Tải bản đầy đủ (.doc) (43 trang)

Tranh chấp về kinh doanh quốc tế và các hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (477.2 KB, 43 trang )

Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

MỞ ĐẦU
Trong kinh doanh, tranh chấp tồn tại như một tất yếu, dù lớn hay nhỏ, dù đơn giản hay
phức tạp. Có thể ở dạng tranh chấp hiện tại, cần phải giải quyết hoặc tranh chấp tương lai.
Các mối quan hệ càng nhiều, thì khả năng xảy ra tranh chấp càng cao, bất chấp một khung
pháp lý có hoàn chỉnh đến đâu - bởi không phải lúc nào các bên cũng tuân thủ pháp luật một
cách nghiêm chỉnh, hoặc đôi khi pháp lý chỉ mang tính tương đối. Đặc biệt trong thương mại
Quốc tế, lĩnh vực mà các bên tham gia có những đặc điểm về tập quán kinh doanh, ngôn ngữ,
văn hoá và nhiều đặc tính khác không đồng nhất, thì khả năng xảy ra tranh chấp lại càng lớn,
cả về mặt quy mô và khả năng xảy ra tranh chấp. Chỉ cần một sự sai lệnh nhỏ trong cách hiểu,
xuất phát từ bất đồng ngôn ngữ là đã có thể dẫn đến tranh chấp. Đây là chưa nói đến vấn đề
phức tạm hơn là văn hoá và tập quán kinh doanh. Chẳng hạn như quy định về điều kiện cơ sở
giao hàng của Hoa Kỳ không hoàn toàn giống với các điều kiện cơ sở giao hàng của Phòng
Thương mại quốc tế (Incoterm) mà nếu không nghiên cứu kỹ các bên có thể dẫn đến tranh
chấp về các khoản chi phí giao hàng,…
Bất kỳ tổ chức nào khi bắt đầu một thương vụ, không bao giờ muốn có tranh chấp
xảy ra. Tuy nhiên, nó vẫn có thể xảy ra do những nguyên nhân chủ quan và khách
quan. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để hạn chế đến mức thấp nhất khả năng xảy ra
tranh chấp là điều luôn được quan tâm. Nhưng một khi tranh chấp đã xảy ra, hoặc để
đảm bảo lợi ích cho bản thân trong trường hợp xảy ra tranh chấp, thì vấn đề lựa chọn
một phương pháp giải quyết tranh chấp cũng cần được quan tâm thích đáng, sao cho
tranh chấp được giải quyết thoả đáng với chi phí về thời gian, công sức và tiền bạc là ít
nhất.
Một trong những biện pháp giải quyết tranh chấp hay được áp dụng hiện nay là
thông qua trọng tài kinh tế. Có nhiều ưu điểm của phương pháp này so với các phương
pháp khác: như tính bảo mật, độ tin cậy cao…. khiến nó trở thành một biện pháp giải
quyết tranh chấp phổ biến nhất trên thế giới. Và vì vậy có thể nói hoạt động của các
trung tâm trong tài đã và đang từng bước góp phần vào việc hoàn thiện môi trường
kinh doanh, đảm bảo cho việc kinh doanh được ổn đinh.


1


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

CHƯƠNG I
TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CÁC KHÁI NIỆM
1.1 Khái niệm về tranh chấp:
Tranh chấp là những mâu thuẫn, những bất đồng, những xung đột và tranh giành
giữa các bên trong một mối quan hệ xã hội về một vấn đề nhất định nào đó. Về mặt
thuật ngữ, từ điển tiếng việt của viện ngôn ngữ học đã giải thích hai từ tranh chấp là
“Giành nhau, một cách giằng co, cái không rõ thuộc về bên nào” ; rộng hơn là “Đấu
tranh giành co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa 2 bên”
Thuật ngữ "tranh chấp" nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền
lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan. Những bất đồng, mâu thuẫn này có
thể phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật điều chỉnh nên chúng được
gọi theo ngành luật đó. Ví dụ: Tranh chấp về tiền lương giữa người lao động và người
sử dụng lao động được gọi là tranh chấp lao động. Tương tự như vậy, tranh chấp dân
sự, tranh chấp đất đai ... những tranh chấp rõ là có liên quan đến lợi ích kinh tế của các
bên. Do đó chúng có thể được gọi là tranh chấp kinh tế theo nghĩa rộng. Một đặc trưng
của các tranh chấp kinh tế theo nghĩa rộng đó là các chủ thể tham gia vào quan hệ này
không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Tranh chấp kinh tế là tranh chấp trong quan hệ kinh doanh - Kinh doanh như quy
định tại Khoản 2 - Điều 3 - Luật doanh nghiệp "Là việc thực hiện một, một số hoặc tất
cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung
ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời" Chủ thể của các hoạt động kinh
doanh là các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế, vì thế có thể có một khái niệm về tranh
chấp kinh tế như sau: "Tranh chấp kinh tế là những bất đồng, xung đột, mâu thuẫn xảy
ra ở các doanh nghiệp, đơn vị kinh tế trong quá trình thành lập, tổ chức hoạt động và

giải thể doanh nghiệp".

1.2 Tranh chấp thương mại
1.2.1. Khái niệm
Một cách đơn giản có thể hiểu tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh trong
lĩnh vực thương mại. Điều 238 Luật thương mại Việt Nam nêu ra khái niệm về tranh

2


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

chấp thương mại "Là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại".
Tại Khoản 2 - Điều 5 cũng quy định "Hoạt động thương mại là việc thực hiện một
hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích
lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xã hội".
Tuy nhiên, hành vi thương mại gồm những hành vi nào là điều đáng quan tâm hơn
cả. Hiện nay trên thế giới có nhiều quy định khác nhau về hành vi thương mại:
Ở Việt Nam, Điều 45 Luật thương mại quy định các loại hành vi thương mại gồm:
1. Mua bán hàng hoá
2. Đại diện cho thương nhân
3. Môi giới thương mại
4. Uỷ thác mua bán hàng hoá
5. Đại lý mua bán hàng hoá
6. Gia công trong thương mại
7. Đấu giá hàng hoá
8. Dịch vụ giao nhận hàng hoá
9. Đấu thầu hàng hoá

10. Dịch vụ giám định hàng hoá
11. Khuyến mại
12. Quảng cáo thương mại
13. Trưng bày giới thiệu hàng hoá
14. Hội chợ, triển lãm thương mại
Tuy vậy, ngoại diên của khái niệm hành vi thương mại ở các nước có nền kinh tế
thị trường phát triển có phạm vi rộng hơn nhiều. Ở Anh nói riêng và cộng đồng Anh
ngữ nói chung thuật ngữ "Commerce" không đồng nhất với "trade", mà nó bao gồm cả
"trade", "bank", "insurrance" , "transport", ... hay nói một cách khác thương mại bao
gồm cả việc mua, bán, các sản phẩm vô hình có tính chất đặc thù khác. Tác động
thương mại là hoạt động "Thường xuyên, độc lập và mưu cầu lợi nhuận", và theo luật
thương mại của Pháp, hoạt động thương mại bao gồm:
1. Mua bán động sản với mục đích bán lại để kiếm lời
3


