Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

Đảng bộ tỉnh hải dương lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ nam 2001 den nam 2013 pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (844.85 KB, 99 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
––––––––––––––––––

PHẠM THỊ YẾN

ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2013

\\\\

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
––––––––––––––––––

PHẠM THỊ YẾN

ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15


Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS CAO VĂN LIÊN

Hà Nội - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Cao Văn Liên, có kế thừa một số kết quả nghiên cứu
liên quan đã được công bố. Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực,
đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn
của mình.

Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2015
Học viên

Phạm Thị Yến


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, em xin chân thành
cảm ơn sự dạy dỗ của các thầy cô giáo khoa Lịch sử của Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Cao Văn Liên, cán bộ
giảng dạy khoa Lịch sử Đảng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt
quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn.

Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2015
Học viên


Phạm Thị Yến

Ph


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 6
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn ............................................................. 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 11
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................... 11
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................. 12
7. Kết cấu của luận văn ................................................................................ 12
NỘI DUNG ................................................................................................. 13
Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 ................. 13
1.1. Một số vấn đề chung về giáo dục và đào tạo .......................................... 13
1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển giáo dục và đào
tạo từ năm 2001 đến năm 2005..................................................................... 27
1.3. Quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ
tỉnh Hải Dương từ năm 2001 đến năm 2005 ................................................. 35
1.4. Kết quả đạt được của tỉnh Hải Dương về phát triển giáo dục và đào tạo từ
năm 2001 đến năm 2005 .............................................................................. 39
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013.................. 45
2.1. Bối cảnh chung của giáo dục và đào tạo tỉnh Hải Dương đến trước năm
2006 ............................................................................................................. 45
2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về phát triển giáo dục và đào

tạo từ năm 2006 đến năm 2013..................................................................... 46

1


2.3. Quá trình chỉ đạo thực hiện phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ
tỉnh Hải Dương từ năm 2006 đến năm 2013 ................................................. 53
2.4. Kết quả đạt được của tỉnh Hải Dương về phát triển giáo dục và đào tạo từ
năm 2006 đến năm 2013 .............................................................................. 58
Chương 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ........................ 70
3.1. Một vài nhận xét .................................................................................... 70
3.2. Kinh nghiệm .......................................................................................... 77
KẾT LUẬN ................................................................................................. 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 90

2


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐQG-XHHT

Ban Chỉ đạo quốc gia xây dựng xã hội học tập

BCT/TW

Bộ chính trị/Trung ương

CT-BGDĐT

Chỉ thị-Bộ Giáo dục và Đào tạo


CT-UBND

Chỉ thị-Uỷ ban nhân dân

CT/TTg

Chỉ thị/Thủ tướng Chính phủ

CT/TW

Chỉ thị/Trung ương

KH/TU

Kế hoạch/Tỉnh ủy

NQ/TW

Nghị quyết Trung ương

NXB

Nhà xuất bản

QH10

Quốc hội khóa 10

QĐ-BGDĐT


Quyết định-Bộ Giáo dục và Đào tạo

QĐ-UBND

Quyết định-Ủy ban nhân dân

3


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số trường và số học sinh (sinh viên) từ 2001 đến
2005……………………………………………………………………
Bảng 1.2: Số học sinh giỏi quốc gia, quốc tế từ 2001 đến
2005……………………………………………………………………
Bảng 1.3: Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở từ năm 2001 đến
năm 2005………………………………………………………………
Bảng 1.4: Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông từ năm 2001
đến năm 2005………………………………………..........................
Bảng 1.5: Số giáo viên (giảng viên) từ năm 2001 đến năm
2005……………………………………………………………………
Bảng 2.1: Số trường học, lớp học, phòng học mầm non……………...
Bảng 2.2: Số trường học phổ thông…………………………………...
Bảng 2.3: Số học sinh phổ thông……………………………………...
Bảng 2.4: Số học sinh trung cấp chuyên nghiệp………………………
Bảng 2.5: Số sinh viên cao đẳng………………………………………
Bảng 2.6: Số trường đại học………………………………………….
Bảng 2.7: Số sinh viên đại học………………………………………...
Bảng 2.8: Số giáo viên mầm non……………………………………...
Bảng 2.9: Số giáo viên phổ thông………………………………..........

