Tải bản đầy đủ (.doc) (74 trang)

Sử dụng phương pháp trò chơi trong dạy học môn sức khoẻ lớp 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (732.04 KB, 74 trang )

1

Mục lục
---

Trang
Phần I: Phần mở đầu

3

1. Lý do chọn đề tài

3

2. Mục đích nghiên cứu

5

3. Khách thể và đối tợng nghiên cứu

5

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

5

5. Phạm vi nghiên cứu

6

6. Phơng pháp nghiên cứu



6

7. Giả thuyết khoa học

6

Phần II: Nội dung

7

Chơng I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

7

I. Cơ sở lý luận:

7

1. Khái niệm phơng pháp:

7

2. Phơng pháp dạy học

7

3. Đổi mới phơng pháp dạy học

13


4. Phơng pháp trò chơi

15

5. Sự khác biệt giữa trò chơi thờng trong thực tế và

27

trò chơi với t cách là phơng pháp dạy học.
6. Những trò chơi thờng sử dụng trong dạy học sức

28

khoẻ lớp 4
7. Giới thiệu một số trò chơi
II. Cơ sở thực tiễn:

29
30

1. Khảo sát chơng trình sức khoẻ lớp 4

30

2. Thực trạng nhận thức và sử dụng phơng pháp trò

31

chơi trong dạy học môn sức khoẻ lớp 4

3. Phân tích kết quả
Chơng II: Thiết kế bài dạy sức khoẻ theo phơng pháp trò chơi

I. Cơ sở để thiết kế:
1. Đặc điểm môn sức khoẻ

32
39
39
39


2
2. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 4
II. Các bài soạn sức khoẻ đợc thiết kế theo phơng pháp

40
42

trò chơi
57

Chơng III: Cơ sở thực nghiệm:

1. Mục đích thực nghiệm

57

2. Đối tợng thực nghiệm


57

3. Nội dung thực nghiệm

57
58

4. Cách thức tiến hành
5. Cách đánh giá kết quả thực nghiệm

58

6. Phân tích kết quả thực nghiệm

59

Chơng III: Kết luận và đề xuất ý kiến

63

Phụ lục

66

Tài liệu tham khảo

71

Phần I:


Phần mở đầu

I. Lý do chọn đề tài:
Bớc sang thế kỷ XXI trên thế giới nói chung và nớc Việt Nam nói
riêng tiếp tục sẽ có những biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc, khoa học và công
nghệ sẽ có những bớc tiến nhảy vọt, lợng tri thức ngày càng tăng nhanh,
trình độ văn minh của xã hội ngày càng cao. Vì vậy yêu cầu con ngời phải
thông minh sáng tạo để đáp ứng đợc yêu cầu của sự phát triển đó. Đây chính
là yếu tố làm cho mục tiêu giáo dục ở nhà trờng tiểu học thay đổi và cũng là


3
yêu cầu cấp bách đặt ra là phải đổi mới phơng pháp dạy học. Vấn đề đổi mới
phơng pháp dạy học đã đợc Nghị quyết BCHTW Đảng lần II khoá VIII đã
chỉ rõ:
"Đổi mới mạnh mẽ phơng pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp t duy sáng tạo cho ngời học. Từng
bớc áp dụng các phơng pháp tiên tiến và phơng tiện hiện đại vào quá trình
dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh".
Vì vậy ngay từ khi trẻ đến trờng ngời giáo viên phải biết tổ chức quá trình
dạy học theo hớng tích cực, biết thiết kế những hoạt động cụ thể cho sinh
hoạt theo phơng châm "thầy thiết kế, trò thi công" có nh vậy mới nâng cao
đợc chất lợng đào tạo, mới đạt đợc những mục tiêu giáo dục đề ra trong
chiến lợc phát triển con ngời.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân thì giáo dục tiểu học là bậc quan
trọng nhất, là bậc học đầu tiên đặt nền tảng cho cuộc sống văn hoá tinh
thần của toàn dân tộc, là tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu
hết quan trọng cho việc đào tạo thế hệ trẻ thành những con ngời làm chủ tri
thức khoa học và công nghệ hiện đại có t duy sáng tạo, có kỹ năng thực
hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỹ luật và có sức khoẻ.

Sức khoẻ có một vai trò hết sức quan trọng đối với tất cả mọi ngời, sức
khoẻ là vốn quý nhất của con ngời. Trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục
tháng 3 năm 1946 Bác Hồ nói: "Giữ dìn dân chủ, xây dựng nớc nhà, gây đời
sống mới việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công". Trong Đại hội
tháng 11 năm 1956 Bác Hồ nói: "Muốn lao động tốt, công tác tốt và học tập
tốt thì cần phải có sức khoẻ, khoẻ mạnh mới có đủ sức tham gia một cách
dẻo dai và bền bỉ những công việc ích nớc lợi dân".
Từ ý nghĩa quan trọng đó môn sức khoẻ đợc đa vào tiểu học nhằm
cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu về chăm sóc, bảo vệ cơ thể,
vệ sinh cá nhân, vệ sinh dinh dỡng, vệ sinh môi trờng, cách phòng chống
một số bệnh thông thờng, rèn luyện cho học sinh thói quen thực hiện nếp
sống khoa học, biết tự giác thực hiện những quy định an toàn cho cuộc sống
của bản thân và ngời xung quanh, biết phản ứng trớc những hành vi thói
quen xấu có hại cho sức khoẻ, cho môi trờng sống. Chính vì vậy giáo viên
cần phải chú ý hình thành đợc ở học sinh những tri thức khoa học làm nền


4
tảng cho học sinh có khả năng tự định hớng, điều khiển, điều chỉnh mình với
những yêu cầu chăm sóc bảo vệ sức khoẻ.
Trong quá trình dạy học thì môn sức khoẻ cha đợc coi trọng, cha
mang lại hiệu quả giáo dục cao cho học sinh. Sở dĩ nh vậy bởi vì trong quá
trình dạy học giáo viên cha sử dụng những phơng pháp dạy học thích hợp
nhất, tối u nhất mà hầu hết giáo viên còn sử dụng phơng pháp dạy học truyền
thống.
Trên tinh thần đổi mới phơng pháp dạy học nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh thì phơng pháp trò chơi là một phơng pháp rất phù hợp với
đặc điểm, tâm lý của học sinh tiểu học. ở mầm non hoạt động chủ đạo của
các em là hoạt động vui chơi, nhng khi đã là học sinh tiểu học thì tính ham
thích vui chơi của các em bị chi phối bởi việc học tập trong và ngoài nhà trờng. Sự quá tải về nội dung chơng trình, sự phát triển kinh tế ồ ạt đã đẩy các

