra. Ngoài ra, bài tập
đưa ra cần phù hợp với tính khoa học sư phạm. Có nghĩa là hệ thống bài
tập phải phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi tiếp nhận của học sinh. Nguyên
tắc này sẽ được chúng tôi đề cập đến rõ ràng hơn ở nguyên tắc vừa sức.
2.1.2 Đảm bảo tính hệ thống
Hệ thống là tập hợp các phần tử khác nhau, giữa chúng có mối
liên hệ và tác động qua lại theo một quy luật nhất định tạo thành một
chỉnh thể, có khả năng thực hiện những chức năng cụ thể nhất định.
Phần tử ở đây chính là các dạng bài tập cơ bản của thao tác lập luận

VŨ THỊ HOA


18

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

phân tích. Các bài tập đó được sắp xếp theo lớp lang, chúng có mối liên
hệ và tác động qua lại với nhau. Dạng bài tập sau khó hơn dạng bài tập
trước song nó được hình thành dựa trên dạng bài tập đã cho…Cứ thế,
các dạng bài tập đó làm nên một hệ thống bài tập giúp người học có
thêm kĩ năng trong học và thực hành thao tác lập luận phân tích khi làm
một bài văn nghị luận. Hệ thống bài tập ở đây được triển khai từ dễ đến
khó, từ bài tập nhận diện, vận dụng sáng tạo đến bài tập chữa lỗi. Hệ
thống bài tập ở đây được đưa ra có sự kế thừa từ những công trình
nghiên cứu bài tập về thao tác lập luận phân tích trong chương trình
THCS song có sự mở rộng, phát triển hơn.
2.1.3. Đảm bảo tính vừa sức
Nguyên tắc này yêu cầu trong quá trình dạy học, đòi hỏi phải vận
dụng những nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù
hợp với trình độ phát triển của học sinh chung trong lớp, đồng thời cũng
phù hợp với trình độ phát triển của từng đối tượng học sinh, thậm chí
của từng học sinh, đảm bảo cho mọi học sinh đều có thể phát triển ở
mức độ tối đa so với khả năng của mình.
Trong quá trình dạy đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ
gần đến xa, từ nắm tri thức đến rèn kĩ năng, kĩ xảo, từ vận dụng tri thức
trong những tình huống đã học đến vận dụng tri thức vào những tình

huống mới…
Ngoài ra hệ thống bài tập còn cần đảm bảo tâm sinh lí của học
sinh. Học sinh THPT đã có khả năng hiểu và vận dụng những bài tập
trong chương trình Ngữ văn trừu tượng hơn, khái quát hơn. Học sinh
cũng có cách nhìn, sự cảm nhận sâu sắc hơn về cuộc sống thường
nhật…Hệ thống bài tập cần đáp ứng phù hợp với lứa tuổi, trình độ nhận
thức của các em.

VŨ THỊ HOA

19

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

2.1.4 Đảm bảo tính tích hợp
Các bài tập đưa ra ngoài việc đáp ứng các yêu cầu trên thì cần phải
đảm bảo yêu cầu tích hợp: tích hợp ngang và tích hợp dọc: Tích hợp dọc
có nghĩa là các bài tập đưa ra trong hệ thống phải có sự liên hệ, bổ sung
cho nhau trong quá trình tích lũy. Bản thân phần Làm Văn cũng có sự bổ
sung cho nhau: Muốn phân tích được thì học sinh cũng cần vận dụng
linh hoạt các thao tác như so sánh, bác bỏ, bình luận, tổng hợp…Tích
hợp dọc nghĩa là các bài tập về quan hệ lập luận phân tích có sự phối
hợp chặt chẽ với các phân môn khác: đọc - hiểu văn bản và tiếng Việt.
Thao tác lập luận phân tích có thể giúp học sinh cảm nhận được rõ hơn,
sâu sắc hơn các văn bản văn học được đề cập đến trong chương trình

