Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

Phát triển năng lực tự học tác phẩm sự của học viên ở Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (437.38 KB, 105 trang )

Tến đề tài: “Phát triển năng lực tự học tác phẩm sự của học viên ở
Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên” (Qua tác phẩm Vợ nhặt của Kim
Lân).
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong quá trình dạy học hiện đại, người thầy phải tôn trong
những nguyên tắc: Bám sát đặc trưng bộ môn, phát huy chủ thể người
học, gắn với đời sống tinh thần của dân tộc và nhân loại... Nhưng làm
cách nào để người học viên (HV) thực sự là chủ thể tiếp nhận một cách
sáng tạo trong quá trình học bộ môn Ngữ văn- một môn nghệ thuật “trò
diễn nằng ngôn từ”, để HV được “trả lại những gì thuộc về nó” (J.
Dewey) là một thách thức không nhỏ, thậm chí quá phức tạp đối với
người thầy giáo dạy Ngữ văn ở trường phổ thông bình thường, chưa nói
rằng công việc dạy học lại ở một trường miền núi với đối tượng có thể
xem là đặc biệt như HV ở Trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX)
tỉnh..... Để phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất cho học sinh, các
nhà nghiên cứu đã chỉ ra nhiều hướng đi, nhiều cách dạy: Nêu và giải
quyết vấn đề, trực tuyến Internet, hướng đối thoại, hợp tác, dự án...
Nhưng phát triển năng lực tự học đối với HV Bổ túc THPT còn là vấn đề
cần phải nghiên cứu một cách kĩ lưỡng sâu sắc hơn.
1.2. Nghị quyết 29- NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị
lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn
bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo đã ghi: “Phát triển hài hòa, hỗ trợ
giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên
đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn,
vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối
1


tượng chính sách”. [...] Vậy bằng cách nào để giúp cho HV miền núi có
thể rút ngắn được khoảng cách tri thức, hình thành ở họ quá trình tự đào


tạo để giải quyết được những vấn đề cụ thể của địa phương, bảo đảm
được tính dân tộc, hiện đại, thiết thực với con đường ngắn nhất và sự đầu
tư hiệu quả nhất?
1.3. Dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường miền núi
chung và tỉnh ...... nói riêng là dạy học văn trên giảng đường khác tiếng
(....... có 21 dân tộc anh em, trong đó có 03 dân tộc chiếm số lượng chủ
yếu: Thái, H’Mông, Kinh). Việc dạy học phải có tính nguyên tắc riêng
trong “sự tương quan về văn hóa giữa hai dân tộc” [ ..] và “bản dịch
thích hợp” [...]. Đặc biệt là người công dân mới ......, các dân tộc anh em
thông qua tiếng Việt phổ thông để tiếp nhận tác phẩm văn chương.
1.4. Việc dạy văn hiện nay tập trung vào việc phát triển năng lực
và phẩm chất người học chứ không nghiêng về truyền đạt kiến thức như
trước đây. Để có thể đạt được mục tiêu trên, người thầy dạy văn tại các
Trung tâm GDTX cần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện
đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HV. Đặc biệt là tập
trung vào dạy cách học, cách nghĩ, phát triển năng lực tự học của HV.
Điều này được thể hiện rõ trong Nghị quyết 29- NQ/TW Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp
dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền
thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách
nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới
tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” […]

2


1.5. Dạy học bộ môn Ngữ văn nếu ngữ nghiêng về phát triển năng
lực phân tích, khái quát tổng hợp, kiến tạo những cấu trúc mới trong giao
tiếp, nếu văn học sử và tập làm văn nghiêng về việc so sánh, phân tích,

tổng hợp và tạo lập những văn bản mới bảo đảm tính khoa học, sáng tạo
thì dạy học tác phẩm văn chương lại tập trung vào việc phát triển năng
lực tiếp nhận hết sức phong phú và đa dạng: Tri giác ngôn ngữ, tái hiện
hình tượng, liên tưởng, tưởng tượng, kết hợp cụ thể và khái quát, nhận
biết loại thể để định hướng tiếp nhận và đặc biệt là năng lực tự đánh giá,
thẩm định, thanh lọc tâm hồn. Để đạt được những mục tiêu phong phú và
lớn lao ấy, người thầy dù tài năng nhưng cũng không thể trang bị hết
được cho HV mà chỉ bằng cách là kích thích năng lực tự học, tạo ra được
động lực tự học cho HV. Vậy động lực tự học được bắt đầu từ đâu?
Động lực tự học bắt nguồn từ cảm xúc và hứng thú. Lê-Nin trong “Bút
ký tự học” có viết: “Nếu không có cảm xúc thì không và không bao giờ
con người có khát vọng đi tìm chân lý”. Quá trình tự học là sự chủ động
của mỗi cá nhân khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét.
“Kiến thức tự học là kết quả của hứng thú tìm tòi, của lựa chọn, của định
hướng ứng dụng” […]
1.6. Trong giáo dục thì giáo dục lòng yêu lao động là khó nhất và
học tập là thứ lao động bền bỉ, gian khổ nhất trong các lao động của con
người. Nhưng có điều là học tập văn chương lại thường xuyên giải quyết
vấn đề tiếp nhận hình tượng. Trong nhiều loại hình tượng nghệ thuật thì
hình tượng văn học là độc đáo và đặc sắc nhất. Nó tác động đến tất cả
các giác quan của con người. Vì vậy nó cũng có những thuận lợi nhất
định trong việc tạo ra cảm xúc của người tiếp nhận cũng từ đó mà việc
kích thích tự học trong dạy học tác phẩm văn chương có những lợi thế
riêng của nó.