Bảng 2.10: Số giảng viên trung cấp chuyên nghiệp…………………...
Bảng 2.11: Số giảng viên cao đẳng…………………………………...
Bảng 2.12: Số giảng viên đại học………………………………..........
Bảng 2.13: Học sinh phổ thông bình quân một giảng viên và số học
sinh bình quân một lớp học phân theo cấp học………………………..
Bảng 2.14: Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông năm học
2011 - 2012 phân theo huyện/xã/thành phố thuộc tỉnh Hải
Dương………………………………………………………………….
Bảng 2.15: Số lượng học sinh giỏi quốc gia quốc tế từ năm học 2005
- 2006 đến năm học 2010 - 2011…………………………....................
Bảng 3.1: Tỷ lệ học sinh phổ thông lưu ban, bỏ học phân theo cấp
học……………………………………………………………………..
Bảng 3.2: Số học sinh phổ thông theo học lớp xóa mù chữ, bổ túc văn
hóa phân theo cấp học…………………………………………………

4

39
40
41
41
42
58
59
59
60
60
61
61
63

63
63
64
64
65

66
67
74
75


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế hệ ngày nay, nhiều người biết đến bài văndo Thân Nhân Trung viết để
khắc chotấm bia tiến sĩ đầu tiên ở văn miếu, ông đã ghi nhận về trí thức:“Hiền
tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng
thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương
thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun
trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết”[68, tr. 2].Hiền tài là nguyên
khí, sức mạnh của mỗi quốc gia. Đất nước muốn hưng thịnh phải nhờ vào trí
thức.Vì vậy, phát triển giáo dục và đào tạo sẽ nâng cao mặt bằng dân trí, yếu
tố thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia. Sự phát triển của
giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra một nguồn nhân lực có đạo đức và trí tuệ cao đáp
ứng yêu cầu của sự phát triển, đặc biệt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Giáo dục và đào tạo là môi trường để phát triển và bồi dưỡng nhân tài
cho đất nước. Loài người đang sống trong thế kỉ XXI, thế kỉ mà trí tuệ đóng
vai trò quyết định.Vì vậy, hơn bao giờ hết các quốc gia đang dành nguồn nhân
lực tối đa cho phát triển, nâng cao chất lượng của giáo dục quốc dân.

Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp chăm sóc và
phát huy yếu tố con người. Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc những giá
trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của yếu tố con người, chủ thể của tất cả
những sáng tạo, những nguồn của cải vật chất và văn hóa, những nền văn
minh của các quốc gia. Xây dựng và phát triển con người có trí tuệ cao,
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là
động lực đồng thời cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Để đạt được điều
đó, giáo dục và đào tạo có vai trò quyết định. Nhận thức vai trò của giáo dục
và đào tạo, Nghị quyết của Hội nghị ban Chấp hành Trung ương lần thứ

5


2khóa VIII đã khẳng định: "Thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu”[42, tr. 29]và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung
ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc
tế.
Các tỉnh muốn phát triển nhanh chóng phù hợp với yêu cầu của đất nước
thì Đảng bộ các tỉnh trong đó có tỉnh Hải Dương cần tích cực triển khai Nghị
quyết trong thực tiễn để sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh nhà ngày đáp
ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
khu vực và quốc tế.
Từ năm 2001 đến năm 2013 là chặng đường Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh
đạo phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh bước qua những khó khăn
và đạt được những thành tựu quan trọng. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Đảng
bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 2001 đến
năm 2013” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm tổng kết quá trình lãnh
đạo phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ năm 2001 đến

năm 2013; nhận xét một cách khách quan những thành tựu và hạn chế về lãnh
đạo phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương; kinh nghiệm
khắc phục những hạn chế trong lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo góp phần
phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh giai đoạn tiếp theo.
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục và đào tạo là vấn đề quan trọng được quan tâm bởi các nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề
này dưới nhiều góc độ khác nhau được thể hiện bằng các hình thức như: đề tài
khoa học, giáo trình, bài báo, tạp chí…Liên quan đến đề tài luận văn, có thể
khái quát một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu ở năm nhóm chủ yếu sau:

6


Nhóm thứ nhất,các công trình khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận
chung về giáo dục và đào tạo:
1. “Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo” đây là công trình do Lê Văn Tích
biên soạn nhằm tập hợp những công trình của các nhà khoa học nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo, tác phẩm đã cung cấp đầy đủ và hệ
thống tư liệu quý gồm những bài nói, bài viết của Bác về công tác giáo dục và đào
tạo. Ngoài ra, tác phẩm còn giới thiệu những bài nói bài viết của các nhà lãnh đạo
Đảng, Nhà nước và một số nhà khoa học nước ta trong nghiên cứu, học tập và vận
dụng tư tưởng của Người về giáo dục và đào tạo.
2. Công trình nghiên cứu “Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp giáo dục
và đào tạo” do GS.TS. Phan Ngọc Liên chủ biên đã khái quát được quan điểm
chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các Đại hội về giáo dục và đào tạo.
Nhóm thứ hai, các công trình khoa học nghiên cứu về giáo dục và đào tạo
nước ngoài:
1. Công trình nghiên cứu “Về giáo dục và đào tạo - Đôi điều ghi lại” của
tác giả Trần Văn Nhung gồm những bài viết về giáo dục và đào tạo trong nước và

quốc tế. Trình bày một số vấn đề trong quan hệ quốc tế về giáo dục và đào tạo.
2. Bài viết “Kinh nghiệm và thành tựu phát triển giáo dục và đào tạo trên
thế giới” của tác giả Nguyễn Tiến Đạt trình bày về giáo dục và đào tạo ở các khu
vực văn hóa châu Âu và châu Á nhằm cung cấp một số tri thức về các hệ thống
giáo dục của các nước tiêu biểu cho các khu vực văn hóa khác nhau ở từng châu
lục như: Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản…Những kinh nghiệm về thành
tựu phát triển giáo dục và đào tạo của các nước này.
Nhóm thứ ba, các công trình nghiên cứu tổng kết thực tiễn quá trình giáo
dục và đào tạo:
1. Cuốn “10 năm phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam qua các con
số 2001 -2011”nhằm tổng hợp số liệu về chất lượng và số lượng trường, lớp,

7


học sinh, giáo viên từng cấp học trong 10 năm qua (từ năm học 2001 - 2002
đến năm học 2010 - 2011) của toàn quốc và từng tỉnh, thành phố.
2. Công trình nghiên cứu“Giáo dục Việt Nam 1945 - 2010” là công
trình khái quát về lịch sử giáo dục và đào tạo Việt Nam trong giai đoạn 1945 2005 và đưa ra số liệu thống kê về giáo dục và đào tạo qua các thời kỳ, rút ra
những thành tựu và hạn chế của giáo dục và đào tạo từng giai đoạn.
Nhóm thứ tư, các công trình khoa học tổng kết quá trình lãnh đạo giáo dục
và đào tạo trên địa bàn một số địa phương:
1. Công trình “Giáo dục và đào tạo Bắc Ninh trên đường phát triển”
nghiên cứu về các văn bản gần đây nhất của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về giáo
dục và đào tạo, các chương trình, quy hoạch phát triển giáo dục, những chính
sách khuyến học của tỉnh... Những kinh nghiệm của ngành giáo dục, các
gương mặt tiêu biểu của ngành giáo dục tỉnh Bắc Ninh.
2. Cuốn “Giáo dục và đào tạo tỉnh Thái Nguyên.Thành tựu và chiến
lược phát triển” nhằm giới thiệu các bài viết và hình ảnh về những thành tựu
của ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Thái Nguyên từ cách mạng tháng Tám đến

nay và chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo của tỉnh Thái Nguyên.
3. Công trình “Giáo dục và đào tạo tỉnh Đồng Nai xây dựng và phát
triển:1975- 2012”khát quát lịch sử 37 năm xây dựng và phát triển của ngành
giáo dục và đào tạo tỉnh Đồng Nai (1975-2012). Quá trình xây dựng và phát
triển của sở giáo dục, các phòng giáo dục và đào tạo. Giới thiệu các đơn vị
trực thuộc sở giáo dục và đào tạo tỉnh Đồng Nai.
Nhóm thứ năm, các công trình nghiên cứu trong địa bàn tỉnh Hải
Dương về giáo dục và đào tạo:
1. Cuốn “Các kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương (1940 - 2000)”của
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã trình bày về các kỳ đại hội Đảng
từ năm 1940 đến năm 2000, trong các kỳ Đại hội Đảng thì vấn đề giáo dục và

