Tải bản đầy đủ (.pdf) (182 trang)

đảng bộ bắc kanj thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ nam 2001 den nam 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.66 MB, 182 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

MAI BÍCH HUỆ

ĐẢNG BỘ BẮC KẠN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG

HÀ NỘI - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

MAI BÍCH HUỆ

ĐẢNG BỘ BẮC KẠN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử

Mã số: 60.22.56

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Duy Hạnh

HÀ NỘI - 2013



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 6
3.1. Mục đích nghiên cứu ........................................................................... 6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 6
4.1.Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 6
4.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 7
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu......................... 7
5.1. Cơ sở lý luận ....................................................................................... 7
5.2. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 7
5.3. Nguồn tư liệu ....................................................................................... 7
6. Đóng góp của luận văn .............................................................................. 8
7. Kết cấu của luận văn .................................................................................. 8
CHƢƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC KẠN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY
DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 ............ 9
1.1. Khái quát đặc điểm, tình hình chung của tỉnh Bắc Kạn và công tác xây
dựng đảng trước năm 2001 ............................................................................ 9
1.1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ................................ 9
1.1.2. Tình hình của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn trước năm 2001 .................. 15
1.2 Đảng bộ Tỉnh Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở
đảng từ năm 2001 đến năm 2005 ................................................................. 20
1.2.1. Chủ trương của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về xây
dựng tổ chức cơ sở đảng từ 2001 đến 2005 ............................................. 20
1.2.2. Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển
TCCSĐ từ năm 2001 đến năm 2005 ........................................................ 29
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 45



CHƢƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC KẠN CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN
NHIỆM VỤ XÂY DỰNG TCCSĐ TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 ....... 47
2.1 Công tác xây dựng và phát triển TCCSĐ của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn từ
năm 2005 đến năm 2010. ............................................................................. 47
2.1.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về xây dựng tổ chức cơ sở
đảng từ 2005 đến 2010 ............................................................................. 47
2.1.2 Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng và phát triển
TCCSĐ từ năm 2005 đến năm 2010: ....................................................... 51
2.2. Một số kết quả đạt được........................................................................ 69
2.2.1. Về tổ chức cơ sở đảng .................................................................... 70
2.2.2 Về số lượng và chất lượng đảng viên: ............................................ 76
2.2.3. Một số hạn chế và nguyên nhân: .................................................... 79
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 83
CHƢƠNG 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM CHỦ
YẾU................................................................................................................. 84
3.1. Nhận xét chung ..................................................................................... 84
3.1.1 Về những thành tựu cơ bản ............................................................. 84
3.1.2 Về những hạn chế chủ yếu .............................................................. 98
3.1.3. Nguyên nhân hạn chế ................................................................... 100
3.2 . Những kinh nghiệm chủ yếu.............................................................. 101
Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................ 110
KẾT LUẬN .................................................................................................. 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 113


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH


:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNXH

:

Chủ nghĩa xã hội

ĐCSVN

:

Đảng Cộng sản Việt Nam

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa

TCCSĐ

:

Tổ chức cơ sở đảng

TBCN


:

Tư bản chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến nay là lịch sử của
quá trình Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành và giữ chính quyền, thực hiện các
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cũng là lịch sử phát triển
của chính bản thân Đảng. Hơn tám thập kỷ qua, Đảng Cộng sản Việt Nam
luôn giữ vai trò là lực lƣợng lãnh đạo duy nhất sự nghiệp cách mạng của dân
tộc ta, do đó sự lãnh đạo cũng nhƣ quá trình phát triển của Đảng đều có ý
nghĩa quyết định đối với thành quả cách mạng qua các thời kỳ lịch sử. Trong
quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nƣớc, Đảng ta xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng
Đảng là nhiệm vụ then chốt. Báo cáo về công tác xây dựng Đảng trình Đại
hội lần thứ X đã chỉ rõ: “Tổ chức cơ sở đảng chƣa đƣợc quan tâm chỉ đạo
đúng mức. Một số thôn bản ở vùng sâu, vùng xa chƣa có tổ chức Đảng và
đảng viên. Không ít cơ sở đảng yếu kém, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
thấp; sinh hoạt Đảng và quản lý đảng viên lỏng lẻo, nội dung sinh hoạt nghèo
nàn, tự phê bình và phê bình yếu” [63,tr.62]. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ƣơng lần thứ 6 (Khóa X) tiếp tục nhấn mạnh: “Không ít tổ chức
cơ sở đảng chƣa nhận thức và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của tổ
chức cơ sở đảng. Công tác giáo dục chính trị tƣ tƣởng, bồi dƣỡng lý tƣởng
cách mạng, đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở chƣa đúng mức,
tính định hƣớng, tính chiến đấu và tính giáo dục, thuyết phục chƣa cao. Năng
lực lãnh đạo, sức chiến đấu, khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thể hóa và tổ
chức thực hiện các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nƣớc và của cấp ủy cấp trên của nhiều tổ chức cơ sở đảng còn yếu, chƣa

đủ sức phát hiện, giải quyết những vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở; có tổ chức
cơ sở đảng bị mất sức chiến đấu…”, “Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của