em đến tình trạng "vùi đầu vào sách vở" thời gian vui chơi của các em quá
ít. Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên phải biết sử dụng phơng pháp trò
chơi để tổ chức cho các em "Học mà chơi, chơi mà học". Thông qua trò chơi
tạo cho học sinh hứng thú, tham gia tích cực vào bài học từ đó các em chiếm
lĩnh tri thức bằng chính hoạt động của mình một cách nhẹ nhàng hơn, tự
nhiên hơn.
Trong thực tiễn dạy học môn sức khoẻ ở lớp 4 cho thấy: Trò chơi là
một phơng pháp đợc giáo viên sử dụng thờng xuyên. Tuy nhiên phần lớn các
giáo viên cha biết tổ chức cho học sinh chơi theo một quy trình chặt chẽ mà
việc tổ chức cho học sinh chơi còn lộn xộn, trò chơi cha làm nổi bật trọng
tâm của bài học, nhều giáo viên chỉ sử dụng phơng pháp trò chơi ở phần
củng cố mà cha sử dụng ở phần phát triển bài, cha xem phơng pháp trò chơi
là phơng pháp dạy học chính. Vì vậy việc sử dụng phơng pháp trò chơi trong
dạy học cha đạt đợc hiệu quả cao và cha lôi cuốn đợc nhiều học sinh tham
gia vào trò chơi một cách có hiệu quả.
Đối với các lớp ở giai đoạn II, nhất là học sinh lớp 4, lúc này bài học
của các em dài hơn, kiến thức trong mỗi bài học khó hơn, nhiều hơn vì vậy
yêu cầu trình độ nhận thức của các em phải cao hơn. Để các em nắm đợc lợng tri thức đó một cách dễ dàng hơn thì giáo viên phải biết tổ chức cho các


5
em hoạt động để các em tìm tòi ra tri thức của bài học, mà ở tiểu học hoạt
động của các em chủ yếu thông qua trò chơi.
Chính từ những đặc điểm trên mà chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu
của mình là: "Sử dụng phơng pháp trò chơi trong dạy học môn sức khoẻ
lớp 4".
II. Mục đích nghiên cứu:
Chúng tôi chọn đề tài này nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lợng dạy học môn sức khoẻ ở bậc tiểu học nói chung và môn sức khoẻ lớp 4
nói riêng.
III. Khách thể và đối tợng nghiên cứu:

1) Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học môn sức khoẻ lớp 4
2) Đối tợng nghiên cứu:
Sử dụng phơng pháp trò chơi trong dạy học môn học sc khoẻ lớp 4
IV. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
- Thiết kế bài dạy sức khoẻ theo phơng pháp trò chơi
- Cơ sở thực nghiệm s phạm.

V. Phạm vi nghiên cứ:
Việc sử dụng phơng pháp trò chơi trong dạy học môn sức khoẻ lớp 4
VI. Phơng pháp nghiên cứu:
1) Phơng pháp quan sát giờ dạy của giáo viên và học sinh ở trờng tiểu
học.
2) Phơng pháp đàm thoại với giáo viên ở trờng tiểu học
3) Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm những giờ dạy của giáo viên ở trờng tiểu học .


6
4) Phơng pháp điều tra để thu thập số liệu có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu.
5) Phơng pháp thực nghiệm:
6) Phơng pháp thống kê toán học để chứng minh độ tin cây của kết
quả nghiên cứu.
7) Phơng pháp đọc và nghiên cứu, khái quát tài liệu có liên quan đến
đề tài nghiên cứu.
VII. Giả thuyết khoa học:
Nếu sử dụng phơng pháp trò chơi một cách hợp lý, phù hợp với đặc
điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học và phù hợp với nội dung của từng bài
học thì học sinh lớp 4 sẽ nắm đợc kiến thức một cách nhẹ nhàng thoải mái và

hiệu quả cao hơn. Qua trò chơi học sinh đợc hoạt động và tự chiếm lĩnh tri
thức bằng chính hoạt động của mình, tránh cảm giác gò bó, bắt buộc đối với
các em khi phải tiếp thu mọt lợng kiến thức khá lớn, từ đó sẽ kích thích các
em học tập một cách tốt hơn và các em sẽ đạt đợc kết quả cao hơn và tạo
điều kiện cho trẻ học tốt các lớp sau.

Phần II: Nội dung

Chơng I:
Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

I. cơ sở lý luận:
1) Khái niệm phơng pháp:


7
Trong quá trình dạy học, phơng pháp là một phạm trù vô cùng quan
trọng, nó có tính quyết định đối với mọi hoạt động của con fgời. Chính vì
vậy việc sử dụng hợp lý phơng pháp đợc đặt lên hàng đầu. Tầm quan trọng
của phơng pháp đã đợc A.N.Kr lốp nhấn mạnh:
"Đối với con tàu khoa học, phơng pháp vừa là chiếc là bàn, lại vừa dà
bánh lái, nó chỉ phơng hớng và cách thức hành động".
Về phơng diện triết học: "Phơng pháp đợc hiểu là cách thức, là con đờng, phơng tiện để đạt tới mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ
nhất định".
Đây là định nghĩa phổ biến nhất của khái niệm phơng pháp
Theo Hêghen: Phơng pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động
bên trong của nội dung.
2) Phơng pháp dạy học
2.1. Khái niệm
Phơng pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất của

quá trình dạy học cùng một nội dung nh nhau nhng học sinh học tập có hứng
thú, có tích cực hay không, giờ học có phát huy đợc trí sáng tạo của học
sinh hay không, có để lại những dấu ấn sâu sắc và khơi dậy những tình cảm
trong sáng, lành mạnh trong tâm hồn của học sinh hay không, thì phần lớn
đều phụ thuộc vào phơng pháp dạy học của gián viên.
Phơng pháp dạy học là một trong những vấn đề cơ bản nhất của lý
luận dạy học. Đồng thời cũng là vấn đề tồn tại nhiều kiến thức khác nhau.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về phơng pháp dạy học. Sau đây là một số
định nghĩa tiêu biểu:
"Phơng pháp dạy học là cách thức tơng tác giữa thầy và trò nhằm giải
quyết các nhiệm vụ giáo dỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy
học" (Ink. BaBaxki: 1983).
"Phơng pháp dạy học là một hệ thống những hành động có mục đích
của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh,
đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung học vấn". [Ila.léc ne, 1981].


8
"Phơng pháp dạy học là cách thức hoạt động tơng hỗ giữa thầy và trò
nhằm đạt đợc mục đích dạy học. Hoạt động này đợc thể hiện trong việc sử
dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lập
của học sinh và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của giáo viên".
[I.D.D verép 1980].
Ngoài ba định nghĩa về phơng pháp dạy học nêu trên thì còn có nhiều
định nghĩa khác về phơng pháp nữa nhng có thể xếp chúng vào ba dạng cơ
bản sau:
+ Theo quan điểm điều khiển học: "Phơng pháp là cách thức tổ chức
hoạt động nhận thức của học sinh và điều khiển hoạt động này".
+ Theo quan điểm logic: "Phơng pháp là những thủ thuật logic đợc sử
dụng để giúp học sinh nắm kiến thức kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác".

