Tải bản đầy đủ (.doc) (30 trang)

Những chính sách khuyến khích xuất khẩu gạo của chính phủ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (213.88 KB, 30 trang )

MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................ 3
B. NỘI DUNG.............................................................................................5
I/ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH LÚA........................................................5
.............................................................................................................................................
1.1.Những
vấn
đề
chung
của
sản
xuất
lúa
gạo
hiện
nay
..............................................................................................................................................
5............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
1.1.1.Thực
trạng
về
các
hình
thức
sản
xuất
lúa


gạo
..............................................................................................................................................
5............................................................................................................................................
1.1.2.Sản
lượng

năng
suất
vụ
lúa

thu
..............................................................................................................................................
6............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
..............................................................................................................................................
1.2.Tình
hình
kinh
doanh
lúa
gạo
hiện
nay
..............................................................................................................................................
7
1.2.1.Hệ
thống

các
doanh
nghiệp
thu
mua
lúa
gạo
..............................................................................................................................................
7
1.2.2.Hoạt động kinh doanh lúa gạo của các doanh nghiệp
..............................................................................................................................................
8............................................................................................................................................
II/NHỮNG CHÍNH SÁCH KHUYẾN
KHÍCH XUẤT KHẨU GẠO
..............................................................................................................................................
10
CỦA CHÍNH PHỦ
1


2.1.Nhóm
chính
sách


..............................................................................................................................................
10
2.1.1
Chính
sách

ruộng
đất
..............................................................................................................................................
10
2.1.2. Chính sách về chuyển giao cơng nghệ khoa học kỹ thuật tiến bộ.............................11
2.1.3. Chính sách thuế xuất khẩu gạo.................................................................................12
2.2.Nhóm chính sách vi mơ.................................................................................................14
2.2.1.Chính sách quy hoạch vùng sản xuất lúa gạo xuất khẩu............................................14
2.2.1.1.Sự cần thiết phải quy hoạch vùng sản xuất lúa gạo xuất khẩu.............................14
2.2.1.2.Phương hướng quy hoạch vùng sản gạo xuất khẩu.............................................14
2.2.2.Chính sách tín dụng ưu đãi, bảo hộ cho sản xuất và xuất khẩu gạo...........................15
2.2.2.1.Sự cần thiết phải thực hiện giải pháp tín dụng ưu đãi, bảo hộ cho sản................15
xuất và xuất khẩu gạo
2.2.2.2.Nội dung của chính sách tín dụng ưu đãi, bảo hộ cho sản...................................16
xuất và xuất khẩu gạo
2.2.3.Chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất và xuất khẩu gạo.................................17
2.2.4.Chính sách thực hiện giải pháp đồng bộ khoa học kỹ thuật cho sản..........................18
xuất ở vùng sản xuất gạo xuất khẩu
2.2.4.1.Giải pháp về giống lúa........................................................................................18
2.2.4.2.Giải pháp về phân bón.........................................................................................19
2.2.4.3.Giải pháp về phịng trừ sâu bệnh cho lúa............................................................20
2.2.5.Chính sách Marketing trong xuất khẩu gạo...............................................................20
2.2.5.1.Các biện pháp để thích ứng.................................................................................21
2.2.5.2.Nâng cao khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu...................................................22
2.2.5.3.Chính sách mở rộng thị trường............................................................................22
III/ ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP....................................................................23
3.1.Đánh giá......................................................................................................................... 23
3.1.1.Những tồn tại trong ngành hàng xuất khẩu gạo hiện nay.........................................23.
2



3.1.2.Đánh giá chung và bài học của xuất khẩu gạo..........................................................24
3.1.2.1.Đánh giá chung..................................................................................................24
3.1.2.1.Bài học về xuất khẩu gạo...................................................................................25
3.2.Kiến nghị giải pháp.......................................................................................................25
3.2.1.Giải pháp trước mắt...................................................................................................25
3.2.2.Giải pháp trung hạn và dài hạn..................................................................................27

C.
KẾT
LUẬN
.....................................................................................................................
28

D.

DANH

MỤC

TÀI

LIỆU

THAM

KHẢO

..............................................................................................................................................
29


A. LỜI MỞ ĐẦU
1.Bối cảnh:
Có thể nói ra trong thời gian vừa rồi hoạt động xuất khẩu đã bị chững lại. Thậm chí
chính phủ cịn phải đưa ra lệnh hạn chế xuất khẩu gạo. Vì thị trường gạo trong
nước đã bị tăng giá một cách đột biến do thông tin thất thiệt là chúng ta đã hết gạo
và cảnh báo của tổ chức lương thực thế giới về an ninh lượng thực, khiến những kẻ
đầu cơ đã lợi dụng tăng giá thị trường gạo trong nước. Lúc đó cả nước điên đảo vì
3


giá gạo tăng lên gần gấp đôi so với thời điểm vài ngày trước đó. Người tiêu dùng
đổ xơ ồ ạt đi mua. Trước tình hình đó chính phủ và cơ quan thị trường đã nhanh
chóng đưa ra những biện pháp nhằm ngăn chặn những tin đồn thất thiệt đó. Và tìm
cách để ổn định giá gạo bằng việc tung gạo ra thị trường trong kho dự trữ gạo, hạn
chế xuất khẩu gạo. Đây cũng là bài học cho việc quản lý thị trường trước những tin
đồn thất thiệt đó. Cho đến khi vụ lúa hè thu được mùa thì tin đồn này đã hoàn toàn
đổ vỡ. Và hiện nay chúng ta lại bắt đầu đưa ra những chính sách để khuyến khích
các doanh nghiệp thu mua lúa trở lại nhằm tăng giá trị xuất khẩu.
2.Lý do nghiên cứu đề tài.
Mục đích:
 Để tìm hiểu những chính sách cơ bản trong việc khuyến khích xuất
khẩu gạo của chính phủ.
3. Đối tượng nghiên cứu
Những chính sách khuyến khích xuất khẩu gạo của Việt Nam vào tháng, trong đó
hướng vào chính sách vĩ mơ và chính sách vi mơ.
4.Phạm vi
Các chính sách khuyến khích xuất khẩu gạo của Việt Nam trong giai đoạn
2006 – 2010.
5.Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các số liệu thơng kê, dự báo, tính tốn,…của các cơ quan tổ chức để
phân tích đánh giá và tổng hợp

6. Kết cấu:
Phần I: Thực trạng sản xuất và kinh doanh lúa gạo hiện nay
Phần II: Những chính sách khuyến khích xuất khẩu gạo của chính phủ
Ph ần III: Đánh giá kiến nghị giải pháp
Do thời gian nghiên cứu có hạn, nên trong q trình nghiên cứu khơng tránh khỏi
những thiếu xót, em mong các Thầy Cơ góp ý, sửa chữa giúp em nội dung của đề tài. Em
xin chân thành cảm ơn các thầy cô, đặc biệt là sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình của
TIẾN SĨ ĐÀM QUANG VINH đã giúp em hoàn thành đề án này.
4


B. NỘI DUNG
I/ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH LÚA GẠO
1.1 Những vấn đề chung của sản xuất lúa gạo hiện nay.
1.1.1 Thực trạng về các hình thức sản xuất lúa
Với mục tiêu là xây dựng một nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng
hiện đại tại nghị quyết trung ương 7 khóa 10 về nơng nghiệp, nơng dân, nông thôn. Phát
triển theo hướng hiện đại là phải tăng cường xây dựng cở sở vất chật kỹ thuật cho nông
nghiệp, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, trước hết là công nghệ sinh học
thực hiện thủy lợi hóa, có giới hóa, thơng tin hóa, thay thế lao động thủ cơng bằng lao
động máy móc, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu nhằm sử dụng có hiệu quả đất đai, tài
5


nguyên, lao động, nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh của nơng
nghiệp.
Trên thực tế thì chúng ta đã làm được những điều này chưa? Quả thật đây là một