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

2. Hoạt động trung gian trong việc mua bán động sản và bất động sản.
3. Cho thuê động sản và bất động sản.
4. Chế tạo và chuyên chở
5. Hoạt động đổi tiền và ngân hàng
6. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Và tranh chấp thương mại là tranh chấp trong các hoạt động trên. Ở Việt Nam, khái
niệm thương mại cũng được xem xét ở trạng thái động. Cụ thể, luật thương mại Việt
Nam năm 1997 quy định: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều
hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hóa; cung ứng dịch
vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại khác nhằm mục đích thu lợi
nhận…” [Điều 5 khoản 2]. Nằm trong phạm vi được coi là hoạt động thương mại được
luật thương mại năm 1997 điều chỉnh chỉ gồm 14 hành vi thương mại, Luật thương

mại việt nam năm 2005 đã mở rộng hơn nội hàm của khái niệm hoạt động thương mại
bằng quy đinh rõ “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao
gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt
động nhằm mục đích sinh lợi khác”(Điều 3 khoản 1 Luật thương mại Việt Nam năm
2005).
1.2.2. Phân loại tranh chấp thương mại
Tranh chấp thương mại cũng là một tranh chấp kinh tế, do đó tranh chấp thương
mại có thể là:
* Theo phạm vi lãnh thổ: Tranh chấp thương mại trong nước và tranh chấp thương
mại quốc tế.
* Tranh chấp hai bên và tranh chấp nhiều bên
* Tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của các bên
- Tranh chấp do người mua không thực hiện hay thực hiện không đúng theo quy
định của hợp đồng.
- Tranh chấp do người bán không thực hiện hay thực hiện không đúng theo quy
định hợp đồng.
* Tranh chấp hiện tại và tranh chấp tương lai. Tranh chấp hiện tại là tranh chấp đã
xảy ra đang cần được giải quyết. Tranh chấp tương lai được hiểu là tranh chấp có thể
xảy ra và việc giải quyết được dự liệu trong một điều khoản của hợp đồng.
4


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

* Theo nghiệp vụ giao dịch
- Tranh chấp liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá
- Tranh chấp liên quan đến việc vận chuyển hàng hoá
- Tranh chấp liên quan đến viêc thanh toán
* Theo tính pháp lý của hợp đồng (gồm có giá trị pháp lý và hiệu lực của hợp đồng)
- Tranh chấp liên quan đến việc áp dụng sai chế độ ký kết hợp đồng

Vi phạm nguyên tắc ký kết
Căn cứ ký kết không hợp pháp
Chủ thể ký kết hợp đồng không hợp pháp, hợp lệ
- Tranh chấp liên quan đến nội dung của hợp đồng
- Tranh chấp liên quan đến cách thức ký kết hợp đồng
* Theo tiến trình thực hiện hợp đồng
- Tranh chấp trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng
- Tranh chấp trong quá trình thực hiện hợp đồng
+ Do người bán không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của
mình như đã thoả thuận trong hợp đồng (liên quan đến nghĩa vụ giao hàng, cung cấp
chứng từ hàng hoá, thông qua kiểm định...).
+ Do người mua không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của
mình trong hợp đồng (không mở L/C đúng hạn, thanh toán chậm hay không thanh
toán, không hoặc trì hoãn việc nhận hàng).
1.2.3. Tính chất của tranh chấp thương mại.
* Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh từ những quan hệ có do ngành luật
thương mại điều chỉnh, vì vậy nó có những đặc trưng khác biệt so với tranh chấp dân
sự, tranh chấp lao động.
Thứ nhất, tranh chấp thương mại thường là nguyên nhân phát sinh thiệt hại về vật
chất đối với các bên khi các bên có sự thoả thuận thông nhất một cách giải quyết có lợi
nhất cho cả hai bên. Khác với các tranh chấp khác, tranh chấp thương mại thường có
giá trị lớn được phát sinh trong việc đầu tư vốn, tài sản nhằm thu lợi nhuận. Tranh
chấp nảy sinh sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của không những các đương sự mà
còn ảnh hưởng đến các chủ thể kinh doanh khác.

5


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT


Thứ hai, quan hệ thương mại và bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là
điều kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh. Hoạt động thương mại của doanh nghiệp
là hoạt động thiết lập một mạng lưới các hành vi thương mại, mà mục tiêu của các bên
khi tham gia vào các quan hệ này là lợi nhuận. Các bên tuy hợp tác, song vẫn canh
tranh nhau để thu về được lợi ích nhiều nhất. Chính vì thế sẽ không tránh khỏi những
mâu thuẫn bất đồng trong việc giải thích về quyền và nghĩa vụ, cũng như quá trình
thực hiện quyền và nghĩa vụ đó của các bên - đó chính là những tranh chấp thương
mại.
Thứ ba, tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể được Nhà
nước thừa nhận quyền doanh nghiệp có chức năng kinh doanh đó là các doanh nghiệp.
Vì vậy không phải tranh chấp nào phát sinh từ hoạt động kinh doanh cũng là tranh
chấp thương mại. Là tranh chấp thương mại khi các đơn vị kinh tế có đăng ký kinh
doanh thuộc tất cả các thành phần kinh tế (các doanh nghiệp Nhà nước, Công ty
TNHH, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, hộ kinh doanh cá thể ).
Thứ tư, tranh chấp thương mại có tính chất đa dạng, phức tạp, từ tranh chấp này có
thể dẫn đến tranh chấp khác. Đó là tính phức tạp và đa dạng của các quan hệ kinh tế
giữa các chủ thể có lợi ích khác nhau trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, mua bán
trao đổi là hoạt động diễn ra thường xuyên, liên tục, các chủ thể cùng một lúc có thể
thiết lập nhiều mối quan hệ kinh tế khiến cho những mối quan hệ này tạo thành một
chuỗi quan hệ có liên quan đến nhau khiến cho nếu tranh chấp phát sinh ở quan hệ này sẽ
rất có thể dẫn đến tranh chấp trong mối quan hệ khác. Chẳng hạn doanh nghiệp A vay tiền
của ngân hàng để mua nguyên vật liệu của doanh nghiệp B và bán sản phẩm cho doanh
nghiệp C theo các hợp đồng đã ký. Nếu doanh nghiệp B không cung cấp đúng nguyên vật
liệu như đã thoả thuận thì doanh nghiệp A cũng sẽ không giao được hàng cho bên C như
trong hợp đồng và không thu hồi được vốn đầu tư để trả cho ngân hàng. Tranh chấp
phát sinh giữa doanh nghiệp A và doanh nghiệp B; doanh nghiệp A và doanh nghiệp
C; doanh nghiệp A và ngân hàng.
1.2.4. Tính tất yếu tồn tại tranh chấp thương mại trong nền kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế xã hội, sản phẩm được sản xuất ra để

bán, trao đổi trên thị trường, mọi yếu tố đầu vào và đầu ra đều là đối tượng tự do mua
6


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

bán trên thị trường kể cả sản phẩm chất xám. Kinh tế thị trường là nền kinh tế tiền tệ
hoá rất cao, mục đích của các chủ thể khi tham gia vào kinh tế thị trường là lợi nhuận,
lợi nhuận càng cao càng tốt.
Trong cơ chế thị trường, các chủ thể kinh tế có quyền tự chủ rất cao và họ có toàn
quyền quyết định việc thiết lập các quan hệ kinh tế - thương mại của mình miễn là
không trái với quy định của pháp luật. Chính vì vậy các quan hệ thương mại trong nền
kinh tế rất đa dạng và phức tạp. Tính phức tạp và chồng chéo đan xen của các quan hệ
thương mại ẩn chứa một nguy cơ cao phát sinh tranh chấp. Chỉ một trục trặc nhỏ trong
"mắt xích" sẽ làm kéo theo hàng loạt các trục trặc khác và làm nảy sinh tranh chấp.
Các chủ thể kinh kế khi tham gia vào những quan hệ thương mại mà họ cho là có
lợi, có thể là lợi ích vật chất hoặc phi vật chất và khi mà mục đích có nguy cơ không
đạt được cũng sẽ làm phát sinh tranh chấp. Trong quan hệ thương mại, quyền lợi của
bên này cũng tương ứng với một nghĩa vụ của bên kia, điều đó khiến cho xung đột lợi
ích sẽ phát sinh nếu các bên không đi đến một thoả thuận thống nhất dung hoà được
quyền lợi và nghĩa vụ của họ. Đảm bảo nguyền tắc cùng có lợi trong quan hệ thương
mại.
Đặc biệt trong thương mại quốc thế sự khác nhau về tập quán kinh doanh cũng là
một lý do quan trọng dẫn đến tranh chấp. Tập quán kinh doanh ở đây được hiểu là toàn
bộ các quyết định luật pháp, quy tắc thực hành, thông lệ... trong hoạt động thương mại
ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực kinh tế. Một hành vi được coi là hợp pháp ở quốc gia này
nhưng rất có thể là hành vi vi phạm pháp luật ở nước khác. Chẳng hạn theo quy định
nhập khẩu của Trung Quốc, hàng hoá nhập khẩu vào Trung Quốc bắt buộc phải in mã
số mã vạch trên bao bì, nhãn hiệu hàng hoá. Các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị
trường Trung Quốc nếu không tìm hiểu rõ quy định này và xuất hàng chưa đăng ký và

in mã số, mã vạch thì sẽ không được thông qua nhập khẩu và thế là tranh chấp phát
sinh. Hay như quy định về hạn ngạch dệt may của Mỹ khác với quy định của EU là ở
loại hạn ngạch tính theo số lượng nhập khẩu....
Các rủi ro khách quan như: sự thay đổi pháp luật, cấm vận, chiến tranh, bạo loạt,
đình công... ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng của các bên làm phát sinh tranh
chấp. Mặc dù đó có thể là những trường hợp bất khả kháng, song việc giải quyết hậu
quả, phân định mức thiệt hại cho mỗi bên cũng có thể phát sinh tranh chấp. Tranh chấp
7


