Tải bản đầy đủ (.doc) (101 trang)

Nâng cao chất lượng tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (437.4 KB, 101 trang )

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN HUY ĐÔNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN,
PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT CHO NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH TRONG
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Nghệ An, 2015


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN HUY ĐÔNG

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYÊN TRUYỀN,
PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT CHO NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH TRONG
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA

Chuyên ngành:


CHÍNH TRỊ HỌC

Mã số: 60.31.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thái Sơn

Nghệ An, 2015


2
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và kính trọng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học; Khoa Giáo dục
Chính trị Trường Đại học Vinh. Tác giả cũng xin được trân trọng cảm ơn
PGS.TS Nguyễn Thái Sơn, PGS.TS Đinh Thế Định và quý thầy, cô giáo đã
trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu, viết
luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, HĐND - UBND huyện Kỳ
Anh, tỉnh Hà Tĩnh, cán bộ các Phòng, Ban của huyện Kỳ Anh cùng gia
đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, ủng hộ, cung cấp tài liệu, tạo
điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và khảo sát điều tra, tham gia
đóng góp ý kiến quý báu cho việc triển khai nghiên cứu đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng song Luận văn
không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ dẫn, góp ý
của Quý Thầy Cô giáo và đồng nghiệp để Luận văn hoàn thiện hơn.
Nghệ An, tháng 10 năm 2015
Tác giả


Nguyễn Huy Đông


3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

NXB

Nhà xuất bản

PBGDPL

Phổ biến giáo dục pháp luật

PBPL

Phổ biến pháp luật

TMDV

Thương mại, dịch vụ

TTCN

Tiểu thủ công nghiệp

UBMTTQ


Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc

UBND

Uỷ ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

YTPL

Ý thức pháp luật

MỤC LỤC


4
B. NỘI DUNG....................................................................................................11
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................87


5

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật là giới thiệu tinh thần văn bản
pháp luật cho nhân dân và các đối tượng có nhu cầu tìm hiểu pháp luật. Qua đó
nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm, niềm tin pháp luật, ý thức tôn trọng Hiến

pháp, pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của nhân dân. Đây là một
khâu của hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, là hoạt động định hướng có tổ
chức, có chủ định thông qua các hình thức giáo dục, thuyết phục, nêu gương...
nhằm hình thành ở đối tượng tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi xử sự phù hợp
với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành với các hình thức, phương tiện,
phương pháp đặc thù. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật là quá trình hoạt động
thường xuyên, liên tục và lâu dài của chủ thể tuyên truyền lên đối tượng, là cầu
nối để chuyển tải Hiến pháp và pháp luật vào cuộc sống. Tuyên truyền, phổ biến
pháp luật là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm thực hiện quản
lý nhà nước bằng pháp luật, xây dựng lối sống, lề lối làm việc theo Hiến pháp và
pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và toàn thể nhân dân.
Xác định vai trò quan trọng của pháp luật, trong những năm qua hoạt
động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho quần chúng nhân dân ở tỉnh Hà Tĩnh
nói chung và ở huyện Kỳ Anh nói riêng đã được tích cực triển khai và đạt được
nhiều kết quả quan trọng, từng bước làm chuyển biến nhận thức về pháp luật của
người dân.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác này vẫn còn những hạn chế
nhất định như: hoạt động phối hợp phổ biến, pháp luật của chính quyền, đoàn
thể, nhất là ở cơ sở chưa chặt chẽ và thường xuyên; việc nghiên cứu học tập
pháp luật của một bộ phận cán bộ, công chức và của nhân dân chưa triệt để; đặc
biệt một số cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến công tác tuyên truyền
phổ biến pháp luật, chưa chủ động trong việc phối hợp thực hiện; ý thức tôn


6
trọng pháp luật và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân chưa tạo chuyển
biến căn bản như mục tiêu đề ra; tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm, tệ nạn
xã hội; đơn thư khiếu kiện đông người vượt cấp vẫn chưa giảm; trình độ của một
số báo cáo viên pháp luật ở cơ sở còn hạn chế; kinh phí dành cho công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa nhiều.