+ Theo bản chất của nội dung: "Phơng pháp là sự vận động của nội
dung dạy học".
Phơng pháp dạy học tuy cha có một định nghĩa chung nhất nhng nó có
những dấu hiệu đặc trng cơ bản sau.
a) Nó phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh
nhằm đạt đợc mục đích đề ra.
b) Phản ánh sự vận động của nội dung đã đợc nhà trờng quy định.
c) Phản ánh cách thức trao đổi thông tin giữa thầy và trò.
d) Phản ánh cách thức giao tiếp giữa thầy và trò.
e) Phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức, kích thích và
xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra đánh giá kết quả
hoạt động.
Nh vậy chúng ta có thể hiểu rằng: Phơng pháp dạy học là tổ hợp cách
thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học, đợc tiến hành dới vai
trò chủ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
Trong phơng pháp dạy học, chúng ta phải thấy đợc quan hệ giữa phơng pháp dạy và phơng pháp học. Đây là hai hoạt động khác nhau về đối tợng nhng lại thống nhất với nhau về mục đích, chúng tác động qua lại với
nhau và là hai mặt của quá trình dạy học, mà bản chất của quá trình dạy học


9
là quá trình ngời giáo viên tổ chức hớng dẫn quá trình nhận thức của học
sinh nhằm đạt đợc mục đích dạy học. Phơng pháp dạy học với t cách là tổ
hợp cách thức hoạt động của thầy và của trò đóng vai trò rất quan trọng, nó
còn quyết định tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, nâng cao
chất lợng dạy học. Vì vậy phơng pháp dạy học là kỹ thuật đồng thời là nghệ
thuật, là yếu tố quan trọng thúc đẩy hoạt động nhận thức của học sinh.
2.2. Những tính chất cơ bản của phơng pháp dạy học.
Phơng pháp dạy học chỉ tồn tại trong quá trình dạy học nghĩa
là nó tồn tại trong tiến trình vận động của sự tơng tác hoạt động giữa giáo
viên và học sinh. Do đó hiệu quả của phơng pháp dạy học cũng chỉ xét trong

những mối liên hệ tơng hỗ, có quy luật giữa phơng pháp với nhân tố khác
của quá trình dạy học. Từ việc phân tích những mối quan hệ đã giúp cho
chúng ta phát hiện ra những tính chất đặc trng cơ bản của phơng pháp dạy
học, những tính chất này phản ánh bản chất của phơng pháp dạy học và cũng
là căn cứ quan trọng để vận dụng cải tiến và sáng tạo thêm bất kỳ phơng
pháp dạy học nào. Phơng pháp dạy học bao gồm những tính chất cơ bản sau:
a) Tính mục đích của phơng pháp dạy học.
Trong phơng pháp dạy học, tính mục đích là tính chất nổi bật
nhất, mục đích quyết định cách thức hoạt động, hệ thống những thao tác liên
tiếp phải đợc thực hiện để đạt tới mục đích đó và phơng pháp cũng kết thúc ở
mục đích.
Phơng pháp chịu sự chi phối của mục đích và nó phải phù hợp với mục
đích, nghĩa là đảm bảo phải vạch ra đợc cách thức hoạt động đạt tới mục
đích một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất.
Trong nhà trờng chúng ta hiện nay, phơng pháp dạy học phải phục vụ
mục đích: "Đào tạo những con ngời có kiến thức văn hoá, khoa học, kỹ năng
nghề nghiệp, lao động tự chủ sáng tạo, có kỹ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nớc những năm 90 và chuẩn bị cho tơng lai".
Trên đây cho chúng ta thấy mục đích quyết định phơng pháp, mục
đích nào thì phơng pháp ấy, muốn cho hoạt động thành công thì nhất thiết
phải đảm bảo sự thống nhất giữa mục đích và phơng pháp.


10
b) Tính nội dung của phơng pháp dạy học.
Đây là tính chất thứ hai rất quan trọng của phơng pháp dạy học.
Bất cứ lúc nào thì phơng pháp dạy học cũng chỉ là phơng pháp dạy học,
những tri thức nào đó hoặc những cách thức hoạt động trí óc và thực hành
nào đó bao giờ cũng gắn liền với một hay nhiều phơng tiện dạy học. Vì thế
phơng pháp dạy học phải thay đổi khi tất cả những cái này thay đổi.
Hiện nay khi khoa học kỹ thuật ngày càng nâng cao, nó kéo theo sự

phát triển của phơng tiện dạy học và yêu cầu tri thức của con ngời ngày càng
cao, nó làm cho các phơng pháp dạy học phải thay đổi sâu sắc. Các phơng
pháp dạy học đang phát triển theo hớng làm cho hoạt động học tập của học
sinh tiếp cận với hoạt động nhận thức của các nhà khoa học.
Theo Hêghen thì: "Phơng pháp là ý thức của sự tự vận động bên trong
của nội dung".
Trong "Bút ký triết học" Lê Nin rất đề cao định nghĩa này.
Nh vậy phơng pháp bao giờ cũng gắn với nội dung hoạt động, phơng
pháp không phải là hình thức bên ngoài mà chính là linh hồn và khái niệm
của nội dung, nội dung nh thế nào thì có phơng pháp nh vậy, không có một
phơng pháp nào là phơng pháp vạn năng ứng với tất cả mọi nội dung.

c) Tính hệ thống của phơng pháp dạy học.
Trong quá trình dạy học, phơng pháp đợc vận dụng vào trong từng
khâu của quá trình đó để tạo thành một hệ thống và đợc lựa chọn cân nhắc
trên cơ sở phân tích khoa học những mối liên hệ nhiều mặt giữa phơng pháp
và các yếu tố khác của quá trình dạy học.
Một phơng pháp dạy học bao giờ cũng gồm một hệ thống các thao tác,
biện pháp tơng ứng với logic của hoạt động dạy học diễn ra lúc phơng pháp
dạy học đó đợc vận dụng.
d) Tính hiệu quả của phơng pháp dạy học.
Do quá trình dạy học có tính đa dạng cho nên phơng pháp dạy học
không chỉ bao gồm tác động của giáo viên với t cách là chủ thể của quá trình
dạy mà còn bao gồm tác động của học sinh, tập thể học sinh với t cách là


11
chủ thể của quá trình dạy học. Các phơng pháp dạy học chịu sự chi phối
mạnh mẽ của các đặc điểm lứa tuổi học sinh và hiệu quả của chúng tuỳ
thuộc vào khả năng vận dụng của ngời giáo viên trong những điều kiện cụ

thể của lớp học và của từng học sinh. Vì vậy mà trong dạy học không có phơng pháp nào đợc xem là vạn năng cả mà chúng ta cần thiết phải biết phối
hợp các phơng pháp dạy để phát huy hiệu quả chung của chúng.
2.3. Hệ thống các phơng pháp dạy học tiểu học.
Phơng pháp dạy học rất phong phú và đa dạng nhng không có một phơng pháp nào tồn tại độc lập một mình, không có một phơng pháp nào là vạn
năng cho mọi bài học, phơng pháp dạy học bao giờ cũng có mối quan hệ bổ
trợ lẫn nhau. Trong một giờ dạy giáo viên không bao giờ sử dụng một phơng
pháp đơn độc mà quan trọng là giáo viên phải xác định đợc phơng pháp nào
là cơ bản, phơng pháp nào là bổ trợ. Để xác định đợc nh vậy thì giáo viên
phải hiểu đợc tâm lý của học sinh ở mỗi lớp, với độ tuổi khác nhau thì trình
độ nhận thức của các em cũng khác nhau. Chính vì vậy mà một số tác giả đã
đa ra hệ thống phơng pháp dạy học.
Hệ thống phơng pháp dạy học do Babanxki.I.U.K đề xuất bao gồm:
Các phơng pháp tổ chức và thực hiện hoạt động học tập nhận thức, các
phơng pháp kích thích và xây dựng động cơ học tập, các phơng pháp kiểm
tra. Trong các phơng pháp này lại có những phơng pháp cụ thể. Theo tác giả
thì tơng ứng với ba yếu tố trên đây có ba nhóm các phơng pháp, mỗi nhóm
nh vậy lại đợc chia thành các nhóm con.
* Thứ nhất: Các phơng pháp tổ chức và thực hiện hoạt động nhận
thức bao gồm:
- Nhóm các phơng pháp dùng lời.
- Nhóm các phơng pháp dạy học trực quan.
- Nhóm các phơng pháp dạy học thực hành.
- Phơng pháp logích
- Phơng pháp dạy học tích cực.
- Phơng pháp hoạt động độc lập của học sinh.
* Thứ hai: Các phơng pháp kích thích hứng thú học tập của học sinh.