3


1.7. Điều 44 trong Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ: “Giáo dục
thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt

đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học
vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc
làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội. Nhà nước có
chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục cho mọi
người, xây dựng xã hội học tập” […]. Như vậy, GDTX đã góp phần
quan trọng trong việc nâng cao dân trí cho người dân, đào tạo nguồn
nhân lực cho xã hội, đáp ứng nhu cầu học tập cho mọi người. Ngoài ra,
GDTX còn có một vai trò đặc biệt quan trọng, đó là góp phần xây
dựng một xã hội học tập tạo cơ hội điều kiện thuận lợi cho mọi lứa
tuổi, mọi trình độ học tập thường xuyên, học tập liên tục và học tập
suốt đời. Xuất phát từ mục tiêu đào tạo trên nên đối tượng HV Bổ túc
THPT tại Trung tâm GDTX tỉnh ... rất đa dạng về trình độ lứa tuổi,
nghề nghiệp, hoàn cảnh, khả năng tiếp thu và lĩnh hội tri thức. Do vậy
mà việc tự học đối với mỗi HV như là một lẽ tồn tại của sự học hành,
giúp họ có được tri thức bền vững.
Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Phát triển
năng lực tự học tác phẩm sự của học viên ở Trung tâm GDTX
tỉnh ........” (Qua tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân). Với đề tài này,
chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào đổi mới phương pháp dạy
học tác phẩm văn chương. Từ đó, giúp HV có thói quen tự học, phát huy
tinh thần học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề tự học của học sinh là một vấn đề mà từ trước đến nay có rất
nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các chuyên gia và nhiều GV đề cập ở
những góc độ khác nhau.
4


Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những năm 1950 của thập kỷ XX, khi nói
về công tác huấn luyện và học tập đã nhấn mạnh “Phải nâng cao và hướng dẫn

tự học”.
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là người đã có nhiều công trình nghiên
cứu về tự học như: “Học và dạy cách học”; “Tự giáo dục, tự học”;“Luận
bàn về kinh nghiệm tự học”...
Bên cạch đó cũng có nhiều đề tài luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ
nghiên cứu về vấn đề tự học. Tuy nhiên chưa có công trình, bài viết
nào đi sâu vấn đề phát triển năng lực tự học dành cho đối tượng HV
Bổ túc THPT qua dạy học tác phẩm tự sư. Sau khi khảo sát các công
trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy “Phát triển năng lực tự học tác
phẩm tự sự của học viên ở Trung tâm GDTX tỉnh .....” là vấn đề mới,
thiết thực.
3. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quá trình tự học,
luận văn đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm phát triển năng lực tự
học, tự tiếp cận chiếm lĩnh tri thức về tác phẩm văn chương một cách
chủ động, từ đó hình thành và phát triển năng lực tự học cho HV, giúp
HV không những học tốt tác phẩm văn chương mà còn học tốt các môn
học khác, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học của Trung tâm.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của các biện pháp phát
triển năng lực tự học và thực trạng tự học tác phẩm tự sự của học viên ở
Trung tâm GDTX tỉnh ... Đề ra một số biện pháp nhằm phát triển năng lực
tự học tác phẩm tự sự cho học viên Bổ túc THPT thông qua dạy tác phẩm
Vợ nhặt trong chương trình Ngữ văn 12.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5


5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng
lực tự học của HV trong dạy học tác phẩm tự sự ở Trung tâm GDTX tỉnh

...
5.2. Để xuất các biện pháp để phát triển năng lực tự học của HV
trong dạy học tác phẩm tự sự ở Trung tâm GDTX tỉnh ....
5.3. Thể nghiệm vận dụng các biện pháp để phát triển năng lực tự
học của HV trong dạy học tác phẩm tự sự ở Trung tâm GDTX tỉnh ...
(Qua tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân)
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Nghiên cứu các tài liệu, các vấn đề lý luận có liên quan đến bộ
môn Ngữ văn và vấn đề tự học, tổng hợp, hệ thống hoá các văn bản chủ
trương đường lối, Nghị quyết về chiến lược phát triển giáo dục và đào
tạo của Đảng và Nhà nước, của ngành Giáo dục và Đào tạo.
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp khảo sát điều tra: Được sử dụng khi tìm hiểu thực
trạng dạy và học tác phẩm tự sự.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được dùng sau khi tiến hành
khảo sát để đánh giá kết quả điều tra.
- Phương pháp thể nghiệm: Sử dụng khi tiến hành thiết kế giáo án
và tiến hành dạy thử để kiểm chứng tính đúng đắn và khả thi của đề tài.
7. Đóng góp của luận văn

6


- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học văn, biến quá trình giáo
dục thành quá trình “tự giáo dục”, thực hiện mục tiêu, chiến lược mà
Đảng đã đề ra cho ngành Giáo dục.
- Đưa ra một số biện pháp phát triển năng lực tự học của học viên
trong dạy học tác phẩm tự sự.
8. Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn .
Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực tự học tác phẩm tự sự
của học viên ở Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

7


NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các quan niệm về tự học
Các nhà giáo dục bắt đầu nghiên cứu vấn đề tự học một cách
nghiêm túc từ 1954, khi chúng ta bắt tay vào xây dựng xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc. Từ đó đến nay, ta được biết thêm nhiều công trình nghiên
cứu với các quan điểm khác nhau về tự học. Tuy nhiên, có thể liệt kê ra
một số quan điểm nổi bật như sau:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm tự học đóng vai trò quan trọng
nhất trong việc học tập. Bác cho rằng trong cách học, phải lấy tự học làm
nòng cốt. Vì tư tưởng ấy nên Bác đã trở thành một tấm gương sáng về
tình thần và phương pháp tự học. Lênin cũng nói: “ Học, học nữa, học
mãi”. Anhxtanh cũng nói: “ Kiến thức chỉ có được qua tư duy của con
ngời ”. Gibbon khẳng định: “Mỗi ngời đều phải nhận hai thứ giáo dục,
một thứ do ngời khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn - do chính
mình tạo lấy.” [17,tr34]
- Thủ tướng Phạm Văn đồng, một trong những học trò xuất sắc của
chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiếp nhận thể hiện và làm phong phú tư tưởng

về tự học qua quan niệm: “Đối với các em HS điều quan trọng có tầm cỡ
rộng lớn là tránh tham lam nhồi nhét, tránh lối học vẹt, chỉ cần học thuộc
lòng điều thầy giảng, đối với GV cần sử dụng phương pháp dạy người