Là cán bộ, công chức của ngành Tư pháp huyện được đào tạo và nghiên
cứu chương trình đào tạo thạc sỹ chuyên ngành Chính trị học tại trường Đại học
Vinh; đồng thời trực tiếp tham gia công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật của huyện trong những năm qua, tôi thấy cần thiết phải có những giải
pháp khắc phục tình trạng trên nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền, phổ
biến, pháp luật cho nhân dân để góp phần thực hiện mục tiêu giữ vững và ổn
định chính trị - xã hội, xứng tầm trung tâm kinh tế, văn hoá của vùng phía nam
Hà Tĩnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Do đó, tôi chọn
đề tài: “Nâng cao chất lượng tuyên truyền phổ biến pháp luật cho nhân dân
huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Chính trị học.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo, các luận văn,
luận án, sách, tài liệu, giáo trình liên quan đến vấn đề tuyên truyền phổ biến,
giáo dục pháp luật cho quần chúng nhân dân trong thời gian gần đây. Tuy nhiên
do điều kiện hạn hẹp về thời gian và khả năng nên tôi chỉ có thể tiếp cận được
một số công trình tiêu biểu. Đề tài cũng được nghiên cứu trong giai đoạn các
cấp, các ngành đang thực hiện chủ trương của Đảng về tăng cường công tác
tuyên truyền phổ biến, pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán
bộ, nhân dân với mục tiêu tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôn
trọng và chấp hành pháp luật của người dân nói chung, và đặc biệt là cho người
lao động, tiến tới xây dựng xã hội và nhà nước pháp quyền, tất cả dựa trên nền
tảng chi phối của Hiến pháp và pháp luật.


7
- Hiến Pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội
thông qua tháng 11 năm 2013 và đã được Chủ tịch nước ký sắc lệnh ban hành
và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/2014.
- Một số hình thức phổ biến giáo dục pháp luật (Bộ Tư pháp - Vụ Phổ biến,
Giáo dục pháp luật - NXB Công an Nhân dân); 10 năm hoạt động trợ giúp pháp

lý ở Việt Nam hướng phát triển (Bộ Tư pháp, Cục trợ giúp pháp lý).
- Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (NXB
Chính trị Quốc gia - Sự thật 2012);
- Nâng cao hiệu quả phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước tại trung tâm học tập cộng đồng các phường, xã trên
địa bàn thành phố Vinh (Luận văn Thạc sỹ của tác giả Bùi Thị Kim Ngân).
Ngoài ra còn một số văn bản của Đảng và Nhà nước, như: Chỉ Thị số 32CT/TW Ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng Về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; Quyết định số 37/2008/QĐTTg ngày 12/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt chương trình
phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 - 2012; Quyết định số 31/2009/QĐTTg ngày 24/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt Đề án tuyên
truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong
các loại hình doanh nghiệp từ năm 2009 - 2012;
- Nghị định số 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 của Chính phủ về tư vấn
pháp luật;
- Chuyên đề: Công tác PBGDPL của Tiến sỹ Nguyễn Duy Lãng - Vụ
trưởng Vụ phổ biến GDPL - Bộ Tư pháp;


8
- Quyết định số 31/2008/QĐ-UBND ngày 10/9/2008 của UBND tỉnh Hà
Tĩnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình PBGDPL từ năm 2008
đến năm 2012;
Quyết định của UBND tỉnh, huyện về việc ban hành kế hoạch phổ biến
giáo dục pháp luật các năm: 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013,14.
Dưới giác độ khác nhau, các công trình nghiên cứu trên đã phân tích thực
trạng phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung ở tầm vĩ mô; các giải pháp đưa ra
còn mang tính chung chung; chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách
thoả đáng, có hệ thống, đánh giá đầy đủ, khách quan cơ sở lý luận và thực trạng
hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân trên địa bàn một
huyện cụ thể. Xuất phát từ đặc trưng đó, tôi thấy cần thiết phải đi sâu nghiên cứu