câu hỏi mà chỉ có người nơng dân mới có thể trả lời chính xác nó. Họ là người hiểu hơn ai
hết những chính sách về sản xuất nông nghiệp mà nhà nước đã, đang và sẽ thực hiện có
mang lại lợi ích cho họ hay khơng. Xong cũng không thể phủ nhận một điều là nền nông
nghiệp của chúng ta đã từng bước được cơ giới hóa, năng suất và sản lượng tăng đều qua
từng vụ sản xuất mặc dù còn nhiều hạn chế và bất cập trong sản xuất nơng nghiệp.
Một là, hình thức sản xuất lúa gạo của các hộ nông dân cá thể ở những vùng nông
nghiệp lớn như vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long….Đồng thời đây
cũng là hai vùng sản xuất chính và được coi là hai vững lúa của cả nước. Với hình thức
này thì sản xuất rất manh mún và nhỏ lẻ lại không tận dụng được các yếu tố về chăm sóc,
đất đai để sản xuất quy mơ lớn vì người nơng dân khơng có vốn hay các điều kiện về kỹ
thuật. Nhưng đây vẫn là hình thức sản xuất truyền thống ở nước ta do vậy hiện nay để
khắc phục tính nhỏ lẻ trong sản xuất thì nhà nước đã thực hiện chính sách dồn điền đổi
thửa, cánh đồng một giống lúa… để người nông dân sản xuất tập trung hơn, lớn hơn….
Hai là, hình thức sản xuất ở các nơng trường. Có thể nói hiện nay hình thức này
cịn lại là rất ít vì trên cả nước số nơng trường sản xuất chỉ là một con số nhỏ. Tiểu biểu
phải kể đến một nông trường Sông Hậu đã xây dựng vùng nguyên liệu trên diện tích 5000
ha, với các giống lúa chất lượng cao như: IR64, VND 5-20, OM1490. Đặc biệt nông
trường chuyển sang sản xuất lúa đặc sản Jasmine 85. Thương hiệu gạo Soharfam của
nông trường đã được khách hàng nhiều nước trên thế giới tín nhiệm. Bà Trần Ngọc
Sương,giám đốc của nông trường, cho biết sự thành công của nông trường được xây dựng
trên nền tảng vững chắc: “các thành viên nông trường sử dụng 100% giống lúa xác nhận
để giep sạ, áp dụng chặt chẽ các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp(IPM), sử dụng hệ
thống sấy lúa để nâng cao khả năng bảo quản sau thu hoạch.”Bằng các biên pháp xây
dựng hệ thống đồng ruộng, sử dụng giống xác nhận, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ
thuật liên hoàn trong sản xuất đã tạo ra một lượng sản xuất lúa nguyên liệu lớn với chất
lượng đồng đều. Hình thức này có thể coi là hình thức sản xuất quy mô lớn song hiện nay
số lượng các nông trường như vậy khơng cịn nhiều.
Vì vậy, cần thay đổi hệ thống sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hố
thâm canh với quy mơ ngày càng lớn hơn. Chính sách cần có là tạo mọi điều kiện mơi
trường thuận lợi hơn cho nông dân, giúp nông dân tham gia vào hệ thống sản xuất lớn có

thể trụ vững lâu dài. Muốn thế, cái cần thiết hiện nay là hiện đại hố nơng nghiệp trong
khn khổ phát triển nơng thôn để nông dân đủ điều kiện sản xuất sản phẩm đạt tiêu
chuẩn xuất khẩu.
6


1.1.2.Sản lượng và năng suất vụ lúa hè thu
Với những hình thức sản xuất như trên thì có thể thấy vụ lúa hè thu năm nay
được coi là trúng lớn. Vì theo dự báo ban đầu sản luợng gạo cả nước năm 2008 sẽ đạt
khoảng 37,6 triệu tấn, tăng 1,7 triệu tấn so với năm 2007, trong đó: vụ đơng xuân cho 18
triệu tấn, vụ hè thù cho 10,8 triệu tấn, vụ mùa cho 8,85 triệu tấn. Và nếu không có đọt
biến về thiên tai và phịng trừ được dịch rấy nâu thì sản luợng lúa cả năm của các tỉnh
ĐBSCL đạt khoảng 20,28 triệu tấn. Nhưng theo báo cáo của Bộ NN & PTNT cho thấy
mặc dù năng suất lúa của nuớc ta tăng bình quân 2.06%( giai đoạn 1997 – 2006) tương
đương 770000 ngàn tấn/năm nhưng trong giai đoạn 2003 – 2007 thì sản luợng lúa của
chúng ta chỉ ở mức xấp xỉ 36 triệu tấn tấn do giảm diện tích. Vậy việc dự tính trên liệu có
khả thi khơng? Để có được mức sản lượng lớn thì phụ thuộc chủ yếu vào năng suất lúa.
Mức năng suất nhìn chung trên cả nước là rất cao. Ví dụ như ở Hà Tĩnh: năng suất lúa hè
thu năm nay đạt 47,64 tạ/ha, tăng hơn vụ hè thu năm ngoái 17 tạ, sản lượng ước đạt
188.926 tấn. Các địa phương có năng suất lúa cao là thị xã Hồng Lĩnh, huyện Kỳ Anh và
Cẩm Xuyên năng suất 50 tạ/ha, Can Lộc, Thạch Hà và Lộc Hà năng suất 48 tạ/ha.
Với những kết quả lớn trên liệu có thể thấy được năng suất và sản lượng vụ hè
thu đã vượt xa so với dự kiến là 10 triệu tấn. Đáng lẽ được mùa như vậy thì người nơng
dân phải lấy làm vui mừng và phấn khởi xong tâm lý của họ: “trúng mùa thất giá”- cái
suy nghĩ từ lâu đã ăn sâu vào nhận thức của người dân vùng đất châu thổ ĐBSCL- nơi
vốn được mang danh là “ vựa lúa, vựa cá, vựa trái cây” của cả nước.
Thậm chí hiện nay rất nhiều người nông dân không thiết tha với sản xuất nông nghiệp do
lợi nhuận thấp và bị thu nhập cao ở thành thị lơi kéo họ hay có một số nơng dân ở Thái
Bình cịn trả lại ruộng ngày càng phổ biến. Vấn đề này đang đặt câu hỏi cho ngành sản
xuất lúa gạo là phải làm gì để gìn giữ được tình bền vững trong sản xuất của ngành lúa

gạo hiện nay như thế nào?
Như vậy rõ ràng là mặc dù sản lượng và năng suất tăng lên qua từng năm, từng vụ
vậy mà người nông dân vẫn chưa mấy thiết tha với sản xuất nông nghiệp. Liệu vấn đề đặt
ra có phải chỉ là ở chỗ năng suất hay khơng, bởi vì trước đây mặc dù năng suất thấp
nhưng bà con nông dân vẫn hăng say sản xuất lúa. Có thể thấy được vần đề có lẽ không
đơn giản chỉ là năng suất, sản lượng mà còn là việc tiêu thụ lúa gạo họ làm ra để thu được
giá trị nhằm bù đắp chi phí sản xuất ban đầu và có thu nhập trang trải cho cuộc sống của
họ từ đó mới tạo động lực để họ tái sản xuất.Có thể thấy bài tốn tiêu thụ lúa gạo cho
người nơng dân là một bài tốn khó nó địi hỏi sự kết hợp giữ người nơng dân với các
doanh nghiệp thu mua và các chính sách từ chính phủ.
1.2.Tình hình kinh doanh lúa gạo hiện nay
1.2.1.Hệ thống các doanh nghiệp thu mua lúa gạo
7