8


học suy nghĩ, tìm tòi, hiểu rộng hơn điều thầy nói, mở rộng tư duy và
năng lực sáng tạo của người học …, Làm sao cho giờ học là cơ hội để
thầy trò thảo luận tranh luận từ đó các em rút ra nhữngđiều cần học, cần
biết…”[13, tr 47-51]. Trong lí luận và thực tiễn, đồng chí cũng chỉ rõ
"Phương pháp giáo dục không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủ thuật
trong truyền thụ và tiếp thu kiến thức mà còn là con đường để người học
có thể tự học, tự nghiên cứu chứ không phải là bắt buộc trí nhớ làm việc
một cách máy móc, chỉ biết ghi rồi nói lại "[10].
- Từ các quan điểm chỉ đạo trên, các nhà nghiên cứu của chúng ta
đã đi sâu vào nghiên cứu để đưa ra kiến giải thoả đáng về khái niệm tự
học. Có thể thống kê các quan niệm của GS Nguyễn Cảnh Toàn, Phan
Trọng Luận, Nguyễn Trọng Hoàn, Trần Bá Hoành....
Nhóm 1: Các tác giả cho rằng tự học là một hình thức tổ chức dạy
học. Tác giả Trần Bá Hoành chỉ rõ "Giáo viên phải biết hướng dẫn, tổ
chức cho học sinh tự mình khám phá kiến thức mới, dạy cho học sinh
không chỉ kiến thức mà cả phương pháp học, trong đó cốt lõi là phương
pháp tự học… Nếu rèn luyện cho người học có được kĩ năng, phương
pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tình
huống mới, biết phát hiện và tự lực giải quyết vấn đề đặt ra sẽ tạo cho họ
lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người. Làm được
như vậy thì kết quả học tập sẽ tăng gấp bội, HS sẽ có thể tiếp tục tự học
khi vào đời, dễ dàng thích ứng với cuộc sống xã hội"[17, tr.50]. Hình
thức dạy học này mang tính chất tích cực rõ rệt. Tuy nó có sự tổ chức,

điều khiển của GV trực tiếp hoặc gián tiếp của GV nhưng điều cốt yếu
để đạt được thành công của quá trình học phải do nỗ lực tự học của HS.

9


Nhóm 2: Có tác giả lại xem hoạt động tự học là một phương thức
tự nghiên cứu, tìm hiểu của HS để nâng cao tri thức của bản thân. Có thể
lấy một số quan niệm của các nhà nghiên cứu như TS Lê Ngọc Trà, PGS
Lê Khánh Bằng,…để làm ví dụ. Các nhà nghiên cứu trên đều cho rằng
bản chất của tự học là tự làm việc với chính mình, nghiên cứu tài liệu,
trao đổi với bạn bè, với nhóm và được thầy khơi gợi, hướng dẫn. Tự học
là tự đi tìm lấy kiến thức. Đây là hoạt động được xét về phái người học.
TS Hà Thị Đức khẳng định: “Tự học là hình thức hoạt động cá nhân, do
bản thân ngời học nỗ lực thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập trên
lớp hay ngoài lớp , có thể diễn ra khi còn đang học, khi đã ra trường và
trong suốt cả cuộc đời” [14, tr.12].
Tóm lại: Qua tìm hiểu các quan niệm về tự học ở trên, chúng tôi
thấy tự học là vấn đề ngày càng được quan hơn trong giáo dục học. Các
nhà nghiên cứu đều thừa nhận tự học là một nhu cầu, một năng lực
cần có của mọi người, đặc biệt trong thời đại ngày nay. Có nhiều tác giả
nghiên cứu về tự học vì thế nên quan điểm về khái niệm tự học rất phong
phú. Có người cho đó là cách dạy, có người cho đó là cách học. Đây đều
là các quan niệm đúng về khái niệm tự học. Từ đó, ta thấy mục tiêu quan
trọng của các nhà trường là trang bị cho cả GV và HS phương pháp tự
học.
1.1.2. Khái niệm tự học
Trong hệ thống ý kiến như trên, tác giả luận văn nhất trí với hệ
thống ý kiến thứ hai, ở đó, ta xem tự học như một phương thức tự đào
tạo.