vấn đề tuyên truyền phổ biến pháp luật cho nhân dân trên địa bàn huyện Kỳ Anh
trong bối cảnh cả nước nói chung đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Trong đó Kỳ Anh đang trở thành một trong những địa bàn trọng
điểm mang tính chiến lược của Hà Tĩnh trên lĩnh vực này.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nhằm đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất
lượng công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật cho nhân dân ở huyện Kỳ Anh,
tỉnh Hà Tĩnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn xác định ba nhiệm vụ
nghiên cứu trọng tâm như sau:
- Xác định cơ sở lý luận của công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật cho
nhân dân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.


9
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chấp hành pháp luật và công tác
tuyên truyền phổ biến pháp luật cho nhân dân trên địa bàn huyện Kỳ Anh tỉnh
Hà Tĩnh trong thời gian qua.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác
tuyên truyền phổ biến pháp luật cho nhân dân huyện Kỳ Anh trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng, nội dung, hình thức công
tác tuyên truyền phổ biến pháp luật cho nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề tuyên truyền, phổ biến pháp luật có nội dung rộng lớn, hình thức
phong phú. Trong phạm vi, khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp thạc sỹ,
chúng tôi không có tham vọng bao quát hết tất cả mà chỉ tập trung vào việc

tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản, trọng tâm, thiết yếu nhất của pháp luật
nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nội dung luận văn không có ý định tuyên truyền phổ
biến pháp luật một cách chung chung mà hướng tới những nội dung cụ thể đặc
trưng gắn liền với tính chất của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trên địa bàn của huyện Kỳ Anh trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được viết trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước
ta về pháp luật, ý thức pháp luật và tuyên truyền, phổ biến pháp luật.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc trưng của khoa học chính
trị kết hợp với các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và


10
nhân văn như phương pháp phân tích, so sánh, logic - lịch sử. Tất cả những
phương pháp đó dựa trên nền tảng tư duy biện chứng và phép biện chứng duy
vật để đi đến những kết luận chân thực, chính xác.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thực trạng công tác tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật cho nhân dân trên địa bàn huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Ngoài ra,
luận văn có thể làm tư liệu giảng dạy, tham khảo cho những công trình nghiên
cứu có liên quan.
- Luận văn góp phần đề xuất một số giải pháp góp phần nhằm nâng cao
chất lượng công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung trên địa
bàn Kỳ Anh và Hà Tĩnh thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện
nay.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1. Cơ sở lý luận của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho
nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Chương 2. Thực trạng ý thức chấp hành pháp luật và công tác tuyên truyền
phổ biến pháp luật cho nhân dân huyện Kỳ Anh trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá
Chương 3. Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác
tuyên truyền phổ biến pháp luật cho nhân dân huyện Kỳ Anh trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá


11
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, PHỔ BIẾN PHÁP
LUẬT CHO NHÂN DÂN TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm pháp luật
“Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà
nước đặt ra và bảo vệ, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân
tố điều chỉnh các quan hệ xã hội” [13, tr.135]. Bản chất của pháp luật thể hiện
qua mối quan hệ với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đạo đức... Trong mối quan
hệ với kinh tế, pháp luật có tính độc lập tương đối. Một mặt phụ thuộc vào kinh
tế, một mặt lại tác động trở lại mạnh mẽ với kinh tế. Trong mối quan hệ với
chính trị, là một trong những biểu hiện cụ thể của chính trị. Đường lối, chính
sách của giai cấp thống trị luôn giữ vai trò chủ đạo đối với pháp luật. Trong mối
quan hệ với đạo đức, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Pháp luật luôn phản ánh
đạo đức của lực lượng lãnh đạo xã hội. Pháp luật và nhà nước luôn có mối quan
hệ khăng khít với nhau, chúng có chung nguồn gốc, cùng phát sinh, phát triển.
Với bản chất đó, pháp luật mang đặc trưng cơ bản sau đây:

Tính quyền lực: Pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện,
sự đảm bảo đó chính là quyền lực của Nhà nước.
Tính quy phạm: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự, đó là những
khuôn mẫu, những mực thước được xác định cụ thể, không trừu tượng, chung
chung” [13,tr.136]. Đó là những giới hạn, mà nếu vượt quá là trái pháp luật.