Trước khi nghiên cứu vấn đề này chúng ta hãy nghĩ và nhận xét về một số suy
nghĩ của một vị giáo sư. Trong một cuộc phỏng vấn của VNEXPRESS với giáo sư Đào
Thế Tuấn, chủ tịch hội khoa học phát triển nông thôn, nguyên viện trưởng viện khoa học
nông nghiệp Việt Nam , ơng đã nói : “ người ta cứ nghĩ đổi mới làm cho nông nghiệp phát
triển tốt thì đời sống của nơng dân cũng tốt theo. Nhưng thực tế khơng hồn tồn như vậy.
Chúng tơi đã nghiên cứu vấn chuyển đổi kinh tế các vùng thì thấy vùng phát triển mạnh
nhất về nông nghiệp, mang lại nhiều đôla nhất cho nhà nước nhiều nhất là Đồng Bằng
Sơng Cửu Long và Tây Ngun thì lại lạc hậu nhất về giáo dục, y tế. Tỷ lệ học sinh đi học
ở ĐBSCL cịn thua cả miền núi phía Bắc. Ở các nước phát triển, một người nông dân nuôi
được 5 người. Cịn ở ta, thu nhập của người nơng dân rất thấp, theo tính tốn, khoảng
cách giữa thu nhập của người thành thị và nông thôn của Việt Nam là trên 3 lần ”. Lý giải
cho toàn bộ ý kiến đó của mình, ơng cho rằng : thị trường nông sản của ta chủ yếu dựa
vào quan hệ nông dân – doanh nghiệp. Doanh nghiệp giữ vai trò độc quyền về chế biến và
lưu thơng. Nơng dân khơng có quyền mặc cả và vì thế hay bị ép giá. Trong khi đó, giá đầu
vào của sản xuất nơng nghiệp không ngừng tăng. Cuối cùng thu lời của nông dân cịn lại

rất ít, thậm chí lỗ nặng vì sản xuất nông nghiệp chịu nhiều rủi ro do thời tiết, dịch bệnh.
Như vậy là việc thu nhập của người nông dân nước ta phụ thuộc rất nhiều vào tình hình
kinh doanh lúa gạo của các doanh nghiệp thu mua. Họ dường như khơng có quyền mặc cả
và cuối cùng khi có biến động gì xảy ra thì họ chính là người cuối cùng phải chịu chứ
không phải các doanh nghiệp.
Điều này có thể được lý giải như sau: thứ nhất, hệ thống các doanh nghiệp thu
mua lúa gạo ở Việt Nam hiện nay là các doanh nghiệp Quốc doanh đó là các cơng ty thu
mua lúa gạo dưới sự kiểm sốt của Nhà nước cũng như sự điều hành trong hoạt động thu
mua của mình như Tổng cơng ty Lương Thực Miền Nam, Tổng công ty Lương Thực
Miền Bắc… Các doanh nghiệp này thường thu mua với khối lượng lớn xong họ lại khơng
chủ động trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ gạo sau khi thu mua. Do vậy đôi khi dẫn
đến tình trạng thiếu hệ thống kho chứa lúa. Đặc biệt là khó khắn lớn nhất hiện nay của các
doanh nghiệp này là thiếu hệ thống kho chứa lúa, thiếu điện để sản xuất dẫn đến ảnh
hưởng chất lượng trong việc chế biến hạt thóc. Vì vậy khi các doanh nghiệp này mua lúa
gạo chững lại thì bà con nông dân lại lo lắng không bán được lúa. Thứ hai là các thương
lái tham gia thu mua lúa gạo hoặc các cơng ty thu mua lúa gạo ngồi Quốc doanh thì gặp
khó khăn trong việc vay vốn để thu mua. Do điều kiện các ngân hàng đưa ra để họ được
vay là phải có hợp đồng xuất khẩu gạo lớn trong khi đó họ là những người bn bán nhỏ
và bị hạn chế về hạn ngạch thu mua. Đó có thể coi là những bất lợi với họ. Các thương lái
tuy chỉ thu mua với khối lượng không lớn bằng các công ty lương thực xong cũng là một
cách cho bài toán tiêu thụ lúa gạo hiện nay.
8


Thiết nghĩ chúng ta nên có cách nhìn thơng thống hơn trong hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp thu mua lúa gạo không phải là quốc doanh để từ đó tạo ra
được lợi ích cho cả người nơng dân và các doanh nghiệp. Muốn bảo đảm lợi ích cho cả
đơi bên trước mắt chính phủ nên thiết lập một hệ thống giá sàn thống nhất. Về lâu dài,
hoạt động của mơ hình này phải theo quan hệ cung cầu. Nếu nguồn cung quá nhiều, chắc
chắn giá sẽ giảm và ngược lại. Vì thế, chính phủ cần có kế hoạch chủ động nguồn cung

nhưng nên ở mức độ vừa phải để giữ giá cho nông dân. Hơn nữa, hệ thống phân phối và
cơ chế thu mua lúa gạo hiện nay còn nhiều bất hợp lý. Trong tương lai, chúng ta nên có kế
hoạch tổ chức lại nơng dân, thành lập một tập đoàn trồng lúa, các hợp tác xã, đơn vị sản
xuất gắn với các công ty xuất khẩu lương thực. Đồng thời, bảo đảm cho cả lợi ích của
người trồng lúa và doanh nghiệp. Mặc khác bản thân các doanh nghiệp xuất khẩu cũng
không nên mua lúa, gạo trôi nổi trên thị trường, tránh việc mua đại trà, trộn lẫn quá nhiều
loại gạo, dẫn đến không thể nào xây dựng được thương hiệu. Để làm được điều này, các
doanh nghiệp phải tự thiết lập những vùng nguyên liệu, dựa trên việc tổ chức các tập
đồn sản xuất lúa nói trên. Trồng cùng một giống lúa, theo quy trình hiện đại, tạo ra
những vùng nguyên liệu lớn, chất lượng cao. Đây là cách duy nhất để tạo ra thương hiệu
cho gạo xuất khẩu.
1.2.2.Hoạt động kinh doanh lúa gạo của các doanh nghiệp
Trên thực tế tình hình kinh doanh lúa gạo ở trong nước hiện nay có rất nhiều
biến động, giá lúa gạo lên rồi lại xuống… đã làm cho hoạt động kinh doanh lúa gạo luôn
sôi động và làm cho người nông dân lúc vui lúc buồn. Vậy hiện trạng chung hiện nay ra
sao? Theo hiệp hội lương thực Việt Nam giá lúa gạo ở các tỉnh ở khu vực ĐBSCL giảm,
giao động từ khoảng 4200 – 4500 đ/ kg tùy địa phương. Giá bán gạo nguyên liệu gạo lứt
để làm gạo 5% tấm khoảng 6300 đ/kg, gạo thành phẩm khơng bao bì tại mạn tầu khoảng
7700 – 8000 kg/tấn. Việc tiêu thụ lúa gạo của người nông dân phụ thuộc rất nhiều vào các
doanh nghiệp thu mua vì vậy đã bị họ ép giá, nếu khơng bán thì có lẽ người nơng dân
cũng khơng biết làm gì để tiêu thụ, mà tiền thì cần. Hệ thống các doanh nghiệp kinh
doanh lúa gạo hầu như cịn rất non yếu, khơng chủ động tìm kiếm các cách thức tiêu thụ
mà thụ động phục vụ theo nhu cầu là chính. Hệ thống đó đã kéo dài một thời gian khá dài
làm cho người nơng dân đã nản lịng khi mà giá lúa gạo ngày một giảm. Hiện thị trường
kinh doanh lúa gạo ở ĐBSCL đang rất trầm lắng, có ý kiến cho rằng có ba ngun nhân
chính tác động đến điều này : do giá gạo trên thị trường thế giới đã giảm; tình hình tài
chính khó khăn, lãi suất ngân hàng tăng cao khiến doanh nghiệp không giám mua gạo,
doanh nghiệp không vay được ngoại tệ mà chỉ vay tiền đồng; do nhà nước áp đặt thuế
cao. Với ba nguyên nhân đó đã tác động đến tiến độ và giá thu mua lúa gạo của doanh
nghiệp.Theo dự báo của giới kinh doanh lương thực, giá lúa gạo sẽ tiếp tục giảm do