1


Đảng, là cầu nối giữa Đảng với dân, có vị trí rất quan trọng trong hệ thống tổ
chức của Đảng. Toàn Đảng phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để nâng cao năng
lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng” [63, tr.263]. Từ đó có thể
thấy rằng, việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở
đảng không những là yêu cầu thƣờng xuyên, mà còn là vấn đề cấp bách trong
giai đoạn mới hiện nay. Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định " Mỗi
chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân chính trị lãnh đạo quần chúng ở cơ sở,
đoàn kết chặt chẽ, liên kết mật thiết với quần chúng, phát huy đƣợc trí tuệ và
lực lƣợng vĩ đại của quần chúng"[23,tr.3].Tuy nhiên, trƣớc những yêu cầu
nhiệm vụ mới, vai trò lãnh đạo của các tổ chức ở cơ sở cũng đang bộc lộ
nhiều khuyết điểm, hạn chế trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực: ".... năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nhiều nơi vẫn còn yếu, một số
nơi chƣa đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh từ cơ sở. Nội
dung, hình thức sinh hoạt chi bộ còn lúng túng, chậm cải tiến, hiệu quả
thấp..."[61, tr.130]
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới đất nƣớc do Đảng khởi xƣớng
và lãnh đạo đã đạt đƣợc những thành tựu to lớn sớm đƣa nƣớc ta ra khỏi tình
trạng một nƣớc kém phát triển và phấn đấu trở thành một nƣớc công nghiệp
theo hƣớng hiện đại vào năm 2020 trong bối cảnh có nhiều thời cơ, vận hội
vừa có nhiều thách thức gay gắt. Phát triển nhanh, bền vững đất nƣớc, bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trong bối cảnh nền kinh tế thị
trƣờng định hƣớng XHCN đang đi vào chiều sâu, hội nhập kinh tế quốc tế
đang diễn ra trực tiếp và ngày càng mở rộng, đặt ra nhiều yêu cầu mới. Trọng
trách này đặt lên vai Đảng Cộng sản Việt Nam với tƣ cách là chính đảng duy

nhất có sứ mệnh lãnh đạo đất nƣớc, lãnh đạo toàn xã hội - sứ mệnh đƣợc nhân
dân giao cho, đã đƣợc ghi vào Hiến pháp nƣớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam. Vì vậy, trƣớc những yêu cầu mới của sự nghiệp đẩy mạnh CNH,

2


HĐH đất nƣớc, Đảng ta xác định công tác xây dựng đảng có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, trở thành vấn đề then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp
cách mạng của nhân dân ta dƣới sự lãnh đạo của Đảng.
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi Đông Bắc, đất rộng ngƣời thƣa, mới đƣợc
tái lập từ tháng 1/1997. Bắc Kạn đƣợc xếp vào loại những tỉnh nghèo nhất
nƣớc ta, để có thể nhanh chóng phát huy hết thế mạnh của địa phƣơng về tài
nguyên lao động và du lịch, đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng và phát triển bền
vững kinh tế - xã hội… đƣa Tỉnh sớm rút ngắn khoảng cách với các địa
phƣơng khác thì nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay là Đảng bộ Bắc
Kạn phải làm tốt công tác xây dựng Đảng, trong đó tập trung vào việc xây
dựng và phát triển TCCSĐ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
các TCCSĐ ngang tầm với yêu cầu của tình hình mới.
Trong những năm qua Đảng bộ tỉnh và cấp ủy các cấp luôn coi trọng công
tác xây dựng, củng cố TCCSĐ. Nhờ đó, công tác xây dựng TCCSĐ đã đạt nhiều
kết quả quan trọng, số thôn bản chƣa có tổ chức đảng và đảng viên, số chi bộ sinh
hoạt ghép giảm dần. Tuy nhiên, đến cuối năm 2008 Bắc Kạn vẫn còn 4 thôn bản
trắng đảng viên và 448 chi bộ sinh hoạt ghép. Vì vậy, năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của nhiều TCCSĐ thuộc Đảng bộ tỉnh còn nhiều yếu kém, hạn chế.
Trên cơ sở những định hƣớng nghiên cứu đó, chúng tôi quyết định chọn
đề tài: “Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở
đảng từ năm 2001 đến năm 2010” làm đề tài của luận văn bảo vệ thạc sỹ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử nghiên cứu vấn đề xây dựng và phát triển tổ chức cơ sở đảng của

tỉnh Bắc Kạn chƣa có nhiều đề tài nghiên cứu ngoài một số cuốn sách nhƣ:
Lịch sử đảng bộ tỉnh Bắc Kạn tập 1, 2. Bên cạnh đó, có nhiều công trình, bài
viết có liên quan đến vấn đề này nhƣ:

3


- Nhóm đề tài, đề án khoa học cấp Nhà nước:
+ Đề tài khoa học cấp Nhà nƣớc KX 03.04 chƣơng trình khoa học xã hội
cấp nhà nƣớc giai đoạn 2001 - 2005“Xây dựng Đảng trong điều kiện mới”
đƣợc công bố và xuất bản thành sách: “Vấn đề đảng viên và phát triển đảng
viên trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” do GS, TS.
Mạch Quang Thắng làm chủ biên, xuất bản năm 2006.
+ Đề tài khoa học cấp ban đảng, mã số KHBĐ (2007) - 08 về "Nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội
ngũ đảng viên" do TS. Đỗ Ngọc Thịnh làm chủ nhiệm.
+ Đề án "Những giải pháp nhằm củng cố tổ chức cơ sở đảng đối với cấp
uỷ ở các tỉnh miền núi phía bắc", KHBD (2002) - 03 của Trần Ngọc Tín,
Nguyễn Đình Phu .
- Nhóm các bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí:.
Trên các tạp chí Xây dựng Đảng có các bài viết nhƣ: - Phạm Quang
Vịnh: “Xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng ở vùng biển”,số tháng 3 năm
2006; Võ Trọng Việt: “Nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng đồn biên phòng”; số tháng 3 năm 2006; Thu Huyền: “Nghiệm thu đề
tài: Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng trong cơ quan báo chí”, số tháng
8 năm 2006; Tƣơng Thị Hồng Vân: “Đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng xã,
phường, thị trấn ở Đảng bộ Hà Nội”, số tháng 9 năm 2009; Bạch Kim: “Hải
Phòng: Xây dựng tổ chức đảng trong doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã,
trường học ngoài công lập”,số tháng 9 năm 2009; Lê Khả Phiêu :“Kiện toàn tổ
chức, bộ máy của hệ thống chính trị là một nhiệm vụ trong toàn bộ cuộc vận

động xây dựng, chỉnh đốn Đảng” (1999); HồThành Khôi : “Không phải chỉ có tổ
chức cơ sở Đảng yếu kém”(1996)…Ngoài ra, trên báo Điện tử Đảng Cộng sản
Việt Nam, Tạp chí Lý luận Chính trị; Tạp chí Cộng sản cũng có rất nhiều bài
viết về vấn đề xây dựng Đảng,..