8


đào tạo luôn được lãnh đạo Đảng quan tâm và phát triển nhằm phục vụ sự
nghiệp đào tạo nhân tài cho quê hương đất nước.
2. Cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hải Dương”, tập 1, 2 của Ban Chấp
hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương đã trình bày về lịch sử Đảng bộ tỉnh trong giai
đoạn 1930 - 1975 và giai đoạn 1975 - 2005 với sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế….
3. Công trình “Lịch sử giáo dục Hải Dương (1945 - 2005)” nhằm ghi
lại lịch sử phát triển qua các thời kì của giáo dục Hải Dương từ năm 1945đến
năm 2005.
4. Cuốn “Hải Dương thế và lực mới trong thế kỷ XXI”tác giả đã giới
thiệu bức tranh toàn cảnh trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương
cũng như các huyện, các doanh nghiệp tiêu biểu; những nhân tố mới và các
tiềm năng trong sản xuất - kinh doanh, trong các lĩnh vực hoạt động xã hội.
5. Cuốn “Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương” là hệ thống số liệu cơ
bản phản ánh khái quát tình hình kinh tế, xã hội Hải Dương qua một số năm

như: khí tượng thuỷ văn, dân số, tài khoản quốc gia, nông lâm nghiệp, thương
mại, vận tải, bưu chính viễn thông, giáo dục, y tế, văn hoá…
Bên cạnh những công trình nghiên cứu trên, liên quan đến đề tài luận
văn còn có nhiều đề tài nghiên cứu, luận án, luận văn, các bài viết như:
1. Luận án “Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về
hợp tác giáo dục và đào tạo với các nước ASEAN từ năm 1995 đến năm
2010”nêu rõ bối cảnh lịch sử, những nhân tố trong nước và quốc tế tác động
đến quan hệ hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam với các nước
ASEAN từ 1995 đến năm 2010, phân tích những thành tựu và hạn chế trong
quá trình Đảng lãnh đạo hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và các
nước ASEAN…

9


2. Luận Văn “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và
đào tạo từ năm 1997 đến năm 2006” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thiết
nhằm trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục
và đào tạo trong thời gian mười năm với những thành tựu to lớn phục vụ cho
sự phát triển của tỉnh Hưng Yên.
Nhìn chung, các công trình trên được xem là bức tranh tổng quát về
những khía cạnh khác nhau của giáo dục và đào tạo trên thế giới, trong nước
cũng như trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đây là tư liệu quý và rất cần thiết đối
với việc thực hiện đề tài của tác giả. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu sự lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ tỉnh Hải
Dương từ năm 2001 đến năm 2013.Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này trên
cơ sở tiếp thu và kế thừa những thành quả nghiên cứu từ những công trình
nghiên cứu đã có về giáo dục và đào tạo tác giả luận văn cố gắng tập trung
trình bày một cách có hệ thống và toàn diện những nội dung chủ yếu trong sự
lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo của Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ năm

2001 đến năm 2013.
3.Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1.Mục đích
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo
của Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ năm 2001 đến năm 2013 nhằm tổng kết lý
luận, thực tiễn giáo dục và đào tạo của Đảng bộ tỉnh từ đó rút ra thành tựu và
hạn chế còn tồn tại,kinh nghiệm trong lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo
của Đảng bộ tỉnh.
3.2.Nhiệm vụ
Sưu tập và hệ thống hóa những tài liệu liên quan đến đề tài, trình bày
cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục và đào tạo; hệ thống chủ trương của
Đảng bộ tỉnh Hải Dương về lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm

10


2001 đến năm 2013; quá trình Đảng bộ tỉnh tổ chức thực hiện phát triển giáo
dục và đào tạo từ năm 2001 đến năm 2013.Thành tựu, hạn chế, bài học kinh
nghiệm của Đảng bộ tỉnh Hải Dương trong quá trình lãnh đạo phát triển giáo
dục và đào tạo từ năm 2001 đến năm 2013. Từ bài học kinh nghiệm trên sẽ
giúp cho xác định chủ trương lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo những
giai đoạn sau tốt hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những chủ trương, tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Hải Dương
trong lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ năm 2001 đến năm 2013.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển
giáo dục và đào tạo.Trong đó, tập trung làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Hải Dương trong phát triển giáo dục phổ thông.

Về thời gian: Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2001 đến
năm 2013.
Về không gian: Luận văn xác định địa bàn nghiên cứu thuộc tỉnh
Hải Dương.
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
và đào tạo; Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước; các Văn kiện, báo cáo
của Đảng bộ tỉnh Hải Dương; Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Hải Dương, các
công trình nghiên cứu, khảo sát trong ngoài nước liên quan tới giáo dục và
đào tạo...

