Tải bản đầy đủ (.pdf) (131 trang)

con người trong thơ thiền lý trần dưới góc nhìn thi pháp học hiện đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (861.79 KB, 131 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

TRẦN HOÀNG HÙNG

CON NGƯỜI TRONG THƠ THIỀN
LÝ - TRẦN DƯỚI GÓC NHÌN
THI PHÁP HỌC HIỆN ĐẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

TP.HỒ CHÍ MINH - NĂM 2005



MỤC LỤC
MỤC LỤC .................................................................................................................3
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................5
1. LÝ DO VÀ MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI: ................................................................. 5
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ. .................................................................................................... 6
3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: ............................................................................. 9
4.ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN: ......................................................................... 9
5. KẾT CẤU LUẬN VĂN: ............................................................................................. 9

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ - VĂN HÓA THỜI LÝ TRẦN ................ 11
1.1.Bối cảnh lịch sử văn hóa thời Lý - Trần: .............................................................. 11
1.2.Khái lược về Phật giáo và Thiền tông thời Lý - Trần: ......................................... 20
1.3.Vài nét về mối quan hệ giữa thơ và thiền: ............................................................ 26

CHƯƠNG 2: CON NGƯỜI TRONG THƠ THIÊN LÝ – TRẦN DƯỚI GÓC
NHÌN THI PHÁP HỌC HIỆN ĐẠI .....................................................................34


2.1.Con người thật không địa vị trong thơ thiền Lý-Trần.......................................... 34
2.2.Con người trí tuệ: ................................................................................................... 50
2.3.Con người tự tại: .................................................................................................... 61
2.4.Con người vô ngã vị tha: ....................................................................................... 76

CHƯƠNG 3: KHÔNG GIAN, THỜI GIAN VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG THƠ THIỀN LÝ - TRẦN ......................................................................88
3.1.Không gian nghệ thuật: ......................................................................................... 88
3.2.Thời gian nghệ thuật .............................................................................................. 96
3.3.Ngôn ngữ nghệ thuật ........................................................................................... 106


KẾT LUẬN ........................................................................................................... 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................124
I/TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT ................................................................ 124
II/TÀI LIỆU TIẾNG ANH ........................................................................................ 130
III/TÀI LIỆU TIẾNG HOA ....................................................................................... 131


MỞ ĐẦU

1. LÝ DO VÀ MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI:
Văn hoa là động lực để phát triển xã hội, mà văn học chính là xương sống của văn
hoa. Văn học Phật giáo nói chung, thơ thiền nói riêng là một bộ phận quan trọng của văn
học Lý - Trần, là di sản văn hoa quí báu của một thời đại đáng tự hào của dân tộc Việt
Nam. Củng cố văn hoa truyền thống, kế thừa tiếp thu những thành tựu của văn hoa nhân
loại làm phong phú thêm cho nền văn hoá nước nhà là việc làm vô cùng bức thiết.
Thời đại Lý -Trần là thời kỳ vàng son nhất của lịch sử Việt Nam với những thành
tựu rực rỡ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, quân sự, chính trị, văn
hoa, nghệ thuật... Nhưng độc đáo và kỳ đặc nhất là tinh thần hào hùng, trong sáng của

những con người với phong cách siêu việt, vừa tự tin, hào hùng, phóng khoáng, vừa trong
sáng, tinh khiết, thuần lương khó gặp ở những thời đại khác. Cái gì đã tạo ra được những
con người như vậy ?
Văn học là nhân học, văn học làm nên con người.Con người vừa là đối tượng chủ
yếu, vừa là mục đích cứu cánh của văn học. Quan niệm nghệ thuật về con người là một
phạm ưù rất quan trọng của thi pháp học, là trung tâm của quan niệm thẩm mỹ của nghệ
sĩ. Nó hướng chúng ta đến đối tượng chủ yếu của văn học. Không thể lý giải một hệ
thống thơ mà bỏ qua con người thể hiện trong đó.
Hiện nay thơ thiền đang được giảng dạy ở các trường phổ thông, đại học và sau đại
học. Tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về thơ thiền nói chung, con người ương thơ thiền nói
riêng là việc làm cần thiết.
Hơn nữa,người viết vốn thân ở cửa thiền nhiều năm, đã có cơ hội tiếp xúc với thiền
học, Hán học, đã rất yêu thích và thuộc lòng nhiều bài thơ thiền từ lúc còn rất nhỏ. Nhưng
thơ thiền rất kỳ lạ, càng đọc càng thấy hấp dẫn đến kỳ lạ, càng phát hiện ra những vấn đề
mới.


"Ôn cố nhi tri tân" góp phân nhỏ trong việc vén bức màn bí mật về những bức thông
điệp của ông cha ta muốn nhắc lại cho hậu duệ, nên người viết chọn đề tài này.

2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
Thơ thiền Việt Nam là một hiện tượng văn học độc đáo, là một bông hoa kỳ lạ của
vườn thơ. Văn học Phật giáo nói chung, thơ thiền nói riêng là một trong những nhánh
chính khơi nguồn cho dòng văn học viết Việt Nam chảy mãi đến hôm nay. Nó xuất hiện
vào thế kỷ thứ X, đến nay đã có lịch sử hơn một ngàn năm và đã đạt được những thành
tựu đáng kể. Đinh Gia Khánh nhận định : "Văn học thời Lý mở đầu cho những truyền
thống lớn của dòng văn học viết..., văn học thiền tông có vị trí nhất định. Thơ thiền gắn
bó với đời sống dân tộc."
Việc sưu tầm, dịch thuật, giới thiệu, và nghiên cứu thơ thiền được các nhà nghiên
cứu Việt Nam chú ý từ thế kỷ XV.Những công trình đầu tiên cày xới mảnh đất bí ẩn này

phải kể đến "Việt Nam văn học sử yếu" (1941) của Dương Quảng Hàm, "Việt Nam cổ
văn học sử" (1942) của Nguyễn Đổng Chi, "Văn học đời Lý" và "Văn học đời Trần"
(1942) của Ngô Tất Tố, "Cuộc tiến hoá văn học Việt Nam" (1943) của Kiều Thanh Quế,
"Văn học cổ Việt Nam" (1960)của Đinh Gia Khánh, "Hai trăm năm lịch sử văn họcđời
Lý" và "Văn học đời Trần Hồ" của Phạm Văn Diêu, " Mấy điều tâm đắc về một thời đại
văn học" của Đặng Thai Mai. Bên cạnh những công trình lớn, những chuyên luận, tiểu
luận của những nhà nghiên cứu uy tín hàng đầu Việt Nam hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp
đề cập đến thơ thiền như Nguyễn Đăng Thục, Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân
Hãn,Nguyễn Duy Cần, Lê Văn Siêu, Thích Mãn Giác, Nguyễn Huệ Chi, Hà Văn Tấn,
Nguyễn Duy Hình, Trần Đình sử, Kiều Thu Hoạch, Phạm Ngọc Lan, Đỗ Văn Hỷ, Mai
Quốc Liên, Đoàn Thu Vân, Lê Mạnh Thát, Minh Chi, Trần Thị Băng Thanh, Lê Trí Viễn,
Thích Thanh Từ, Minh Tuệ, Nguyễn văn Xuất...
Một số luận án gần đây nhất với đối tượng nghiên cứu là văn học Phật giáo thời Lý
- Trần như "Vận dụng quan điểm thể loại vào việc nghiên cứu văn học Việt Nam thời Lý
- Trần" (1995)của Nguyễn Phạm Hùng, "Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ
thiền Việt Nam thế kỷ XI- XIV (1996) của Đoàn Thị Thu Vân, "Văn học Phật giáo thời