12
- Phơng pháp kích thích hứng thú học tập của học sinh.

- Phơng pháp trò chơi nhận thức.
- Phơng pháp hội thảo
- Phơng pháp kích thích nhiệm vụ.
- Phơng pháp rèn luyện trong quá trình thực hiện các yêu cầu nh khen
thởng, trách phạt.
* Thứ ba: Các phơng pháp kiểm tra để đánh giá tri thức, kỹ năng kỹ
xảo của học sinh nh:
- Kiểm tra miệng
- Kiểm tra viết
- Trắc nghiệm.
N.V.Savin đã đa ra một hệ thống các phơng pháp dạy học ở tiểu học.
Hệ thống đó bao gồm các phơng pháp:
- Các phơng pháp dùng lời bao gồm: Thuyết trình, kể chuyện, giải
thích, đàm thoại, làm việc với sách giáo khoa, vấn đáp.
- Các phơng pháp trực quan bao gồm: Quan sát, trình bày các tài liệu
trực quan, phim và đèn chiếu.
- Các phơng pháp thực hành: Luyện tập miệng và viết, làm thí nghiệm.
- Các phơng pháp kiểm tra: Đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của
học sinh.
Trên cơ sở hệ thống các phơng pháp dạy học ở tiểu học, căn cứ vào
đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học, vào đặc điểm môn Sức khoẻ, một
số tác giả đã đa ra hệ thống các phơng pháp dạy học trong môn Sức khoẻ bao
gồm: Quan sát, trò chơi, thảo luận nhóm, làm mẫu, kiểm tra đánh giá tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh, hỏi đáp.... Nhng trong thực tiễn dạy học
giáo viên vẫn sử dụng các phơng pháp theo quỹ đạo của dạy học truyền
thống. Họ cho rằng: "Học tập là một quá trình gồm các phản xạ có điều kiện,
nhu cầu học của học sinh là do ngời thầy tạo ra, kết quả học tập chủ yếu là
sự ghi nhớ và lặp lại của ngời học".



13
Do vậy trải qua một thời kỳ dài trong lịch sử, nhiều chơng trình học
tập của nhiều nớc trên thế giới là sự mô phỏng, sự thu nhỏ những thành tựu
nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Các phơng pháp dạy học trong nhà trờng tiểu học còn nặng về hoạt động thuyết giảng, minh hoạ của ngời thầy.
Chính vì vậy mà học sinh học tập một cách thụ động, trình độ phát triển còn
thấp, việc học tập của học sinh thờng nặng nề, đơn điệu, ít hứng thú, mất cân
đối nghiêm trọng giữa dạy và học trong giáo dục tiểu học. Từ những thực
tiễn trên mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phải xem xét lại và họ đã đa ra quyết
định cần phải đổi mới phơng pháp dạy học.
3) Đổi mới phơng pháp dạy học.
Đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng tích cực hoá hoạt động học
tập của học sinh, đây là quá trình chuyển đổi từ phơng pháp dạy học truyền
thống sang phơng pháp dạy học mới. Phơng pháp coi học sinh là trung tâm,
giáo viên chỉ là ngời tổ chức, hớng dẫn hoạt động học tập của học sinh, còn
học sinh phải chủ động tham gia vào hoạt động học tập, để phát triển theo
đúng với khả năng phát triển của cá nhân. Thầy giáo không còn là ngời
truyền đạt kiến thức có sẵn, cung cấp chân lý có sẵn, trách nhiệm của thầy là
hớng dẫn có hiệu quả cho học sinh học tập. "Ngời thầy giao tồi truyền đạt
chân lý, ngời thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý". (Disterwerg). Thầy
giáo không còn là trung tâm nhng không có nghĩa là vai trò, vị trí của ngời
thầy bị thuyên giảm mà phơng pháp dạy học mới vẫn xác định thầy giáo có
vị trí, vai trò không thể thiếu đợc, nó thể hiện: "Giáo viên không còn là ống
dẫn thông tin mà là chất xúc tác của quá trình dẫn thông tin ấy. Giáo viên
không đứng giữa môn học và học sinh mà đứng ở bên cạnh học sinh... kích
thích, duy trì, thúc đẩy, bớc đi vừa sức với những giải thích bổ sung... Giáo
viên là trợ lực viên của tiến trình học tập nhng không bao giờ học thay cho
học sinh... giáo viên là những bà đỡ giúp cho tiến trình tự thể hiện, đứng kề
bên mà không bao giờ đứng giữa lối đi". Ngời học không học thụ động bằng
nghe thầy giảng và truyền đạt kiến thức, ngời học đợc xem là ngời thợ chính
của quá trình học tập. Học sinh học tập tích cực bằng chính hành động của

mình, độc lập suy nghĩ và làm việc dới sự hớng dẫn của giáo viên để tự mình
tìm ra "cái cha biết, cái cần khám phá". Qua đó các em có nhiều cơ hội để
bộc lộ khả năng của mình, các em sẽ trao đổi xử lý thông tin và lựa chọn cho
mình giải pháp tối u nhất. Thông qua các hoạt động, các việc làm sẽ tạo cho


14
học sinh thói quen làm việc tự giác, chủ động, không rập khuôn theo khuôn
mẫu có sẵn, biết tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn, tự sửa chữa
những lỗi lầm mắc phải trong quá trình hoạt động của mình, từ đó học sinh
tự rút ra kinh nghiệm về cách học, cách giải quyết vấn đề, tự điều chỉnh,
hoàn thành một sản phẩm tiến bộ hơn sản phẩm ban đầu. Đặc biệt qua đó
giúp cho học sinh có niềm tin và niềm vui trong học tập, lao động của bản
thân.
Nh vậy phơng pháp dạy học mới là phơng pháp lấy ngời học làm nhân
vật trung tâm, là chủ thể, dới sự hớng dẫn tổ chức của giáo viên, học sinh tự
tìm ra kiến thức, chân lý bằng chính hoạt động của mình. Nhng đổi mới phơng pháp dạy học ở tiểu học không có nghĩa là gạt bỏ toàn bộ các phơng
pháp đang dùng mà phải phát huy tối đa những u điểm của phơng pháp dạy
học truyền thống nhằm nâng cao chất lợng dạy học.
Trong dạy học môn Sức khoẻ không phủ nhận các phơng pháp dạy
học truyền thống nh giảng giải, thuyết trình, quan sát mà các phơng pháp
này phải đợc sử dụng theo tinh thần đổi mới, tạo mọi điều kiện cho học sinh
phát huy đợc tính tích cực chủ động, sáng tạo của mình, tự chiếm lĩnh tri
thức bằng chính hoạt động của mình. Vì vậy bên cạnh những phơng pháp
dạy học nh quan sát, kiểm tra đánh giá, làm mẫu, hỏi đáp... thì phơng pháp
trò chơi là một phơng pháp cần đợc sử dụng trong dạy học môn Sức khoẻ;
thực chất đây là quá trình dới sự tổ chức hớng dẫn của giáo viên, học sinh
tiến hành tham gia vào trò chơi để tự mình tìm kiếm lĩnh hội tri thức đã định.
4) Phơng pháp trò chơi.
4.1. Khái niệm.