11


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp lôgic, phương pháp
thống kê, thu thập xử lý số liệu, phân tích tổng hợp…
6. Đóng góp của luận văn
Góp phần làm rõ quá trình lãnh đạo phát triển giáo dục và đào tạo của
Đảng bộ tỉnh Hải Dương từ năm 2001 đến năm 2013; đây là công trình khoa
học hoàn toàn mới. Luận văn làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan có thẩm
quyền; ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Hải Dương trong lãnh đạo phát triển
giáo dục và đào tạo; Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho những ai quan
tâm đến giáo dục và đào tạo, nghiên cứu lịch sử địa phương, lịch sử Đảng bộ
Hải Dương, lịch sử giáo dục và đào tạo, nghiên cứu giảng dạy lịch sử Đảng…
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu,
mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển giáo dục và đào

tạo từ năm 2001 đến năm 2005
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo phát triển giáo dục và đào
tạo từ năm 2006 đến năm 2013
Chương 3: Một vài nhận xét và kinh nghiệm

12


NỘI DUNG
Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH ĐẠO PHÁT
TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005
1.1. Một số vấn đề chung về giáo dục và đào tạo
1.1.1. Khái niệm giáo dục và đào tạo
“ Giáo dục là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm
chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất,
nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh
nghiệm lịch sử - xã hội của loài người” [34, tr. 1].
Đây là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người. Giáo dục
nảy sinh cùng với sự phát triển của xã hội loài người, trở thành một chức năng
sinh hoạt không thể thiếu được và không bao giờ mất đi ở mọi giai đoạn phát
triển của xã hội. Giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng
sức lao động xã hội, một trong những nhân tố quan trọng nhất thúc đẩy xã hội
phát triển về mọi mặt. Giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích,
nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo các giai
đoạn phát triển của xã hội, theo các chế độ chính trị - kinh tế của xã hội.
Cùng với khái niệm giáo dục là khái niệm đào tạo:“Đào tạo là hệ thống
các biện pháp, các tổ chức đào tạo và giáo dục của một nước. Đào tạo là quá
trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm
vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho
người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận thức, tham gia vào một

sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã
hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”[24, tr. 1].Về cơ bản,
đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức,
nhân cách. Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người
còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các

13


hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết
định. Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một
cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao. Tuỳ theo tính chất
chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn
và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại hình đào tạo này này gắn bó và hỗ trợ cho nhau
với những nội dung do các đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình
trạng khoa học, kĩ thuật và văn hoá của đất nước. Khái niệm giáo dục nhiều khi
bao gồm cả các khái niệm đào tạo. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cấp tốc, đào
tạo chuyên sâu, đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa.
Đào tạo là một dạng đặc thù của giáo dục nên quá trình đào tạo cũng
tuân theo những quy luật chung của giáo dục. Song, do những đặc điểm riêng
của đào tạo (mục tiêu, đối tượng, phương pháp) nên trong thực tế giáo dục
người ta thường tách riêng giáo dục, đào tạo.
1.1.2. Cơ sở lý luận của giáo dục và đào tạo theo quan điểm Mácxít
1.1.2.1.Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giáo dục và đào tạo
C.Mác- Ph.Ăngghen luôn quan tâm tới vấn đề giáo dục và đào tạo, chỉ
rõ vai trò của giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển kinh tế- xã hội và sự
phát triển nhân cách của con người.
Trong Luận cương thứ III về Phoiơbắc, C.Mác viết:“Cái học thuyết
duy vật cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo
dục, rằng do đó con người đã biến đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác

và của một nền giáo dục đã thay đổi, cái học thuyết ấy quên rằng chính những
con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải
được giáo dục. Sự phù hợp giữa sự thay đổi của hoàn cảnh với hoạt động của
con người, chỉ có thể được quan niệm và được hiểu một cách hợp lý khi coi
đó là thực tiễn cách mạng”[5, tr. 10].

14


Luận điểm này cho thấy C.Mác không chỉ ủng hộ triệt để tư tưởng phát
triển toàn diện về nhân cách con người, mà đồng thời còn chứng minh một
cách khoa học tính tất yếu khách quan của nó và ông cũng chính là một trong
những người đầu tiên đưa ra con đường thực hiện nó trong thực tiễn đời sống
xã hội, gắn việc đào tạo con người, phát triển hài hoà, toàn diện con người với
việc xây dựng xã hội mới.
Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản khi trả lời
câu hỏi thứ 20:“ Xoá bỏ triệt để chế độ tư hữu thì sẽ đưa lại những kết quả
gì?”, Ph.Ăngghen trả lời: “... Giống như trong thế kỷ trước, người nông dân
và người công nhân công trường thủ công, sau khi được thu hút vào đại công
nghiệp, đã thay đổi toàn bộ lối sống của họ và bản thân họ đã trở thành những
con người hoàn toàn khác hẳn; hiện nay cũng vậy, việc tiến hành sản xuất tập
thể bằng lực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do
việc đó mang lại, sẽ cần đến những con người hoàn toàn mới và sẽ tạo nên
những con người mới đó. Những con người như hiện nay thì không thể tiến
hành nền sản xuất mang tính chất xã hội được” [6, tr.474-475].
Với quan niệm đó, Ph.Ăngghen đã đề xuất một chiến lược giáo dục:
“Công tác giáo dục sẽ làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững
nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, làm cho họ có thể lần
lượt chuyển từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuất nọ tuỳ theo nhu cầu
của xã hội hoặc tuỳ theo sở thích của bản thân họ. Do đó, công tác giáo dục sẽ