Lý - Trần, diện mạo và đặc điểm." (2002) của Nguyễn Công Lý. Cả ba luận án này đều
có đề cập đến con người trong thơ thiền thời Lý - Trần nhưng chưa phải là một công trình
chuyên biệt, không nghiên cứu chuyên sâu về con người.
Theo thiển kiến của người viết, phần lớn các nhà nghiên cứu xem xét thơ thiền trên
quan điểm xã hội học- triết học. Xem xét thơ thiền trên bình diện văn hoa lịch sử như
Đinh Gia Khánh, Đặng thai Mai, Mai Quốc Liên, Lê Mạnh Thát, Nguyễn Tự Cường,
Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Công Lý, Nguyễn Phạm Hùng. Khảo sát thơ thiền dưới quan
điểm triết học Thiền và mỹ học Thiền như Thích Mãn giác, Thích Thanh Từ, Nhất Hạnh,
Minh Chi, Minh Tuệ, Thích Phước An, Thích Phước Sơn.
Kế thừa một số thành tựu của thi pháp học hiện đại trong nghiên cứu văn học, M.
Bakh Tin đã cho ra đời nhiều công trình có sức ảnh hưởng lớn đến toàn thế giới, mở ra
một hệ trình mới trong cách tiếp cận bản chất của văn học. Tiếp thu những thành tựu này,

ở Việt Nam, Trần Đình Sử, Đoàn Thị Thu Vân, Nguyễn văn Xuất....đã vận dụng thi pháp
học hiện đại vào nghiên cứu thơ thiền.
Có thể kể đến những ý kiến bàn về thơ thiền của các nhà nghiên cứu. Dương Quảng
Hàm cho rằng : "Các vị sư đều là những người uyên thâm Nho học, có nhiều vị làm thơ."
Bùi Văn Nguyên nhận định : "Các nhà sư thường trở thành nhà thơ và có tâm hồn
rung động trước cảnh vật và lòng người."
Đinh Gia Khánh nhận xét về văn học thời Lý : "Sự hòa đồng giữa con người và
thiên nhiên là cơ sở cho những tứ thơ độc đáo và những hình tượng thơ sinh động. Thiên
nhiên được miêu tả với tình cảm thắm thiết và niềm lạc quan yêu đời, thể hiện thái độ an
nhiên tự tại, bản lĩnh vững vàng tự tin của con người."
Đặng Thai Mai đề cập tới con người có thái độ tích cực lạc quan của các nhà thơ
thiền với tâm hồn phóng khoáng giàu chất nhân văn và những bài thơ thiền độc đáo dung
hợp đạo đời.
Nguyễn Huệ Chi cho rằng nét đặc sắc trong thơ văn Tuệ Trung thượng sĩ là ý thức
về bản ngã về sự tự do tự tại của một nhà tư tưởng , một nhà duy lý ẩn trong con người


thiền. Ông là con người vừa Nho vừa Phật, vừa Lão Trang. Nguyễn Phương Chi khẳng
định cái cốt lõi của Huyền Quang không phải là con người thiền mà chính là con người
thi sĩ, với những cảm xúc tràn đầy trước cuộc sống muôn màu muôn vẻ, con người thi
nhân với sức sáng tạo mãnh liệt. Thích Thanh Từ , Minh Tuệ, Minh Chi, ca ngợi phẩm
chất thiền, thái độ ung dung, tự tại trong cuộc sống đầy lăng xăng, phiền não của Tuệ
Trung thể hiện từ con người, phong cách sống và tư tưởng siêu việt, thể hiện ra với thi
hướng dạt dào phóng khoáng.
Đoàn Thị Thu Vân trong luận án phó tiến sĩ "Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật
của thơ thiền Việt nam thế kỷ XI- XIV" đề cập đến con người vô ngã, vô ngôn, vô uy, vô
phân biệt với tinh thần phá chấp triệt để, đả phá cái nhìn nhị nguyên và con người tự do
hoàn toàn đạt đạo.
Nguyễn Phạm Hùng với luận án phó tiến sĩ "Vận dụng quan điểm thể loại vào việc
nghiên cứu văn học việt Nam thời Lý - Trần" cho rằng, con người trong thơ thiền là con

người lưỡng thể, là sự hợp nhập của con người Phật giáo và con người cá nhân. về con
người Phật giáo, Nguyễn Phạm Hùng chỉ ra con người tự do, con người vô ngã, con
người vô ngôn và con người vũ trụ. Còn con người cá nhân với sự đề cao con người và
trách nhiệm cá nhân nương vào cái hữu và cái sắc của nhà Phật mà tồn tại.
Nguyễn Công Lý trong luận án tiến sĩ "Văn học Phật giáo thời Lý -Trần -diện mạo
và đặc điểm" thông qua việc hộ thống lại nhưng quan niệm về con người của những nhà
nghiên cứu trước, rút ra hai hướng tiếp cận nghiên cứu vấn đề con người trong văn học
Phật giáo Lý Trần. Một là hướng tiếp cận những phẩm chất Phật giáo trong con người,
nói cách khác, đó là những con người chịu ảnh hưởng sâu đậm triết lý thiền và triết lý ấy
đã thâm nhập vào cuộc sống của con người hành đạo, tạo nên một lối sống, một bản lĩnh
sống : sống thiền. Đó chính là cơ sở tạo nên phẩm chất con người. Hai là hướng tiếp cận
những phẩm chất con người cá nhân với cá tính đầy cởi mở, rung động dạt dào niềm tin,
tràn đầy sức sống.
Bên cạnh đó, Viện triết học, Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm, Viện nghiên cứu Phật
học Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Tạp chí văn học, Tạp chí tư tưởng, Tạp chí


Vạn Hạnh, Tạp chí Văn hoa dân gian ... hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập tới văn học
Phật giáo và thơ thiền đã giúp cho người viết hiểu rõ thêm về con người ương thơ thiền
Lý Trần

3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Dựa trên cơ sở tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích, tổng hợp,
thống kê, phân loại, so sánh, liên ngành, văn bản học, vận dụng các phương pháp phù hợp
với từng trường hợp cụ thể, đồng thời kết hợp với trực giác thiền, người viết đi sâu vào
tìm hiểu con người trong thơ thiền Lý Trần dưới góc nhìn thi pháp học hiện đại.

4.ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN:
4.1.Luận văn là một công trình chuyên biệt nghiên cứu về con người trong thơ thiền
Lý - Trần dưới góc nhìn thi pháp học hiện đại. Luận văn xem xét con người trong thơ

thiền dưới góc nhìn thi pháp học hiện đại, đưa ra một cách hiểu mới về con người trong
thơ thiền Lý - Trần.
4.2.Kết quả của hướng nghiên cứu này sẽ góp thêm một cách hiểu về thơ thiền,
cũng như việc xác định giá tri của thơ thiền Lý - Trần
4.3.Việc phát hiện ra "Con người thật không địa vị" trong thơ thiền mở ra một đối
tượng mới, đầy bí ẩn và cuốn hút cho văn học. Bên cạnh đó, thiền ngữ và vô ngôn sẽ góp
phần mở ra khả năng vô hạn trong việc phản ánh cuộc sống và con người.