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

còn phát sinh khi một bên cho rằng rủi ro không nằm trong các trường hợp được miễn
trách.
Trong nền kinh tế thị trường đạo đức kinh doanh không phải lúc nào cũng được các
bên tôn trong, đặc biệt là việc giữ chữ tín với bạn hàng. Vì lợi nhuận họ sẵn sàng có
những hành động cố tình vi phạm hợp đồng, hoặc lừa đào khách hàng... làm thiệt hại
cho đối tác. Bản thân mục tiêu lợi nhuận không mang tính đạo đức nhưng cách thức để
đạt được lợi nhuận thì có và tranh chấp phát sinh, trong trường hợp này thuộc về lý do
chủ quan. Rõ ràng trong nền kinh tế thị trường quan hệ kinh tế trở lên sống động, đa
dạng và phức tạp. Mục đích nhằm tối đa hoá lợi nhuận trở thành động lực trực tiếp của
các bên tham gia quan hệ kinh tế thương mại. Trong điều kiện đó, tranh chấp là một
vấn đề tất yếu, không thể tránh khỏi, đòi hỏi phải có sự quan tâm giải quyết một cách
thoả đáng. Điều này vừa là một yêu cầu nghiêm ngặt của nguyên tắc pháp chế vừa là
một đòi hỏi bức xúc của quan hệ kinh tế nói chung và quan hệ thương mại nói riêng.
1.3 Tranh chấp trong kinh doanh.
Về mặt lý luận và thực tiễn trong thương mại, người ta ít khi phân biệt hai khái
niệm tranh chấp trong thương mại và tranh chấp trong kinh doanh. Một số quốc gia
còn có sự đồng nhất về hai khái niệm này là do người ta không phân biệt giữa khái
niệm thương mại và khái niệm kinh doanh, cũng như hoạt động thương mại và hoạt

động kinh doanh. Tuy nhiên sự phân định giữa hai khái niệm này cũng có tính tuyệt
đối.
Ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp năm 1999 “Kinh doanh là việc thực hiện một,
một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Điều 3 khoản 2
luật doanh nghiệp năm 1999). Khái niệm này cho thấy rõ kinh doanh là hoạt động
gắng liền với doanh nghiệp. Mục đích của kinh doanh là nhằm thu lợi nhuận.
Như vậy tranh chấp trong kinh doanh là những tranh chấp phát sinh từ, hoặc liên
quan đến việc thực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Do không có sự phân biệt giữa hai khái niệm kinh doanh và thương mại nên khi
đưa ra những loại hình tranh chấp thuộc thẩm quyền xử lý của trọng tài thương mại,
pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam năm 2003 cho rằng hoạt động thương mại là
hoạt động của cá nhân, tổ chức kinh doanh, mà xét về mặt bản chất, đó cũng là hoạt
8


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

động của doanh nghiệp. Điều 2 khoản 3 pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam quy
định: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của
cá nhân, tổ chức kinh doanh, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân
phối, đại diện, đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn,
kỹ thuật, li-xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, vận
chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường
bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, pháp luật Việt Nam hầu như cũng đồng nghĩa khái niệm kinh doanh với
khái niệm thương mại: Đó là các hoạt động của doanh nghiệp nhằm mục đích thu lợi
nhuận. Tranh chấp thương mại và tranh chấp trong kinh doanh là những tranh chấp
gắng liền với hoạt động kinh doanh - thương mại của doanh nghiệp.
1.4 Tranh chấp trong thương mại quốc tế và tranh chấp trong kinh doanh

quốc tế:
Trong đời sống quốc tế, vấn đề lại không hoàn toàn như trong nước. Ở phạm vi
quốc tế, tất cả các mối quan hệ xã hội phát sinh thường và chủ yếu được chia thành hai
nhóm quan hệ: Nhóm quan hệ xã hội phát sinh giữa các quốc gia với nhau và nhóm
quan hệ xã hội phát sinh giữa các doanh nghiệp với nhau.
Quan hệ giữa các quốc gia với nhau cũng rất đa dạng và phức tạp. Đó là những mối
quan hệ về chính trị, quân sự, kinh tế và cả về thương mại. Để điều chỉnh những mối
quan hệ phát sinh giữa các quốc gia với nhau, công pháp quốc tế đã ra đời. Công pháp
quốc tế là tổng hợp các quy tắc pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh giữa
các quốc gia với nhau trong đời sống quốc tế. Trong lĩnh vực thương mại, các quốc gia
đã cùng nhau xây dựng các quy tắc riêng, điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hoạt
động thương mại do các quốc gia tiến hành. Tổng hợp tất cả các quy tắc điều chỉnh các
mối quan hệ về thương mại giữa các quốc gia chính pháp luật thương mại quốc tế.
Pháp luật thương mại quốc tế là một bộ phận của Công pháp Quốc tế.
1.4.1 Tranh chấp trong thương mại quốc tế
Trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại quốc tế, các mâu thuẫn, xung
đột về lợi ích giữa các quốc gia là không thể tránh khỏi. Hoạt động thương mại giữa
các quốc gia càng trở nên phức tạp. Trước đây các quốc gia chỉ xung đột về thương
mại hàng nông nghiệp, thương mại hàng dệt may… Thì giờ đây các tranh chấp trong
9


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

thương mại hàng công nghiệp không phải là ít, với những tình tiết, diễn biến ngày
càng phức tạp. Trước đây, khi hoạt động thương mại giữa các quốc gia chỉ bó hẹp ở
thương mại hàng hữu hình vì vậy, các xung đột lợi ích liên quan đến các sản phẩm vô
hình hầu như không phát sinh. Ngày nay, do cách hiểu về thương mại đã bao hàm cả
các lĩnh vực về thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ… vì vậy, người ta phải đối mặt với
hàng loạt các xung đột, tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia liên quan đến thương

mại dịch vụ, thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, trong đầu tư…
Tranh chấp thương mại quốc tế có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Là tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia trong việc thực hiện các hoạt động
thương mại ở phạm vi nhà nước;
- Nhận dạng các tranh chấp thương mại quốc tế phải dựa vào nội hàm của khái
niệm thương mại ở phạm vi các quốc gia với nhau.
- Khái niệm thương mại là khái niệm cần được hiểu theo thể động – luôn luôn biến
đổi và vận động không ngừng.
- Các tranh chấp phát sinh từ thương mại hàng hóa thường có những đặc điểm
riêng, khác với thương mại dịch vụ, và do đó, cũng khác với những tranh chấp thương
mại liên quan tới sở hữu trí tuệ v.v...
- Để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế, các quốc gia phải xây dựng các
cơ chế giải quyết phù hợp.
1.4.2