Trò chơi là hoạt động vui chơi có chủ đề, có nội dung nhất
định, có những quy định buộc ngời chơi phải tuân thủ, có rất nhiều trò chơi
nh: Trò chơi lăn bóng, xếp hàng thứ tự, trốn tìm, nhanh tay nhanh mắt, chèo
thuyền...
Trò chơi là hoạt động đợc tổ chức có tính chất vui chơi, giải trí. Thông
qua trò chơi, học sinh có điều kiện "học mà vui - vui mà học" trò chơi mang
sắc thái tình cảm đi kèm cảm giác thoả mãn. Khi chơi trẻ tởng tợng và suy
ngẫm, thử nghiệm các tình huống đang chơi từ đó mà sự ghi nhớ của trẻ đợc
vững chắc hơn. Trò chơi chính là một hình thức tổ chức hoạt động học tập


15
cho học sinh. Trong lúc chơi các em sẽ không ý thức đợc là mình đang học
mà các em sẽ đợc thúc đẩy bằng động cơ vui chơi. Cố gắng làm nhanh, làm
đúng để thắng cuộc. Bằng cách này học sinh sẽ tự giải quyết đợc các nhiệm
vụ nhận thức mà các em không nhận thấy nội dung học tập đợc lồng vào
trong nội dung các trò chơi. Việc thực hiện các thao tác chơi hành động chơi,
chính là thực hiện các nhiệm vụ nhận thức.
Nh vậy giữa trò chơi và học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chơi
chính là học, học bằng chơi.
Tóm lại: Trò chơi là hoạt động vui chơi có tổ chức của con ngời dùng
để giải trí. Trò chơi thờng đợc sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, trong các
ngày lễ hội, trong giao lu để hiểu biết lẫn nhau, trong học tập... Trong trò
chơi ngời tham dự là ngời thực hiện một cách tự giác các luật lệ của trò chơi.
Qua đó trò chơi cũng góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất
nhất định của con ngời.
Vậy phơng pháp trò chơi trong dạy học là phơng pháp tổ chức hoạt
động học của học sinh mà trong đó học sinh lĩnh hội đợc các kiến thức giáo
dục cần thiết nhờ tham gia tích cực vào các hoạt động chơi.


4.2. ý nghĩa của phơng pháp trò chơi.
Trò chơi có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh tiểu học,
bởi vì ở lứa tuổi này đặc điểm tâm lý nổi bật của các em là "vừa học, vừa
chơi". Vì vậy trò chơi vừa là con đờng, vừa là phơng tiện góp phần phát triển
trí tuệ của học sinh. Trong quá trình chơi học sinh phải sử dụng các giác
quan ngôn ngữ để thực hiện các thao tác chơi, nhiệm vụ chơi. Do đó mà các
giác quan của học sinh trở nên tinh nhạy hơn, ngôn ngữ mạch lạc hơn và t
duy trừu tợng cũng đợc phát triển. Mặt khác trò chơi học tập sẽ giúp học sinh
củng cố, khắc sâu các biểu tợng, các tri thức, các khái niệm một cách hệ
thống hơn.
Trò chơi sẽ giúp học sinh biết nhìn nhận, phân tích, so sánh, khái quát
các tri thức đã lĩnh hội đợc trớc đó. Trò chơi giúp học sinh rèn luyện và phát
triển trí nhớ, các tri thức của bài học đợc lồng vào nội dung của các trò chơi.


16
Thông qua trò chơi sẽ giúp học sinh có ấn tợng mạnh về kiến thức đó vì thế
mà học sinh nắm bắt bài nhanh hơn, nhớ lâu hơn.
Trong dạy học giáo viên sử dụng phơng pháp trò chơi sẽ giúp học sinh
phát huy đợc tính tích cực tự giác, chủ động của học sinh, học sinh hào hứng
tham gia vào nhiệm vụ học tập đã đợc lồng sẵn vào trong trò chơi cụ thể.
Bằng cách này học sinh sẽ khắc sâu các tri thức kỹ năng, kỹ xảo một cách
chắc chắn, vững chắc. Đây là cơ sở để giúp học sinh dễ dàng phát hiện ra
kiến thức và ghi nhớ các kiến thức của bài học.
Qua việc học sinh đợc tham gia vào trò chơi học tập là các em đã đợc
làm quen, tiếp cận với phơng pháp dạy học tích cực, qua phơng pháp trò chơi
học sinh học tập một cách chủ động và có sự tự tin hơn vào bản thân mình
khi tìm ra đợc tri thức mới của bài học.
4.3. Vị trí của phơng pháp trò chơi trong dạy học môn Sức khoẻ lớp 4.
Trong dạy học môn Sức khoẻ thì phơng pháp trò chơi đóng vai

trò rất quan trọng. Bởi vì ở lứa tuổi tiểu học tâm lý nổi bật nhất là "vừa học,
vừa chơi". Tuy nhiên ở lớp 4 t duy trừu tợng của học sinh đã có phần phát
triển. Các bài học kênh chữ đã đợc tăng cờng, lợng tri thức mới để truyền đạt
cho học sinh khá lớn.
Chính vì vậy giáo viên phải sử dụng phơng pháp trò chơi để các em tự
hoạt động và tự tìm ra tri thức mới thông qua trò chơi.
Đối với học sinh nhỏ tuổi thì chơi là nhu cầu tự nhiên trong sinh hoạt
hàng ngày, hoạt động vui chơi có tác dụng giáo dục toàn diện tác động trực
tiếp đến trí tuệ, tình cảm và thể chất ở mỗi em, góp phần làm cho các em
đoàn kết, gần gũi nhau hơn. Chơi còn là nhu cầu điều hoà hoạt động bình thờng, duy trì và tăng cờng sức khoẻ góp phần tích cực trong việc thực hiện và
hoàn thành mục tiêu giáo dục. Đồng thời thông qua trò chơi việc học tập của
học sinh sẽ thu đợc kết quả cao hơn.
Trò chơi là một phơng tiện cho trẻ phát triển toàn diện nh: Phát triển
trí tuệ, sự nhanh nhẹn, dũng cảm, kiên quyết, trung thực, nâng cao ý thức tổ
chức kỷ luật, rèn luyện những đức tính quý báu nh thật thà, cần cù, rèn luyện
khả năng quan sát, óc phán đoán, tăng cờng thể lực, sức mạnh, sức nhanh,
sức bền bỉ, sự khéo léo, tính phản xạ, ngoài ra còn giáo dục các em ý chí,