5. KẾT CẤU LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu (7 trang) và phần kết luận (8 trang) luận văn được tổ chức thành
3 chương như sau :
- Chương 1: Bối cảnh lịch sử - văn hóa thời Lý - Trần (29 trang)
- Chương 2: Con người trong thơ thiền Lý - Trần dưới góc nhìn thi pháp học hiện
đại (59 trang )
- Chương 3: Không gian, thời gian, ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ thiền Lý - Trần
(32 trang)


Tài liệu tham khảo ( 8 trang)


CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ - VĂN HÓA THỜI LÝ TRẦN
1.1.Bối cảnh lịch sử văn hóa thời Lý - Trần:
Sau hơn 1000 năm, nước ta liên tục bị các thế lực phong kiến phương Bắc đô hộ.
Những trang sử Bắc thuộc đau thương của dân tộc ta bắt đầu từ sau cuộc kháng chiến
chống Nam Việt thất bại của An Dương Vương vào năm 179 trước Công Nguyên kéo dài
cho đến năm 905 mới dứt.
Năm 905, Khúc Thừa Dụ nhân cơ hội Trung Quốc chính sự rối ren, ông từng bước
xây dựng những cơ sỏ đầu tiên cho một chính quyề n độ c lập tự chủ. Đến năm 938 với
chiến thắng Bạch Đằng lịch sử , Ngô Quyền thật sự đa có công lớn trong việc dẫn dắt dân

tộc ta bước sang kỷ nguyên độc lập, tự chủ, xua tan mây đen nổ lệ ngàn năm, mở ra một
chân trời mới. Nhà sử học Ngô Sĩ Liên từng nói : "Tiền Ngô Vương không chỉ là người
chiến thắng mà còn có công cắt đặt trăm quan, chế định ra triều nghi và phẩm phục tỏ cho
thấy cách thức của bậc "Đế Vương" . Nhà nước phong kiến Việt Nam nhờ những tiền đề
trên từng bước củng cô" và phát triển mọi lĩnh vực qua các thời kì: Đinh Bộ Lĩnh dẹp
loạn 12 sứ quân (968 - 980), Thập đạo tướng quân Lê Hoàn đánh tan quân Tống lập nên
nhà Tiền Lê (980-1009), Lê Ngọc Triều hoang dâm vô độ, bỏ bê chính sự, mất vào năm
1009, Lý Công uẩn được tôn làm vua lập ra nhà Lý cho đến năm 1225, dưới sự đạo diễn
của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoang nhường ngôi cho Trần Cảnh (Trần Thái Tông). Nhà
Trần tồn tại và phát triển đến năm 1400, Hồ Quý Ly soán ngôi nhà Trần và bị nhà Minh
đánh bại vào năm 1407.
Kế thừa, phát huy những giá trị của nền văn minh sông Hồng - nền văn minh đầu
tiên đặt nền tảng vững chắc khẳng định những giá trị mang tính bản sắc riêng, bền vững
của lịch sử văn hóa Việt Nam , khẳng định bản lĩnh riêng Việt Nam . Nhìn từ góc độ văn
hóa, triết lý lớn nhất xuyên suốt các truyện kể dân gian như truyện Hồng Bàng, truyện
thánh Tản Viên, truyện Thánh Gióng ... là khuôn vàng thước ngọc về ý thức trách nhiệm
xây dựng khối đòan kết gắn bó mật thiết với nhau vì nghĩa tình ruột thịt thiêng liêng,
cùng nhau chống giặc giữ nước, cùng nhau chinh phục, cải tạo tự nhiên thiết lập cuộc


sống ấm no hạnh phúc cho mình và con cháu đời đời về sau. Chính vì vậy cho nên dù
nước ta trải qua thời kì đen tối hơn 1000 năm Bắc thuộc, các triều đại phong kiến phương
Bắc tiếp nối nhau đô hộ nước ta nhưng vẫn không đồng hóa được.
Trong suốt hơn một ngàn năm mây đen che phủ bầu trời đất Việt, các triều đại
phương Bắc áp dụng nhiều kế sách đồng hóa về mọi mặt hòng thôn tính nước Việt ta. về
chính trị, chúng tìm mọi cách thủ tiêu nền độc lập và ý chí tự chủ của dân tộc ta. về quân
sự, chúng xây dựng và bảo vệ guồng máy đô hộ trên toan cõi nước ta, sẵn sàng đàn áp
đẫm máu mọi hình thức đấu tranh của nhân dân ta. Về kinh tế, chúng ra sức vơ vét tài
nguyên và của cải nước ta. Về văn hóa xã hội, chúng ra sức truyền bá văn hóa, chữ viết,
tín ngưỡng, tập quán... của người Trung Quốc vào nước ta, mặt khác mở cửa cho dân

Trung Quốc di cư vào nước ta hòng xóa tan mọi sự cách biệt để dễ dàng đồng hóa dân tộc
ta. Mặc đù vậy, do dân tộc ta từ khi hình thành tồn tại và phát triển, sớm đã bị nhiều thế
lực ngoai bang đe dọa, xâm lược nên sớm hình thành ý thức dân tộc. Nhà sử học Nguyễn
Khắc Thuần cho rằng : "Văn minh sông Hồng là đặc trưng riêng của bản lĩnh Việt Nam.
Dân tộc Việt Nam đã hình thành ngay trong tiến trình dựng nước và giữ nước bền bỉ và
kiên cường chứ không phải đợi đến thời cận đại như nhiều dân tộc khác trên thế giới".
Trong suốt thời kì bị đô hộ , dân tộc ta không ngừng nổi dậy đòi quyền tự chủ, độc
lập. Biết bao anh hùng nghĩa sĩ hy sinh, máu của họ tô đậm thêm bản lĩnh Việt Nam.
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40-43), khởi nghĩa Bà Triệu (248), khởi nghĩa Lý Bí (542),
khởi nghĩa của Lý Tự Tiên - Đinh Kiến (687), khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722), khởi
nghĩa Phùng Hưng (? -791), khởi nghĩa Dương Thanh (819-820)...
Khác hẳn với thời sơ sử, thời Bắc Thuộc, đời sống văn hóa và tư tưởng của xã hội ta
đã biến đổi một cách mạnh mẽ và sâu sắc. Lý do chủ yếu là do chúng ta tiếp nhận một số
tư tưởng, học thuyết mới. Nổi bật nhất là Phật Học, Đạo Học, Nho Học...
Nho Giáo vốn có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu đời ở Trung Quốc. Khổng
Tử (551-479) khai sinh ra Nho Học, Mạnh Tử là người kế thừa và phát triển. Nho Giáo
chú trọng đề cao tam tòng, tứ đức, tam cương, ngũ thường, quan trọng nhất là điều
"Nhân", học thuyết chính danh. "Chính danh" là việc làm căn bản đưa xã hội từ loạn sang


trị. Ông ít bàn đến những vấn đề trừu tượng thuộc bản thể luận. Ông quan tâm đến việc
xây dựng lại một xã hội có kỷ cương, lề lối, trật tự. Ông nói: "Tu thân, tề gia, trị quốc,
bình thiên hạ". Muốn thiên hạ thái bình thì phải tu thân trước. Tóm lại, Nho Học chủ
trương cách học làm người, cải thiện xã hội. Do thời đại lịch sử, từ khi Nho Giáo truyền
sang Việt Nam cho đến đầu thế kỷ thứ X vẫn chưa có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn
hóa người Việt. Từ thế kỷ X - XIV địa vị của Nho Giáo ngay một được củng cố, phát
triển. Từ cuối đời Trần đến nhà Hồ, Lê, Sơ, Mạc, Nho giáo đã phát triển đến đỉnh cao
thịnh đạt nhất, chiếm địa vị quan trọng trên vũ đài chính trị và tư tưởng của nước ta. Từ
thế kỷ XVII đến thế kỷ cuối thế kỷ XIX tuy vẫn được quan tâm nhưng dần dần đi đến
bước đường cùng. Từ cuối thế kỷ XIX cho đến nay, Nho Giáo chẳng những phải rút ra