Tranh chấp trong kinh doanh quốc tế

Tranh chấp trong kinh doanh quốc tế là những tranh chấp phát sinh từ, hoặc liên
quan đến các hoạt động kinh doanh thương mại được thực hiện giữa các doanh nghiệp
của các nước khác nhau với nhau trong thương trường kinh doanh quốc tế.
Trong đời sống quốc tế còn tồn tại nhóm quan hệ xã hội thứ hai, đó là quan hệ xã
hội phát sinh giữa các tổ chức, cá nhân của nước khác nhau với nhau. Nhóm quan hệ
này do tư pháp quốc tế điều chỉnh. Tư pháp quốc tế điều chỉnh rất nhiều vấn đề như
vấn đề nhân sự, thừa kế, sở hữu… trong đó chiếm vị trí quan trọng là những vấn đề về
kinh doanh thương mại giữa các doanh nghiệp của các nước khác nhau với nhau. Tổng
hợp tất cả các quy tắc điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh từ hoạt động kinh doanh –
thương mại phát sinh giữa các doanh nghiệp của các nước khác nhau với nhau là pháp
luật kinh doanh quốc tế.
10



Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

Pháp luật kinh doanh quốc tế là một bộ phận quan trọng của tư pháp quốc tế.
Trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, tranh chấp phát sinh giữa các
doanh nghiệp cũng là điều tất yếu. Theo quy định của tư pháp quốc tế và pháp luật
kinh doanh quốc tế, cơ chế giải quyết các tranh chấp này cũng phải được xây dựng.
Tóm lại, trong đời sống quốc tế, cần có sự phân biệt sự khác nhau giữa các tranh
chấp trong kinh doanh quốc tế với tranh chấp trong thương mại quốc tế. Tranh chấp
trong thương mại quốc tế là những tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia với nhau khi
các quốc gia tiến hành các hoạt động thương mại ở phạm vi quốc tế. Còn tranh chấp
trong kinh doanh quốc tế là những tranh chấp phát sinh giữa các doanh nghiệp, các
công ty của các nước khác nhau với nhau khi các doanh nghiệp, công ty này thực hiện
các hoạt động kinh doanh thương mại. Việc nhận dạng và phân biệt sự khác nhau giữa
các loại hình tranh chấp này sẽ có cơ sở để xây dựng cơ chếp và phương thức giải
quyết tranh chấp phù hợp, ở phạm vi quốc gia cũng như phạm vi quốc tế. Mỗi một loại
hình tranh chấp khác nhau sẽ có cơ chếp giải quyết tranh chấp không giống nhau. Cơ
chế giải quyết tranh chấp trong kinh doanh quốc tế khác với cơ chế giải quyết tranh
chấp trong thương mại quốc tế.
Tranh chấp thương mại quốc tế là một hiện tượng song hành với sự gia tăng các
luồng giao thương trên phạm vi toàn cầu. Tranh chấp diễn ra khi một nước cho rằng
một nước khác vi phạm thỏa thuận đã cam kết. Các tranh chấp thương mại đưa ra giải
quyết tại WTO xoay quanh ba nội dung chính là các biện pháp chống bán phá giá,
chống trợ cấp và tự vệ.
Bán phá giá là hiện tượng một loại hàng hóa được xuất khẩu với giá thấp hơn giá
bán tại thị trường nước xuất khẩu. Hiểu một cách đơn giản, nếu giá xuất khẩu của một
mặt hàng thấp hơn giá nội địa của nó thì sản phẩm đó được coi là bán phá giá tại thị
trường nước nhập khẩu sản phẩm.
Trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức
công mang lại lợi ích cho doanh nghiệp/ngành sản xuất. Các khoản hỗ trợ này được

hiểu là mang lại lợi ích cho đối tượng được hưởng hỗ trợ nếu nó được thực hiện theo
cách mà một nhà đầu tư tư nhân, một ngân hàng thương mại…bình thường sẽ không
khi nào làm như vậy (vì đi ngược lại những tính toán thương mại thông thường).

11


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

Bán phá giá và trợ cấp được coi là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay
không công bằng của hàng hóa nhập khẩu. Trong khi biện pháp chống bán phá giá là
để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tiến
tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh thì biện pháp chống trợ cấp được áp dụng để loại
bỏ tác động tiêu cực gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa trong nước xuất phát từ các
chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu.
Biện pháp tự vệ: Khác với hai biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp, biện
pháp tự vệ thường được nói đến như một công cụ bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa
tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trong nước trong trường hợp khẩn cấp do tình trạng
gia tăng bất thường của hàng hóa nhập khẩu nhằm hạn chế những tác động không
thuận lợi gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước. Như vậy, biện pháp tự vệ
có thể được áp dụng kể cả khi các đối tác thương mại thực hiện kinh doanh một cách
chính đáng, không có tình trạng bán phá giá hoặc trợ cấp. Chính vì vậy, biện pháp tự
vệ được áp dụng một cách khắt khe hơn so với hai biện pháp còn lại.
Nếu như yêu cầu về điều kiện để áp dụng biện pháp chống phá giá và chống trợ cấp
chỉ dừng lại ở mức cơ quan điều tra phải chứng minh có tình trạng bán phá giá hay trợ
cấp và việc bán phá giá hoặc trợ cấp đó gây thiệt hại “đáng kể” cho ngành sản xuất
hàng hóa tương tự trong nước thì trong các cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ,
cơ quan điều tra phải chứng minh được tình trạng thiệt hại “nghiêm trọng” mà ngành
sản xuất hàng hóa “tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp” trong nước phải hứng chịu do
việc gia tăng “bất thường” của luồng hàng hóa nhập khẩu.


12


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

CHƯƠNG II
CÁC HÌNH THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH
QUỐC TẾ

1. Giải quyết tranh chấp thương mại trong nền kinh tế thị trường
Cùng với sự phát triển của kinh tế, tính đa dạng và phức tạp trong quan hệ thương
mại làm cho tranh chấp thương mại cũng trở lên phức tạp về nội dung, gay gắt về mức
độ tranh chấp và phong phú hơn nhiều về chủng loại xuất phát từ lợi nhuận của các
bên và sự hấp dẫn của nền kinh tế, việc giải quyết tranh chấp là hết sức quan trong và
cần thiết.
1.1 Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp kịp thời và hiệu quả.
Khi bắt đầu một thương vụ, các chủ thể không bao giờ muốn tranh chấp xảy ra bởi
tranh chấp đồng nghĩa với sự ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của họ, làm gián
đoạn quá trình kinh doanh, tốn thời gian chi phí và công sức để giải quyết tranh chấp.
Không những thế còn liên quan đến chủ thể khác có quan hệ với các bên tranh chấp,
uy tín của chủ thể trên thương trường có thể bị ảnh hưởng, cũng như các yếu tố khác
thuộc về bí mật kinh doanh có thể bị tiết lộ hoặc bị lợi dụng...
Giải quyết tranh chấp kịp thời và hiệu quả các tranh chấp cho phép hạn chế đến
mức tối thiểu sự gián đoạn của sản xuất kinh doanh cũng như đặt ở mức chi phí thấp
nhất. Song, quan trọng đó là phải bảo vệ một cách có hiệu quả lợi ích hợp pháp và
chính đáng của các bên khi tham gia vào kinh tế thương mại.
Giải quyết tốt tranh chấp là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Muốn
có một nền kinh tế phát triển thì các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ kinh tế
thương mại nói riêng phải được điều chỉnh bằng pháp luật, phải đảm bảo bằng pháp

luật. Việc đầu tiên là hạn chế các tranh chấp có thể xảy ra bằng cách đặt ra các chế
định và chế tài tạo thành một "sân chơi" lành mạnh và công bằng. Khi tranh chấp xảy
ra phải có các thủ tục, biện pháp để giải quyết, nếu không giải quyết kịp thời thì hậu
quả sẽ dây dưa kéo dài và thiệt hại rất lớn. Điều đó không những làm thiệt hại, kìm
hãm phát triển nền kinh tế mà còn gây nên một khuyết điểm lớn của môi trường kinh
doanh, các chủ thể sau tranh chấp có thể "quay lưng" lại với nhau đố kỵ và không tin