4


- Nhóm các đề tài, luận văn, luận án:
Luận văn thạc sĩ lịch sử thuộc trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn – Đại học Quốc gia Hà Nội: “ Đảng Cộng sản Việt Nam với quá trình xây
dựng đội ngũ đảng viên từ năm 1996 đến năm 2006” của tác giả Đặng Thị
Huệ; tác giả Đặng Quang Vinh có đề tài nghiên cứu: “Đảng bộ thành phố Đà
Nẵng xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ năm 1997 - 2006”; tác giả Hà Thị Thu
Hằng với đề tài “Đảng bộ huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ lãnh đạo tổ chức,
xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ năm 1995 đến 2005”; tác giả Nguyễn Thị
Nhung có công trình: “Quá trình xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ
tỉnh Hải Dương từ năm 1997 đến năm 2005”; tác giả Nguyễn Thị Thanh
Huyền có đề tài: “Đảng bộ Hà Tây thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng thời kỳ
1991 - 2000”.... Riêng tỉnh Bắc Kạn cũng đã tổ chức nghiên cứu đề tài về nâng
cao chất lƣợng sinh hoạt chi bộ đảng, đề tài thuộc chƣơng trình Khoa học xã

hội và nhân văn về đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của chi bộ đảng tỉnh Bắc Kạn do đồng chí Đinh Thị Sơn
– Trƣởng ban Tổ chức Cán bộ Tỉnh ủy Bắc Kạn làm chủ nhiệm.
Những công trình nói trên đều đề cập đến những vấn đề chủ yếu, cốt lõi của
công tác xây dựng Đảng. Tuy nhiên, mỗi tác giả tiếp cận vấn đề này ở những góc
độ, khía cạnh khác nhau và có những ý kiến riêng của mình. Đây là những tƣ liệu
mang tính chất nền tảng, cơ sở phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. Cho đến nay,
chƣa có một công trình nghiên cứu chuyên khảo nào về vấn đề xây dựng Đảng nói

chung và xây dựng TCCSĐ nói riêng của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn từ năm 2001 đến
năm 2010. Những năm gần đây, Ban thƣờng vụ Tỉnh ủy Bắc Kạn đã chỉ đạo Ban
tuyên giáo tỉnh ủy Bắc Kạn và Trung tâm bồi dƣỡng chính trị cho ra đời các cuốn
Lịch sử Đảng bộ các xã và Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn nhƣng mới chỉ dừng lại
ở giai đoạn 1945 - 2005. Tuy nhiên, nội dung về công tác xây dựng TCCSĐ chỉ
chiếm một phần nhỏ trong các cuốn sách.

5


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về
công tác xây dựng và phát triển tổ chức cơ sở đảng từ năm 2001 đến năm
2010. Qua đó khẳng định những kết quả đạt đƣợc, hạn chế và rút ra một số
kinh nghiệm chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong
những năm tiếp theo.
- Đề ra một số định hƣớng và đề xuất giải pháp chủ yếu để nâng cao
năng lực và sức chiến đấu của TCCSĐ trong thời gian tới trên địa bàn
tỉnh Bắc Kạn, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phƣơng trong giai đoạn
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ sau:
- Trên cơ sở các nguồn tƣ liệu, trình bày có hệ thống quá trình Đảng bộ
tỉnh Bắc Kạn thực hiện các nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ ở địa phƣơng từ năm
2001 đến năm 2010;
- Từ đó, rút ra những nhận xét về thành tựu, hạn chế và những bài học
kinh nghiệm của quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây
dựng và phát triển TCCSĐ trong những năm 2001 – 2010.
- Đề xuất một số giải pháp xây dựng TCCSĐ tại địa phƣơng trong giai

đoạn tiếp theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
- Là những chủ trƣơng, kế hoạch, biện pháp của Đảng bộ tỉnh, các Ban
Đảng của Tỉnh về việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ từ năm 2001 đến
năm 2010.

6


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu, tìm hiểu quá trình Đảng bộ Bắc Kạn thực hiện
nhiệm vụ xây dựng TCCSĐ. Nhận xét, đánh giá thành tựu, hạn chế và từ đó rút
ra những bài học kinh nghiệm.
Về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010.
Về không gian: Địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
5. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu
5.1. Cơ sở lý luận
Qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, với chủ đề trên, luận văn đƣợc
thực hiện dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nói chung và xây dựng TCCSĐ nói
riêng. Những chủ chƣơng, đƣờng lối của Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nƣớc
hiện nay là cơ sở lý luận chính, cung cấp những quan điểm chỉ đạo cho tác giả
khi nghiên cứu đề tài này.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phƣơng pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phƣơng pháp
nghiên cứu của khoa học lịch sử nói chung, của chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam nói riêng. Cụ thể, luận văn chủ yếu sử dụng các phƣơng
pháp nhƣ: phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp lôgíc, phƣơng pháp thống kê,

phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp mô tả, phân tích và các phƣơng pháp khác
liên quan.
5.3. Nguồn tư liệu
- Các cuốn sách lý luận chung về công tác xây dựng Đảng nói chung và
công tác xây dựng TCCSĐ nói riêng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác –
Lênin, của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