qua sự phân tích, chia nhỏ đối tượng. Ở phần tiếng Việt cũng có sự kết
hợp với Làm Văn. Ví dụ như các bài tập tiếng Việt tồn tại rất nhiều dạng
liên quan đến Làm Văn: phân tích giá trị của biện pháp tu từ: so sánh,
nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ…
2.2. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng thao tác lập luận
phân tích trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11
2.2.1. Giới thiệu khái quát bài tập
Khi tổ chức dạy thực hành làm văn, một số yếu tố không thể thiếu
đó là hệ thống bài tập. Có thể nói bài tập chính là công cụ, là phương
tiện để giáo viên thực hiện những ý đồ rèn luyện các kĩ năng cho học
sinh. Trong thực hành Làm Văn, hệ thống bài tập còn là cơ sở, là những
tài liệu thiết thực giúp học sinh trong quá trình tạo lập văn bản khác. Vì
vậy, thực hành phải được thực hiện ngay sau giờ học lí thuyết, trước giờ
viết bài.

VŨ THỊ HOA

20

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

Thông thường để tổ chức nội dung thực hành, giáo viên cần căn
cứ từ những vấn đề làm cơ sở định hướng cho hoạt động thực hành
thông qua hệ thống bài tập cụ thể. Theo tôi, để tổ chức rèn luyện kĩ năng
làm văn nghị luận cho học sinh về thao tác lập luận phân tích, nên sử

dụng một số kiểu bài tập sau:
-Bài tập nhận diện thao tác lập luận phân tích.
-Bài tập tạo lập thao tác lập luận phân tích.
-Bài tập chữa lỗi thao tác lập luận phân tích.
Sơ đồ hệ thống bài tập:

VŨ THỊ HOA

21

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

VŨ THỊ HOA

KHOA NGỮ VĂN

22

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

2.2.2.Hệ thống bài tập
Khi viết một bài văn nghị luận, trước hết ta cần phải biết được

cách xây dựng một lập luận. Có nghĩa là xây dựng được một đoạn văn
(bài văn) có luận điểm, luận cứ và kết luận rõ ràng. Khi xây dựng một
lập luận phân tích cũng vậy, trước hết chúng ta cần xây dựng được đoạn
văn (bài văn) đó theo một lập luận. Hệ thống bài tập trong khóa luận chỉ
đề cập đến phần chính. Đó là hệ thống bài tập xây dựng các lập luận
phân tích. Sau đây là các dạng chủ yếu:
2.2.2.1. Bài tập nhận diện
 Miêu tả bài tập
Kiểu bài tập này thường gồm hai phần: cung cấp ngữ liệu và trình
bày yêu cầu. Ngữ liệu có thể là một đoạn văn nghị luận hoặc cũng có thể
là một văn bản nghị luận. Sau phần trình bày ngữ liệu là phần nêu nội
dung yêu cầu bài tập. Phần yêu cầu thường được thể hiện bằng cách diễn
đạt như: Xác định đoạn văn sử dụng thao tác nào? Xác định bước thực
hiện nội dung bài (đoạn văn).
 Mục đích
Đối với loại bài tập này, mục đích chính là giúp học sinh có thể
nhận diện được thao tác lập luận phân tích trong văn bản nhằm mục đích
làm sáng tỏ luận điểm nào đó. Đây là loại bài tập có yêu cầu ở mức độ
thấp, nó mang tính khởi động, khơi gợi khả năng ghi nhớ kiến thức cơ
bản về thao tác lập luận phân tích. Học sinh được cung cấp ngữ liệu và
yêu cầu học sinh nhận diện thao tác và những biểu hiện của thao tác này.
Loại bài tập này không chỉ giúp giáo viên và học sinh củng cố tri thức về
thao tác lập luận phân tích mà còn giúp giáo viên có điều kiện trình bày
sâu hơn những vấn đề về tri thức, đồng thời giúp học sinh thấy rõ tác