13


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

tưởng lẫn nhau. Một tâm lý yên tâm làm ăn kinh tế, mạnh dạn đầu tư sẽ góp phần cải
thiện nền kinh tế.
Giải quyết hậu quả kịp thời tranh chấp còn có ý nghĩa cực kỳ quan trong việc quản
lý xã hội bằng pháp luật, vừa tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiập, vừa góp phần
tạo môi trường pháp lý có kỷ cương. Trong sản xuất kinh doanh tạo niềm tin, thực hiện
công bằng và bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước. Thực hiện
sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Tính hiệu quả được xét ở hai góc độ hiệu quả chuyên môn và hiệu quả kinh tế.
Muốn vậy trong khi tiến hành một hình thức giải quyết tranh chấp nào cũng phải tuân
thủ một số nguyên tắc.
1.2 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp.
Dựa trên cơ sở tự do và tự chủ trong kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật, việc
giải quyết tranh chấp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc tự định đoạt: Theo nguyên tắc này thể hiện trước hết là ở chỗ các bên
có quyền thoả thuận phương thức giải quyết tranh chấp có lợi nhật có thể là tự thương
lượng, hoặc thông qua trung gian hoà giải, hoặc thông qua một hình thức tài phán. Sau
đó các bên có thể không nhất thiết phải tham gia tố tụng mà có thể uỷ quyền cho người
khác tham gia tố tụng, có quyền nhờ luật sư hoặc người khác bảo vệ quyền và lợi ích

của mình. Cuối cùng khi đã đưa tranh chấp ra trọng tài hoặc toà án các bên có quyền
hoà giải hoặc thay đổi nội dung đơn kiện hoặc rút đơn kiện.
- Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật: Pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của các bên không phân biệt thành phần kinh tế, số vốn, tài sản.
- Nguyên tắc hoà giải: Trước hết các bên phải tiến hành tự hoà giải, chỉ khi nào
không hoà giải được mới nhờ đến các cơ quan tài phán giải quyết. Khi thụ lý vụ án các
cơ quan tài phán cũng tiến hành các biện pháp hoà giải và công nhận hoà giải trước khi
xét xử. (Quy định tại Điều 35 pháp lệnh giải quyết vụ án tranh chấp kinh tế, Điều 35
quy tắc tố tụng trọng tài trong nước và Điều 35 quy tắc tố tụng của trung tâm trong tài
quốc tế Việt Nam).
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp nhanh chóng và kịp thời, đảm bảo hạn chế gián
đoạn quá trình sản xuất kinh doanh. Hoạt động kinh doanh được thực hiện theo chu
trình sản xuất khép kín, vì vậy ở bất kỳ một công đoạn nào xảy ra trục trặc đều dẫn
14


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

đến ảnh hưởng toàn bộ quá trình kinh doanh. Giải quyết tranh chấp không được tiến
hành một cách nhanh chóng kịp thời sẽ ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển vững
mạnh của chủ thể kinh doanh. Nhanh chóng, kịp thời nhưng phải dứt điểm, đạt hiệu
quả thi hành cao nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên.
Ngoài ra, xuất phát từ mức độ lợi ích của doanh nghiệp, việc giải quyết tranh chấp
phải quan tâm đến một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, là giải quyết đước tranh chấp với chi phí thấp nhất về tiền bạc và thời gian
chi phí để bỏ ra giải quyết tranh chấp cũng là chi phí kinh doanh, vì vậy khi phát sinh
tranh chấp là nảy sinh thêm chi phí. Đặt ra yêu cầu phải hạn chế ở mức thấp nhất các chi
phí không mang lại hiệu quả kinh doanh này. Các bên nên lựa chọn giải quyết với chi phí
thấp nhất, đồng thời các cơ quan giải quyết tranh chấp cũng phải tính đến yêu cầu này để
đặt ra nhưng quy định phù hợp, tạo niềm tin cho người kinh doanh.

Thứ hai, phải bảo vệ được uy tín của các bên trong thương trường. Trong quá trình
giải quyết tranh chấp, không bên nào được đưa ra bất kỳ một thông tin nào ngoài phạm
vi giải quyết tranh chấp, nhằm hạ uy tín hay ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của đối
phương trên thương trường, trước công luận, hay trước tổ chức giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, giải quyết tranh chấp phải bảo đảm các yếu tố bí mật trong kinh doanh
trong hoạt động kinh doanh để có được thành công thì các chủ thể đều có những bí
quyết riêng của mình vì vậy họ không muốn đề người khác biết. Khi mà quyền kinh
doanh được coi là hợp pháp thì quyền giữ bí mật trong kinh doanh cũng được pháp
luật bảo hộ.
Trong các phương thức giải quyết tranh chấp chỉ có thông qua toà án là xét xử
công khai nhưng ngay cả trong trường hợp các bên kiện ra toà, thì yêu cầu về tính bảo
mật và uy tín cũng được tôn trọng như quy định ở Điều 7 pháp lệnh về thủ tục giải
quyết các vụ án kinh tế: "Các vụ án kinh tế được xét xử công khai trừ trường hợp cần
giữ bí mật Nhà nước hoặc giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ".
Trong nền kinh tế, có nhiều phương thức và loại hình giải quyết tranh chấp khác
nhau, tất cả đều nhằm giải quyết một cách có hiệu quả nhất, quyền và lợi ích của các
bên đều được bảo đảm. Các khả năng, hình thức và biện pháp giải quyết tranh chấp
được quy định trong pháp luật của mỗi quốc gia thích ứng với điều kiện kinh tế xã hội

15


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

của quốc gia đó. Đó là việc giải quyết tranh chấp thông qua một cơ quan tài phán có
đơn kiện, hoặc giải quyết tranh chấp thông qua thủ tục đơn kiện.
1.3 Các biện pháp giải quyết tranh chấp.
a. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng.
Đây là biện pháp các bên áp dụng trước khi đi kiện khi pháp sinh tranh chấp. Các
bên sẽ đưa ra trao đổi bàn bạc các biện pháp để đi đến thống nhất chung cho việc gi ải

quyết tranh chấp. Các bên có thể trực tiếp hoặc thông qua đại diện gặp nhau đàm phán
để giải quyết những vấn đề phát sinh. Đại diện củ7a mỗi bên có thể là giám đốc, là
người được giám đốc uỷ quyền hoặc luật sư thay mặt doanh nghiệp đó tham gia vào quá
trình thương lượng. Việc thương lượng có thể tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các
hình thức trao đổi thông tin.
Trong hình thức thương lượng, các bên có quyền tự do ý trí, bình đẳng, cùng nhau
xem xét vấn đề trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành. Nếu các bên đạt
được sự thoả thuận thì coi như tranh chấp được giải quyết.
Biện pháp thương lượng là biện pháp giải quyết đơn giản, tiết kiệm được thời gian
và chi phí đối với mỗi bên. Việc thương lượng còn thể hiện sự thiện chí thương lượng của
các bên trong việc giải quyết tranh chấp, sau khi đã thoả thuận thống nhất các bên vẫn giữ
được mối quan hệ tốt với nhau trong các thương vụ sau này, cũng như giữ được uy tín và
bảo vệ được bí mất kinh doanh.
Tuy vậy biện pháp này thường chỉ thành công khi các bên cùng có thiện chí trong
việc giải quyết tranh chấp, nếu một trong các bên tỏ ra quá nóng vội, khiêu khích thì
quá trình thương lượng coi như thất bại. Mặt khác, nếu mâu thuẫn quá phức tạp các
bên không giữ được cách đánh giá khách quan thì rất khó thoả hiệp. Hoặc nếu tranh
chấp liên quan đến nhiều bên, tranh chấp mà việc giải quyết nó nằm ngoài khả năng
của các bên thì phải có một bên thứ ba hoặc một cơ quan hoà giải mới giải quyết được
chứ thương lượng không giúp ích gì nhiều.
b. Giải quyết tranh chấp bằng trung gian hoà giải.
Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp giữa các bên thông qua một người thứ
ba gọi là hoà giải viên. Hoà giải viên được các đương sự chọn có nghĩa vụ "trung lập"
tạo điều kiện giúp đỡ các bên tranh chấp đạt được một giải pháp để điều hoà lợi ích
khắc phục mâu thuẫn bất đồng đã phát sinh.
16