7


- Các nghị quyết, báo cáo tổng kết về công tác xây dựng Đảng của Trung
ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội IX, X, XI.
- Các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, các bản báo cáo về công tác
xây dựng Đảng của tỉnh ủy Bắc Kạn qua từng năm từ năm 2001 đến năm 2010.
- Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ VIII, IX.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống các chủ trƣơng, quan điểm của Đảng, Đảng bộ Bắc Kạn về
công tác xây dựng TCCSĐ từ năm 2001 đến năm 2010
- Đánh giá, nhận xét những thành tựu, ƣu điểm, hạn chế, đề ra một số
giải pháp có tính khả thi để xây dựng TCCSĐ tại địa phƣơng.
- Là nguồn tài liệu tham khảo cho những cán bộ làm công tác chuyên trách
Đảng, giáo viên chính trị và những ngƣời quan tâm nghiên cứu vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng, bao gồm:
Chƣơng 1: Đảng bộ tỉnh Bắc K ạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức
cơ sở đảng từ năm 2001 đến năm 2005.
Chƣơng 2: Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức
cơ sở đảng từ năm 2005 đến năm 2010.
Chƣơng 3: Nhận xét chung và những kinh nghiệm chủ yếu.


8


CHƢƠNG 1
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC KẠN THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG TỔ
CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Khái quát đặc điểm, tình hình chung của tỉnh Bắc Kạn và công
tác xây dựng đảng trƣớc năm 2001
1.1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội
* Về điều kiện tự nhiên:
- Về vị trí địa lý: Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm ở phía đông bắc bộ.
Với tổng diện tích tự nhiên là 4.857,21 km2; phía Bắc giáp Cao Bằng, phía
Nam giáp Thái Nguyên, phía Đông giáp Lạng Sơn, phía Tây giáp Tuyên Quang
và một góc tây bắc giáp với Hà Giang. Thị xã tỉnh lỵ cách Thủ đô Hà Nội 170
km về phía bắc.
- Về địa hình: Là tỉnh miền núi, địa hình Bắc Kạn rất đa dạng, phức tạp,
chủ yếu là khe suối, đồi núi cao; hệ thống sông, suối có độ dốc lớn, nhiều thác
ghềnh; giao thông khó khăn, chủ yếu là đƣờng bộ, tỉnh có quốc lộ 3 đi qua dài
123,5 km, đây là con đƣờng giao thông huyết mạch quan trọng nối liền Bắc
Kạn với các địa phƣơng khác trong khu vực; ngoài ra còn có quốc lộ 279 sang
các tỉnh Tuyên Quang, quốc lộ 3B sang Lạng Sơn và hệ thống giao thông liên
huyện, tạo thành mạng lƣới giao thông phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế văn hoá của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
- Về khí hậu, thuỷ văn: Khí hậu của Bắc Kạn mang đặc điểm khí hậu
nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hƣởng của lục địa Bắc Á Trung Hoa, nhiệt độ
trung bình 22 oC; có hai mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh, khô hạn, mùa hè nóng
ẩm, mƣa nhiều. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm đạt 1.507,8 mm. Độ ẩm
bình quân năm là 85%.

9



Bắc Kạn còn có nhiều danh lam thắng cảnh thiên nhiên: Hồ Ba Bể rộng
450 ha là danh thắng độc đáo. Hồ và vƣờn Quốc gia Ba Bể là di sản thiên nhiên
của Đông Nam Á, với hệ thống rừng nguyên sinh hàng trăm loài thực vật, động
vật quý hiếm,.... không những chỉ giá trị trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên quí giá mà còn có tiềm năng to lớn về du lịch, đóng vai trò
điều tiết nƣớc, điều hoà khí hậu, cung cấp thuỷ sản, phát triển giao thông thuỷ lợi.
- Về dân số: Đến ngày 01 tháng 4 năm 2009 toàn tỉnh có 75.648 hộ, dân
số 294.660 ngƣời, là tỉnh ít dân nhất cả nƣớc; mật độ dân số: 61 ngƣời/km2; có
7 dân tộc gồm: Tày, Kinh, Dao, Nùng, Hoa, Mông, Sán Chay (Cục Thống kê
Bắc Kạn, năm 2009)
- Về tổ chức hành chính: Tỉnh Bắc Kạn đƣợc chia làm 8 đơn vị hành chính
gồm 7 huyện và một thị xã, cụ thể gồm các huyện: Ngân Sơn, Pác Nặm, Ba Bể,
Bạch Thông, Chợ Đồn, Na Rì, Chợ Mới và thị xã Bắc Kạn (huyện Ba Bể, Pác
Nặm là 2 huyện nghèo đƣợc hƣởng chƣơng trình giảm nghèo theo Nghị quyết
30a/2008/NQ-CP của Chính phủ). Toàn tỉnh có 112 xã, trong đó có 63 xã và 96
thôn, bản đặc biệt khó khăn thuộc chƣơng trình 135 của Chính phủ (Uỷ ban
dân tộc miền núi, Quyết định số 05/2007/QĐ-UBDT, ngày 06 – 9 - 2007), 6 thị
trấn, 4 phƣờng và 1.399 thôn, tổ nhân dân.
*Về tình hình kinh tế - xã hội:
- Về kinh tế
+ Sản xuất công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng: Ban Chấp hành Đảng
bộ tỉnh khoá IX đã ban hành nghị quyết về định hƣớng phát triển công nghiệp và
tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành
qui hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản của tỉnh giai đoạn 2007 2010 và định hƣớng đến năm 2020. Thực hiện qui hoạch 3 loại rừng để tạo
nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản. Tỉnh đã quan tâm, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp khắc phục mọi khó khăn để đẩy mạnh sản xuất, kinh
10