khỏi vũ đài chính trị và tư tưởng mà còn rút lui khỏi địa hạt giáo dục, thi cử và nhiều lĩnh
vực khác mà nó từng ảnh hưởng. Giờ đây Nho Giáo chỉ còn là dĩ vãng, người ta nghiên
cứu nó để tìm ra những giá trị thích hợp với xã hội hiện đại.
Đạo Giáo cũng ra đời đồng thời với Nho Giáo, do Lão Tử khai sinh, Trang Tử kế
thừa . Đạo học là một trong những học phái lớn của Trung Quốc. Khi truyền sang nước
ta, xu thế Đạo giáo quí tộc (Đạo thần tiên) không tạo được ảnh hưởng lớn, ngược lại, Đạo
giáo bình dân (Đạo phù thủy) được phổ biến mạnh mẽ và rộng rãi. Điều này hẳn do dân
tộc ta đang bị mất nước, hoàn toàn không chấp nhận chính quyền đô hộ cũng như pháp
chế của chúng. Họ xem thần thánh của Đạo giáo như những vị quan lại thanh liêm,
nghiêm khắc, chứng minh, xét xử công bằng mọi đúng sai, tốt xấu ở đời, làm chỗ dựa
tinh thần cho họ. Lúc đầu Đạo quán, miếu chỉ thờ những vị thần có nguồn gốc từ Trung
Quốc, càng về sau Đạo quán , đền miếu dần dần trở thành nơi thờ những anh hùng nghĩa
sĩ, những người có công dựng nước, giữ nước, những người hi sinh vì sự hòa bình độc
lập của dân tộc.
Theo Lão Tử, "Đạo" là phạm trù quan trọng nhất, là nguồn gốc sinh ra vạn vật, là
cái có trước, bao trùm vạn vật. Đạo cũng chính là quy luật của tự nhiên, là quy luật tồn tại
và vận động của vạn vật. Nếu Đạo là thể tinh vi, khó nắm bắt được thì Đức là dụng, là
hình dáng của vật, là thứ ly sâu sắc và phổ biến. Ông nói: "Đạo làm cho vạn vật sinh


trưởng, Đức làm cho vạn vật tốt tưới...". Ông chủ trương thuận theo tự nhiên, trở về với
Đạo. Đạo giáo truyền vào nước ta khá sớm , từ thế kỷ thứ X đến cuối thế kỷ XIV (tức là
từ họ Khúc nổi dậy đến cuối thời Trần ) Đạo giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tư
tưởng của xã hội và có địa vị quan trọng trên vũ đài chính trị.
Nhưng từ cuối thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XIX , Đạo giáo rút lui khỏi vũ đài chính
trị và tư tưởng nhưng vẫn còn lưu lại trong lòng dân gian . Từ đầu thế kỷ XX đến nay,
Đạo giáo gần như rất ít xuất hiện. Người ta chỉ còn biết về Đạo giáo qua một số dấu tích
và một ít kinh sách mà thôi.(Về Phật giáo sẽ được đề cập ở phần sau)
Tháng 10 năm Kỷ Dậu ( 1009) Lý Công Uẩn Lên ngôi Hoàng Đế. Vừa lên ngôi,
Ông ban lệnh đại xá thiên hạ miễn thuế 3 năm ổn định mọi mặt. Các sử thần nhà Lê nhận

xét: Hoàng Đế ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhận thời mở vận, là người khoan thứ
nhân từ, tinh tế, và hòa nhã rất có lượng của bậc Đế Vương . Tháng 7 năm 1010 Ông dời
đô về Thăng Long, tổ chức tại bộ máy nhà nước, phân rõ phẩm trật cao thấp.Ngay từ khi
mới lên ngôi, Lý Công uẩn đã rất chăm lo đến việc củng cố xây dựng quân đội, chăm lo
kinh tế, xem trọng nông nghiệp, kích thích thủ công, thương nghiệp phát triển.
Gắn chặt với quá trình xây dựng và củng cố chính quyền độc lập và tự chủ là quá
trình không ngừng mở mang về mọi mặt của đời sống văn hóa. Năm 1070, nhà Lý cho
xây dựng Văn Miếu, đến năm 1076 lại cho xây tiếp trường Quốc Tử Giám ngay giữa
kinh thành Thăng Long. Năm 1075, khoa thi đầu tiên trong lịch sử nước ta được tổ chức ,
sau năm đó, một số khoa thi minh kinh bác học cũng được mở ra. về mặt tư tưởng, tuy
Nho Giáo đã bắt đầu có ảnh hưởng nhưng không đáng kể, thống trị xã hội vẫn là tư tưởng
Phật giáo. Đây là giai đoan thịnh đạt của Phật giáo ở nước ta. Chùa chiền được xây dựng
khắp nơi, tăng ni ngày một đông hơn. Đa số các vị vua triều Lý đều xuất gia tu Phật. Lý
Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông ... Thời này, phái Thiền Thảo
Đường xuất hiện ở nước ta.
Nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc phát triển rực rỡ. Một số công trình kiến trúc nổi
tiếng và có giá trị lâu dài như : Kinh thành Thăng Long, Chùa Giạm, Tháp Báo Thiên,
tượng phật Di Lặc chùa Quỳnh Lâm. Đặc điểm bao quát của nghệ thuật kiến trúc thời Lý


là sự chắc chắn, cân đối hài hòa với ngoai cảnh. Nghệ thuật điêu khắc cũng có phong
cách riêng, bố cục gọn gàng cân xứng nhưng không đơn điệu. Đề tài thường miêu tả cách
điệu phong cảnh thiên nhiên cảnh người múa hát, đường khắc thanh thoát, mềm mại và
có sức gợi phong phú. Độc đáo nhất là hình tượng con rồng chở được tất cả khát vọng
của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Chúa Diên Hưu (chùa Một Cột) là tác phẩm tổng
hợp của cả kiến trúc lẫn điêu khắc được xây cất vào năm 1049 với hình dáng thoát trông
như một tòa sen , uy nghi và thanh cao, tĩnh mịch nhưng gần gũi cởi mở.
Nghệ thuật ca múa nhạc là loai hình nghệ thuật có lịch sử lâu đời, đến đây đã phát
triển vượt bậc. Hát ả đào trở nên phổ biến, hát chèo và tuồng cũng nhanh chóng định
hình; các loai nhạc cụ như tiếng sáo, trúc, đàn đã khá thông dụng.