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT


Hoà giải viên sẽ tiến hành họp kín với riêng từng bên hoặc họp chung với cả hai
bên để tìm hiểu kỹ nội dung tranh chấp, đưa ra những lý giải, phân tích cho các bên
thấy rõ lợi ích của mình và của bên kia để cùng tìm ra một giải pháp thống nhất giải
quyết tranh chấp hợp tình hợp lý. Hoà giải viên không có quyền hạn gì để ra quyết
định hoặc áp đặt một giải pháp nào đối với các bên, cũng như không thể đưa ra các
biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp mang tính chất tự nguyện, nó mang đầy
đủ những ưu điểm của thương lượng. Ngoài ra, hoà giải còn có những ưu điểm khiến
không giải quyết tranh chấp dễ dàng hơn. Chẳng hạn hoà giải viên thường là những
chuyên gia am hiểu về vấn đề đang tranh chấp, họ lại có một đánh giá sự việc khách
quan hơn, hoà giải viên có thể đưa ra giải quyết cho cả hai bên cùng tham khảo, họ
thường có những phân tích chính xác, rõ ràng các vấn đề thực tế trong tranh chấp, từng
bước gỡ từng bước "mút" bất đồng.
Hoà giải cũng chỉ thành công khi hai bên có thiện chí giải quyết tranh chấp và nhìn
chung thể thức này không có giá trị bắt buộc trừ khi các bên đạt được sự thoả thuận.
Nếu các bên cứ khăng khăng bảo thủ thì tranh chấp cũng không giải quyết được vì hoà
giải viên không đưa ra những quyết định buộc các bên phải thi hành.
Người trung gian hoà giải được chọn thông qua sự thống nhất thoả thuận của các
bên. Đó có thể là các tranh chấp trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Trong hoạt động
kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong thương mại quốc tế trung gian hoà giải có thể là một
tổ chức Chính phủ như đại sứ quán các trung tâm xúc tiến thương mại... hoặc là các tổ
chức phi Chính phủ .
Hai phương thức trên có giải quyết tranh chấp thành công hay không đều phụ thuộc
rất lớn vào sự tự nguyện và thiện ý của các bên. Thiếu những yếu tố đó việc giải quyết
tranh chấp sẽ thất bại. Do đó cần giải quyết bằng những phương thức khác, quyết định
của cơ quan giải quyết tranh chấp phải được tuân thủ. Người có quyền lợi bị vi phạm
sau khi không thành công trong việc áp dụng của các biện pháp trên (hoặc bỏ qua) có
thể kiện ra toà án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền lợi của mình.
c. Giải quyết tranh chấp theo thủ tục toà án.
Điều 1 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã quy định về quyền yêu cầu

Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp như sau "cá nhân, pháp nhân, theo thủ tục do
17


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

pháp luật quy định, có quyền khởi kiện vụ án kinh tếư để yêu cầu toàn án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình''.
Tranh chấp kinh tế nói chung và tranh chấp thương mại nói riêng được kiện đối và
xét xử ở toà kinh tế. Toà án có thẩm quyền xét xử các tranh chấp pháp sinh từ tất cả
các mối quan hệ kinh tếư trong nước kể cả thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp.
Thẩm quyền giải quyết của toà án được phân cấp, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn
của nguyên đơn.
+ Thẩm quyền theo cấp:
Toà án nhân dân cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp hợp
đồng kinh tế mà giá trị thấp dưới 50 triệu, trừ những tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án kinh tếư thuộc
thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện.
Toà án kinh tế Toà án nhân dân tối cao chỉ xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm các vụ
án kinh tế.
Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cac xét xử phúc thẩm các bản án sơ thẩm
của toà án kinh tế Toà án nhân dân cấp huyện.
+ Thẩm quyền giải quyết theo lãnh thổ: Toà án cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm
là Toà án nơi bị đơn có trụ sở hoặc cư trú. Nếu vụ án chỉ liên quan đến bất động sản thì
toà án có nơi có bất động sản giải quyết.
+ Theo yêu cầu giải quyết của nguyên đơn: Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án
để yêu cầu giải quyết trong các trường hợp sau: Toà án an có tài sản, nơi có trụ sở
hoặc nơi cư trú của bị đơn hoặc chi nhánh của bị đơn.
Toà án nơi thực hiện hợp đồng kinh tế nếu các bị đơn có trụ sở hoặc nơi cư trú khác
nhau, thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi cư trú hoặc có trụ sở của một trong các

bị đơn giải quyết vụ án.
Nếu vụ án có liên quan đến bất động sản thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi
có bất động sản hoặc nơi cư trú của bị đơn giải quyết, hoặc chọn một trong các nơi nếu
liên quan đến bất động sản ở nhiều nơi.
Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài xảy ra ở Việt Nam, Toà án cũng có thẩm
quyền xét xử, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
18


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

Muốn đưa tranh chấp ra kiện ở Toà án nguyên đơn phải có đơn và tài liệu chứng
minh cho yêu cầu của mình, đồng thời phải tạm ứng án phí. Trước khi xét xử Toà sẽ
tiến hành hoà giải. Nếu hoà giải thành thì thẩm phán lập biên bản hòa giải thành và coi
đây như là quyết định của Toà án, bằng không cũng lập biên bản hoà giải không thành và
tiếp tục xét xử. Việc xét xử gồm xét xử sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có). Sau phiên sơ
thẩm, nếu không nhất trí với quyết định của Toà thì các đương sự vẫn có quyền kháng cáo
theo thủ tục phúc thẩm, trong thời gian 10 ngày, lên Toà án trên một cấp. Bản án phúc
thẩm sau khi tuyên thì có hiệu lực pháp luật ngay và không được quyền kháng cáo.
Trong một số trường hợp đặc biệt sau khi thi hành án, có thể có những phiên giám
đốc thẩm và tái thẩm.
Giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng tại Toà án thường là giải pháp cuối cùng
của các bên bởi quyết định của Toà án có tính cưỡng chế rất cao vì được đảm bảo bằng
bộ máy thi hành và giám sát thi hành án của Nhà nước. Ngoài ra trong quá trình thụ lý
và xét xử , Toà án có thể đưa ra những "biện pháp khẩn cấp tạm thời" như tạm giữ tài
sản, phong toả tài khoản... để bảo vệ bằng chứng, bảo đảm việc thi hành án.
Tuy nhiên, tranh chấp kinh tế trên thế giới thường ít được kiện ra Toà án vị nhiều lý
do. Trước hết đó là trong thủ tục Toà án, quyền tự quyết của các đương sự ở mức thấp
nhất so với các phương thức khác, pháp luật can thiệp trong toàn bộ quá trình giải

quyết tranh chấp. Các bên sẽ phải tuân thủ theo những thủ tục cứng nhắc, bắt buộc,
phức tạp và kéo dài, án phí lại thường cao. Thứ hai, một khi đã đưa tranh chấp ra Toà
thì những bí mật kinh doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp sẽ không được bảo
toàn, cho dù doanh nghiệp là bên thắng kiện. Thứ ba, khi đã kiện tụng trước Toàn thì
quan hệ hợp tác giữa hai bên khó có thể duy trì, doanh nghiệp sẽ mất một đối tác, một
bạn hàng nghĩa là mất nguồn lợi do quan hệ kinh tế đem lại.
d. Giải quyết tranh chấp thông qua thủ tục trọng tài
Tranh chấp thương mại có thể được giải quyết thông qua trọng tài kinh tế. Đây là
một phương thức giải quyết tranh chấp do các bên tự thoả thuận lập ra nhằm giải quyết
dứt điểm các vụ tranh chấp. Trọng tài kinh tế tồn tại từ rất lâu và phát triển mạnh mẽ
trên thế giới như ngày nay vì tố tụng của nó đã mang lại những lợi ích thiết thực cho
các nhà doanh nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam trọng tài phi Chính phủ vẫn còn chưa
quen thuộc với đa số các nhà doanh nghiệp. Phần tiềp theo, người viết sẽ tập trung vào
19