doanh, song do nhiều nguyên nhân khác nhau nên sản xuất công nghiệp phát triển
chƣa tƣơng xứng với tiềm năng của tỉnh.
+ Về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và phát triển đô thị: Đến nay hầu hết
các đô thị và cụm dân cƣ nông thôn đã có qui hoạch chung và qui hoạch chi tiết.
Các đô thị nhất là thị xã Bắc Kạn đã từng bƣớc hoàn thiện kỹ thuật hạ tầng. Năm
2009 đã có 87,5% số xã có điểm bƣu điện văn hoá, số hộ dân đƣợc sử dụng điện
lƣới Quốc gia là: 85%, số hộ dân đƣợc sử dụng nƣớc hợp vệ sinh đạt 75%, số xã
có trạm truyền hình đạt 90,2%, và có 100% số xã đã có đƣờng ô tô đến trung
tâm xã.
+ Sản xuất nông, lâm nghiệp: Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có
nhiều chủ trƣơng, giải pháp khuyến khích phát triển nông lâm nghiệp nhƣ
trích ngân sách để phòng, chống bệnh dịch gia súc, hỗ trợ lãi xuất phát
triển chăn nuôi trâu bò; hỗ trợ vốn xây dựng mô hình đạt giá trị thu nhập
30 triệu đến 50 triệu đồng/ha, tiếp tục thực hiện trợ cƣớc, trợ giá các loại
giống, vật tƣ phục vụ sản xuất... nên sản lƣợng nông nghiệp đạt kết quả
khá. Tốc độ tăng trƣởng chung của ngành trong những năm qua đều đạt và
vƣợt chỉ tiêu đã đề ra.
+ Về thƣơng mại, du lịch: Hoạt động thƣơng mại diễn ra sôi động, công
tác phát triển thị trƣờng luôn đƣợc đầu tƣ phát triển. Tổng mức luân chuyển
hàng hoá bán lẻ trên địa bàn năm 2009 là: 1.528 tỷ đồng. Du lịch đƣợc xác
định là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Bắc Kạn, nên tiềm năng du lịch bƣớc
đầu đã đƣợc quân tâm đầu tƣ và khai thác có hiệu quả.
+ Tài chính, tín dụng: Quản lý, khai thác có hiệu quả các nguồn thu trên
địa bàn và kết quả thu ngân sách hằng năm đều vƣợt dự toán đề ra (năm 2007
đạt 123,3 tỷ đồng, vƣợt 12,1% kế hoạch; năm 2008 đạt 154,2 tỷ đồng, vƣợt
13,3% kế hoạch; năm 2009 đạt 177,110 tỷ đồng bằng 100,7% kế hoạch).

11



Hoạt động ngân hàng luôn có chuyển biến tích cực, nguồn vốn huy động
và tổng dƣ nợ cho vay tăng trƣởng khá. Tổng vốn huy động bình quân 3 năm
gần đây tăng 28,6%/năm; tổng dƣ nợ cho vay tăng bình quân 33,8%/năm. Tốc
độ tăng trƣởng kinh tế bình quân của tỉnh trong 5 năm (2005 - 2010) khá cao đạt
11%, thu nhập bình quân đầu ngƣời không ngừng đƣợc nâng cao, đời sống của
nhân dân nhìn chung đã đƣợc cải thiện và nâng cao hơn; tuy nhiên một bộ phận
đồng bào các dân tộc ở vung cao, vùng sâu còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ
nghèo còn cao (năm 2010: 19,86%).
- Về văn hoá - xã hội
+ Giáo dục và đào tạo: Công tác giáo dục đào tạo luôn đƣợc quan tâm
lãnh đạo, thực hiện có két quả tốt; đến nay tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đào tạo ở
các cấp phổ thông từ 90% trở lên, toàn tỉnh đã có 27 trƣờng ở các cấp học đạt
chuẩn quốc gia, 116 xã, phƣờng, thị trấn của 8 huyện, thị đạt chuẩn phổ cập
giáo dục bậc trung học cơ sở. Đã thực hiện tốt công tác chống tiêu cực trong
thi cử và bệnh thành tích trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Mặc dù kết quả
thi tốt nghiệp trung học phổ thông còn thấp so với cả nƣớc nhƣng tỉ lệ học
sinh thi đỗ vào các trƣờng đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp
tăng hơn so với trƣớc. Đã thành lập trƣờng cao đẳng cộng đồng, trƣờng
trung cấp y và trƣờng trung cấp nghề nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và đào
tạo của nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
+ Y tế: Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân đƣợc quan tâm, mạng lƣới y
tế từ tỉnh đến cơ sở đƣợc củng cố, kiện toàn. Việc thực hiện các chƣơng trình,
mục tiêu quốc gia về y tế và phòng chống dịch bệnh đạt kết quả tốt, tỉ lệ trẻ em
dƣới 5 tuổi bị suy dinh dƣỡng năm 2009 giảm xuống còn 26,5%; 100% trạm y
tế xã, phƣờng, thị trấn đƣợc dựng kiên cố, bán kiên cố; chất lƣợng khám chữa
bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân trên địa bàn tỉnh không ngừng đƣợc
nâng cao.
12