Tóm lại, dưới thời Lý, Đại Việt thực sự đã trở thành một cường quốc, ngoài sức
mạnh về quân sự, tiềm lực về kinh tế, văn hóa dân tộc cũng phát triển rực rỡ, thể hiện hào
khí bừng bừng của cả một dân tộc vững bước đi lên sau một thời kì dài bị che phủ bởi
mây đen nô lệ. Và đây cũng chính là thời kì dân tộc ta viết nên trang sử vẻ vang, chiến
thắng quân Tống, bình định Chiêm Thành, bảo vệ độc lập dân tộc.
Thuận theo dòng biến chuyển của thời gian, năm 1224, do không có con trai nối
dõi, Lý Huệ Tông buộc phải truyền ngôi cho con gái là Lý Phật Kim (tức Lý Chiêu
Hoàng), lúc đó mới 6 tuổi. Năm 1225, dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu
Hoàng kết hôn với Trần cảnh (Trần Thái Tông). Nhà Trần nhanh chóng ổn định tình hình
rối ren loan lạc từ thời Lý. Nhà Trần lập ra Phủ Tông Chính, một cơ quan chuyên trông
coi về trật tự thế thứ của quý tộc họ Trần. Năm 1230, nhà Trần cho biên soạn bộ Quốc
triều thông chế, coi đó là cơ sở xây dựng, khảo xét hành chính. Cũng năm này, bộ Quốc
triều thường lễ ra đời. Nhà Trần tổ chức lại quân đội, mở mang chế độ khoa cử để tuyển
dụng nhân tài, củng cố và phát triển kinh tế, thống nhất tiền tệ và đơn vị đo lường, lưu
thông buôn bán ngày càng được khuyến khích. Năm 1341, biên soạn bộ Hình Thư mới
trên cơ sở bộ Hình Thư của thời Lý.


Cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII, thế giới đang trong tình trạng báo động đau thương
trước sự tàn bạo khát máu của quân Mông cổ. Vó ngựa quân Mông cổ giày xéo gần một
nửa Âu, Á. Nhà thơ người Armenia là V.Frik (1210-1290) viết về sự đổ nát điều tàn này :
"Không một dòng suối, không một con sông nào, không tràn đầy nước mắt chúng
ta,
Không một ngọn núi, một cánh đồng nào không bị quân tàu giày xéo."
Thế nhưng, quân dân ta một lòng đã làm nên biết bao chiến công oanh liệt, ba lần
đánh đuổi quân Mông - Nguyên ra khỏi bờ cõi, bảo vệ độc lập tự chủ, khẳng định được
tinh thần và vị trí của dân tộc trên trường quốc tế, lập nên hào khí Đông Á bất diệt.
Phật giáo chi phối toàn bộ tư tưởng xã hội Đại Việt suốt từ thời Lý, đến thời Trần
càng được củng cố và phát triển hơn. Nếu thời Lý, phái Thiền Thảo Đường xuất hiện thì
sang thời Trần, phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử ra đời do vua Trần Nhân Tông là tổ sư khai

sáng. Đa số các vị vua Trần hoặc là xuất gia tu hành hoặc tu tại gia. Bên cạnh đó từ hàng
thân vương, quý tộc, quan lại đến thứ đều một lòng kính Phật. Tư tưởng từ bi, hỉ xả, bác
ái, vô ngã vị tha phổ khắp thiên hạ tạo lập được cuộc sống ấm no an bình thịnh trị, như
Hoàng Xuân Hãn nhận xét : "Đây là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta" [25;429].
Giáo dục và thi cử Nho học ngày càng chính quy hơn, chặt chẽ hơn. Năm 1232, nhà
Trần đặt ra học vị thái học sinh (1442, nhà Lê đổi thành Tiến sĩ). Nhờ giáo dục và thi cử ,
nhà Trần tuyển chọn được nhiều nhân tài xuất chúng như: Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi,
Lê Văn Hưu, Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh,...
Văn học Lý - Trần là thời kỳ văn học chính thức mở đầu có nhiệm vụ khai phá mở
đường cho văn học viết Việt Nam từ sau những năm nước nhà bước sang kỷ nguyên độc
lập tự chủ ở thế kỷ X. Nền văn học này kế thừa những gì đã phôi thai trong thời Bắc
thuộc tạo mầm mông, tiền đề cho nó phát triển. Vì văn học Lý Trần hình thành trong sự
ảnh hưởng nặng nề của nhiều yếu tố ngoai lai, đặc biệt là phải sử dụng Hán tự (chữ
Hán).Nguyên nhân rất rõ là nước ta bị lệ thuộc hàng ngàn năm, văn hóa Hán xâm nhập
vào đời sống sinh hoạt mọi ngóc ngách của đời sống xã hội Văn học Lý -Trần dùng chữ


Hán để sáng tạo . Mãi đến thế kỷ XIII mới sử dụng chữ Nôm để viết tác phẩm văn học.
Ngay cả chữ Nôm cũng hình thành từ sự vay mượn, lắp ghép Hán tự. Bên cạnh đó , các
tác giả thời này chủ yếu vay mượn thi liệu, điển cố, điển tích trong các kinh điển, sử sách
Trung Quốc. Sự vay mượn này lặp đi, lặp lại nhiều lần lắm khi tạo nên tính qui phạm,
ước lộ, tượng trứng trong văn học .Điều này dễ thấy trong "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc
Tuấn, tác giả dẫn lại không biết bao nhiêu trung thần nghĩa sĩ trong sách sử Trung Quốc
làm gương cho tướng sĩ ta, ngay cả trong "Phóng cuồng ngâm" của Tuệ Trung , ta bắt
gặp nào là Qui Sơn, Tạ Tam, Thạch Đầu, Phổ Hóa, Bố Đại; nào là Tào Khê, Lư Thị,
Thương Lương .... Nếu không biết những điển tích này thì khó lòng hiểu được giọng
ngâm cuồng phóng này, vì quan niệm xưa cho rằng có như vậy mới là tao nhã , hào
phóng, bác học .
Văn học Lý - Trần kế thừa và hoàn thiện những thành tựu của các thể loại của văn
học Hán bao gồm vận văn, biền văn và tản văn. Vận văn gồm các thể loai cổ phong,

Đường luật (bát cú, tứ tuyệt), từ khúc, ca, ngâm; biền văn có các thể loai như hịch, phú,
cáo ; tản văn thì mượn các thể như chiếu, chế, biểu, tấu, tự bạt. Nếu xét một cách tổng
quát thì văn học Lý - Trần chưa có thể loại tự thân như văn học giai đoạn sau, nhìn chung
thì vận văn được ưa chuộng hơn tản văn ; các thể loại thơ trữ tình đạt nhiều thành tựa hơn
thể loại tự sự.
Văn học Lý - Trần kế thừa và hoàn thiện những thành tựu của các thể loại của văn
học Hán bao gồm vận văn, biền văn và tản văn. Vận văn gồm các thể loai cổ phong,
Đường luật (bát cú, tứ tuyệt), từ khúc, ca, ngâm; biền văn có các thể loai như hịch, phú,
cáo ; tản văn thì mượn các thể như chiếu, chế, biểu, tấu , tự bạt. Nếu xét một cách tổng
quát thì văn học Lý - Trần chưa có thể loại tự thân như văn học giai đoạn sau, nhìn chung
thì vận văn được ưa chuộng hơn tản văn ; các thể loại thơ trữ tình đạt nhiều thành tựa hơn
thể loại tự sự.
Thời Trung Đại , các nước trong khu vực Đông Á nói chung , Việt Nam nói riêng
chịu ảnh hưởng sâu đậm những tư tưởng , những học thuyết Nho- Phật - Lão. Tư tưởng
tam giáo hằn sâu trong tâm lý, tư tưởng, đời sống của người Việt Nam lúc bấy giờ. Xét