17
tính kiềm chế và năng lực tự chủ. Trò chơi còn giúp các em hoàn thiện kỹ
năng ứng dụng học vấn trong nhà trờng vào cuộc sống thực tiễn. Trò chơi
giáo dục cho trẻ tính tổ chức, trong quá trình tham gia vào trò chơi các em đợc học cách vợt khó khăn, cách nhận thức thế giới xung quanh và tìm cách
giải quyết đúng đắn sự việc. Thông qua trò chơi giáo viên hiểu thêm về học
sinh bởi vì khi chơi học sinh bộc lộ đầy đủ tính chất, năng lực của mình,
những thói xấu, những nét cá biệt của học sinh, từ đó giáo viên có thể kịp
thời phát hiện và tìm cách sửa chữa uốn nắn cho học sinh những khiếm
khuyết đó.
Trò chơi luôn có tính hấp dẫn nên lôi cuốn, thu hút đợc nhiều học sinh
tham gia, tạo cho các em niềm say mê, sự phấn khởi. Mặt khác trò chơi còn

phụ thuộc nhiều vào ngời hớng dẫn. Vì vậy ngời hớng dẫn không nên xem
trò chơi chỉ dừng lại ở mức độ giải trí đơn thuần mà phải xem trò chơi thực
sự là một phơng pháp, phơng tiện giáo dục có hiệu quả cao. Vì vậy khi giáo
viên sử dụng phơng pháp trò chơi trong dạy học môn sức khoẻ giúp cho học
sinh hình thành và khắc sâu kiến thức, phát triển t duy ngôn ngữ của học
sinh.
Chơng trình lớp 4 về kiến thức trừu tợng và khó hơn so với các lớp dới
rất nhiều. Chủ yếu ở lớp 4 các em học về các loại bệnh và cách đề phòng các
bệnh. Để cho các em biết và hiểu về những căn bệnh này là một vấn đề rất
khó cho nên đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt trong việc lựa chọn phơng pháp
dạy học sao cho phù hợp. Phơng pháp trò chơi là một trong những phơng pháp
đợc sử dụng nhiều nhất và trọng tâm nhất. Đối với mỗi bài học giáo viên phải
lựa chọn, sử dụng trò chơi sao cho hợp lý để tạo điều kiện cho học sinh tự mình
vơn lên tìm kiếm tri thức mới, mở rộng, hiểu sâu các kiến thức trong chơng
trình, nâng cao hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, nhận thức và năng lực
trí tuệ cho học sinh. Sau mỗi trò chơi thờng để lại cho các em niềm vui, sự
thích thú và các em có thê hào hứng trong học tập.
Nh chúng ta đã biết kiến thức môn Sức khoẻ lớp 4 tuy trừu tợng khó
hiểu nhng nó lại rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày của học sinh, gần gũi
thực tế nh: Bệnh do mỗi truyền, bệnh HIV/AIDS, các cây thuốc nam... Vì
vậy ít nhiều các em cũng đã có vốn sống, có những hiểu biết nhất định để
tham gia xây dựng bài học và thông qua trò chơi giáo viên sẽ khai thác đợc


18
vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh và động viên đợc nhiều học sinh tham
gia vào bài học kể cả những học sinh nhút nhát nhất. Khi giáo viên sử dụng
phơng pháp trò chơi trong học tập học sinh sẽ đợc tự do trình bày ý kiến của
mình và nhận xét ý kiến của các bạn. Qua đó rèn luyện cho học sinh ý thức
trách nhiệm trớc tập thể, bạo dạn, hoạt bát trớc đông ngời, đây là một phẩm

chất quan trọng của con ngời trong xã hội hiện đại. Giờ học sức khoẻ giáo
viên sử dụng phơng pháp trò chơi cho ta thấy học sinh là những nhân vật
trung tâm, học sinh học tập một cách tích cực hơn và tự mình giải quyết
những vấn đề của bài học vì vậy có khi giáo viên giành phần lớn thời gian
của tiết học để tổ chức trò chơi cho học sinh và thông qua trò chơi học sinh
nắm bắt đợc kiến thức bài học một cách dễ dàng. M.Goorki đã nói: "Con đờng dẫn trẻ tới việc nhận thức thế giới mà trẻ sống trong đó và trẻ có nhiệm
vụ thay đổi thế giới ấy thông qua trò chơi".
4.4. Nguồn gốc của trò chơi.
Từ thời kỳ nguyên thuỷ con ngời đã có nhu cầu về chơi, sau những
ngày làm việc mệt nhọc vất vả nh săn bắt, hái lợm, ngời ta tụ tập nhau lại để
bày tỏ sự vui mừng của mình và họ nhảy múa reo hò suốt đêm.


19
Trong những cuộc vui nh vậy thì những ngời lập đợc chiến công thờng
kể lại, diễn lại những thao tác quyết định nh ném đá, phóng lao, đuổi bắt...
nhờ những hành động đó mà họ đã bắt đợc, đã giết đợc nhiều thú rừng. Cứ
nh vậy sự bắt chớc đã biến thành trò chơi và dần dần trò chơi ngày càng
đóng vai trò quan trọng đối với mọi ngời, trò chơi là món ăn tinh thần để tiếp
thêm sức mạnh cho mọi ngời lao động. Đây là nguồn gốc, là sự ra đời sơ
khai nhất của trò chơi. Lúc đầu sự bắt chớc mang tính chân thực và đơn điệu,
nhng rồi trong quá trình vui chơi, ngời này thêm một chút, ngời kia bớt một
chút và nhất là khi t duy, ngôn ngữ và khả năng trừu tợng hoá, khái quát hoá
đợc phát triển đến mức nhất định thì những thao tác bắt chớc đợc hình thành
hoá mang tính chất trừu tợng.
Cũng nhờ khả năng t duy, ngôn ngữ phát triển mà con ngời bắt đầu
biết tích luỹ những kinh nghiệm trong cuộc sống. Nhờ vậy mà chúng ta dần
dần thấy đợc tầm quan trọng của sự chuẩn bị trớc các công cụ lao động, sức
khoẻ và sự tập luyện những thao tác cơ bản, nhờ đó mà hiệu quả lao động đạt
đợc cao hơn. Lúc đầu sự chuẩn bị các thao tác này mang tính chất tự nhiên

dới hình thức vui chơi mà tập luyện, tập luyện mà vui chơi, sau đó ngời ta
dùng trò chơi để dạy cho con cháu, dạy cho lớp ngời trẻ, chuẩn bị cho họ
tiếp bớc cha anh tham gia tích cực có hiệu quả vào cuộc sống lao động, đấu
tranh cho sự sinh tồn và phát triển của mình. Nh vậy sau khi ra đời trò chơi
đã mang ý nghĩa giáo dục rất cao và có một vai trò quan trọng trong xã hội
loài ngời. Cuộc sống của con ngời, của xã hội ngày một phát triển mạnh hơn,
trờng học đã hình thành và mở rộng, trờng học đã trở thành trung tâm thu hút
những mầm non của xã hội. ở đây ngời ta sử dụng nhiều nội dung, nhiều phơng pháp để giáo dục, rèn luyện thế hệ trẻ trong đó có trò chơi. Ngày nay
cũng vậy, trò chơi trở thành một trong những nội dung, phơng tiện, phơng
pháp giáo dục, rèn luyện trẻ nhanh nhất, hiệu quả nhất, đặc biệt là lứa tuổi
học sinh tiểu học.
4.5. Bản chất của trò chơi.
Trò chơi rất đa dạng và phong phú, mỗi dạng trò chơi có một sắc
thái nhất định và có tác dụng nhất định đối với sự hình thành và phát triển
nhân cách của trẻ. Trò chơi là con đờng nhận thức thế giới xung quanh một
cách độc đáo của học sinh. Sự độc đáo thể hiện ở chỗ học sinh sẽ tìm hiểu tri