làm cho họ thoát khỏi tình trạng một chiều mà sự phân công lao động hiện
nay đang buộc mỗi một người phải theo. Như vậy là một xã hội tổ chức theo
nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa, sẽ làm cho những thành viên trong xã hội đó
có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triển toàn diện của
mình” [7, tr. 262].

15


Công tác giáo dục đó, theo Ph.Ăngghen sẽ làm cho con người thoát
khỏi tình trạng một chiều mà sự phân công lao động thời bấy giờ đang buộc
mỗi người phải theo, một xã hội tổ chức theo nguyên tắc cộng sản chủ nghĩa
sẽ làm cho những thành viên trong xã hội có khả năng sử dụng một cách toàn
diện năng lực của mình để phát triển một cách hài hoà, toàn diện. Đồng quan
điểm với Ph.Ăngghen, C.Mác khẳng định: “Những người công dân tiên tiến
nhất cũng hoàn toàn nhận thức được rằng tương lai của giai cấp họ, và do đó,
của cả loài người, hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân
đang lớn lên” [7, tr. 262].
C.Mác còn khẳng định: “Nền giáo dục tương lai, nó sẽ kết hợp lao
động sản xuất với trí dục và thể dục đối với tất cả những trẻ em trên một lứa
tuổi nào đấy, coi đó không chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản
xuất xã hội mà còn là một phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con
người phát triển toàn diện nữa” [7, tr. 668].
Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến nội dung giáo dục một
cách toàn diện, bao gồm: giáo dục thể lực, trí lực, khoa học kỹ thuật tổng hợp
và giáo dục gắn liền với lao động sản xuất, tức là nội dung giáo dục bao gồm
các mặt: trí, đức, thể mỹ và giáo dục nghề nghiệp. Đồng thời, đã chứng minh
một cách khoa học rằng, sự phát triển toàn diện, phát triển mọi khả năng tiềm
tàng của con người nhờ giáo dục và đào tạo là yếu tố quyết định sự phát triển
xã hội: “Việc kết hợp giữa lao động sản xuất được trả công, giáo dục trí lực,

giáo dục thể lực và giáo dục kỹ thuật tổng hợp sẽ nâng giai cấp công nhân lên
cao hơn rất nhiều so với trình độ của giai cấp quý tộc và tư sản”[5, tr.263].
V.I.Lênin đã kế thừa, vận dụng và phát triển những tư tưởng của C.Mác
và Ph.Ăngghen về giáo dục và đào tạo trong thực tiễn cách mạng nước Nga,
trong bối cảnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga vào những thập niên
đầu của thế kỷ XX. Tại Đại hội Toàn Nga về công tác giáo dục lần thứ nhất

16


diễn ra vào ngày 28/8/1918, V.I.Lênin đã khẳng định vai trò to lớn của công
tác giáo dục, coi đó là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thắng
lợi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin nói: “Sự nghiệp của
nhà trường chúng ta cũng là đấu tranh đánh đổ giai cấp tư sản; chúng ta tuyên
bố công khai rằng nói nhà trường đứng ngoài cuộc sống, ngoài chính trị, là
nối dối và lừa bịp”, “Những người lao động khao khát có tri thức, vì tri thức
cần cho họ để chiến thắng. Chín phần mười quần chúng lao động đã hiểu rõ
rằng tri thức là một vũ khí trong cuộc đấu tranh tự giải phóng của họ, rằng sở dĩ
họ thất bại là do thiếu học thức; rằng giờ đây việc làm cho mọi người có thể thực
sự được học hành, là do bản thân họ quyết định. Sự nghiệp của chúng ta sẽ thắng
vì bản thân quần chúng đã bắt tay xây dựng một nước Nga mới, xã hội chủ
nghĩa” [75, tr. 92-93].
Một trong những điều kiện cơ bản, tiên quyết để nâng cao năng suất lao
động là phải nâng cao trình độ học vấn và văn hóa cho quần chúng nhân dân
lao động. Điều này, chỉ có thể thực hiện được và thực hiện đạt hiệu quả tối ưu
nhất là thông qua giáo dục và bằng giáo dục. Nhận thức một cách sâu sắc tầm
quan trọng của công tác giáo dục trong sự nghiệp chấn hưng đất nước nên
trong Dự thảo cương lĩnh của Đảng Cộng sản Nga tháng 2/1919 ở nội dung
nói về nền giáo dục quốc dân, V.I.Lênin viết: “Trong lĩnh vực giáo dục quốc
dân, Đảng Cộng sản Nga tự đặt cho mình nhiệm vụ phải hoàn thành sự nghiệp