Xét về quan điểm này, có rất nhiều công trình nghiên cứu đưa ra

những khái niệm khác nhau về tự học. Có thể liệt kê một số định nghĩa
sau:

10


- "Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử
trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ
cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn
cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh
nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể". [35]
- Hoặc định nghĩa: “Tự học là công việc tự giác của mỗi người do
nhận thức được đúng đắn vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến
thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự
tiến bộ xã hội". [17, tr.1]
- Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cũng phát biểu về khái niệm này:
“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ
(quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải
sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình
cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, nhẫn nại, khách quan,
có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, lòng say mê khoa học, ý muốn
thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực
hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.”
[15; tr.59-60)
Dù là định nghĩa nào thì ta cũng thấy điểm chung của khái niệm tự
học là: người học chủ yếu phải tự học bằng SGK, các tài liệu học tập liên
quan và kế hoạch, điều kiện, phương tiện của mình để đạt được mục tiêu

học tập. Bản chất của nó là người học biến quá trình đào tạo thành quá
trình tự đào tạo.
Tự học có những đặc điểm sau [8; tr.9]:
1 Tự học có tính độc lập cao và mang đậm màu sắc cá nhân
2 Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học
11


3 Tự học có tính mục đích
4 Tự học có tính đối tượng
5 Tự học vận hành theo nguyên tắc gián tiếp
Tự học có các dạng như sau :
- Tự học diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của người dạy và
những phương tiện kỹ thuật trên lớp, trong đó người học phát huy hết
những năng lực, phẩm chất như nghe giảng, ghi chép bài, phân tích,
khái quát hoá .v.v. để tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người
dạy định hướng cho.
Ở dạng tự học này giáo viên đóng vai trò chủ đạo, do đó thông qua
việc thiết kế bài giảng, giáo viên phải tạo điều kiện phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
- Tự học diễn ra dưới sự điều khiển gián tiếp của người dạy, lúc này
người học phải tự sắp xếp thời gian, điều kiện cơ sở vật chất để tự học,
tự củng cố, tự đào sâu những tri thức hoặc tự hình thành những kỹ năng,
kỹ xảo theo yêu cầu của nội dung đã được hướng dẫn.
Đây là dạng tự học diễn ra ngoài giờ lên lớp dưới sự quản lý của các
lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Các lực lượng trong nhà
trường chủ yếu đóng vai trò gián tiếp thông qua yêu cầu các nội dung
tự học, còn lực lượng trực tiếp quản lý hình thức tự học này chính là xã
hội và gia đình học sinh.
Tự học có chu trình liên tục, diễn ra theo hình xoắn ốc mà ở đó

điểm kết thúc của chu trình này là điểm khởi đầu của chu trình khác. Sau
mỗi chu trình kiến thức của ngời học lại được nâng lên một tầm mới. Cụ
thể như sau:

12


1. Tự nghiên cứu.
2. Tự thể hiện.
3. Tự kiểm tra, tự điều chỉnh.
Tóm lại, tự học là hoạt động của cá nhân của HS. Tự học cũng là
công việc khó khăn, phải trải qua chu trình, hình thức, nhiều đòi hỏi. Tuy
nhiên, không thể có thể làm hộ học sinh việc đó.
1.1.3. Vai trò của năng lực tự học
Với bản thân mỗi cá nhân, tự học có vai trò quan trọng. Nhiều
người có khát vọng học vấn cao đẹp song hoàn cảnh lại chịu sự thiệt
thòi. Vì vậy, không phải ai cũng được may mắn đến trường. Họ phải lấy
tự học để bù đắp. Nhiều vĩ nhân đã thành đạt từ trong cuộc đấu tranh vươn lên bằng con đường tự học. Song chính nhờ tự học, họ đã thành đạt,
hơn nữa lại được thử thách, rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp. Quả
thực, tự học là biểu hiện chí lớn lập nghiệp của mỗi con người trên con
đường hoà nhập vào cộng đồng. Lịch sử đã chứng minh rằng có nhiều
tấm gương thành công do tự học. Các danh nhân, nhà văn hoá, nhà chính
trị, nhà khoa học lớn thành công đều do tự học. Có nhiều người thành đạt
nhờ tự học như các giáo sư, nhà giáo nhân dân Nguyễn Cảnh Toàn, Lê
Trí Viễn, Lê Đình Kị,… Có người chưa hề đi tu nghiệp tại nước ngoài
lần nào nhưng kết quả tự học đã được nhà nước công nhận và phong
tặng các danh hiệu cao quý.
Với đất nước, tự học cũng có ý nghĩa lớn. Nhận xét về vai trò của
tư học với đất nước ta hiện nay, GS Pham Trọng Luận đã viết: “Tự học
đang trở thành chìa khoá vàng trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay.

Tốc độ thông tin ở cấp vũ trụ, nhu cầu luân chuyển tri thức diễn ra dữ
13


dội đòi hỏi mỗi thành viên trong cộng đồng phải có khả năng thích ứng,
hoà nhập, tự khẳng định cá nhân trong guồng máy văn hoá, kinh doanh,
lập nghiệp. Điều đó đòi hỏi mỗi thành viên phải không ngừng tự bổ túc
tri thức bằng con đường tự học. Tự học là con đường tự khẳng định, là
con đường sống và thành đạt của những ai muốn vươn lên đỉnh cao trí
tuệ của thời đại thông tin siêu tốc ngày nay. Tự học - chiếc chìa khoá
vàng cần được mài sáng thêm trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước hiện nay. Tự học là con đường dân chủ hoá giáo dục và
khoa học một cách có hiệu lực nhằm phát huy, tận dụng tiềm năng to lớn
của mỗi thành viên trong sự nghiệp đi nhanh, đón đầu lên đỉnh cao khoa
học công nghệ hiện đại. Muốn mỗi người có thể đóng góp vào sự nghiệp
công nghiệp hoá thì phải huy động tiềm năng của mỗi công dân. Tự học,
tự vươn lên trong cuộc sống và hoạt động xã hội của bản thân là con đường tích luỹ và đầu tư chất xám, trí tuệ cho sự nghiệp chung của đất nước trong vận hội mới ngày nay.” [9,tr19]
Đối với học sinh THPT, tự học có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thế
kỉ XXI là thế kỉ của nền công nghệ thông tin, nó đòi hỏ bản thân mỗi con
người, trong đó có HS phải có những phẩm chất mới, thích ứng với nhịp
sống của xã hội. Tự học sẽ giúp các em tự hoàn thiện kĩ năng, phẩm
chất, lối sống của bản thân, tránh lạc hậu. Nó nhằm giúp các em rèn
luyện thói quen lao động trí óc, khả năng suy nghĩ, phán đoán độc lập,
rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, kỹ năng tự hoàn thiện bản thân.
Tư duy của HS sẽ được phát triển theo chiều hướng tốt. Trong tự học,
tính độc lập của HS sẽ được phát huy cao độ. Bên cạnh việc thụ hưởng
sự giáo dục, hướng dẫn của thầy cô giáo, HS phải nỗ trong việc tiếp nhận
kiến thức. Nó không nằm ngoài khả năng tìm tòi, sáng tạo của HS. Đó có
thể chỉ là các thao tác giản đơn nhằm khắc sâu kiến thức như sưu tầm tài