12
Tính ý chí: Pháp luật bao giờ cũng là hiện tượng ý chí, không phải kết quả
của tự phát hay cảm tính. Đó chính là ý chí của lực lượng lãnh đạo, thống trị xã
hội.
Tính xã hội: Pháp luật phản ánh đúng những nhu cầu khách quan của xã
hội, tuy nhiên pháp luật chỉ có khả năng mô hình hoá những nhu cầu xã hội
khách quan đã mang tính điển hình, phổ biến và thông qua đó tác động tới các
quan hệ xã hội khác, hướng các quan hệ đó phát triển theo hướng nhà nước xác
định.
1.1.2. Khái niệm tuyên truyền, phổ biến pháp luật
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật hiểu một cách ngắn gọn nhất, “đó là
việc chuyển tải các nội dung của pháp luật đến với mọi cơ quan, tổ chức, công
dân. Làm cho mọi người biết về pháp luật để từ đó thực hiện đúng các quy định
của pháp luật” [20, tr.14-15].
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cần thực hiện rộng rãi cách truyền đạt
thông tin hai chiều. Nghĩa là, trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải sử
dụng đa dạng các hình thức thông tin phản hồi từ cơ sở, coi trọng ý kiến của
đông đảo nhân dân. Thông tin phản hồi được thực hiện dưới nhiều hình thức
như: toạ đàm, đối thoại, trao đổi, góp ý… Từ những hình thức này, mọi chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước sau khi phổ biến, lấy ý
kiến nhân dân sẽ được thực tiễn cuộc sống ở cơ sở kiểm nghiệm, bổ sung và
kiến nghị. Như vậy, có thể hiểu, tuyên truyền, phổ biến pháp luật là làm cho các
cá nhân người lao động và toàn thể xã hội ý thức được pháp luật để họ tham gia

một cách tự giác, có trách nhiệm và hiệu quả trong việc thực thi pháp luật.
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật không những thông qua nói và viết mà
bằng việc làm, bằng hành động cụ thể, nói đi đôi với làm; người làm công tác
tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải là người không những nắm chắc kiến thức
pháp luật, có trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn mà cần phải có phương


13
pháp thực hiện hiệu quả và phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói,
tay làm trong quá trình truyền đạt và trong các các hoạt bổ trợ cho việc truyền
đạt.
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá
trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (thuyết phục,
nêu gương...) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng
cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng.
Từ việc phân tích trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm tuyên truyền, phổ biến
pháp luật theo hai nghĩa:
Nghĩa thứ nhất: là truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối
tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù
hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành
Nghĩa thứ hai: tuyên truyền, phổ biến pháp luật là công tác, lĩnh vực hoạt
động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện phổ biến, pháp
luật; xây dựng chương trình, kế hoạch tuyên truyền phổ biến, pháp luật; triển
khai chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc áp dụng
các hình thức, biện pháp tuyên truyền, phổ biến, pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra,
đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật, đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học, nâng
cao trình độ lý luận... về tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.
1.2. Mục đích, nội dung và hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp
luật cho quần chúng nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,

hiện đại hoá
1.2.1. Mục đích của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho quần
chúng nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá


14
Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào đó thì điều đầu tiên là chúng ta
phải xác định mục đích để làm gì ? Cần đạt được mục đích ấy bằng con đường
nào? Tức là phải lựa chọn hình thức và phương pháp nhất định.
Việc xác định mục đích tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân là
một vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống. Như
vậy, mục đích của tuyên truyền pháp luật cho nhân dân trong giai đoạn hiện nay
bao gồm các mục đích cơ bản sau đây:
- Mục đích thức nhất, hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ
thống tri thức pháp luật của công dân (mục đích nhận thức).
Nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết của người dân trên các lĩnh vực
là một yêu cầu khách quan của công tác tuyên truyền nói chung, tuyên truyền,
phổ biến pháp luật nói riêng. Trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thì
mục đích được đặt ra là trang bị những tri thức cơ bản về pháp luật như giá trị
của pháp luật, vai trò điều chỉnh của pháp luật, các chuẩn mực pháp luật trong
từng lĩnh vực đời sống. Đây được xem là mục đích hàng đầu, bởi vì, chính sự
am hiểu pháp luật, sự nhận thức đúng đắn về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnh
của pháp luật sẽ là nền móng cơ bản để hình thành tâm lý, tình cảm và thái độ
tôn trọng pháp luật, tin tưởng vào pháp luật ở mỗi người dân. Hơn nữa, tri thức
pháp luật còn giúp cho mỗi người tổ chức một cách có ý thức hoạt động của
mình và tự đánh giá kiểm tra, đối chiếu hành vi với các chuẩn mực pháp luật.
- Mục đích thứ hai: hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật (mục
đích cảm xúc).
Việc nâng cao trình độ kiến thức pháp luật là mục đích đầu tiên vô cùng
quan trọng nhưng bản thân nó chưa phải là sự quyết định hành vi xử sự hợp

pháp. Có tri thức về pháp luật chưa có nghĩa là đã có tình cảm đúng đắn và lòng
tin vào pháp luật, đó mới chỉ là cơ sở nhận thức, tạo niềm tin bên trong ở mỗi
công dân. Do vậy, việc biến nhận thức thành niềm tin, động cơ bên trong cho


15
nhân dân là yêu cầu quan trọng. Thiếu tình cảm và niềm tin vào pháp luật thì
mọi hành động dễ bị chệch hướng ra khỏi chuẩn mực pháp lý vì những mục
đích, động cơ cá nhân nhằm để trục lợi. Thực tế cho thấy nếu một người có sự
hiểu biết pháp luật, có tình cảm và lòng tin vào pháp luậtthì họ sẽ tin theo những
quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để có được tình cảm và lòng tin vào pháp
luật thì cần phải tuyên truyền, phổ biến, giáo dục tính công bằng của pháp luật
đến với mỗi người dân. Khi con người tin vào tính công bằng của những đòi hỏi
của quy phạm pháp luật thì không cần một sự tác động bổ sung nào của Nhà
nước để thực hiện những đòi hỏi đó. Có lòng tin vào tính công bằng của pháp
luật, con người sẽ có hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật một cách
độc lập, tự nguyện.
Niềm tin pháp luật được xây dựng trên cơ sở:
+ Giáo dục tình cảm công bằng. Nói đến pháp luật là nói đến sự công
bằng. Giáo dục tình cảm công bằng là giáo dục cho con người biết cách đánh giá
các quy phạm pháp luật, biết cách xác định, đánh giá các tiêu chuẩn về tính công
bằng của pháp luật để tự đánh giá hành vi của mình, biết quan hệ với người khác
và với chính mình bằng các quy phạm pháp luật.
+ Giáo dục tình cảm trách nhiệm là giáo dục ý thức về nghĩa vụ pháp lý.
Giáo dục tình cảm trách nhiệm nhằm hình thành ý thức tuân thủ pháp luật - một
nguyên tắc xử sự của công dân trong mối quan hệ với nhau và với các cơ quan
Nhà nước. Giáo dục tình cảm trách nhiệm làm cho người được giáo dục nhận
thức được rằng mọi việc làm, mọi hành vi của mình phải dựa trên cơ sở pháp
luật và trong khuôn khổ pháp luật cho phép.
+ Giáo dục ý thức đấu tranh không khoan nhượng đối với những biểu hiện

vi phạm pháp luật, chống đối pháp luật, đấu tranh với những hành vi vi phạm
pháp luật và tội phạm. Phê phán, lên án những biểu hiện coi thường pháp luật,
ủng hộ và tích cực tham gia bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật.