9


thương lái lợi dụng cơ hội để ép giá nông dân. Người nơng dân đã khổ lại càng khổ. Nhìn
chung hiện nay tình hình kinh doanh lúa gạo của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn
nếu chỉ biết đến thì trường trong nước mà chưa có hướng cho xuất khẩu.
Sẽ là thiệt hại nếu chúng ta không xuất khẩu gạo. Đây là một câu nói của một vị giáo sư,
lí giải cho điều này ơng cho rằng đất ta là đất lúa, dân ta là dân làm lúa, thời tiết những
năm gần đây dù có khắc nghiệt nhưng vẫn khơng ảnh hưởng nhiều đến việc trồng lúa.
Nếu vậy thì tại sao chúng ta không xuất khẩu để lấy USD càng nhiều càng tốt
về xây dựng những cơng trình khác đang rất cần vồn? Tại sao Thái Lan tăng cường xuất
khẩu gạo mà chúng ta lại dừng? Có phải người Thái Lan thiếu kinh nghiệm hơn ta?Chúng
ta cần phải sáng suốt và chớp lấy thời cơ đã và đang đến.
Việt Nam quốc gia có thể thay thể vị trí thứ hai trên thế giới của Ấn Độ về xuất khẩu gạo
hiện khơng cùng nguồn cung để kí hợp đồng mới và phải đến mấy năm gần đây mới cải
thiện được? Đó là một câu hỏi trên một bài báo của Vietnamnet. Câu hỏi đó có thể trả lời
rằng chúng ta đã đang và sẽ nhanh chóng trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên
thế giới chỉ sau Thái Lan. Cụ thể như mới đây chúng ta đã trúng thầu 17050 tấn gạo xuất
khẩu sang Nhật Bản với mức giá trung bình khoảng 459,16 USD/tấn. Trong năm 2007
chúng ta đã liên tiếp 3 lần trúng thầu với tổng số lượng lên đến 45050 tấn. Đặc biệt là phải
kể đến thương vụ mà chúng ta đã trúng thầu trong cuộc đầu thầu cung cấp 210000 tấn gạo
cho INDONESIA, trong đó có 3 cơng ty Việt Nam và 1 cơng ty Thái Lan.Theo Bộ NN
&PTNT thì sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm 2007 là 4500 000 tấn với
giá trị thu về là 1480 triệu USD, và là một trong mươi nhóm mặt hàng xuất khẩu lớn nhất
của Việt Nam.
Có thể thấy gạo Việt Nam bắt đầu xuất hiện trên nhiều thị trường thế giới và nhanh
chóng khẳng định vị thế của xuất khẩu gạo trên thị trường thế giới khiến cho các đối thủ
lớn như Thái Lan cũng gặp khơng ít trở ngại trong cạnh tranh. Gạo Thái Lan đối mặt với
cạnh trang gay gắt từ gạo Việt Nam vì theo báo cáo tháng 7/2008 của Bộ nông nghiệp Mỹ
cho biết gạo 5% tấm, loại gạo chất lượng hàng đầu của Việt Nam đang được chào bán

dưới mức 575 USD/ tấn, trong khi đó gạo 100% B của Thái Lan, loại gạo cạnh tranh với
gạo 5% của ta hiện có giá 738 USD/ tấn, cơ quan này nhận định rằng gạo Thái Lan sẽ
tiếp tục đối mặt với sự cạnh tranh về giá của gạo Việt Nam.
Cho đến thời điểm hiện tại có lẽ đã có đủ những căn cứ để dỡ bở lệnh tạm dừng ký
kết các hợp đồng xuất khẩu gạo mới đã ban hành từ đầu năm nay vì hai lí do sau: thứ
nhất, là nhờ kích thích mạnh bởi cơn sốt giá gạo thời gian qua và những nỗ lực vượt bậc
của nông dân, cũng như của bộ máy quản lý, chúng ta hoàn toàn cơ thể tin vào triển vọng
trúng lớn một năm sản xuất lúa gạo. Cụ thể là diện tích trồng lúa tại ĐBSCL có giảm chút
ít nhưng năng suất cao, khối lượng gạo xuất khẩu tăng mạnh và lượng tồn kho còn cao.
10


Trong điều kiện như vậy, việc tiếp tục các hợp đồng xuất khẩu gạo mới là cần thiết vì
khơng chỉ bởi có đủ nguồn hàng cung cấp xuất khẩu như dự kiến mà cịn có thể tăng khá.
Thứ hai là việc tiếp tục kí các hợp đồng đồng nghĩa với việc tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu
gạo còn bắt nguồn từ chỗ bảo đảm lợi ích quốc gia.
Theo dự báo của mới nhất của Tổ chức Nông – Lương Liên Hiệp Quốc, sản lượng
gạo thế giới năm nay sẽ đạt kỷ lục cao sẽ làm giảm tình trạng khủng hoảng lương thực
toàn cầu, khiến giá lúa gạo gần đây liên tục giảm, giảm nhiều so với mức kỷ lục cao đạt
được hồi thàng trước. Đây là cơ hội để Việt Nam khôi phục lại thị trường xuất khẩu gạo.
Tại vùng ĐBSCL đã đề nghị chính phủ nâng mục tiêu xuất khẩu gạo năm 2008 lên 4,5
triệu tấn so với 4 triệu tấn dự kiến trước đây. Điều này cho thấy người nông dân rất tin
tưởng vào vụ thu hoạch lúa năm nay. Việt Nam lại bắt đầu thực hiện những hợp đồng
xuất khẩu gạo mới sau một thời gian khủng hoảng về giá cả trong nước. Vấn đề đặt ra là
làm gì để khuyến khích cũng như tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu gạo phát triển
vượt bậc và tạo ra giá trị lớn hơn cho người nông dân và doanh nghiệp nói riêng, nhà
nước nói chung.
II/CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH XUẤT KHẨU GẠO CỦA CHÍNH PHỦ.
2.1 Nhóm các chính sách vĩ mơ.
2.1.1.Chính sách ruộng đất:

Về đất đai chính phủ có đưa ra những chính sách sau: “ ủy ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tạo điều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện đầy
đủ, đúng pháp luật các quyền sử dụng đất, sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn
cổ phần hoặc liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp chế biến, kinh doanh xuất khẩu
nông sản, chỉ đạo việc xây dựng và hoàn chỉnh quy hoạch các vùng sản xuất nơng sản
hàng hóa, chỉ đạo thực hiện việc dồn điền, đổi thửa ở nơi cần thiết. Các doanh nghiệp chế
biến, tiêu thụ, xuất khẩu nơng sản có nhu cầu đất đai để xây dựng nhà máy chế biến hoặc
kho tàng, bến bãi bảo quản và vận chuyển hàng hóa thì được ưu tiên thuê đất. Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trương ương có quy định cụ thể tạo điều kiện thuận
lợi về thủ tục, giá cả để hỗ trợ các doanh nghiệp nhận đất đầu tư” ( nguồn từ số 80/2002/
QD – TTg ngày 24 tháng 06 năm 2002)
Trong lĩnh vực sản xuất lúa gạo, có thể thấy điểm tạo thuận lợi của chính sách
ruộng đất thời gian qua là đã trực tiếp tạo ra động lực mới trong nơng thơn. Chính sách
nay đã đi theo hướng chuyển dần ruộng đất từ chỗ được làm chủ bởi các tập thể đến chỗ
được làm chủ bởi hộ nông dân từ chỗ người nông dân chỉ được chú trọng một số khâu
cơng việc trong q trình trồng lúa đến chỗ họ được làm chủ tồn bộ q trình đó – là chủ
việc sử dụng ruộng đất. Đỉnh cao của q trình đổi mới chính sách ruộng đất là sự triển
khai trên thực tế, theo đó người nơng dân sẽ được thực hiện năm quyền ( quyền sử dụng,
11


quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền thế chấp, quyền cho thuê). Tuy nhiên,
điểm bất cập là trong quá trình triển khai luật đất đai năm 1993 vẫn còn nhiều vương mắc,
nhiều sự thay đổi trong sử dụng đất đai vẫn cịn nằm ngồi sự kiểm sốt của nhà nước.
Do vậy, chính sách về ruộng đất đã tập trung vào hoàn thiện một số vấn đề sau
đây: trước hết, là hoàn thành cơ bản thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai
cho các đối tượng, trong đó có đất ruộng trồng. Vướng mắc là cơng việc này mới chỉ được
thực hiện ở một số nơi như Hà Nội, Hải Phòng, … còn lại ở rất nhiều tỉnh hoạt động này
diễn ra chậm chạp thậm chí cán bộ khơng có thái độ tốt trong việc thực hiện những u
cầu này. Tiếp đó là giới hạn khinh phí cho việc làm các thủ tục giao đất. Thứ đến, là thể