14


liệu, so sánh đối chiếu hay từ những vấn đề cụ thể mà rút ra ý nghĩa, bản
chất của sự vật, hiện tượng. Học sinh ngày nay rất năng động, lại thêm
sự hỗ trợ của công nghệ thông tin làm khả năng tự học của HS được
nâng cao. Quá trình tìm tòi tri thức sẽ lôi cuốn HS, tạo cơ sở cho HS làm
chủ được tri thức, lối sống và hành vi của mình. HS được lôi cuốn vào
niềm đam mê khám phá, phát hiện và sáng tạo. Biết cách tự học, HS sẽ
rèn được thói quen làm việc độc lập, khoa học làm tiền đề cho công việc
lao động mai sau. Những HS ngay từ khi học phổ thông đã biết tự học
chắc chắn sẽ thành đạt hơn trong cuộc sống. Thực tế đã chứng minh
không ít những tấm gương thành đạt đều biết nghiên cứu từ những năm
còn thơ ấu. Tự học góp phần thể hiện nhân cách trưởng thành và tính độc
lập, tự chủ cao trong học tập của HS THPT. Việc phát triển năng lực học
tập, năng lực tư duy cho HS THPT là vấn đề đáng quan tâm ở mọi quốc
gia. Trong điều kiện và hoàn cảnh hiện nay học tập bằng phương pháp
ghi nhớ và tái hiện tỏ ra không còn hiệu quả cao nữa. Tính độc lập, sáng
tạo của HS không được kích thích, khơi gợi. Cần phải có một cách thức
đào tạo khác để phát huy sự chủ động của HS, tự học là một trong những
cách đó. Quả thực, nhân cách người học sinh chính là phẩm chất và năng
lực được hình thành và phát triển trong quá trình đào tạo tại nhà.
Tự học còn là cách thức, là nội lực quyết định sự phát triển tri thức
của học sinh. Không ai có thể nắm hộ các tri thức cho HS. Chỉ có tự
nắm bắt thì các em mới có thể ghi nhớ và vận dụng tri thức về sau. Hơn
nữa, nếu các em tự mình tìm ra được kiến thức thì các em sẽ ghi nhớ vô
cùng lâu, khả năng sáng tạo và tư duy logic cũng được hoàn thiện hơn.
Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi HS trên con đường
học vấn thừờng xuyên của cả cuộc đời. Tri thức thu nhận được qua quá
trình tự lực tư duy mới là tri thức bền vững. Quá trình tự học khác với


15


quá trình học thụ động, nhồi nhét kiến thức. Quá trình tự học diễn ra theo
đúng quy luật của hoạt động nhận thức. Kiến thức tự học là kết quả của
sự hứng thú, tìm tòi, của lựa chọn. Kiến thức tự học bao giờ cũng vững
chắc, bền lâu, thiết thực và nhiều sáng tạo. Bên cạnh đó, tự học còn là
HS học được cả cách học, cách nghiên cứu. Vì vậy, trong nhà trường, cốt
lõi của việc dạy học phải là dạy cách tự học để HS tự mình học được
cách học, cách tư duy. Tác động dạy của thầy là vô cùng quan trọng
nhưng vẫn chỉ là ngoại lực hỗ trợ cho học sinh tự phát triển, còn tự học
mới là nhân tố quan trọng.
Tự học trong nhà trường THPT còn giúp giải quyết vấn đề: kiến
thức thì nhiều mà thời gian tiết học thì có hạn. Dù cố gắng thì thời gian
học cũng có giới hạn. Hơn nữa, trong cả đời người, không phải ai cũng
có điều kiện học tập chính quy ngay lập tức. Tự học, tự bổ túc kiến thức,
cập nhật hoá thông tin là con đường tất yếu. Nếu không GV sẽ luôn bị
cháy giáo án, còn bản thân HS thì không tiếp thu đầy đủ kiến thức như
mong muốn.
Hơn nữa, hình thành việc tự học cho học sinh còn góp phần vào đổi
mới phương pháp dạy học theo nguyên tắc sư phạm hướng vào người
học. Việc chú trọng đến vai trò của HS chính là đổi mới phơng pháp dạy
học theo hướng tiến bộ. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng căn dặn:
“Chương trình SGK phải đảm bảo dạy cho HS những nguyên lí cơ bản,
toàn diện về các mặt đức dục, trí dục, mĩ dục, đồng thời tạo cho các em
điều kiện phát triển óc thông minh, khả năng độc lập suy nghĩ sáng tạo”.
Coi trọng yếu tố HS là xu hướng đổi mới của giáo dục hiện nay. Sự đổi
mới phương pháp hai chiều sẽ kích thích quan hệ tương tác giữa GV và
HS để xác định sự phù hợp, tương ứng của hành động. Quá trình dạy