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại
quốc tế.
2 Giới thiệu về cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO
2.1 Giới thiệu
Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) chính thức ra đời kể từ ngày 1/1/1995 là kết
quả của Vòng đàm phán Urugoay (1986-1995) với tiền thân là Hiệp định chung về
thuế quan và thương mại (GATT 1947). WTO được coi như một thành công đặc biệt
trong sự phát triển thương mại và pháp lý cuỗi thế kỷ XX với một hệ thống đồ sộ các
hiệp định, thoả thuận, danh mục nhượng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa
vụ thương mại của các quốc gia thành viên.
Với các mục tiêu đầy tham vọng là thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại trên
toàn cầu, nâng cao mức sống của người dân các nước thành viên và giải quyết các bất

đồng về lợi ích giữa các quốc gia trong khuôn khổ hệ thống thương mại đa biên, sự
vận hành của WTO đã và sẽ có tác động to lớn đối với tương lai lâu dài của kinh tế thế
giới cũng như kinh tế của từng quốc gia. Theo tính toán, có tới trên 95% hoạt động
thương mại trên thế giới hiện nay được điều chỉnh bởi các Hiệp định của Tổ chức này.
Để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn
chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện
các mục tiêu to lớn của WTO, một cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ tổ
chức này đã được thiết lập. Cơ chế này là sự hiện thực hoá xu thế pháp lý hoá quá
trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngày nay, dần dần thay thế các phương
thức giải quyết tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này.
Việt Nam đã là thành viên của WTO nên có thể sử dụng cơ chế này cho các tranh
chấp thương mại có thể có với các thành viên WTO khác. Cơ chế này sẽ là một cứu
cánh quan trọng để bảo vệ các lợi ích thương mại của chúng ta trong quan hệ thương
mại quốc tế. Hiện tại, việc xem xét cơ chế giải quyết tranh chấp này cùng với hệ thống
án lệ đồ sộ của nó có ý nghĩa thực tiễn to lớn không chỉ trong việc hiểu chính xác các
qui định của HĐTM mà còn góp phần bảo vệ các lợi ích chính đáng của Việt Nam
trong quá trình thực thi HĐTM bởi HĐTM được xây dựng chủ yếu dựa trên các quy
tắc thương mại quốc tế đang có hiệu lực trong WTO.
2.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO:
20


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

Là sự kế thừa các qui định về giải quyết tranh chấp đã từng phát huy tác dụng tích
cực gần 50 năm qua trong lịch sử GATT 1947. Rút kinh nghiệm từ những bất cập
trong cơ chế cũ, một số cải tiến căn bản về thủ tục đã được đưa vào cơ chế mới, góp
phần không nhỏ trong việc nâng cao tính chất xét xử của thủ tục này cũng như tăng
cường tính ràng buộc của các quyết định giải quyết tranh chấp.
Mục tiêu căn bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là nhằm “đạt được

một giải pháp tích cực cho tranh chấp”, và ưu tiên những “giải pháp được các bên
tranh chấp cùng chấp thuận và phù hợp với các Hiệp định liên quan” . Xét ở mức độ
rộng hơn, cơ chế này nhằm cung cấp các thủ tục đa phương giải quyết tranh chấp thay
thế cho các hành động đơn phương của các quốc gia thành viên vốn tồn tại nhiều nguy
cơ bất công, gây trì trệ và xáo trộn sự vận hành chung của các qui tắc thương mại quốc
tế.
Qua hơn một thập kỷ thực hiện, cơ chế giải quyết tranh chấp này đã tỏ rõ ưu thế
của mình trong việc giải quyết có hiệu quả các tranh chấp giữa các quốc gia trong
khuôn khổ WTO. Hiệu quả này đạt được chủ yếu dựa trên các qui định hết sức chặt
chẽ về thủ tục được nêu tại các văn bản (nguồn) khác nhau, cơ chế thông qua quyết
định mới (cơ chế đồng thuận phủ quyết), các cơ quan chuyên môn độc lập với các thời
hạn cụ thể. Không phải ngẫu nhiên mà cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO được
coi là một trong những thành công cơ bản của Vòng đàm phán Urugoay.
2.3 Văn bản điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp trong WTO
Trên cơ sở các qui định rời rạc về giải quyết tranh chấp trong GATT, WTO đã
thành công trong việc thiết lập một cơ chế pháp lý đầy đủ, chi tiết trong một văn bản
thống nhất để giải quyết tranh chấp thương mại giữa các thành viên WTO (bao gồm
các quốc gia có chủ quyền và những lãnh thổ thuế quan riêng biệt) : Thỏa thuận về
các Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU) - Phụ lục 2
Hiệp định Marrakesh thành lập WTO.
Ngoài ra, cơ chế này còn được có một số qui định riêng biệt trong các văn bản khác
(được DSU viện dẫn đến) như:
- Điều XXII và XXIII GATT 1947 (Điều 3.1 DSU)

21


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

- Các qui tắc và thủ tục chuyên biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh chấp tại các

Hiệp định trong khuôn khổ WTO (Ví dụ: Điều 11.2 Hiệp định về các Biện pháp Kiểm
dịch Thực vật; Điều 17.4 đến 17.7 GATT 1994…)
- “Quyết định về các Thủ tục giải quyết tranh chấp đặc biệt” GATT 1966: bao gồm
các qui tắc áp dụng cho việc giải quyết các tranh chấp giữa một nước kém phát triển và
một nước phát triển (Điều 3.12 DSU) và các thủ tục đặc biệt áp dụng cho tranh chấp
có một bên là nước kém phát triển nhất (Điều 2.4 DSU)
Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO này là bắt buộc đối với tất cả các quốc gia
thành viên theo đó mỗi thành viên có khiếu nại, tranh chấp với thành viên khác buộc
phải đưa tranh chấp ra giải quyết bằng cơ chế này. Quốc gia thành viên bị khiếu nại
không có cơ hội lựa chọn nào khác là chấp nhận tham gia giải quyết tranh chấp theo
các thủ tục của cơ chế này. Đây chính là điểm tạo nên sự khác biệt cũng như hiệu quả
hoạt động của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO so với các cơ chế giải quyết
các tranh chấp quốc tế đang tồn tại (thẩm quyền giải quyết của các cơ chế truyền thống
không có tính bắt buộc mà phụ thuộc vào sự chấp thuận của các quốc gia liên quan)
2.4. Phạm vi đối tượng tranh chấp
Các khiếu kiện có thể được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO
được qui định tại Điều XXIII.1 GATT 1994 bao gồm:
-

Khiếu kiện có vi phạm (violation complaint): khiếu kiện phát sinh khi một quốc

gia thành viên không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo qui định tại Hiệp định
(trong trường hợp này thiệt hại được suy đoán là đương nhiên)
-

Khiếu kiện không vi phạm (non-violation complaint): là loại khiếu kiện phát

sinh khi một quốc gia ban hành một biện pháp thương mại gây thiệt hại (làm mất hay
phương hại đến) các lợi ích mà quốc gia khiếu kiện có được từ Hiệp định hoặc cản trở
việc thực hiện một trong các mục tiêu của Hiệp định - không phụ thuộc vào việc biện

pháp đó có vi phạm Hiệp định hay không
-

Khiếu kiện dựa trên “sự tồn tại một tình huống khác” (“situation” complaint):

trong trường hợp này, quốc gia khiếu kiện cũng phải chứng minh về thiệt hại mà mình
phải chịu hoặc trở ngại gây ra đối với việc đạt được một mục tiêu của Hiệp định.
Như vậy, tranh chấp trong khuôn khổ WTO không nhất thiết phát sinh từ một hành
vi vi phạm các qui định tại các Hiệp định của tổ chức này của một hoặc nhiều quốc gia
22