cách mạng tháng Mười 1917 đã bắt đầu nhằm biến nhà trường từ một công cụ
thống trị giai cấp của giai cấp tư sản thành một công cụ để đập tan nền thống
trị đó, cũng như để hoàn toàn xoá bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp. Nhà
trường phải trở thành một công cụ của chuyên chính vô sản, nghĩa là nhà
trường không những phải truyền bá những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản
nói chung, mà còn phải là một công cụ truyền bá ảnh hưởng về tư tưởng, về tổ
chức và giáo dục của giai cấp vô sản vào những tầng lớp nửa vô sản và không

17


phải vô sản trong quần chúng lao động, nhằm hoàn toàn đập tan sự kháng cự
của bọn bóc lột và thực hiện chế độ cộng sản. Kết hợp chặt chẽ công tác giáo
dục với lao động sản xuất” [74, tr. 141-142].V.I.Lênin cho rằng, khi cách
mạng mới thành công, bước đầu củng cố chính quyền thì nhiệm vụ của công
tác giáo dục là tuyên truyền và giáo dục về tư tưởng, chính trị là chủ yếu. Khi
cách mạng bước sang giai đoạn hoà bình, xây dựng đất nước thì nhiệm vụ của
công tác giáo dục cũng phải có sự thay đổi theo cho phù hợp. Sự thay đổi đó
thể hiện ở chỗ: công tác giáo dục và đào tạo phải luôn gắn liền, bám sát với
thực tiễn cuộc sống, giáo dục và đào tạo phải trở thành đòn bẩy, thành công
cụ, thành nguồn nội lực bên trong của quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Tư tưởng giáo dục tổng hợp là tư tưởng giáo dục có ý nghĩa hết sức to
lớn đối với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nga. Lênin cho rằng bất cứ
trong hoàn cảnh nào, chúng ta phải mau chóng từng bước chuyển sang giáo dục
kỹ thuật tổng hợp để mang lại cho học sinh một tầm nhìn kỹ thuật tổng hợp và
các tri thức cơ bản ban đầu của giáo dục kỹ thuật tổng hợp cụ thể là các bài
giảng về điện, điện khí hoá, về nông học, về hoá học. Kết hợp với tham quan
nhà máy, nhất là nhà máy điện, nông trường, bảo tàng kỹ thuật...Tư tưởng này
thực hiện trong thực tế, xuất phát từ nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động
sản xuất do C.Mác và Ph.Ăngghen tổng kết thời kỳ đầu cách mạng công

nghiệp. V.I.Lênin và các nhà giáo dục Nga đã đưa lên thành nguyên tắc cơ bản
của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở nước Nga, chỉ đạo việc tổ chức nhà trường
và tiến hành hoạt động giáo dục, giảng dạy. Từ đó, tất cả các trường phổ thông
đều mang tính chất giáo dục lao động và giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
Như vậy, C.Mác, Ph.Ănghen và V.I.Lênin đều khẳng định vai trò to lớn
của giáo dục và đào tạo đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và sự tác
động trở lại của phát triển kinh tế - xã hội đối với giáo dục và đào tạo, chỉ rõ ý
nghĩa lớn lao và vai trò quyết định của giáo dục và đào tạo đối với việc phát

18


triển con người, nguồn lực con người nói chung và sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của mỗi quốc gia nói riêng. Những quan điểm ấy có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn to lớn đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo của các nước
xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Điều này,
đặc biệt có ý nghĩa thiết dụng đối với những nước thực hiện sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt
Nam hiện nay.
1.1.2.2. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vềgiáo dục và đào tạo
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định giáo dục và đào tạo có vai trò quan trọng trong
việc hình thành và phát triển nhân cách của con người. Đối với Người, nhân
tố con người có trình độ hiểu biết, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức
là yếu tố then chốt, có tính quyết định đối với thành công của cách mạng, tiến
bộ xã hội, tiền đồ của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Trước lúc đi xa Người còn căn dặn bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời
sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Tư tưởng này không những nói
lên mong muốn tột bậc của Hồ Chí Minh mà còn phản ánh yêu cầu vừa cấp
thiết vừa lâu dài của nước ta trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước.