chế hóa ngày càng sâu rộng 5 quyền của người được giao đất. Trong đó nên hướng dẫn
người được giao đất cần làm những thủ tục gì? ở đâu? Thứ ba, là Nhà Nước cần phân cấp
rõ ràng trong việc theo dõi sự vận động đa dạng và phức tạp các quan hệ đất đai, đưa việc
quản lý đất đai vào nền nếp.
2.1.2.Chính sách về chuyển giao cơng nghệ khoa học kỹ thuật tiến bộ
Hàng năm, ngân sách nhà nước dành khoản kinh phí để hỗ trợ các doanh nghiệp và
người sản xuất có hợp đồng tiêu thụ nơng sản: áp dụng, phổ cập nhanh các loại giống
mới, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới trong bảo quản, chế biến nông, lâm, thủy sản, đầu tư
mới, cải tạo, nâng cấp các cơ sở sản xuất và nhân giống cây trồng, giống vật ni, đa dạng
hóa các hình thức tun truyền, giáo dục..nhằm phổ cập nhanh tiến bộ kỹ thuật và công
nghệ mới, thông tin về thị trường, giá cả đến người sản xuất. Các vùng sản xuất hàng hóa
tập trung có hợp đồng tiêu thụ nơng sản được ưu tiên triển khai và hỗ trợ về công tác
khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. ( nguồn từ số 80/2002/ QD – TTg ngày 24 tháng
06 năm 2002). Có thể thấy tiến bộ khoa học kỹ thuật tập trung vào bốn khâu : Giống,
phân bón, phịng trừ sâu bệnh, bảo quản sản phẩm. Với các loại giống lúa mới thường
xuyên thay giống sản xuất đại trà cho nông dân. Khi thay giống mới, những khó khăn
thường nảy sinh là: kỹ thuật canh tác như thế nào? Làm thế nào để nông dân nắm bắt kịp
thời các yêu cầu kỹ thuật canh tác của giống mới? Vấn đề giá cả của giống mới thường
khá cao, nếu khơng có sự hỗ trợ về giá thì nơng dân thường sẽ đắn đo khi sử dụng giống
mới. Đây có thể coi là điểm cịn hạn chế của chính sách này. Chính sách mới hiện nay là
cho nhập khẩu phân bón đã gây một số khó khăn như với các loại phân bón thơng dụng,
kỹ thuật sử dụng thường ít, có khó khăn và vấn đề là số loại phân bón mới thường có khó
khăn về giá bán: giá bán cao hơn khả năng tài chính của nông dân. Khâu bảo vệ thực vật
cũng thường vướng ở các kỹ thuật mới, phương tiện mới, giải pháp mới. Ở đây ngoài vấn
đề giá cả, cần làm sao cho nông dân nắm vững kỹ thuật sử dụng và giảm bớt chi phí về
thời gian sức lực, tài chính. Trong khâu bảo vệ thóc gạo cịn vướng về cơng nghệ và thiết
bị.
12



Xong cũng không thể phủ nhận những thuận lợi mà chính sách này đã tạo ra đó
là về điều kiện chuyển giao công tiến bộ khoa học kỹ thuật đến nông dân sản xuất lúa
gạo: phần lớn các vùng lúa gạo tập trung và xuất khẩu đều ở đồng bằng, hệ thống cơ sở
vật chất kỹ thuật bước đầu được hình thành cơ bản, trình độ dân trí của nơng dân các vùng
trồng lúa nói chung khá cao. Khó khăn cơ bản cho quá trình chuyển giao là khả năng kinh
tế của hộ nông dân rất eo hẹp, địa bàn sản xuất lúa gạo lại trải rộng.
Với đặc điểm của tiến bộ khoa học kỹ thuật ở từng khâu như trên, với điều
kiện thuận lợi và khó khăn cơ bản như vậy, để có thể chuyển nhanh tiến bộ khoa học kỹ
thuật đến hộ nơng dân trước hết cần có sự hỗ trợ về tài chính của Nhà Nước. Mức độ hỗ
trợ cho chuyển giao khoa học kỹ thuật đến hộ nơng dân có thể khá lớn, song lợi ích thu
được qua sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ còn to lớn gấp bội. Ngồi ra hệ thống khuyến nơng
là vô cùng quan trọng, và đặc biệt là đa dạng hóa các kênh thơng tin về tiến bộ khoa học
kỹ thuật đến hộ nơng dân.
2.1.3.Chính sách thuế xuất khẩu gạo
Để trả lời cho câu hỏi liệu có nên đánh thuế xuất khẩu gạo hay không và đánh
với mức nào, cần phải xem xét các mục tiêu thuế xuất khẩu, trong đó đánh thuế xuất khẩu
gạo của ta có những mực tiêu nào?
Thứ nhât, đánh thuế xuất khẩu là để lợi dụng thế mạnh độc quyền trên thị
trường quốc tế, tăng thu cho ngân sách bằng cách đẩy chi phí về thuế cho người tiêu dùng
nước ngoài gánh chịu. Với lượng gạo xuất khẩu của ta hàng năm đạt hơn 10% thị phần
thế giới thì chưa thể là độc quyền xuất khẩu gạo trên thế giới. Vậy mục tiêu này là không
thể được trong việc đánh thuế xuất khẩu gạo của ta.
Thứ hai, đánh thuế xuất khẩu là để điều chỉnh cơ cấu hàng xuất khẩu. Mặt
hàng gạo của ta không nằm trong danh mục hàng hóa hạn chế xuất khẩu thời gian qua.
Vậy đây cũng không phải là mục tiêu của đánh thuế xuất khẩu gạo.
Thứ ba, đánh thuế xuất khẩu để ổn định cung cầu trên thị trường nội địa.
Thông qua việc đánh thuế xuất khẩu để giảm bớt lợi nhuận của người xuất khẩu, từ đó
giảm bớt lượng xuất khẩu. Đây cũng là một trong các mục tiêu mà chính sách đánh thuế
xuất khẩu gạo của ta đạt được
Vì vậy mà mới đây Thủ tướng chính phủ đồng ý về nguyên tắc đề nghị của Bộ

Tài Chính về việc áp dụng thuế tuyệt đối các mặt hàng gạo xuất khẩu trong tháng 6/2008.
Đề nghị này đã được đưa ra từ lâu. Theo TS Đào Thế Anh, giám đốc trung tâm nghiên
cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp: áp dụng thuế xuất khẩu gạo trong thời điểm hiện
nay là hợp lí. Việc áp dụng thuế xuất khẩu gạo vừa mang lại nguồn thu cho nhà nước, vừa
có kinh phí để hỗ trợ nơng dân sản xuất. Về lâu dài, thu thuế xuất khẩu sẽ tạo được sự
“công bằng” giữa gạo trong nước và gạo xuất khẩu, bởi lâu nay doanh nghiệp tiêu thụ gạo
13


trong nước vẫn phải nộp thuế giá trị gia tăng 5%. Hơn nữa, hạn ngạch chỉ có thể quản lý
hữu hiệu khối lượng lượng gạo xuất khẩu, nhưng ít có tác dụng điều tiết giá trong nước,
trong khi thuế xuất khẩu lại có tác dụng điều tiết thị trường trong nước. Khi giá nội địa
đang cao, một mức thuế xuất khẩu cao sẽ khuyến khích nơng dân và thương nhân bán
lương thực vào nội địa để khỏi phải chịu thuế xuất khẩu, nhờ đó làm giảm giá lương thực
trong nước. Khi giá đã xuất ở mức chấp nhận được thì thuế cũng được giảm để tận dụng
cơ hội xuất khẩu ra bên ngồi. Rõ ràng có thể thấy được những lợi ích to lớn mà chính
sách này mang lại. Ví dụ mới đây chính phủ đã quy định gạo có giá xuất khẩu dưới
800USD/ tấn sẽ không phải chịu thuế tuyệt đối xuất khẩu. Gạo xuất khẩu trên mức này sẽ
bị đánh thuế từ 800 000 đồng/ tấn trở lên cụ thể nếu xuất khẩu gạo giá từ 800USD/tấn đến
dưới 900 USD/tấn sẽ áp mức thuế tuyệt đối 800.000 đồng/tấn; từ 900 USD đến dưới
1000 USD?tấn sẽ là 1,2 triệu đồng/tấn; từ 1000 USD/ tấn đến dưới 1100 USD/tấn là 1,5
triệu đồng/tấn và nhiều mức khác nữa…
Xong trên thực tế chính sách này cũng cịn nhiều bất cập. Đó là các doanh
nghiệp nhà nước đang được nhiều ưu đãi về thuế xuất khẩu, về sử dụng vốn nhà nước,
nhưng chưa tham gia thực sự vào điều tiết thị trường và đã bỏ lửng thị trường trong nước.
Nếu đánh thuế xuất khẩu mà doanh nghiệp không đàm phán được giá với nhà nhập khẩukhả năng này cao- dĩ nhiên sẽ quay sang hạ giá thu mua, ép nông dân để bảo đảm lợi
nhuận cho mình. Như vậy, về lâu dài chỉ nên nhân rộng việc cho tư nhân đầu thầu xuất
khẩu gạo, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh để góp phần củng cố lại hệ thống thu
mua, phân phối, gián tiếp giúp nông dân bán lúa với giá cao hơn.
Như vậy nên sử dụng chính sách áp dụng thuế xuất khẩu là chính sách về lâu