riêng thời Lý- Trần, tư tưởng Phật giáo có ảnh hưởng sâu rộng nhất, cả trong tầng lớp
bình dân lẫn quí tộc phong kiến.
Một trong những nét đặc sắc của bản lĩnh Việt Nam được hầu hết các nhà nghiến
cứu đồng tình là cho dù chúng ta tiếp thu , kế thừa hay ảnh hưởng khách quan bất kỳ tư
tưởng học thuyết nào , chúng ta phải cố gắng vận động chúng theo hướng dân tộc hóa.
Văn học Lý- Trần cũng không đi ngoài hướng này trên tiến trình hình thành và phát triển.
Song song với việc tiếp thu, kế thừa những tinh hoa của văn hóa, văn học nước ngoài,
văn học Lý - Trần cũng gạn lọc những yếu tố không thích hợp , đi ngược lại quyền lợi
dân tộc. Quá trình vận động và phát triển theo hướng dân tộc hóa biểu hiện không chỉ ở
hình thức mà còn ở nội dung văn học . về hình thức, ban đầu văn học Lý - Trần sử dụng
chữ Hán thì đến khoảng thế kỷ XIU (thời Trần). Các tác giả còn sử dụng chữ Nôm để
sáng tác, chữ Nôm ra đời là một thành tựu đáng kể khẳng định mong muốn độc lập tự chủ
của dân tộc ta. Đó còn là cột mốc cho sự phát triển của văn học, tạo tiền đề cho các kiệt

tác bất hủ ở giai đoan sau. về nội dung, văn học Lý - Trần đã tiếp thu có chọn lọc những
tinh túy của văn học Hán, chuyển hóa thành những thứ phù hợp với dân tộc , phục vụ cho
dân tộc. Nền văn học này thể hiện rõ nét tâm tư tình cảm nguyện vọng, ước mơ của con
người Việt Nam. Chẳng hạn như thơ thiền Việt Nam bình dị, gần gũi thắm chất trữ tình,
ít quan tâm đến những vấn đề thuộc bản thể luận. Nếu có cũng được diễn tả bằng những
hình tượng hết sức gần gũi với cuộc sống đời thường. Không như thơ thiền Trung Quốc,
mang đậm tính triết học. Ngay cả Nho giáo, Lão giáo từ Trung Quốc truyền sang cũng
dần dần có những nét khác biệt với tư tưởng chính thống ở bản xứ. Như tư tưởng trung
quân, ái quốc, tam cương, ngũ thường khi vào Việt Nam cũng được nhìn nhận thoáng
hơn khổng khắc nghiệt như nơi phát sinh ra nó. Lý tưởng nhân nghĩa của Khổng - Mạnh
thì được Nguyễn Trãi lý giải: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Hay các Đạo quán dần
dần được dùng để thờ phụng những vị anh hùng nghĩa sĩ hi sinh vì sự hòa bình độc lập
của dân tộc hơn là thờ các vị thần thánh của Đạo Lão.
Xuất phát từ lý tưởng trung quân ái quốc, cảm hứng yêu nước, yêu hòa bình, mở ra
một dòng văn học yêu nước trong văn chương Việt Nam. Khi đất nước bị ngoai xâm bức


bách thì biểu hiện của lòng yêu nước là quyết hi sinh để bảo vệ độc lập tự chủ không
khoan nhương với kẻ thù :
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Lũ giặc cớ sao xâm phạm tới
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)
Khí phách hào hùng với niềm tin bất diệt vào vận nước vững bền nghìn thu tỏ rõ
hào khí Đông A của Trần Quang Khải
Đọ át sóc Chương Dương độ

Cầm hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san
(Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu)
Lúc đất nước hòa bình thì cảm hứng yêu nước được bộc lộ thành niềm khát vọng
xây dựng đất nước yên bình, hạnh phúc, tình yêu thiên nhiên với cảnh trí tươi đẹp của
non sông gấm vóc, tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc.


Tư tưởng nhân đạo chính là cảm hứng chủ đạo của văn học thời kì này. Với cảm
hứng thời Trung đại, con người chưa xem tự nhiên như là một khách thể. Con người tự
xem mình là một phần tử của vũ trụ (tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ). Với quan niệm thiên
nhân hợp nhất con người và vũ trụ tự có sự giao hòa gắn bó mật thiết, cộng thêm quan
niệm vạn vật nhất thể của nhà Phật và tư tưởng hòa quang đồng trần của Lão giáo tạo nên
hình tương con người đặc biệt khó gặp được ở thời đại khác .Hơn nữa, con người thời đại
này hướng tới sự hoàn thiện, hướng những tới giá trị chân thiện mỹ tạo nên những
nguyên tắc đạo đức tốt đẹp. Nhất là văn học Lý - Trần nói chung, văn học thiền nói riêng
phản ánh được sự thiết tha vun đắp những giá trị nhân bản ngày một hoàn thiện hơn. Đặc
biệt là mong muốn về sự tự do hoàn toàn và sự giải phóng con người với ý nghĩa cao nhất
. Theo các nhà thơ thiền, con người chỉ đạt được sự tự do hoàn toàn , sự giải phóng triệt
để khi và chỉ khi họ ngộ được con người thật không địa vị trong mỗi con người.

1.2.Khái lược về Phật giáo và Thiền tông thời Lý - Trần:
Phật giáo do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập ra cách đây hơn 2500 năm tại một
nước nhỏ thuộc nước Ấn Độ. Từ quê hương Ấn Độ cổ đại, Phật giáo truyền vào nước ta
từ những năm đầu Cổng Nguyên . So với Nho giáo và Đạo giáo thì trong thời Bắc thuộc,
Phật giáo được dân tộc ta tiếp nhận nhanh chóng và mạnh mẽ nhất . Ngay từ đầu nếp

sống gần gũi hiền lành thân thiện của các vị tu hành tạo được thiện cảm ngày càng lớn
trong lòng nhân dân. Những nét tương đồng giữa giáo lý và nghi thức của nhà Phật với
đạo lý , tập tục cổ truyền cộng với quá ữình nhập thế giúp đời tích cực của nhà tu hành
khiến cho Phật giáo nhanh chóng có vị trí quan trọng trong nhận thức cũng như tình cảm
của người Việt ta. Như vậy lịch sử Phật giáo Việt Nam được mở đầu bằng những trang
thuận lợi, tốt đẹp.
Từ những năm đầu thế kỷ thứ X đến nửa sau thế kỷ XIV Phật giáo như là quốc giáo
nước nhà, số người xuất gia tu Phật và tại gia tu Phật ngày càng đông. Trên từ Vua quan,
hoàng tộc dưới đến thứ dân đều một lòng tu phật. về mặt tổ chức chính quyền, triều đình
dành hẳn một hệ thống ngạch quan cho người tu hành. Hệ thống ngạch quan đó là Tăng
ban. Các vị quan lại trong tăng ban không chỉ nắm quyền điều khiển đời sống tinh thần