học còn là quá trình nhận thức. Đổi mới phương pháp không thể tách rời
16


nội dung tri thức. Vận dụng linh hoạt cách thức tự học để tìm hiểu nội
dung tri thức sẽ giúp HS có cái nhìn toàn diện hơn về giá trị của nó.
Tóm lại, hình thành thói quen tự học cho HS có vai trò to lớn về
nhiều phương diện. Nó không chỉ giúp HS tiếp thu kiến thức tốt hơn,
hình thành phong cách sống năng động mà còn giúp đổi mới phương
pháp dạy học theo nguyên tắc hướng vào HS.
1.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển năng lực tự học
cho HS
1.1.4.1. Yếu tố khách quan
a. Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; các nghị quyết, chỉ
thị, thông tư, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo,... có liên quan tới
quá trình giáo dục đào tạo của thầy và trò nhà trường. Cùng đó là nội
dung chương trình đào tạo của nhà trường
- Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; các nghị quyết, chỉ
thị, thông tư, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo,...phải đề cập, quan
tâm tới hoạt động tự học của HS. Nhiều bài viết đã khẳng định vai trò
của tự học: “Xã hội Việt Nam đang có những sự chuyển mình. Nhiều
vấn đề, nhiều kiến thức, nhiều quan niệm mới hôm qua còn đợc chấp
nhận, hôm nay đã có thể không còn thích hợp nữa. Trong lúc đó, mục
tiêu giáo dục không phải chỉ nhằm đào tạo nghề nghiệp trớc mắt cho con
người mà phải đào tạo con ngời thích ứng linh hoạt với những hoàn
cảnh, nghề nghiệp, những công việc luôn thay đổi sau này. Đó chính là
những con ngời thạo việc, năng động, sáng tạo, biết lo cho bản thân, biết
cống hiến cho cộng đồng.” [9; tr.89]. Hiện nay chính sách của Nhà nước
và của bộ Giáo dục đều đề cập tới. Song triển khai thế nào ở các trường
thì còn nan giải.

17


- Nội dung chương trình đào tạo của nhà trường phải quan tâm,
dành số tiết cho hoạt động tự học, ví dụ như tổ chức ngoại khóa, yêu cầu
HS phải tổ chức các hình thức học nhóm, học theo đôi bạn cùng tiến,…
Điều này tuy có được nhắc tới ơ các trường song thực hiện hiệu quả
không thì còn phải xem từng trường.
b. Phương pháp dạy học của giáo viên
GV phải là người có năng lực hướng dẫn, nhận xét và thẩm định
kết quả tự học của HS. GV có nhiệm vụ thông qua giáo dục đánh thức
các tiềm năng của HS, khơi dậy, phát triển cái nội lực đó. GV phải dạy
cho HS từng bước tự học, tự đọc sách, tìm tòi, tra cứu,phát hiện cái mới.
Thông qua sự hướng dẫn của GV, HS sẽ phát huy tính tích cực, chủ động
của mình để tiếp nhận tri thức và phát triển nhân cách cho phù hợp thời
đại. Những con ngời năng động, sáng tạo đó là sản phẩm của các GV có
năng lực chuyên môn và phẩm chất tốt đẹp. GV phải giữ vai trò định hướng, đề xuất các vấn đề cho HS tự học, biết thẩm định kết quả tự học của
HS. Điều kiện này có vai trò quyết định nhất với chất lượng nghiên cứu
của HS. GV phải tạo được môi trờng, không khí tự học trong mỗi giờ
học, mỗi HS. Môi trường này có được do công sức đóng góp của cả GV
và HS trong quá trình học tập. HS sẽ được làm quen với phong cách học
tập tự lực và cách phương pháp tự học. Các em có thể trao đổi kiến
thông tin cần thiết với nhau hoặc với GV, cao hơn là việc trình bày kết
quả tự học của mình trước bạn bè, GV. Đây là công việc khó khăn, cần
có thời gian lâu dài để tiến hành nhng nó vô cùng cần thiết với việc hình
thành thói quen tự học cho HS. Nếu GV có ý thức, nỗ lực liên tục ngay
trong từng hoạt động nhỏ, môi trường tự học cho HS tại nhà trờng sẽ
hình thành.

18



c. Các điều kiện cơ sở vật chất phòng học, thư viện, hệ thống
mạng Internet, phương tiện thiết bị, sách giáo khoa và các tài liệu tham
khảo …phục vụ cho tự học.
Trường phải cố gắng xây dựng những phòng tự học. Phải làm sao
để đảm bảo các trường đều thư viện cung cấp phương tiện thiết bị, sách
giáo khoa và các tài liệu tham khảo, …phục vụ cho tự học. Thứ ba là
phòng tin học cùng hệ thống mạng Internet nên sớm cập nhật để HS có
thêm cơ hội tra cứu tư liệu.
Tại nhà, HS phải sắp xếp cho mình một không gian tự học riêng.
Tốt nhất là học tại phòng riêng, nếu không ít nhất HS cũng phải có góc
học tập cá nhân. Góc học tập phải yên tĩnh, tránh xa mọi yếu tố gây
nhiễu như: truyền hình, ca nhạc, điện tử,... để HS tập trung cao nhất vào
việc tự học. Góc học tập nên đầy đủ phương tiện học tập và bài trí gọn
gàng, đơn giản. “Có được môi trờng nghiên cứu khi làm việc độc lập ở
nhà, HS sẽ có điều kiện thả mình trong những phút giây tưởng tợng, liên
tưởng, có thời gian so sánh đối chiếu giữa văn bản này với văn bản khác
để tìm ra những kiến giải hợp lí.” [9; tr.85].
d. Thời gian dành cho tự học: Hoạt động tự học đòi hỏi phải có
quỹ thời gian phù hợp, nên học sinh phải bố trí kế hoạch thật khoa học
để đảm bảo quá trình tự học đạt hiệu quả.
Tại nhà, HS nên sắp xếp khoảng thời gian phù hợp cho việc tự
học. Việc đi học thêm ở ngoài không thể thay thế được tự học, thậm chí
nó còn phản tác dụng nếu HS học quá nhiều, không chú ý tới tự học. Bản
thân HS cũng phải có ý thức xây dựng cho mình thời gian biểu hợp lí và
có ý thức tự học. Các em có thể làm việc độc lập với SGK, sách tham
khảo, tìm hiểu trước những vấn đề liên quan tới văn bản sắp học như:
19