về dài là tốt hơn cả so với hạn ngạch. Có lẽ các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng sẽ ủng
hộ chính sách này hơn là hạn ngạch. Xong từ cái mất và cái được của chính sách đánh
thuế xuất khẩu gạo mà chúng ta cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với từng giai
đoạn.
2.2.Nhóm chính sách vi mơ.
2.2.1.Chính sách quy hoạch vùng sản xuất lúa gạo xuất khẩu
2.2.1.1.Sự cần thiết phải quy hoạch vùng sản xuất lúa gạo xuất khẩu.
Trong nền kinh tế thị trường, các hoạt động kinh tế chủ yếu được điều tiết bởi
cơ chế thị trường. Sản xuất và xuất khẩu gạo cần thiết phải thực hiện quy hoạch vùng sản
xuất lúa gạo cho xuất khẩu vì những lý do sau:
Thứ nhất, đó là do yêu cầu phải đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường thế
giới về số lượng, chủng loại gạo, tránh được tình trạng khơng đủ hoặc dư thừa một loại
gạo nào đó so với nhu cầu. Sự không đáp ứng đủ hoặc dư thừa nhu cầu là do tính tự phát
trong bố trí sản xuất lúa ở trong nước, sự tự bố trí đó do không nắm được tổng thể các
14


thông tin về thị trường nên đã sản xuất loại thừa, loại thiếu. Dù là thừa hay thiếu loại gạo
nào đều làm giảm hiệu quả kinh tế của sản xuất và xuất khẩu gạo. Vì lẽ đó, Nhà Nước với
tư cách là người đại diện cho lợi ích chung của đất nước, với hệ thống cơ quan chức năng
của mình, sẽ đủ điều kiện để quy hoạch sản xuất lúa gạo theo vùng một cách hợp lý, đảm
bảo lợi ích cho cả người sản xuất nơng nghiệp cũng như tồn xã hội.
Thứ hai, việc quy hoạch vùng sản xuất lúa gạo xuất khẩu là căn cứ quan trọng
nhất tạo nguồn hàng chủ động, làm cơ sở kinh tế để ký kết các hợp đồng xuất khẩu gạo.
đáp ứng tốt nhu cầu của từng thị trường cụ thể. Đó cũng là cơ sở để Nhà Nước có thể có
kế hoạch hóa được các hoạt động sản xuất và xuất khẩu gạo. Có thể nói quy hoạch vùng
sản xuất gạo xuất khẩu là một trong những điều kiện quan trọng để thích ứng tốt với thị
trường nước ngoài về số lượng và đặc biệt là chất lượng, công cụ cạnh tranh số một nhằm
nâng cao chữ tín với khách hàng quốc tế.
Thứ ba, việc này là cơ sở để Nhà nước giao và quản lý hạn ngạch xuất khẩu

gạo, tránh được tình trạng mua bán gạo vòng vèo, gây rối loạn kinh tế trong nước. Đồng
thời nó là căn cứ để Nhà Nước có thể phân cơng, phân cấp cho thị trường cho các doanh
nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo.
Thứ tư là cơ sở thực tiễn để Nhà nước có hướng đầu tư đúng đắn trong việc
triển khai các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Và bảo đảm
phối hợp đồng bộ các hoạt động sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển từ người sản
xuất đến cảng xuất khẩu, góp phần giảm chi phí, tăng cường khả năng cạnh tranh trên
thương trường quốc tế.
2.2.1.2. Phương hướng quy hoạch vùng sản xuất gạo xuất khẩu:
Trước hết cần lưu ý rằng việc quy hoạch sản xuất gạo cho xuất khẩu chỉ có thể
trở thành hiện thực khi có những đảm bảo chắc chắn sản phẩm sau khi sản xuất ra sẽ
nhanh chóng có người mua và hơn nữa mua với giá cả hợp lý, mà theo giá đó những
người sản xuất có lợi nhuận thỏa đáng, nhưng đảm bảo đó là vấn đề rất quan trọng có tính
quyết định cho việc thực thi các phương án quy hoạch trong thời kỳ kế hoạch hóa tập
trung. Một số ngun nhân của tình trạng đó là do lợi ích của nông dân trong vùng không
được đảm bảo thỏa đáng khi sản xuất theo quy hoạch. Trong nền kinh tế thị trường, các
phương án quy hoạch dù tốt đến mấy cũng sẽ khơng thành hiện thực nếu lợi ích của người
sản xuất không được đảm bảo.
Về hướng tiến hành quy hoạch vùng sản xuất gạo xuất khẩu, nên đi theo một số hướng cụ
thể sau đây:
Đối với đồng bằng Sông Cửu Long: đây là vùng lúa trọng điểm số một của cả
nước ta. Trong tương lai đây vẫn là vùng sản xuất lúa gạo cho xuất khẩu chủ yếu của
nước ta. Với vùng này nên tiếp tục quy hoạch phát triển sản xuất các loại lúa gạo thông
15


thường, năng suất cao, để có được sản lượng gạo thông thường xuất khẩu lớn. Tuy nhiên,
dù là vùng sản xuất lúa gạo thông thường cho xuất khẩu, vẫn cần thiết phải phấn nâng cao
phẩm cấp gạo. Để nâng cao phẩm cấp gạo xuất khẩu ở vùng này, khi quy hoạch sản xuất
lúa và quy hoạch tổng thể, cần chú ý quy hoạch hệ thống cơ sở hạ tầng cho sản xuất nông

nghiệp, cho chế biến công nghiệp lúa gạo. Các nội dung đó phải được tiến hành quy
hoạch đồng bộ. Ngồi ra ở vùng này nên tiến hành thí nghiệm việc khu vực hóa một số
giống lúa chất lượng cao có thể nhập nội.
Đối với đồng bằng Sơng Hồng: đây là vùng lúa trọng điểm thứ hai của cả
nước ta. Tuy nhiên vùng này có những mặt hạn chế về số lượng gạo xuất khẩu do đất chật
người đông, đất canh tác khơng được bổ sung độ phì nhiêu tự nhiên. Bù lại vùng này có
những ưu thế về chất đất, nguồn nước, thời tiết khí hậu rất thuận lợi cho phát triển các
giống lúa đặc sản chất lượng cao như: tám hương, …đó là các sản phẩm nhanh chóng
chiếm lĩnh thị trường gạo cao cấp của thế giới.
Trong xu thế nhu cầu gạo của thị trường thế giới đang hướng tới các loại gạo có hương vị
tự nhiên đậm đà, chất lượng cao, thì việc quy hoạch vùng phát triển sản xuất các loại lúa
gạo sản truyền thống để xuất khẩu là rất cần thiết. Ngoài ra tiến hành thí điểm khu vực
hóa các giống lúa nhập nội có chất lượng cao, năng suất khá của một số nước trong khu
vực. Điều đó làm phong phú thêm chủng loại gạo cao cấp cho xuất khẩu, khai thác tốt hơn
lợi thế của vùng này trong sản xuất và xuất khẩu gạo.
2.2.2.Chính sách tín dụng ưu đãi, bảo trợ cho sản xuất và xuất khẩu gạo
2.2.2.1.Sự cần thiết phải thực hiện giải pháp tín dụng ưu đãi, bảo trợ cho sản xuất và
xuất khẩu gạo.
Sở dĩ đặt vấn đề cần thực hiện giải pháp này để thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu
gạo vì:
Thứ nhất, nơng dân là những người sản xuất gạo cho xuất khẩu nhưng khá
đông trong số họ đang thuộc tầng lớp nghèo của xã hội. Nhưng hộ gia đình xếp loại trung
bình ở nơng thơn cũng thường xuyên thiếu vốn sản xuất. Hơn nữa để có sản phẩm lúa gạo
xuất khẩu, nhiều khi phải tuân thủ quy trình kỹ thuật sản xuất ngặt nghèo và tốn kém, đặc
biệt là với các loại lúa đặc sản chất lượng cao. Trong tình hình đó, để có gạo xuất khẩu rõ
ràng cần phải có sự hỗ trợ về vốn từ bên ngồi đối với nơng dân.
Thứ hai, trong các hình thức hỗ trợ vốn cho nơng dân thì hình thức tín dụng là
có nhiều ưu điểm nhất. Bởi lẽ tính chất bắt buộc phải hồn trả vốn sẽ buộc người vay phải
năng động, sáng tạo tìm cách để kinh doanh đạt hiệu quả cao, khác với các khoản hỗ trợ
cấp cho không, mà những khoản này khi sử dụng người được trợ cấp có thói quen ý lại,