của xã hội mà còn có uy thế rất lớn trong địa hạt chính trị và kinh tế. Một số vị vua xuất
gia tu phật như: Lý Huệ Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông (sơ tổ phái Trúc Lâm).
Một số vị vua tu tại gia như Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Trần Thánh
Tông, Trần Anh Tông ... Những vị xuất thân từ hòang tộc đi tu như Mãn Giác thiền sư,
Linh Nhân Hoàng Thái Hậu, Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung. Còn quan lại, tri thức tu
Phật nhiều không kể hết, những người không tu cũng ảnh hưởng tư tưởng phật giáo sâu
sắc, sử sách có câu : "Thiên hạ Lý - Trần bán vi tăng" (Thiên hạ thời Lý - Trần một nửa
là tăng chúng). Đặc biệt các vị thiền sư đa phần là quốc sư hay cố vấn chính tri đặc biệt
của các Hòang đế như Khuông Việt quốc sư Ngô Chân Lưu thời Đinh, Thiền sư ĐỖ Pháp
Thuận thời Tiền Lê, Quốc sư Vạn Hạnh. Thiền sư Thảo Đường, Từ Đạo Hạnh, Chân
Không, Viên Thông, Viên Chiếu thời nhà Lý. Quốc sư Liễu Ninh, Trần Thái Tông, Điều
ngự giác hoàng Trần Nhân Tông, thiền sư Pháp Loa, Huyền Quang, Bảo Sát... thời Trần.
Từ khi mới truyền vào nước ta cho đến cuối thế kỷ XIV, Phật giáo có vị trí như
Quốc giáo, đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị và tư tưởng của xã hội đương
thời. Đến đầu thế kỷ XV, Nho giáo từ vị trí khiêm nhường nhất trong tam giáo, nhanh
chóng vươn lên giữ vị ưí quan trọng trên vũ đài chính trị tư tưởng. Tuy vậy, Phật giáo
tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong lòng xã hội. Điều nổi bật cần được sử sách trân trọng

đó là mặc dù trong giai đoan này, trên chính trường đã xảy ra một cuộc chuyển giao
quyền lực trên vũ đài chính trị tư tưởng nhưng không có cảnh đầu rơi máu đổ, đấu tranh,
giết chóc. Đó chính là một trong những biểu hiện đặc trưng của nét cao đẹp đáng trân
trọng văn hóa Việt Nam. Điểm này hoàn toàn khác với Châu Âu Thiên Chúa giáo thời
trung cổ, nơi mà những tư tưởng đi chệch ra ngoai học thuyết chính thống của Giáo hội
phải bị diệt trừ bằng lửa và gươm. Nét văn hóa quý báu này hẳn là sự hòa lẫn như nước
với sữa giữa truyền thống yêu chuộng hòa bình, thương người như thể thương thân và
tinh thần từ bi bác ái bao la của nhà Phật. Vì thế từ xưa đến nay dân tộc Việt Nam ta chưa
hề có chiến tranh tôn giáo, chiến tranh sắc tộc như ở một số quốc gia khác.
Trải gần mười thế kỷ, Phật giáo đã có uyên nguyên sâu xa trong lòng dân tộc Đại
Việt ngày càng có điều kiện phát triển sâu rộng và có ảnh hưởng không chỉ trong đời


sống tâm linh , đời sống văn hóa mà còn chi phối đến chính trị xã hội .... Suốt các triều
đại Ngô, Đinh, tiền Lê, Lỹ -Trần, Phật giáo Việt Nam chiếm vị trí rất quan trọng, tư
tưởng Phật giáo chi phối từ vua quan đến thứ dân , ai ai cũng thuần lòng từ bi hỷ xả , ai
cũng tin vào nhân quả nghiệp báo. Ai ai cũng sống cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong
tình thương yêu gần gũi với nhau. Đúng như Đặng Thai Mai nhận xét: Hồi ấy người ta
biết sống , biết vui trong tình thân, trong tin tưởng biết sống một đời sống tích cực vui vẻ
, một đời sống cởi mở phong phú rộng rãi sâu sắc[60,38]
Thời này tầng lớp trí thức phần lớn là tăng lữ . Họ không chỉ chăm lo tu tập , hoang
pháp, chăm sóc đời sống tinh thần cho con người mà còn đóng góp đáng kể trong công
cuộc vệ quốc, kiến quốc chùa, tháp được vua chúa cho xây dựng nhiều nơi. Bên cạnh ,
chùa Hương Tích ở Nghệ An đã có chiều dài lịch sử lâu đời, còn có các chùa khác như
Trấn Quốc, Lục tổ, Kiến Sơ, Kiến Dương ... các nền tháp , cột kinh khắc chú Đà la ni chú
lăng nghiêm được các nhà khảo cổ phát hiện chứng tỏ đời Đinh và trước đó, Phật giáo đã
rất phát triển ở vùng kinh đô Hoa Lư-Ninh Bình.
Nền tảng cơ bản của phật học là Tứ diệu đế: ( bốn chân lý chắc thật) khổ đế, tập đế,
diệt đế và đạo đế. Kết cấu, trình tự của từ diệu đế rất độc đáo, khoa học . Đức Phật nói
khổ đế trước , chỉ bày rõ ràng cuộc đời có nhiều thứ làm cho con người đau khổ. Thứ đến

chỉ ra nguyên nhân gây nên đau khổ (tập đế) đó là mê muội không hiểu rõ quy luật nhân
quả luân hồi, từ thân miệng ý tạo ra nhiều ác nghiệp phải chịu báo ứng. Tiếp đến, phác
họa cuộc sống an vui hạnh phúc sau khi thoát khổ (diệt đế). Cuối cùng mới chỉ bày
phương pháp cách thức tu tập để thoát khỏi khổ đau triền miên bất tận. về giáo môn, Đức
Phật đưa ra ba mươi bảy phẩm trợ đạo dùng làm phương pháp tu hành tất cả đều không
ngoài tôn chỉ của bài kệ
Chư ác mạc tác

Không làm các điều ác

Chúng thiện phụng hành

Siêng làm các việc lành

Tự tịnh kỳ ý

Giữ tâm ý trong sạch

Thị chư Phật giáo

Là lời chư Phật dạy


Đây cũng chính là câu trả lời của Ô Sào thiền sư trả lời câu hỏi :"Thế nào là Phật
pháp"của Bạch Cư Dị.
Mục đích cuối cùng của đạo Phật là giải thoát con người ra khỏi đau khổ triền miên
bất tận. Đức Phật thường nói : biển chỉ có một vị mặn, còn đạo của ta cũng chỉ có một vị
là giải thoát. Cảnh giới cao nhất của giải thoát là ngộ được con người thật không địa vị (
Phật tánh ) của chính mình ngộ được bản thể của vũ trụ, thấu rõ qui luật vạn vật, đạt được
giải thoát hoàn toàn không còn bị cái gì câu thúc, trói buộc. Điều này chính Đức Phật tự

thân trải nghiệm qua hơn sáu năm tu khổ hạnh và bốn mươi chín ngày tọa thiền chiêm
nghiệm mà nhận ra. Trên hội Linh Sơn , đức Phật không nói - chỉ giơ cành hoa lên, mọi
người ngơ ngác chỉ một mình Đại Ca Diếp mỉm cười . Phật truyền y bát cho Đại Ca Diếp
: Ta có chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, không lập văn tự ,
truyền riêng ngoài giáo , chỉ thẳng chân tâm, kiến tánh thành Phật nay truyền lại cho
ngươi. Công án "niêm hoa vi tiếu" này với tôn chỉ "dĩ tâm truyền tâm, trực chỉ nhân tâm ,
kiến tánh thành phật". Là cơ sở đầu tiên tạo nên các phái Thiền Tông sau này. Đại Ca
Diếp được xem là sơ tổ của phái Thiền tông.
Mặc dù xu hướng Thiền xuất hiện ở Việt Nam ngay từ những năm đầu Công
Nguyên. Nhưng phải đợi đến phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi (từ nửa sau thế kỷ VI đến nửa đầu
thế kỷ XIII) mới thành lập tông phái riêng. Phái Tỳ ni đa lưu chi lưu truyền vào nước ta
gián tiếp , từ Ẩn Độ sang Trung Quốc rồi mới vào Việt Nam. Thiền sư Tỳ ni đa lưu chi
đắc pháp từ tam tổ Tăng Xán. Dòng thiền này kế thừa pháp của tổ Bồ đề đạt ma và ảnh
hưởng tư tưởng "siêu việt hữu vô", "vô chấp vô trụ" của Long Thọ trong Trung Quán
Luận. Phái này xem trọng bộ kinh "Tượng đầu tinh xá", một bộ kinh quan trong thuộc
văn hệ Bát Nhã. Do kê thừa thiền học từ An Độ nên họ coi trọng việc tọa thiền, tham
thiền, tu định, trì chú.
Thiền sư vô ngôn Thông đắc pháp từ tổ Bách Trượng Hoai Hải đệ tử đời thứ ba của
lục tổ Huệ Năng. Kế thừa pháp môn "Đốn ngộ" của Lục tổ. Trong pháp bảo đàn kinh, lời
đầu tiên Huệ Năng khai ngộ cho thượng tọa Minh: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái
gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh". Huệ Minh đại ngộ dưới câu nói này. Cái tên