20
thức, củng cố tri thức, kỹ năng, thao tác... một cách tự nhiên, thoải mái, học
sinh không có cảm giác bị áp đặt và bắt buộc.
Trò chơi là một phơng pháp dạy học rất quan trọng mà trong đó cách
thức tổ chức hoạt động học tập cho trẻ thông qua một loạt trò chơi cụ thể phù
hợp với nội dung mỗi bài học. Trong lúc chơi học sinh sẽ không ý thức đợc
là mình đang học mà các em sẽ đợc thúc đẩy bằng động cơ vui chơi, cố gắng
làm nhanh, làm đúng để thắng cuộc. Bằng cách này học sinh sẽ tự mình giải
quyết đợc các nhiệm vụ nhận thức mà các em không nhận thấy. Nội dung
học tập đã đợc lồng vào nội dung của trò chơi. Việc thực hiện các thao tác
chơi, hành động chơi chính là thực hiện các nhiệm vụ nhận thức.
Khi sử dụng phơng pháp trò chơi trong dạy học môn sức khoẻ, chúng

ta mới thấy đợc giữa chơi và học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, học sinh
chơi chính là học, học chính là chơi. Hơn nữa đối với kiến thức môn sức
khoẻ lớp 4 bài học lý thuyết dài nên giáo viên phải sử dụng trò chơi sao cho
hợp lý và phải làm nổi bật đợc trọng tâm của bài học để làm sao thông qua
những trò chơi học tập mà giáo viên đa ra học sinh sẽ chiếm lĩnh đợc tri thức
của bài học.
4.6. Đặc điểm, đặc trng của trò chơi.
Trò chơi trong dạy học hầu hết đều mang sẵn tính mục đích một
cách rõ ràng. Trong quá trình chơi học sinh tiếp xúc với nhau, mỗi một học
sinh phải hoàn thành nhiệm vụ của mình trớc tập thể ở mức độ cao, tập thể
lớp có trách nhiệm động viên, giúp đỡ các bạn để các bạn tham gia trò chơi
hoàn thành nhiệm vụ của mình. Vì vậy tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập
thể... đợc hình thành. Cũng trong quá trình chơi đã xây dựng cho học sinh
tác phong khẩn trơng, nhanh nhẹn, tính kỷ luật, sự sáng tạo hoàn thành
nhiệm vụ với chất lợng cao... góp phần giáo dục đạo đức và hình thành nhân
cách cho học sinh. Do vậy có thể nói trò chơi mang tính t tởng rất cao.
Trò chơi là một hoạt động mà học sinh đợc tham gia vào một cách
thoải mái, chứ không bắt buộc, nếu gò ép hay bắt buộc thì sẽ làm mất tính
hấp dẫn và không có ý nghĩa của trò chơi.
Trong quá trình dạy học trò chơi đợc giới hạn bởi không gian và thời
gian. Đặc trng này sẽ quy định quy mô, điều kiện, vật chất, số lợng ngời chơi
cho phù hợp.


21
Trò chơi là một hoạt động bất định. Đây là một đặc trng tạo nên sức
hấp dẫn, sự thu hút mọi ngời. Bởi vì không ai dám khẳng định diễn biến và
kết quả cuối cùng của mỗi trò chơi.
Trò chơi thờng có những quy tắc, luật lệ, nhất định cho dù là một trò
chơi đơn giản nhất. Do đó sẽ tạo nên không khí bình đẳng giữa những ngời

tham gia trò chơi. Hơn nữa trò chơi lại mang tính thi đua và tính tự giác rất
cao. Vì vậy khi đã tham gia trò chơi, học sinh thờng vận dụng hết sức lực và
khả năng tập trung chú ý, trí thông minh và sự sáng tạo của mình để giành
chiến thắng. Đó là điều kiện thuận lợi để nhà s phạm có thể thực hiện tổ
chức cho học sinh tham gia vào trò chơi một cách hợp lý.
Trò chơi trong dạy học đợc sử dụng với t cách là phơng tiện, công cụ
phục vụ đắc lực cho học sinh lĩnh hội kiến thức của bài học, đặc biệt là kiến
thức cơ bản. Khi thực hiện trò chơi trong dạy học phải đảm bảo sự yên tĩnh
và trật tự cho các lớp bên cạnh, chứ không đợc để học sinh chơi quá đà nh
chơi trong đời thờng, nếu chơi nh vậy sẽ làm các lớp bên cạnh không học đợc.
4.7. Cấu trúc trò chơi.
Cấu trúc trò chơi bao gồm nhiều yếu tố khác nhau nh: Cốt trò, đề
trò, luật trò, thởng và phạt.
Trò chơi có thể cấu tạo nh sau:

Trò chơi

cốt trò

luật trò

Thởng, phạt

Cũng nh việc sử dụng các phơng pháp dạy học khác thì việc sử dụng
phơng pháp trò chơi vào trong dạy học môn Sức khoẻ lớp 4 cũng phải chịu
sự chi phối chặt chẽ của logic tiến hành một quá trình s phạm. Nghĩa là ph-


22
ơng pháp trò chơi cũng phải đợc thể hiện rõ ở từng giai đoạn của quá trình

đó nh:
- ở giai đoạn chuẩn bị
- ở giai đoạn tổ chức hoạt động học trên lớp
- ở giai đoạn tổng kết buổi học...
ở mỗi giai đoạn nh vậy thì phơng pháp trò chơi cũng phải đợc thể hiện
rõ đợc từng khâu cơ bản của mình chẳng hạn nh:
ở giai đoạn chuẩn bị: Nó đợc thể hiện rõ ở khâu chuẩn bị trò chơi, ở
khâu này giáo viên phải xây dựng kế hoạch tiến hành trò chơi, hớng dẫn học
sinh chuẩn bị các thứ cần thiết cho việc thực hiện trò chơi...
Tất cả những điều đó đợc phản ánh rõ ở mô hình về việc sử dụng phơng pháp trò chơi trong các giai đoạn của quá trình s phạm.

Chuẩn bị
Chuẩn bị
(lựa chọn
một số phđối tợng
ơng tiện
của hoạt
theo yêu cầu
* Mô hình sử dụng trò chơi trong các giai đoạn của quá trình s phạm
động trò
và chỉ dẫn
chơi).
của giáo
Xác định mục đích, nhiệm
viên
vụ yêu cầu của bài học.