đầu tư sử dụng tiền trợ cấp gặp chăng hay chớ.

16


Thứ ba, sản xuất nông gạo phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, đặc biệt trong
điều kiện môi trường tự nhiên đang bị xấu thì thiên tai càng nhiều hơn làm cho kết quả
sản xuất nông nghiệp thêm bấp bênh với những rủi ro khó có thể dự báo trước. Trong tình
hình đó, việc thực thi chính sách bảo trợ cho sản xuất nơng nghiệp nói chung và cho sản
xuất lúa gạo xuất khẩu nói riêng là rất cần thiết. Bảo trợ sản xuất, giúp cho sản xuất ổn
định là cơ sở để đảm bảo nguồn hàng xuất khẩu. Ngược lại khi thị trường biến động bất
lợi cần bảo trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Bảo trợ cho khâu xuất khẩu là để các
doanh nghiệp xuất khẩu tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, bảo đảm cho sản xuất không bị
suy giảm ở vụ sau, năm sau.
2.2.2.2.Nội dung của chính sách tín dụng ưu đãi và bảo trợ sản xuất và xuất khẩu gạo.
Trong quyết định của Thủ tướng chính phủ số 80/2002/ QD – TTg ngày 24 tháng
06 năm 2002, đã đưa ra những yêu cầu rất rõ ràng: “ đối với tín dụng thương mại, các
ngân hàng thương mại đảm bảo nhu cầu vay vốn cho người sản xuất và kinh doanh đã
tham gia ký hợp đồng theo lãi suất thỏa thuận với điều kiện và thủ tục thuận lợi. Người
sản xuất, kinh doanh được thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay để vay vốn ngân
hàng được vay vốn bằng tín chấp và vay theo dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả”.
Mới đây hưởng ứng các quyết định đó, các ngân hàng đã đưa ra nhiều ưu đãi
trong việc vay vốn đối với các doanh nghiệp thu mua lúa gạo: Thống đốc ngân hàng nhà
nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu đưa ra thông tin “mức lãi suất cho vay thấp nhất sẽ
được áp dụng đối với doanh nghiệp thu mua lúa gạo và cá tra” tại buổi giao ban trực
tuyến tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 19/8, cụ thể mức lãi suất sẽ là
19,9%/năm thay vì 21%/năm trước đây. Trong trường hợp những doanh nghiệp kinh
doanh lương thực thu mua gạo theo chỉ tiêu do hiệp hội lương thực Việt Nam thông báo
nhưng chưa ký được hợp đồng xuất khẩu gạo thì được xem xét cho vay tạo nguồn vốn
trước khi ký hợp đồng xuất khẩu. Đó là việc tạo ra thuận lợi của chính sách vì nó đã tạo

nguồn vốn cho người nơng dân cũng như các doanh nghiệp trong việc thu mua lúa gạo
trong điều kiện vốn là yếu tố có tính chất quyết định.
Có thể thấy được việc nhà nước tạo điều kiện cho người nông dân và các doanh
nghiệp thu mua lúa gạo được vay vốn là rất hợp lý và rõ ràng xong trên thực tế thì lại nảy
sinh nhiều mâu thuẫn là tục thủ cho vay rất phức tạp, nhiều khâu, nhiều cơng đoạn. Trong
khi đó do tính thời vụ cấp bách, sự tăng giá liên lục của các yếu tố đầu vào như phân bón,
giống, …đã buộc người nơng dân phải đi vay nóng ở thị trường tín dụng chợ đen với lãi
suất cao. Đó là một điểm cịn hạn chế mà chính sách khơng lường hết được. Vậy để cho
vay kịp thời đến các hộ nơng dân, địi hỏi các ngân hàng, một mặt phải hoàn thiện lại các
thủ tục cho vay, mặt khác phải nâng cao trình độ nghiệp vụ của mỗi cán bộ ở cơ sở. Điều
đó đảm bảo ngân hàng vừa thực hiện cho vay kịp thời, vừa không làm giảm khả năng
17


hoàn nợ của khách hàng vay. Hơn nữa cần tăng khả năng cung ứng vốn ở thị trường tiền
tệ nông thơn, đồng thời tăng khả năng giám sát mục đích vay tiền, khả năng thanh tốn
của các hộ nơng dân, đẩy lùi thị trường chợ đen, cần phải tạo điều kiện cho các qũy tín
dụng nhân dân hình thành và phát triển ở nông thôn, hơn ai hết, họ rất hiểu về hồn cảnh
của từng hộ trong thơn xóm. Đó là cơ sở để cho phép thực hiện các món cho vay kịp thời,
có khả năng hồn trả, nhưng với lãi suất khơng cao như ở thị trường chợ đen.
2.2.3.Chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất và xuất khẩu gạo
Theo quy định thì vùng sản xuất nguyên liệu tập trung gắn với cơ sở chế biến,
tiêu thụ nơng sản hàng hóa có hợp đồng tiêu thụ nơng sản hàng hóa được ngân sách nhà
nước hỗ trợ một phần về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng( đường giao thông, thủy lợi, điện
… ), hệ thống chợ bán buôn, kho bảo quản, mạng lưới thông tin thị trường, các cơ sở
kiểm định chất lượng nông sản hàng hóa.( nguồn từ số 80/2002/ QD – TTg ngày 24 tháng
06 năm 2002).
Cụ thể chính sách này được thực hiện như sau:
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng trong khâu sản xuất nơng nghiệp. Khi nói đến cơ sở hạ
tầng nơng nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng, trước tiên cần quan tâm đến hệ

thống thủy lợi. Nhờ chính sách này mà về cơ bản chúng ta đã kiến tạo được hệ thống kênh
mương tưới tiêu nước phục vụ sản xuất lúa gạo tương đối hoàn chỉnh, xong hiện nay các
hệ thống này đã quá cũ và đang xuống cấp, đặc biệt một số nơi còn lúng túng trong việc
quản lý, khai thác và tu bổ hệ thống cơng trình thủy lợi đã có. Trong thời gian tới, theo
kinh nghiệm của một số địa phương, để nâng cao hiệu quả khai thác và không ngừng tu
bổ nâng cấp hệ thống thủy lợi đã có, nên tiến hành tư nhân hóa các cơng trình thủy lợi nội
đồng. Hình thức phổ biến mà nhiều địa phương áp dụng là tổ chức đầu thầu các cơng trình
thủy lợi nhỏ. Q trình đó đã phục vụ tưới tiêu nước tốt hơn, ngăn chặn tình trạng xuống
cấp của các cơng trình, từng bước nâng cấp cơng trình đã được đấu thầu. Ngồi hệ thống
kênh mương nội đồng đã có, Nhà nước cần tiếp tục đầu tư mới một số cơng trình thủy lợi
đầu mối, hệ thống hồ đập thủy lợi…nhằm tăng cường năng lực sản xuất lúa gạo.
Thứ hai, cơ sở hạ tầng trong các khâu sau thu hoạch lúa gạo. Hệ thống cơ sở hạ
tầng phục vụ các khâu sau thu hoạch lúa gạo đã được chú ý đến trong vài năm gần đây.
Nhưng do nhiều nguyên nhân, nên hệ thống đó vẫn cò xa mới đáp ứng được yêu cầu giảm
tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng gạo xuất khẩu. Đây là điểm bất cập mà chính
sách này chưa đề cập để giải quyết nó. Đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long- nơi
sản xuất trên 50% sản lượng thóc của cả nước, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật sau thu
hoạch còn thiếu trầm trọng. Nếu chúng ta giảm được 30% tổn thất sau thu hoạch so với
mức tổn thất hiện nay, thì sẽ thu được sản lượng từ 810 đến 850 ngàn tấn thóc. Ngồi ra
cịn có thể nâng cao đáng kể chất lượng gạo xuất khẩu mà kết quả đó đưa lại thu nhập
18