cuộc đời tác giả, hoàn cảnh sáng tác, đề tài nhân vật,... Nếu biết sử dụng
thời gian tự do vào chuẩn bị bài, ôn bài, nghiên cứu thì HS sẽ nhận được
những thông tin bổ ích có lợi cho quá trình học tập lâu dài, hình thành
thói quen tự học đồng thời thấy say mê môn văn hơn.
Tại nhà trường, “GV nên tạo ra những khoảng thời gian rỗng cho
HS nghiên cứu. Thời gian ấy có thể chỉ là 5 đến 10 phút trớc khi vào bài
mới. Song cũng có thể là 15 phút để HS giải quyết những câu hỏi hớng
dẫn tự học của GV. Thời gian cho công việc nghiên cứu có thể được GV
đan cài trong giờ đọc văn cụ thể với các phương pháp dạy học khác.
Nhiều khi đứng trước một tình huống có vấn đề, GV có thể dừng lại để
nêu vấn đề và yêu cầu HS suy nghĩ giải quyết. Nếu vấn đề khó, GV có
thể gợi ý cho HS về nhà tự giải quyết.” [9; tr.86].
1.1.4.2. Yếu tố chủ quan
Đây là các yếu tố bên trong quyết định trực tiếp đến kết quả của
hoạt động tự học. Trong quá trình tự học, yếu tố nội lực của cá nhân
người học là yếu tố cơ bản nhất quyết định chất lượng và hiệu quả của
hoạt động tự học. Sự trợ giúp của yếu tố ngoại lực chỉ có tác dụng hỗ trợ,
kích thích các yếu tố nội lực phát triển. Nội lực của học sinh bao gồm:
a. Những yếu tố với tư cách là thành phần cấu trúc của hoạt động
tự học đó là nhận thức về tự học, động cơ tự học, thái độ tự học, kỹ năng
tự học.
HS phải nhận thức được tầm quan trọng của tự học và có thái độ
tốt trong tự học thì việc rèn luyện, bồi dưỡng các kỹ năng tự học
mới thành công. Do vậy, GV cần xác định mục đích, động cơ tự học
cho HS. Bên cạnh đó, phải hướng dẫn các em phương pháp, hình thức
tự học, kỹ năng tự học đó là: đọc sách, ghi chép, hệ thống hoá,
20



khái quát hoá, tự kiểm tra đánh giá .v.v. Để tự học đạt kết quả thì HS
phải có tri thức, có tư duy khoa học, biến động cơ tự học thành kết quả
và tự tin vào bản thân, từ đó bồi dưỡng và phát triển hứng thú học tập,
duy trì tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tư duy khoa học trong hoạt
động tự học.
b. Yếu tố sức khoẻ cá nhân
Hoạt động tự học là hoạt động căng thẳng, mất nhiều năng lượng
thần kinh. Do vậy, đòi hỏi học sinh phải có sức khoẻ tốt thì mới đảm bảo
cho hoạt động tự học đạt hiệu quả. Bộ óc của HS không phải là cái máy
tính để GV nạp dữ liệu liên tục. Hiện tượng HS học quá tải còn diễn ra
quá nhiều. Khi phải chịu sức ép lớn của thi cử, học hành, HS không thể
có niềm say mê học tập, thậm chí học tập với HS trở thành “cơn ác
mộng”. Có học tập phải có nghỉ ngơi. Khi học nên tập trung hết sức để
đạt hiệu quả cao nhất, sau đó nghỉ ngơi thoải mái, không lo lắng tới bài
học nữa. “Học ra học, chơi ra chơi” là cách sống và làm việc hiệu quả,
khoa học nhất.
HS có thể kết hợp điều độ giữa học tập và nghỉ ngơi qua việc cân
bằng giấc ngủ, bằng các hoạt động vui chơi giải trí hay thay đổi các hoạt
động trí tuệ. Vấn đề này có liên quan tới quá trình chăm sóc sức khoẻ
cho HS tại gia đình đồng thời là sự tiếp cận sinh tồn đối với giáo dục.
Tóm lại: Có nhiều yếu tố chi phối đến hoạt động tự học, trong đó
các yếu tố chủ quan đóng vai trò cốt lõi, các yếu tố khách quan đóng
vai trò chi phối. Nắm được các yếu tố chi phối hoạt động tự học sẽ giúp
quản lý tốt hoạt động tự học của học sinh.
1.1.5. Những hoạt động dạy học nhằm phát triển năng lực tự học
của học viên
21