+ Lao động, việc làm và các vấn đề xã hội: Công tác lao động, giải quyết
việc làm gắn với chƣơng trình xoá đói, giảm nghèo đƣợc quan tâm thƣờng
xuyên thông qua các dự án vay vốn tạo việc làm cho ngƣời lao động tại các
doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh; công tác tạo việc làm mới hằng năm đều
đạt chỉ tiêu đề ra và đến năm 2009 đã tạo việc làm mới cho 6.000 lao động,
đạt 100% kế hoạch đề ra. Tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chuẩn mới) đã giảm từ
50,87% năm 2005 đến năm 2009 xuống còn 25,82% . Các chính sách đối với
thƣơng binh, gia đình liệt sĩ, ngƣời có công với cách mạng đƣợc thực hiện tốt.
Công tác bảo trợ xã hội đƣợc quan tâm nhƣ việc cứu đói, cứu trợ trong các kỳ
giáp hạt, tết, cứu trợ thƣờng xuyên cho các đối tƣợng cần đƣợc hỗ trợ và cứu
trợ đột xuất cho đối tƣợng do bị thiên tai, hoả hoạn...
Các chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nƣớc luôn đƣợc triển
khai thực hiện tốt tại địa phƣơng nhƣ: Chƣơng trình 134, 135 và trợ cƣớc các
mặt hàng chính sách; bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng của nhân dân đúng quy
định pháp luật. Năm 2009 tỉnh đã tổ chức thành công Đại hội đại biểu các dân
tộc thiểu số tỉnh Bắc Kạn lần thứ nhất.
- Quốc phòng - an ninh
+ Lực lƣợng quân sự địa phƣơng luôn đƣợc quan tâm xây dựng vững
mạnh, hằng năm đều thực hiện tốt các chỉ tiêu tuyển quân, huấn luyện, đào tạo,
bồi dƣỡng kiến thức quốc phòng, tuyển sinh quân sự theo kế hoạch; công tác
xây dựng củng cố và diễn tập khu vực phòng thủ đƣợc thực hiện đúng kế hoạch
đề ra. Công tác xây dựng dân quân, tự vệ thƣờng xuyên đƣợc quan tâm chú trọng.
+ Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đƣợc đảm bảo. Thực
hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, an ninh tƣ tƣởng, an ninh văn hoá, an
ninh kinh tế. Thực hiện có hiệu quả chƣơng trình quốc gia phòng chống tội
phạm; chƣơng trình hành động phòng, chống ma tuý,…tỷ lệ điều tra khám

13



phá án hằng năm đều đạt từ 85% trở lên, phong trào quần chúng bảo vệ an
ninh tổ quốc đƣợc triển khai rộng khắp. Công tác tuyên truyền về an toàn giao
thông, kiểm tra và xử lý các vụ vi phạm an toàn giao thông đƣợc thực hiện
thƣờng xuyên. Tuy nhiên tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn còn
diễn biến phức tạp.
* Về hệ thống Chính trị của tỉnh Bắc Kạn:
Hệ thống chính trị của tỉnh đƣợc thống nhất theo hệ thống chính trị của
cả nƣớc, cụ thể nhƣ sau:
-Tổ chức đảng: Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn có 11 đảng bộ trực thuộc (7
huyện, 01 thị xã và 3 đảng bộ trực thuộc ở tỉnh); thực hiện Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc
Kạn lần thứ IX, trong những năm qua, cấp ủy các cấp đã đổi mới mạnh mẽ
phƣơng thức lãnh đạo, lề lối làm việc, đặc biệt là trong chỉ đạo, điều hành
phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và công tác xây dựng đảng,
chính quyền, đoàn thể vững mạnh. Thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội
năm sau cao hơn năm trƣớc.
- Tổ chức chính quyền: Hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân đƣợc tổ
chức theo đơn vị hành chính 3 cấp: Cấp tỉnh; cấp huyện, thị và cấp cơ sở.
+ Cấp huyện, thị có 8 đơn vị là: Pác Nặm, Ngân Sơn, Ba Bể, Chợ Đồn,
Bạch Thông, Na Rì, Chợ Mới và thị xã Bắc Kạn
+ Cấp cơ sở: Toàn tỉnh có 112 xã, 4 phƣờng, 6 thị trấn.
Hội đồng nhân dân các cấp trong những năm qua đã có những quyết định
chủ trƣơng, biện pháp quan trọng về phát huy tiềm năng của địa phƣơng, xây
dựng và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh - quốc phòng ở địa
phƣơng, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân,
làm tròn nghĩa vụ của địa phƣơng đối với Nhà nƣớc. Thực hiện quyền giám
14



sát đối với hoạt động của thƣờng trực hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân,
toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các
nghị quyết của hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ
quan Nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
của công dân địa phƣơng.
Uỷ ban nhân dân các cấp đã thực hiện đúng chức năng quản lý Nhà nƣớc,
phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh - quốc phòng và thực hiện có hiệu quả
các chính sách trên địa bàn; góp phần bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng.
- Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng (đoàn thanh niên, hội phụ
nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh và công đoàn) là các thành viên trong hệ
thống chính trị đƣợc tổ chức theo đơn vị hành chính 3 cấp: Cấp tỉnh, cấp
huyện, thị và cơ sở xã, phƣờng, thị trấn theo quy định của luật và điều lệ của
mỗi tổ chức.
Trong những năm qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã vận động
đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân các dân tộc chấp hành tốt chủ
trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc, phát triển kinh tế - xã
hội, xoá đói, giảm nghèo, làm giàu chính đáng; xây dựng tổ chức đoàn thể
vững mạnh và làm tốt công tác xây dựng Đảng, giới thiệu đoàn viên, hội viên
ƣu tú cho Đảng để bồi dƣỡng trở thành đảng viên. Đẩy mạnh phong trào "Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư", làm tốt công tác vận
động quần chúng theo phƣơng châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"
trong quá trình xây dựng, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách
1.1.2. Tình hình của Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn trước năm 2001
- Bắc Kạn trong thời kỳ kháng chiến
Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo nhân dân