cũng tương đương hàng trăm ngàn tấn thóc. Hiện nay, 3 khâu có tổn thất cao nhất là: phơi
sấy, bảo quản, xay sát. Tổn thất ở 3 khâu này chiếm tới 70% tổng lượng tổn thất sau thu
hoạch.
Do đó, thời gian tới, cần tập trung hoàn thiện các yếu tố sau: một là có hệ
thống phơi, sấy thóc sau thu hoạch vì thực tế chủ yếu chúng ta làm khơ thóc bằng ánh
nắng mặt trời để giảm độ ẩm của thóc. Hai là có cơng nghệ bảo quản thóc trên cơ sở áp
dụng công nghệ và thiết bị bảo quản kín gạo trắng, gạo lật và một số chế phẩm vi sinh,

các chế phẩm từ thực vật có tác dụng diệt côn trùng mà không gây độc hại cho người và
gia súc. Ba là nâng cao hệ thống xay sát gạo. Hệ thống này chúng ta đã có nhiều vượt bậc
so với trước kia, nếu có thể trong tương lai chúng ta sẽ cố gắng tiếp cận được với công
nghệ xay xát trên thế giới.
2.2.4.Chính sách thực hiện giải pháp đồng bộ khoa học kỹ thuật cho sản xuất ở vùng
sản xuất gạo xuất khẩu.
Ở các vùng sản xuất gạo cho xuất khẩu, việc triển khai các tiến bộ khoa học kỹ
thuật phải được tiến hành một cách đồng bộ, nhằm nâng cao hiệu quả của tồn bộ q
trình sản xuất. Những giải pháp kỹ thuật cần tiến hành đồng bộ bao gồm:
2.2.4.1. Giải pháp về giống lúa
Đây là giải pháp cần đi trước một bước kể cả trong nghiên cứu triển khai và
trong việc áp dụng vào thực tiễn, nhằm tạo ra những tiền đề cơ bản cho các giải pháp kỹ
thuật khác phát huy hiệu quả, đồng thời tạo tiền đề cải tiến cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
Hiện tại chúng ta đã có nhiều trung tâm nghiên cứu về giống lúa có năng suất và chất
lượng tốt mà phù hợp với điều kiện thời tiết ở từng vùng để tránh các loại sâu bệnh hại lúa
khi gieo trồng. Có thể thấy rằng trong các giải pháp thâm canh sản xuất lúa, giải pháp về
giống đã đạt được nhiều thành cơng nhất. Chúng ta đã có những bước tiến nhanh và vững
chắc trong lĩnh vực này. Thời gian tới cần tiếp tục theo hướng cơ bản mà ta đã và đang
tiến hành về công tác giống. Tuy nhiên để có thể đạt kết quả cao hơn trong lĩnh vực này,
cần hồn thiện một số khía cạnh sau đây:
Một là, xúc tiến nhanh việc bình tuyển các loại giống lúa đặc sản của các địa
phương, từ đó hình thành quỹ gen về giống lúa chất lượng cao để xuất khẩu.
Hai là, hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước về giống lúa theo hướng: rút
ngắn thời gian từ khâu thử nghiệm ra sản xuất đại trà, đồng thời vẫn giữ được độ an toàn
khi đưa các giống mới ra sản xuất đại trà.
Ba là, hình thành hệ thống nhân giống lúa thích hợp để thường xuyên thay
giống lai tạp bằng giống thuần cho nông dân, do phần lớn các giống lúa mới đều bị xuống
cấp nhanh, dễ bị lai tạp.

19



Bốn là, mỗi vùng, tỉnh, huyện cần nghiên cứu để xác định được cơ cấu giống
lúa, chủng loại lúa thích hợp với nhu cầu của thị trường ngoài nước.
2.2.4.2.Giải pháp về phân bón
Đây là giải pháp kỹ thuật cần phải tiến hành đồng bộ với giải pháp về giống
lúa. Vì rằng, phần lớn các loại giống lúa mới, kể cả một số giống lúa đặc sản đều chịu
được cường độ thâm canh cao thậm chí chúng cịn đỏi hỏi phải được gieo trồng, trong
điều kiện đó các loai giống lúa mới có thể đạt hiệu quả kinh doanh cao. Hướng giải quyết
cơng tác phân bón cho sản xuất lúa trong các năm tới nên chú trọng những điểm chính
như sau:
Trước hết, trong vài ba thập kỷ tới chúng ta cần thiết và có thể vẫn duy trì việc
sử dụng các loại phân hữu cơ truyền thống bón lúa( phân lợn, phân trâu bị….). Tính cần
thiết của hướng này thể hiện ở chỗ: yêu cầu kỹ thuật canh tác lúa phải có phân hữu cơ bón
cùng với loại phân vơ cơ. Hơn nữa, đây là loại phân có giá thành rẻ hơn rất nhiều so với
các loại phân vô cơ được bán trên thị trường và tương đối sẵn có ở hầu hết các vùng trồng
lúa gạo. Giá thành rẻ rất phù hợp với khả năng kinh tế của nông dân, vừa giảm được chi
phí sản xuất lúa, vừa năng cao chất lượng gạo và khả năng cạnh tranh của gạo Việt Nam
trên thị trường quốc tế. Tính khả thi của hướng này thể hiện ở chỗ: sử dụng loại phân
chuồng bón ruộng lúa khơng sợ gây ơ nhiễm mơi trường, khơng làm bẩn sản phẩm. Trong
khi đó các loại phân vơ cơ trên thị trường có nhiều loại phân kém chất lượng, khi bón có
khơng mang lại hiệu quả thậm chí gây ơ nhiễm mơi trường và sản phẩm. Nhà nước đã có
nhiều biện pháp hơn để thắt chặt quản lý các doanh nghiệp sản xuất phân bón, nhằm kiểm
sốt chất lượng các loại phân vơ cơ và khuyến khích bà con sử dụng phân hữu cơ cho sản
xuất để tiết kiệm chi phí mà lại có hiệu quả cao hơn.
Thứ hai, ngay từ bây giờ chúng ta nên đặt vấn để và chuẩn bị điều kiện chuyển
dịch cơ cấu phân bón giữa các loại phân hóa học với phân hữu cơ công nghiệp và phân vi
sinh theo hướng tăng dần tỉ trọng hai loại phân bón phân vi sinh và phân hữu cơ cơng
nghiệp. Vì các nước phát triển họ đang có hướng chuyển dịch từ sử dụng mức độ cao
phân hóa học sang sử dụng các loại phân vi sinh và phân hữu cơ công nghiệp là chủ yếu.

Thứ ba, cần tăng cường sản xuất và nhập khẩu các loại phân bón hóa học tổng
hợp. Bằng cách đó vừa để nâng cao hiệu quả sử dụng, vừa chống lối bón phân đơn điệu
của nơng dân ta: chỉ bón phân đạm, coi nhẹ các loại phân lân, kali và các yếu tố vi lượng
khác. Đây là cách đi tốt nhất để khắc phục lối bón phân hóa học lạc hậu của nông dân từ
trước đến nay.
Thứ tư, cần chấn chỉnh lại cơ chế quản lý sản xuất và nhập khẩu các loại phân
bón. Trong xu hướng tự do hóa nhập khẩu thì đang có nguy cơ bng lỏng quản lý các
loại phân kém chất lượng, không đúng tiêu chuẩn… Chính vì vậy mà trong thời gian vừa
20



×