23


Chuẩn bị trò chơi và các phơng tiện cần thiết

Xây dựng kế hoạch tổ chức
hoạt động học của học sinh
theo phơng pháp trò chơi

ổn định tổ

Kiểm tra sự chuẩn bị của học
sinh chia tổ (tổ trởng và các
thành viên)
Giới thiệu bài, tạo tình huống
(cốt trò)-nêu tên trò chơi (đề
trò)-giải thích nhiệm vụ (hớng
dẫn cách chơi giao nhiệm vụ )

Tổ chức
hớng dẫn
hoạt động
học tập
trên lớp

Tổ chức thực hiện trò chơi
tóm tắt kiến thức mà học
sinh phát hiện

Đánh giá buổi học,
hớng dẫn bài tập về nhà

Thực hiện nhiệm

vụ (hoạt động trò
chơi)
Phát hiện kiến
thức và trao đổi ý
kiến

Chấm, công bố
kết quả chơi

Khái quát bài học,
tổ chức củng cố

Nghe giải thích
và nhận nhiệm
vụ

Tổng kết
hớng dẫn
hoạt động
nối tiếp

Nghe và trao đổi
thảo luận kết quả
chơi
Nhắc lại nội dung
bài học (kiến thức
đã đợc khái quát)
Nhận bài tập
về nhà


- Cốt trò: Trong một vấn đề cần giải quyết của quá trình chơi thì cốt
trò là cái nút là cái mâu thuẫn, tức là tình huống giáo viên đa ra. Khi đã vợt


24
đợc những khó khăn của cái "nút" đó là lúc đã đạt đợc mực đích giáo dục
của trò chơi và yêu cầu của sự rèn luyện. Cũng chính cái nút ấy tạo nên tính
hấp hẫn của trò chơi, khêu gợi tính tò mò, lòng tự tin và thúc đẩy các em
phối hợp hành động để giải quyết một cách tích cực thoải mái và tự nguyện .
Ví dụ: Trò chơi "chiếm cờ"
- Đề trò: Thờng là một câu chuyện khác ngoài "cốt trò" với mục đích
đặt "cốt trò" vào trong một bối cảnh tởng tợng, có mở đầu, có kết thúc. Đề
trò có nghĩa là tên của trò chơi.
Đề trò có tác dụng gây hứng thú đối với ngời chơi và càng thúc đẩy
thêm nhiệt tình của học sinh, làm phát triển óc tởng tợng. Nhng đề trò không
thể thay thế đợc tính hấp dẫn của "cốt trò". Giáo viên khi tổ chức trò chơi
cho học sinh tránh dùng những "đề trò" chung chung, yếu về mặt t tởng,
hoặc là những đề trò quá cổ, không còn thích hợp nữa.
Một cốt trò nhng có thể có nhiều đề trò khác nhau, tuỳ theo yêu cầu
mục đích giáo dục của từng thời kỳ.
Ví dụ: Trò chơi "chiếm cờ" có thể có nhiều đề trò khác nhau
+ Nhân kỷ niệm ngày "Toàn quốc kháng chiến" lấy đề trò:
"Chiến đấu giành cờ chiến thắng Điện Biên Phủ"
+ Phát động cải cách giáo dục lấy đề trò "Chiếm lĩnh ngọn cờ khoa học"
- Luật trò: Chính là những quy định mà bất kỳ ai tham gia đều phải
tuâcn theo đảm bảo cho cuộc chơi công bằng, an toàn và đem lại kết quả nh
mong muốn. Trong quá trình chơi ngời chơi phải tôn trọng luật chơi, phải tự
nén, tự kiềm chế, có ý thức kỷ luật cao.
Ví dụ: Trò chơi "Chiếm cờ"
+ Học sinh khi cha đợc gọi đến số mình thì không đợc bớc

chân ra khỏi đờng ranh giới của mình.
+ Cờ nằm trong vòng tròn không đợc đập, chỉ đợc đập vào vai khi cờ
đã nằm trong tay đối phơng.
- Thởng và phạt: Đây là hình thức nhằm khích lệ ngời chơi cố gắng
hơn và phải nhanh chóng tìm mọi biện pháp để giành kết quả cao nhất về
mình. Muốn cho trò chơi thêm hấp dẫn, lôi cuốn phải có sự thởng phạt phần


25
minh và ngời chơi phải chấp hành hết sức vui vẻ tự nguyện, các đội, các tập
thể và cá nhân chơi tốt, chơi đúng luật, cần đợc phát huy khen thởng.
Hình thức khen thởng trong trò chơi học tập rất đơn giản nh: Một lời
khen, một tràng võ tay, một điểm tốt hay điểm 10.
Còn về phạt cũng rất vui và tế nhị, làm sao cho ngời bị phạt vẫn đợc
tiếp tục chơi, đôi khi phải đợc chơi nhiều hơn để về sau đỡ phạm lỗi. Hình
thức phạt nhẹ nhàng, không làm mất lòng, không làm chạm lòng tự ái của
các em nh bên thua phải hát một bài, hoặc nhảy lò cò một vòng ...
Tóm lại: Khi tổ chức cho các em chơi là tạo điều kiện cho các em tìm
mọi cách vợt khó để thắng cuộc, để giải quyết đợc tình huống mà giáo viên đa
ra. Quá trình diễn biến trò chơi là một quá trình thử thách tập dợt, rèn luyện, đợc lặp đi lặp lại nhiều lần. Qua những lần chơi nh vậy học sinh sẽ nâng cao về
tri thức, thể lực, về lòng tự tin, dũng cảm, tinh thần tập thể và ý chí hành động,
tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, tháo vát ... Điều đó góp phần rất quan trọng
trong nhiệm vụ đào tạo con ngời mới theo đúng mục tiêu, tạo tiền đề cho học
sinh sau này có nhiều khả năng học tập tốt, lao động giỏi.
4.8. Hớng dẫn trò chơi:
- Chọn trò chơi: Giáo viên phải biết lựa chọn trò chơi sao cho
phù hợp với đối tợng, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, phù hợp với sức
khoẻ, trình độ, hoàn cảnh của mỗi lớp học. Ngoài ra giáo viên còn phải lựa
chọn trò chơi phù hợp với nội dung bài học, đặt ra các tình huống cụ thể và
yêu cầu mỗi ngời tham gia trò chơi phải giải quyết những vấn đề trong tình

huống đó. Ngoài ra giáo viên còn phải chú ý đến "tính mục đích" của mỗi trò
chơi. Trò chơi đó nhằm giáo dục kỹ năng nào, hình thành đợc cái gì qua trò
chơi, các em nắm đợc những nội dung gì?
- Chuẩn bị phơng tiện và các điều kiện cho trò chơi
Giáo viên đã chọn đợc trò chơi thì phải hình dung đợc những điều kiện
vật chất và không gian cho phù hợp kể cả những phần thởng, những món quà
cho ngời tham gia chơi và ngời thắng cuộc. Những món quà là niềm động
viên khích lệ để các em hào hứng tham gia vào trò chơi. Giáo viên còn phải
hết sức chú ý bảo quản các cơ sở vật chất, tránh h hỏng thất thoát và đặc biệt
phải đảm bảo sự an toàn cho ngời chơi.


×