16
- Mục đích thứ ba: hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo
pháp luật (mục đích hành vi).
Trong hệ thống các mục đích của tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật thì mục đích hình thành hành vi hợp pháp cho nhân dân có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Bởi lẽ, suy đến cùng kết quả của công tác tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật được biểu hiện ở ứng xử theo pháp luật của mọi người dân.
Đây chính là cái đích cần đạt được của tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Suy
cho cùng thì phổ biến tri thức pháp luật, bồi dưỡng niềm tin pháp luật là tiền đề
để giáo dục ý thức nhân cách rèn luyện thói quen, hành vi tuân thủ pháp luật
hình thành động cơ và hành vi tích cực pháp luật. Do vậy, để hình thành hành vi
hợp pháp là một việc khó khăn, lâu dài. Những hành vi hợp pháp của mỗi người
thường biểu hiện qua các việc làm như: Tuân thủ các quy phạm pháp luật; kiềm
chế không thực hiện các điều pháp luật cấm; thực hiện đúng và đầy đủ quyền và
nghĩa vụ pháp lý của công dân; biết đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật;
biết vận dụng pháp luật để bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân khi bị xâm
phạm.
Hành vi xử sự theo pháp luật của con người là kết quả của một quá trình
nhận thức pháp luật. Trong quá trình nhận thức có nhiều yếu tố tác động (chủ
quan và khách quan) để hình thành nên hành vi và thói quen xử sự theo pháp
luật. Thông qua tuyên truyền, phổ biến pháp luật sẽ giúp người dân hiểu biết và
có lòng tin sâu sắc tự nguyện thực hiện những quy định của pháp luật. Để đạt
được mục đích này trong quá trình tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải bằng
những hình thức, phương thức tác động khác nhau và tiến hành thường xuyên,
liên tục tạo cho mọi người dân có tình cảm đúng đắn và niềm tin vào pháp luật,

hiểu được sự cần thiết, tính hợp lý của pháp luật vì lợi ích chung của xã hội trên
cơ sở đó biểu hiện ra thành những hành vi hợp pháp trong đời sống hàng ngày
một cách tự giác.


17
Tất cả các mục đích trên tạo nên một thể thống nhất có mối quan hệ tác
động lẫn nhau, bổ sung cho nhau, giúp mọi công dân nắm vững các nội quy, quy
định của pháp luật, từ đó nghiêm chỉnh chấp hành tốt pháp luật. Khi tiến hành
tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải hướng hoạt động nhằm vào cả ba mục
đích, chứ không phải là quá trình tác động rời rạc theo từng công đoạn, giữa
chúng có mối quan hệ đan xem qua lại trong mối liên hệ hữu cơ thống nhất. Từ
tri thức PL đến tính tự giác; từ tính tự giác đến tính tích cực; từ tính tích cực đến
thói quen xử sự theo pháp luật. Ngược lại, khi có thói quen xử sự theo pháp luật
thì lòng tin, tình cảm pháp luật lại được củng cố. Thiếu hoặc coi nhẹ một nội
dung nào của mục đích tuyên truyền, phổ biến pháp luật thì sẽ không hoàn chỉnh
bởi vì không phải đơn thuần về lý luận pháp luật, cũng không phải chỉ học
những quy định cụ thể của pháp luật một cách khô khan mà qua đó nâng cao ý
thức tuân thủ pháp luật cho người dân.
1.2.2. Nội dung công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho quần
chúng nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật là một thành tố quan trọng của
quá trình giáo dục pháp luật, nó được xác định trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ và
xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm của đối tượng được phổ biến pháp luật. Xác định
đúng nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật sẽ góp phần nâng cao nhận thức
đúng đắn về pháp luật cho người dân. Do đó, nếu nội dung tuyên truyền, phổ
biến pháp luật quá sơ lược hoặc quá nặng nề sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình
giáo dục pháp luật. Đây là một vấn đề khó, nhất là trong việc biên soạn chương
trình, bởi lẽ bản thân các quy phạm pháp luật đôi khi bao hàm những khái niệm
pháp lý trừu tượng, trình tự và kết cấu trong từng quy phạm cũng hết sức chặt