VŨ THỊ HOA

23

LỚP: 35C



TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

dụng của thao tác lập luận phân tích trong việc triển khai văn bản nghị
luận cũng như những vấn đề khác trong cuộc sống.
Trong dạng bài tập này có các kiểu bài tập khác nhau. Nhận diện
được các loại khác nhau đó có nghĩa là học sinh đã bước đầu nắm được
cơ bản phần lí thuyết liên quan đến thao tác phân tích trong văn nghị
luận.
 Cách thức hướng dẫn chung
Như vậy, để nhận diện thao tác lập luân phân tích, giáo viên phải
xuất phát từ những tri thức cơ bản về thao tác lập luận phân tích để từ đó
định hướng cho học sinh tiến hành hoạt động nhận diện trong ngữ liệu
cụ thể. Kiểu bài tập này thường được thực hiện sau khi giáo viên dạy
xong phần lí thuyết hoặc là trong quá trình nhắc lại nội dung lí thuyết
của tiết luyện tập. Chính vì vậy, khi thực hiện giờ dạy, giáo viên nên đặt
kiểu bài tập này bên cạnh nội dung lí thuyết.
Trong giờ thực hành, sau khi thực hiện kiểu bài tập này, giáo viên
cho học sinh tiếp tục thực hiện một kiểu bài tập khác là thực hiện thao
tác phân tích trong làm văn nghị luận.
 Một số dạng bài tập nhận diện
a) Nhận diện cấu tạo lập luận có sử dụng thao tác phân tích
Để nhận diện được một số cách phân tích khi sử dụng thao tác lập
luận phân tích thì người đọc (nghe) cần xác định được cách thức tạo lập
lên lập luận đó. Nhận biết cách thức của một lập luận chính là khi chúng
ta nhận biết các yếu tố của một lập luận. Các yếu tố đó chính là: luận
điểm (kết luận), luận cứ và cách thức lập luận.

(1) Nhận diện luận điểm: Luận điểm là điều rút ra sau khi đã
được giải thích, phân tích, chứng minh, trong quá trình lập luận hay có

VŨ THỊ HOA

24

LỚP: 35C


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

thể đó là điều được tác giả giới thiệu ngay trong phần mở đoạn (mở bài).
Luận điểm hay nói rộng ra đó là kết luận, kết luận chính là cái đích của
một lập luận. Đây là điều mà người nói (viết) muốn người đọc (nghe)
chấp nhận. Nhận biết luận điểm (kết luận) có nghĩa là học sinh cần xác
định được ý kiến, qua điểm cần phân tích.
Ví dụ minh họa: Cho đoạn văn sau, xác định được ý kiến, quan
điểm của người viết (nói):
“Quyền tự do là quyền quý báu nhất của loài người. Không có tự
do người ta cũng chỉ giống như súc vật. Tự do đây không phải muốn làm
gì thì làm: một thứ tự do vô tổ chức và vô ý thức. Sở dĩ như vậy là vì
loài người sống thành đoàn thể, sống thành xã hội cho nên phải hiểu tự
do là muốn làm gì thì làm nhưng là làm theo lẽ phải, theo lí trí, để không
phạm tới sự tự do của người khác và không phạm tới quyền lợi chung
của tập thể.
( Theo Nghiêm Toản)
Luận điểm của đoạn văn trên chính là: Quyền tự do là quyền quý

báu nhất của loài người. Các câu sau là phần giải thích, chứng minh cho
luận điểm mà tác giả đã nêu ra.
(2) Nhận diện luận cứ : Luận cứ là những lí lẽ, những dẫn chứng
được rút ra từ thực tiễn của đời sống xã hội, đời sống văn học hoặc
những chân lí được nhiều người thừa nhận…dùng làm cơ sở cho việc
dẫn tới kết luận. Có thể chia luận cứ ra thành hai loại: luận cứ thực tế và
luận cứ nhân tạo. Nhận biết luận cứ là học sinh có nhiệm vụ nhận diện
các yếu tố được phân tích của đối tượng (nhận biết các lí lẽ, dẫn chứng
mà người nói (viết) sử dụng trong bài viết của mình).

VŨ THỊ HOA

25

LỚP: 35C


×