15



Việt Nam đấu tranh giành độc lập. Trong quá trình vận động cách mạng, tỉnh
Bắc Kạn đã vinh dự là một trong những tỉnh nằm trong khu giải phóng Việt
Bắc, là nơi "Nƣớc Việt Nam mới phôi thai".
Khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, dƣới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ,
nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đƣợc giác ngộ đã sớm giành đƣợc chính quyền,
Bắc Kạn là thị xã đầu tiên trong cả nƣớc đƣợc giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954), thị xã Bắc
Kạn đƣợc mệnh danh là "Thủ đô kháng chiến". Tỉnh Bắc Kạn đƣợc Trung ƣơng Đảng chọn xây dựng thành khu an toàn (ATK), căn cứ địa của cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc.
Tổ chức Đảng ở Bắc Kạn phát triển chậm so với các địa phƣơng khác
trong cả nƣớc. Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh mang tên chi bộ Chí Kiên đã
thành lập vào cuối tháng 9 năm 1943 tại bản Duồm, xã Thƣợng Ân, huyện
Ngân Sơn với 03 đảng viên, đánh dấu bƣớc phát triển mới phong trào cách
mạng ở Bắc Kạn. Sau tháng 8-1945, không kể số cán bộ biệt phái của Trung ƣơng và Xứ uỷ, toàn Đảng bộ chỉ có 21 đảng viên. Tuy vậy, từ nửa cuối tháng
8 đến đầu tháng 9-1945, Đảng bộ vẫn cung cấp cho Trung ƣơng và Xứ uỷ
nhiều cán bộ đảng viên có kinh nghiệm vận động quần chúng. Cuối tháng 91945, Đảng bộ Bắc Kạn chỉ còn 8 đảng viên. Trƣớc tình hình đó, việc tăng
cƣờng xây dựng Đảng là yêu cầu cấp bách của phong trào cách mạng địa
phƣơng. Trong khi đó, trên bình diện chung của cả nƣớc, để bảo vệ Đảng,
đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nƣớc Cộng hoà non trẻ, ngày 1111-1945, Đảng tuyên bố giải tán, rút vào hoạt động bí mật. Đảng bộ Bắc Kạn
cũng nhanh chóng chuyển hoạt động của bộ máy các cấp phù hợp với tình
hình mới, đáp ứng yêu cầu vừa bảo toàn, vừa phát triển lực lƣợng, không
ngừng tự hoàn thiện để đủ sức lãnh đạo nhân dân, giữ vững chính quyền.

16


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc, Bắc Kạn vinh
dự là tỉnh đầu tiên đƣợc giải phóng (24/8/1949). Nhiều địa danh của tỉnh đã
thành di tích lịch sử, văn hoá, gắn liền với chiến công của quân đội nhân dân
và các dân tộc Phủ Thông, Đèo Giàng, Nà Tu,...Trong chặng đƣờng xây dựng

và chiến đấu gian khổ hy sinh, nhiều cá nhân, tập thể đã đƣợc Đảng và Nhà
nƣớc phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân.
Với vai trò là căn cứ địa cách mạng, Bắc Kạn hết lòng cƣu mang đùm
bọc đồng bào tản cƣ; giúp đỡ bộ đội, cơ quan, xí nghiệp, kho tàng của Trung ƣơng sơ tán; bảo vệ lãnh tụ, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nƣớc.
Khi chiến sự lan rộng đến địa phƣơng, quân và dân Bắc Kạn đã tiến hành
tiêu thổ kháng chiến với chiến lƣợc "vƣờn không, nhà trống", phá huỷ giao thông
và tham gia cùng bộ đội chủ lực đánh địch. Trong chiến dịch Việt Bắc (Thu Đông năm 1947), suốt hai năm đánh địch trên mặt trận đƣờng số 3 nổi tiếng cũng
nhƣ quá trình tiễu phỉ bảo vệ quê hƣơng, nhiều gƣơng chiến đấu hy sinh oanh liệt
đƣợc cả nƣớc biết đến, nhiều tên núi, tên sông đã trở thành địa danh lịch sử, gắn
với những chiến công hiển hách nhƣ Phủ Thông, Đèo Giàng... Cuộc chiến đấu
kiên cƣờng của quân và dân ta buộc thực dân Pháp phải rút chạy, Bắc Kạn trở
thành tỉnh đầu tiên đƣợc giải phóng. Sự kiện lịch sử vẻ vang này đƣợc Đảng đánh
giá cao, đƣợc Bác Hồ gửi thƣ khen ngợi. Trong thƣ, Bác đã khẳng định "Cuộc
thắng lợi này sẽ làm đà cho những thắng lợi khác to lớn hơn, vẻ vang hơn".
Sau giải phóng (tháng 8 năm 1949), nhân dân các dân tộc Bắc Kạn hăng
hái khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thƣơng chiến tranh, tích cực đóng góp sức
ngƣời, sức của cho kháng chiến. Một năm sau ngày giải phóng, Bắc Kạn trở
thành địa phƣơng dẫn đầu trong phong trào thi đua kháng chiến kiến quốc.
Năm 1950, Bắc Kạn đƣợc Chính phủ tặng Huân chƣơng Kháng chiến hạng
Ba, đƣợc vinh dự giữ cờ luân lƣu "Đơn vị có phong trào thi đua khá nhất" do
Hồ Chủ tịch trao tặng.
17


Với vai trò và nhiệm vụ là căn cứ địa cách mạng, nhân dân các dân tộc
tỉnh Bắc Kạn đã dồn sức chi viện cho tiền tuyến. Trong hơn tám năm kháng
chiến, nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn đã đóng góp hơn 3 triệu ngày công
trực tiếp phục vụ chiến đấu. Các đoàn thể chính trị, nhất là Hội Phụ nữ đã
thành công trong việc phát động phong trào toàn dân xây dựng lực lƣợng vũ
trang. Trong hai năm 1952 - 1953, phong trào hũ gạo nuôi quân và mùa đông

binh sĩ đã ủng hộ bộ đội hơn 2.000 tấn lƣơng thực, 2.633 chiếc chăn và áo
ấm. Hàng nghìn thanh niên con em các dân tộc đã lên đƣờng nhập ngũ. Nhiều
đơn vị bộ đội địa phƣơng, du kích tập trung đã lập công xuất sắc, đƣợc phong
tặng nhiều huân chƣơng, huy chƣơng và danh hiệu cao quý, góp phần làm nên
thắng lợi của cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lƣợc.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc cũng nhƣ trong cuộc chiến
đấu bảo vệ Tổ quốc, nhân dân các dân tộc và lực lƣợng vũ trang tỉnh Bắc Kạn
luôn thực hiện tốt vai trò tỉnh căn cứ địa, nhiều đơn vị, cá nhân lập công xuất
sắc, đƣợc phong tặng nhiều danh hiệu cao quý.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong các cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngày 2-10-2000, Chủ tịch nƣớc Trần
Đức Lƣơng đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lƣợng vũ
trang nhân dân cho nhân dân và lực lƣợng vũ trang tỉnh Bắc Kạn. 5 huyện, thị
xã Bắc Kạn và 17 xã trong tỉnh cũng đƣợc Nhà nƣớc phong tặng danh hiệu
Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân.
- Bắc Kạn trong quá trình xây dựng và đổi mới : Để đáp ứng yêu cầu là
hậu phƣơng lớn chi viện cho miền Nam đánh Mỹ, ngày 21-4-1965, Uỷ ban
Thƣờng vụ Quốc hội nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nƣớc Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra Quyết định số 103/NĐ-TVQH thành lập
tỉnh Bắc Thái trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Ngày 144-1967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 50/CP đổi thị xã Bắc Kạn
18