Hoạt động dạy học của GV bao gồm các nhân tố: mục đích, nội

dung, phương pháp, phương tiện,…Các nhân tố cấu trúc này có mối
quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau nhằm tạo ra chất
lượng, hiệu quả của quá trình dạy học. Trong các nhân tố trên, hoạt động
học của trò là nhân tố trung tâm của quá trình dạy học bởi các hoạt động
khác của nhà trường đều hướng vào hai hoạt động trọng tâm này.
Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học. HS không thể
hình thành ngay thói quen tự học nếu không có GV hướng dẫn. Muốn
hình thành thói quen tự học cho HS, ngoài sự nỗ lực của bản thân HS,
GV phải có hoạt động dạy học phù hợp, giúp HS phát huy năng lực tự
học. GV phải có biện pháp tổ chức giờ học cụ thể để giúp HS thực hiện
vệc tự học.Chất lượng của quá trình dạy học được quyết định bởi hiệu
quả của việc dạy tác động đến việc tự học. Tác động sẽ là kích thích nội
lực phát triển nếu người thầy gợi mở, khuyến khích sự hứng thú, say mê
học tập của người học. Hoạt động dạy của GV đóng vai trò tổ chức, điều
khiển, hướng dẫn. Hoạt động học của HS diễn ra chủ động, tự giác, sáng
tạo. GV là người truyền thụ kiến thức (sản phẩm có sẵn) và tổ chức điều
khiển các hoạt động nhận thức của HS nhằm hình thành cho học sinh
năng lực, phương pháp và ý chí học tập. HS khai phá kiến thức, tự đào
tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ nhận thức và nắm chắc kiến thức.
Người thầy phải giữ vai trò quyết định trong quá trình nhận thức của
học sinh với tư cách là người tổ chức và kiểm tra, chất lượng dạy học sẽ
đạt hiệu quả cao khi hoạt động dạy của người thầy và hoạt động học của
người trò có sự cộng hưởng lẫn nhau. Những hoạt động này thể hiện tính
dân chủ cao giữa GV và HS, thể hiện sự tin tưởng ở năng lực của HS.
Đó còn là những hoạt động dạy học tích cực phù hợp với xu thế đổi mới

22


phng phỏp dy hc hin gi. Nhng hot ng ny s c núi chi tit

hn chng 2 ca lun vn.
Hầu hết các phơng pháp đều nhằm phát huy tính t học của HS
và đều có đặc điểm chung là:
- Dạy học bằng việc tăng cờng tổ chức các hoạt động cho HS.
- Dạy học chú trọng rèn luyện phơng pháp tự học.
- Tăng cờng học tập cá nhân và hoạt động nhóm.
- Dạy HS tự đánh giá, tự điều chỉnh.
Nú c c th húa qua cỏc bng sau:
Bng so sỏnh hỡnh thc dy hc th ng
v dy hc cú tớnh tớch cc [1; tr.222-223]
Dy hc th ng

Dy hc tớch cc

1.GV truyn kin thc

1.GV t chc, hng dn HS lnh hi

2.GV c thoi, phỏt vn

2.i thoi GV - HS, HS HS

3.GV ỏp t kin thc cú sn

3.HS hp tỏc vi GV khng nh kin
thc HS tỡm ra

4.HS th ng nhn thc

4.HS t mỡnh tỡm kin thc bng hot

ng ca mỡnh

5.HS hc thuc lũng

5.HS hc cỏch hc, cỏch sng, cỏch gii
quyt vn

6.GV c quyn ỏnh giỏ

6.HS t ỏnh giỏ, t iu chnh lm c s

23


cho GV cho điểm

Bảng : Phối hợp hoạt động dạy và học [8; tr8]
Hoạt động dạy

Hoạt động học

Cung cấp thông tin then chốt, cơ bản, Nghe, thông hiểu, hợp tác với GV
kết luận đúng…
-Xây dựng, giao bài tập, tình huống - Tự học, tự nghiên cứu
học tập.
-Hướng dẫn HS phương pháp học
tập, nghiên cứu, tìm tòi kiến thức,

- Tranh luận, thảo luận nhóm


thảo luận, tranh luận, đóng vai, vận
dụng tri thức.
-Phối hợp, thu hút sự hợp tác của HS - Phát huy vốn tri thức sẵn có và
trong việc khẳng định, rút ra những hợp tác với GV trong một số vấn
kết luận về nội dung dạy học.

đề học tập.

- Giải đáp thắc mắc

- Nêu thắc mắc học tập

- Bổ sung phơng pháp, kiến thức,rèn - Bổ sung, sữa chữa, hoàn thiện,
luyện kĩ năng

hệ thống hoá kiến thức.

Xét cụ thể trong dạy học nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HS,
ta có thể chú ý tới một số hoạt động sau:

24


- GV cần bồi dưỡng động cơ tự học cho HS. Mọi hoạt động của
con người đều có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ, động cơ hoạt
động là lực đẩy giúp chủ thể vượt khó khăn để đạt được mục đích đã
định. Do vậy, hình thành nhu cầu, động cơ tự học cho HS là yếu tố quyết
định tới tự học.
- GV cần xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học cho HS. Kế hoạch
tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lý

dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điều
kiện được đảm bảo nhằm hướng tới việc nắm vững kiến thức của từng
môn học. Có kế hoạch tự học, người học sẽ thực hiện nhiệm vụ học tập
một cách khoa học, năng động, sáng tạo và hiệu quả hơn.
- GV cần xây dựng nội dung tự học. Nội dung tự học là hệ thống
kiến thức học tập có tính bắt buộc phải hoàn thành và hệ thống
kiến thức tự đào sâu, mở rộng các vấn đề, nội dung học tập mà thầy cô
giảng trên lớp.
- GV cần bồi dưỡng phương pháp tự học cho HS. Tự học phải được
hình thành cách học, biện pháp học, kỹ thuật học .v.v. mà có thể gọi là
kỹ
năng tự học. Do vậy, GV cần phải hướng dẫn, bồi dưỡng và rèn luyện kỹ
năng tự học cho HS. Xây dựng phương pháp tự học của bản thân theo
một kế hoạch hợp lý, là điều kiện đảm bảo giúp cho người học đạt hiệu
quả học tập cao hơn.
- Cuối cùng, GV cần xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả
tự học. Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của học sinh hàng ngày,
hàng tuần, hàng tháng, học kỳ, năm học và thực hiện kế hoạch tự học
theo những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ học tập nhằm phát hiện những
25


×