"Vô ngôn thông" nghĩa là thông suốt cái không ngôn ngữ thể hiện đặc điểm của Thiền
phái này: Không chấp văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Chân lý chỉ có thể
trực ngộ không thể lý giải qua ngôn ngữ, tự tánh vốn tròn đủ không thể tìm cầu từ bên
ngoai. Phái này chuyên trì kinh Viên Giác.
Phái Thảo Đường do vua Lý Thánh Tông và thiền sư Thảo Đường lập ra tại chùa
Khai Quốc ở kinh đô Thăng Long theo ý muốn của vương triều nhà Lý muốn thành lập
một nền Phật giáo riêng mang bản sắc Đại Việt. Điều này thể hiện rõ chí hướng lớn xây

dựng một đất nước Đại Việt hùng mạnh, độc lập. Dầu sao thì Thiền phái Tỳ ni đa Lưu chi
và thiền phái Vô Ngôn Thông đêu mang đậm yêu tô ngoai lai từ An Độ và Trung Quốc.
Hiện nay những tư liệu viết về phái Thảo Đường còn lại rất hiếm. Như trong văn cảnh
sách Thảo Đường nêu ra tinh thần chủ yếu của phái là sự dung hợp Thiền Tông, Tịnh Độ
và Mật Tông. Ông cho rằng thiền quán là con đường tự lực đốn ngộ chỉ phù hợp với
những người thượng căn thượng trí. Còn Pháp môn niệm phật thì rất đơn giản tiện lợi phù
hợp cho tất cả mọi tầng lớp. Nhưng do phái Thiền này chủ yếu được các vua quan thân
tộc nhà Lý tiếp nhận, không được truyền bá rộng rãi nên cuối cùng bị mai một cùng với
sự kiện thay triều đổi đại từ nhà Lý sang nhà Trần.
Phái Thiền Trúc Lâm là phái thiền Việt Nam manh nha từ các vị thiền sư như Viên
Chứng Đại Đăng, Tiêu Dao, Trần Thái Tông gần nhất là Tuệ Trung thượng sĩ - thầy của
sơ tổ Trúc Lâm điều ngự giác hoàng Trần Nhân Tông. Tông chỉ của phái này là sự kế
thừa, dung hợp, các tư tưởng Vô ngôn thông và Lâm tế bên Trung Quốc, phát triển cho
phù hợp với nhu cầu và tình hình dân tộc lúc bấy giờ. Thiền phái này dung hợp cả Thiền
và Tịnh Độ, kiêm cả ngộ lẫn tiệm tu; vừa khai ngộ bằng cách "trực chỉ nhân tâm, khai
thông huệ nhãn" đối với những người thượng căn, vừa giải thích diễn giảng rõ ràng cho
những người sơ cơ học đạo có chỗ y cứ. Thiền phái Trúc Lâm ra đời kế tục tinh thần
muốn xây dựng một ý thức hệ chính thống độc lập tự chủ của nhà Lý. Bởi vì nhà nước
phong kiến Trung Quốc lúc này xem ý thức hệ Nho Giáo là chính thống. Nội dung triết lý
tư tưởng của phái Trúc Lâm được xem xét qua một số trước tác như Khóa Tư Lục , thiền
tông Chỉ Nam, Thượng sĩ ngữ lục, Thạch thất mỹ ngữ, Thiền lâm thiết chủng ngữ lục,


Tăng già toái sự, Đại hương hải ấn thi tập, Đoan sách lục, Tham thiền yếu chỉ, Phổ tuệ
ngữ lục, Ngọc hiên tập. Những tác phẩm trên hiện chưa SƯU tầm được hết nên chủ yếu
dựa vào Khóa hư lục, Thượng sĩ ngữ lục, Thiền Tông chỉ nam tự. Ở đây ngoài kế thừa
tinh thần Phật tại tâm, ngoài tâm không có Phật và Phật tính bình đẳng, Phật thánh không
khác, Thiền phái Trúc Lâm còn chủ trương dung hợp tam giáo, đặc biệt ảnh hưởng tư
tưởng Lão - Trang. Hơn nữa còn chủ trương dung hợp thiền tịnh, chỉ bày ngồi thiền niệm
phật, thọ trì cấm giới, khuyến thiện ngăn ác, bố thí từ bi tôn trọng phép nước, hiếu thuận

cha mẹ, kính thờ vua...
Theo tinh thần "Nhất thiết duy tâm tạo" và "Vạn pháp vô thường" nên họ có một
nhân sinh quan rất tích cực xem sống chết là lẽ thường, hưng suy là quy luật tự nhiên
khổng tham sống sợ chết, không tham cầu danh lợi, hết lòng thực hành hạnh quên mình
vì người (vô ngã vị tha). Có lẽ vì vậy thời Lý Trần đã tạo nên được tinh thần trong sáng
thuần khiết nhưng vẫn tỏa rạng hào khí Đông A ngút trời.
Tóm lại, Phật giáo Việt Nam với hơn một ngàn năm du nhập đã không ngừng củng
cố và phát triển mà đỉnh cao là thời Lý - Trần. Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần vừa kế
thừa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của giáo lý triết học truyền thống lại vừa rộng
mở, linh họat vận động theo hướng Việt hóa cho phù hợp với hòan cảnh đất nước, đậm
nét nhất là hướng tùy tục và bình dân hóa. Nó dung hợp các tông phái Phật giáo, dung
hòa cả những tư tưởng ngoài Phật giáo, điển hình là Nho giáo và Lão giáo cùng tín
ngưỡng văn hóa dân gian bản địa. Nhờ vậy Phật giáo Lý - Trần đã tạo nên bản sắc riêng,
phù hợp với tâm lý xã hội gắn bó mật thiết với cuộc sống, hòa nhập với đời thường. Đây
là một tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tư tưởng góp phần làm nên chất
khoan giản, nhân thứ, cởi mở của thời đại. Phật giáo Lý - Trần mà tinh hoa của nó là
thiền tổng bên cạnh tôn chỉ chung là "Trực chỉ nhân tâm - Kiến tánh thành phật" với tinh
thẩn phá châp, tùy duyên của thiền, Thiền tông Lý-Trần Việt Nam còn có những đặc
trưng riêng. Dễ thấy nhất là Thiền được đưa vào phục vụ cho đất nước, cho cuộc sống và
ngày càng có xu hướng bình dân hóa hơn.


×