thành thị trấn Bắc Kạn trực thuộc huyện Bạch Thông. Ngày 29-12-1978, kỳ
họp Quốc hội thứ tƣ khoá VI đã quyết định phân địa giới Bắc Thái và Cao Bằng,
tách 2 huyện Ngân Sơn và Chợ Rã của tỉnh Bắc Thái nhập vào tỉnh Cao Bằng.
Ngày 16-7-1990, Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Chính phủ) ban hành
Quyết định số 262/HĐBT "Giải thể thị trấn Bắc Kạn thuộc huyện Bạch Thông
để thành lập thị xã Bắc Kạn thuộc tỉnh Bắc Thái". Đáp ứng nguyện vọng của
nhân dân các dân tộc và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ đổi

mới. Ngày 6-11-1996, Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ mƣời đã phê chuẩn việc
chia lại địa giới hành chính của một số tỉnh. Trong đó, tỉnh Bắc Thái đƣợc
chia thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn.
Ngày 1-1-1997, tỉnh Bắc Kạn chính thức đƣợc tái lập. Các huyện Ngân
Sơn, Ba Bể (Chợ Rã) tái nhập lại vào tỉnh Bắc Kạn. Tháng 8-1998, thành lập
thêm huyện Chợ Mới trên cơ sở tách từ phần đất phía Nam huyện Bạch
Thông. Ngày 28-5-2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định 56/2003/NĐ-CP
về việc thành lập huyện Pắc Nặm trên cơ sở tách huyện Ba Bể. Nhƣ vậy, trải
qua không ít những thay đổi về địa dƣ hành chính, hiện nay, tỉnh Bắc Kạn
đƣợc chia làm 8 đơn vị hành chính bao gồm 7 huyện (Bạch Thông, Chợ Đồn,
Chợ Mới, Ba Bể, Ngân Sơn, Na Rì, Pắc Nặm) và thị xã Bắc Kạn.
Phát huy truyền thống yêu nƣớc, truyền thống cách mạng vẻ vang, trong
thời kỳ xây dựng và phát triển đất nƣớc, đặc biệt từ khi tái lập tỉnh đến nay,
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Bắc Kạn đã không ngừng phấn
đấu vƣơn lên khắc phục khó khăn, giành đƣợc nhiều thành tựu mới trên các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, nhanh chóng đƣa Bắc Kạn tiến
kịp các tỉnh miền xuôi.
Nhân dịp kỷ niệm tròn 100 năm thành lập tỉnh Bắc Kạn , ngày 2-10-2000
Chủ tịch nƣớc đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lƣợng vũ trang Nhân

19


dân cho đồng bào và lực lƣợng vũ trang tỉnh Bắc Kạn do có thành tích đặc
biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây là thành quả
lớn lao của nhân dân trong cuộc kháng chiến trƣờng kỳ đã đƣợc Đảng, Nhà
nƣớc ghi nhận. Phát huy truyền thống đoàn kết trong lịch sử, phát huy truyền
thống đấu tranh cách mạng, 5 năm qua, kể từ ngày tái lập tỉnh, đồng bào các
dân tộc đã không ngừng phấn đấu vƣơn lên, giành đƣợc nhiều thành tựu mới
trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội.

1.2 Đảng bộ Tỉnh Bắc Kạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ
sở đảng từ năm 2001 đến năm 2005
1.2.1. Chủ trương của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về
xây dựng tổ chức cơ sở đảng từ 2001 đến 2005
* Một số khái niệm cơ bản về TCCSĐ:
- Quan điểm của Mác – Lê nin về TCCSĐ:
Mặc dù C.Mác và Ph.Ăngghen chƣa đề cập đến khái niệm TCCSĐ, nhƣng
các ông là những ngƣời đầu tiên đƣa ra những tƣ tƣởng, quan điểm về vị trí, vai
trò, tầm quan trọng của các tổ chức đảng ở cơ sở (chi bộ), đồng thời cũng là
những ngƣời trực tiếp xây dựng những chi bộ đầu tiên của “Đồng minh những
ngƣời cộng sản” - Đảng Cộng sản đầu tiên trên thế giới. Những tƣ tƣởng cơ bản
của C. Mác và Ăng ghen về vị trí, vai trò của tổ chức đảng ở cơ sở trong hệ
thống tổ chức Đảng bƣớc đầu hình thành với những quy định trong Điều lệ của
“Hội liên hiệp công nhân quốc tế” do hai ông khởi thảo, trong đó đã xác định:
Nhiều chi bộ hợp thành một công xã gồm từ ba đến hai mƣơi thành viên, đó là
“hạt nhân” của công tác chính trị của Đảng trong quần chúng lao động. Đảng
phải “Biến mỗi chi bộ của mình thành trung tâm và hạt nhân của các hiệp hội
công nhân, trong đó, lập trường và lợi ích của giai cấp vô sản có thể đưa ra
thảo luận độc lập với những ảnh hưởng tư sản” [16, tr.348]. Đó là những quan
niệm đầu tiên của Mác và Ăng ghen về vị trí, vai trò của TCCSĐ.
20


×