Sự vận động và phát triển của đất nước tất yếu đòi hỏi nền giáo dục
phải đem lại chất lượng mới cho từng con người, cho cả dân tộc. Người khẳng
định không có giáo dục, không có cán bộ thì không có kinh tế văn hóa, trong
đó, việc đào tạo cán bộ giáo dục là bước đầu. Về mối quan hệ giữa giáo dục
với cách mạng, giữa giáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết
đất nước Hồ Chí Minh khẳng định muốn giữ vững nền độc lập và muốn làm
cho dân mạnh nước giàu thì mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của
mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công
cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.

19


Muốn cho dân mạnh, nước giàu thì dân trí phải cao, phải đa dạng hóa
các loại hình đào tạo, mở trường và khi dân trí đã cao thì xuất hiện nhiều nhân
tài tham gia xây dựng đất nước. Hồ Chí Minh đã chỉ cho chúng ta con đường
thoát khỏi yếu hèn, đó là con đường phát triển giáo dục. Người từng nói một
dân tộc dốt là một dân tộc yếu và Người kêu gọi mọi người phải thi đua học
tập để đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc thông thái.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, giáo dục được coi là nền
tảng, là động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức được tầm
quan trọng đó Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định giáo dục là một mặt trận đặc
biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta mà mỗi
thầy giáo, cô giáo là một chiến sỹ cách mạng trên mặt trận đó. Người luôn tin
tưởng và mong muốn các thế hệ học sinh luôn cố gắng học tập và rèn luyện
tốt để mai sau trở thành những người có ích cho xã hội.
Người đặt ra câu hỏi học để làm gì?Và người chỉ rõ học để sửa chữa tư
tưởng, học để tu dưỡng đạo đức, học để tin tưởng, học để hành.Mục đích của
giáo dục là truyền thụ kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn làm việc. Do vậy
lý luận không đưa vào thực tiễn cũng chỉ là lý thuyết. Người khẳng định thực

hành sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến tới lý luận, lý luận lãnh đạo thực hành.
Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều khẳng
định giáo dục và đào tạo có vai trò hết sức quan trọng đối với việc xây dựng,
hình thành và hoàn thiện nhân cách con người, là động lực thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội. Do đó, muốn đất nước phát triển không thể không dựa vào
giáo dục và đào tạo.
1.1.2.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo
Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vận
dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã gắn cuộc đấu tranh
chống chính sách “ngu dân” với cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách thực

20


dân đế quốc. Quan điểm đổi mới giáo dục và đào tạo được Đảng tiếp tục phát
triển và khẳng địnhtại các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc.
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VI (tháng 12-1986) Đảng đề ra
đường lối đổi mới toàn diện, trong đó mục tiêu của giáo dục vàđào tạo nhằm
hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ,
đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với
yêu cầu phân công lao động của xã hội.
Cùng với quá trình đổi mới, Đảng đã từng bước thể hiện sự đổi mới tư
duy giáo dục và đào tạo. Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
VII (1991) Đảng tiếp tục xác định cụ thể hơn: "Mục tiêu giáo dục và đào tạo
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội
ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tinh thần yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn
diện, có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm
trong nền kinh tế nhiều thành phần" [18, tr.80].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6-1996) của Đảng đã

nêu quan điểm phát triển giáo dục và đào tạo với những nội dung sau:“Giáo
dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc
sách hàng đầu”[42, tr. 29]. Phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát
triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh
tế - xã hội. Huy động toàn xã hội làm giáo dục dưới sự quản lý của nhà nước.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) đã nêu những quan điểm:
Phát triển giáo dục toàn diện; xây dựng nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện
đại hóa, xã hội hóa; thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục; phát triển giáo
dục và đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, học đi đôi với hành,
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội; coi trọng
hướng nghiệp, dạy nghề, tập trung vào mục tiêu nhân lực.

21


×