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

thành viên (thông qua việc ban hành/thực thi một biện pháp thương mại vi phạm nghĩa
vụ của quốc gia đó theo WTO). Tranh chấp có thể phát sinh từ một “tình huống” khác
hoặc khi một biện pháp thương mại do một quốc gia thành viên ban hành tuy không vi
phạm qui định của WTO nhưng gây thiệt hại cho một hoặc nhiều quốc gia thành viên
khác.
Qui định này thực chất là sự kế thừa qui định trước đây của GATT 1947 về phạm
vi áp dụng của cơ chế giải quyết tranh chấp: một qui định phản ánh sự mềm dẻo trong
các qui định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên WTO theo đó một bên có thể
phải nhượng bộ trong một vấn đề cụ thể (mà mình có quyền hoặc chí ít là không bị
cấm) để tránh gây thiệt hại cho bên (các bên) khác hoặc nhằm đạt được một mục tiêu
nhất định của Hiệp định liên quan.
2.5. Các cơ quan giải quyết tranh chấp
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO được thực hiện bởi các cơ quan khác
nhau, mỗi cơ quan có chức năng riêng biệt, tạo nên tính độc lập trong hoạt động điều
tra và thông qua quyết định trong cơ chế này.
2.6. Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB):

Cơ quan này thực chất là Đại hội đồng WTO, bao gồm đại diện của tất cả các quốc
gia thành viên. DSB có quyền thành lập Ban hội thẩm, thông qua các báo cáo của Ban
hội thẩm và của Cơ quan phúc thẩm, giám sát việc thi hành các quyết định, khuyến
nghị giải quyết tranh chấp, cho phép đình chỉ thực hiện các nghĩa vụ và nhượng bộ (trả
đũa). Tuy nhiên, DSB chỉ là cơ quan thông qua quyết định chứ không trực tiếp thực
hiện việc xem xét giải quyết tranh chấp.
Các quyết định của DSB được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ quyết.
Đây là một nguyên tắc mới theo đó một quyết định chỉ không được thông qua khi tất
cả thành viên DSB bỏ phiếu không thông qua. Điều này đồng nghĩa với việc các quyết
định của DSB hầu như được thông qua tự động vì khó có thể tưởng tượng một quyết
định có thể bị bỏ phiếu chống bởi tất cả các thành viên DSB. Nguyên tắc này khắc
phục được nhược điểm cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT 1947 nơi
áp dụng nguyên tắc đồng thuận truyền thống - mọi quyết định chỉ được thông qua khi
tất cả các thành viên bỏ phiếu thông qua (mỗi thành viên đều có quyền phủ quyết

23


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

quyết định) – một rào cản trong việc thông qua các quyết định của cơ quan giải quyết
tranh chấp.
2.7. Ban hội thẩm (Panel):
Ban Hội thẩm bao gồm từ 3 - 5 thành viên có nhiệm vụ xem xét một vấn đề cụ thể
bị tranh chấp trên cơ sở các qui định WTO được quốc gia nguyên đơn viện dẫn. Ban
hội thẩm có chức năng xem xét vấn đề tranh chấp trên cơ sở các qui định trong các
Hiệp định của WTO mà Bên nguyên đơn viện dẫn như là căn cứ cho đơn kiện để giúp
DSB đưa ra khuyến nghị/quyết nghị thích hợp cho các bên tranh chấp. Kết quả công
việc của Ban hội thẩm là một báo cáo trình DSB thông qua, giúp DSB đưa ra các
khuyến nghị đối với các Bên tranh chấp. Trên thực tế, đây là cơ quan trực tiếp giải

quyết tranh chấp mặc dù không nắm quyền quyết định (bởi với nguyên tắc đồng thuận
phủ quyết mọi vấn đề về giải quyết tranh chấp khi đã đưa ra trước DSB đều được “tự
động” thông qua).
Các thành viên Ban hội thẩm được lựa chọn trong số các quan chức chính phủ hoặc
các chuyên gia phi chính phủ không có quốc tịch của một Bên tranh chấp hoặc của
một nước cùng là thành viên trong một Liên minh thuế quan hoặc Thị trường chung
với một trong các nước tranh chấp (ví dụ: Liên minh Châu Âu). Ban hoạt động độc
lập, không chịu sự giám sát của bất kỳ quốc gia nào.
2.8. Cơ quan Phúc thẩm (SAB):
Cơ quan Phúc thẩm là một thiết chế mới trong cơ chế giải quyết tranh chấp của
WTO, cho phép báo cáo của Ban hội thẩm được xem xét lại (khi có yêu cầu), đảm bảo
tính đúng đắn của báo cáo giải quyết tranh chấp. Sự ra đời của cơ quan này cũng cho
thấy rõ hơn tính chất xét xử của thủ tục giải quyết tranh chấp mới.
Cơ quan Phúc thẩm gồm 7 thành viên do DSB bổ nhiệm với nhiệm kỳ 4 năm (có
thể được bầu lại 1 lần). Các thành viên Cơ quan Phúc thẩm được lựa chọn trong số
những nhân vật có uy tín và có chuyên môn được công nhận trong lĩnh vực luật pháp,
thương mại quốc tế và trong những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của các hiệp định
liên quan. Tuy nhiên, việc xét xử phúc thẩm trong từng vụ việc chỉ do 3 thành viên
SAB thực hiện một cách độc lập.
Khi giải quyết vấn đề tranh chấp, SAB chỉ xem xét lại các khía cạnh pháp lý và giải
thích pháp luật trong Báo cáo của Ban hội thẩm chứ không điều tra lại các yếu tố thực
24


Bài tiểu luận nhóm TM6- Tranh chấp về KDQT và các hình thức giải quyết tranh chấp trong KDQT

tiễn của tranh chấp. Kết quả làm việc của SAB là một báo cáo trong đó Cơ quan này
có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc đảo ngược lại các kết luận trong báo cáo của Ban hội
thẩm. Báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm được thông qua tại DSB và không thể bị phản
đối hay khiếu nại tiếp.

2.9. Trình tự giải quyết tranh chấp
2.9.1 Tham vấn (Consultation)
Bên có khiếu nại trước hết phải đưa ra yêu cầu tham vấn Bên kia (Điều 4 DSU).
Việc tham vấn được tiến hành bí mật (không công khai) và không gây thiệt hại cho các
quyền tiếp theo của các Bên. Bên được tham vấn phải trả lời trong thời hạn 10 ngày và
phải tiến hành tham vấn trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu (trường hợp
khẩn cấp – ví dụ hàng hoá liên quan có nguy cơ hư hỏng, các thời hạn này lần lượt là
10 ngày và 20 ngày). Bên được tham vấn có nghĩa vụ "đảm bảo việc xem xét một cách
cảm thông và tạo cơ hội thoả đáng" cho Bên yêu cầu tham vấn.
Thủ tục tham vấn chỉ là thủ tục được tiến hành giữa các Bên với nhau. DSB được
thông báo về thủ tục này và có trách nhiệm thông báo cho các quốc gia thành viên về
yêu cầu tham vấn nhưng cơ quan này không trực tiếp tham gia vào thủ tục tham vấn.
Các quốc gia khác có thể xin tham gia vào việc tham vấn này nếu Bên bị tham vấn
thừa nhận rằng các quốc gia này có “quyền lợi thương mại thực chất” trong việc tham
vấn này.
Thông thường các quốc gia đều có gắng giải quyết các bất đồng ở giai đoạn tham
vấn nhằm hạn chế đến mức tối đa các thiệt hại về lợi ích cho tất cả các bên đồng thời
đảm bảo tính bí mật của các thông tin liên quan đến tranh chấp.
Tuy nhiên, các qui định về tham vấn trong WTO cũng bộc lộ một số hạn chế nhất
định như: làm thế nào để định lượng hoặc kiểm nghiệm được việc thực hiện nghĩa vụ
“tham vấn một cách thông cảm” của Bên được yêu cầu tham vấn; trường hợp tham
vấn đạt được một thoả thuận thì thông báo về kết quả tham vấn cần phải chi tiết đến
mức nào để các Thành viên khác của WTO và cơ quan có thẩm quyền kiểm tra được
tính hợp pháp của thoả thuận tham vấn (tránh hiện tượng thoả thuận đạt được đơn
thuần chỉ là sự thoả hiệp về lợi ích giữa các bên mà không dựa trên các qui định của
WTO và thực tế vi phạm vẫn tồn tại…)
2.9.2. Môi giới, Trung gian, Hoà giải
25



×