chẽ, lôgíc.
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho nhân dân nhằm góp phần phát triển
khả năng nhận thức cũng như tổ chức thực hiện pháp luật một cách có trách


18
nhiệm với tư cách là một công dân, biết sử dụng đúng đắn các quyền con người
và quyền công dân chân chính của mình. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật gắn
liền với mục tiêu chung trong giáo dục - đào tạo con người phát triển toàn diện
trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII
là nhằm “Đào tạo, giáo dục, bồi dưỡng hình thành một thế hệ con người Việt
Nam mới có lý tưởng cao đẹp, có ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, có
sức khoẻ và lao động giỏi, sống có văn hoá và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và
tinh thần quốc tế chân chính. Nuôi dưỡng hoài bão lớn, tự cường dân tộc, năng
động, sáng tạo, làm chủ được khoa học và công nghệ mới, vươn lên ngang tầm
thời đại, sánh vai cùng thanh niên các nước trên thế giới. Hình thành một lớp
thanh niên nam, nữ ưu tú, vững vàng về chính trị, kiên định con đường xã hội
chủ nghĩa, tiêu biểu cho thế hệ trẻ, trở thành những nhà lãnh đạo, quản lý, kinh
doanh giỏi, những chuyên gia xuất sắc trên mọi mặt hoạt động của xã hội, những
trí thức uyên bác chiếm lĩnh các đỉnh cao của khoa học, những văn nghệ sĩ có tài
năng, những người lao động có tay nghề cao” [23, tr.15].
Xuất phát từ mục đích của tuyên truyền, phổ biến pháp luật là: trang bị tri
thức pháp luật; bồi dưỡng tình cảm, tâm lý pháp; hướng dẫn hình thành thói
quen xử sự tích cực theo pháp luật, do đó, nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp
luật bao gồm một phạm vi tương đối rộng đó là: các thông tin về pháp luật, gồm
cả kiến thức cơ bản và văn bản pháp luật thực định; các thông tin về việc thực
hiện pháp luật, về tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, về việc điều tra xử lý
các vi phạm pháp luật; các thông tin về kết quả nghiên cứu, điều tra xã hội học
về thực hiện áp dụng pháp luật đối với đời sống kinh tế xã hội, đối với từng đối
tượng, các tầng lớp dân cư. Đồng thời, phản ánh những nhu cầu, nguyện vọng, ý

kiến, đề xuất của nhân dân, của các chuyên gia pháp luật trong việc xây dựng và
hoàn thiện pháp luật và các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của
công dân (như các quyền, các nghĩa vụ pháp luật, các quy trình thủ tục để bảo vệ
các quyền hợp pháp).


19
Từ phạm vi nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật nêu trên, trong thực
tiễn pháp luật ở nước ta hiện nay cũng cần lưu ý tới những đặc điểm của nội
dung của tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Những đặc điểm này đòi hỏi người
tuyên truyền cần được nhận thức đầy đủ để trên cơ sở đó lựa chọn phương pháp
tiếp cận tới nội dung phổ biến pháp luật cho từng đối tượng tiếp nhận một cách phù
hợp, giúp cho đối tượng tiếp nhận có cách nhìn nhận đúng đắn, biện chứng về quá
trình hoàn thiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống, cũng như những điểm mâu
thuẫn và thống nhất của tiến trình đổi mới, phát triển khoa học pháp lý ở nước ta.
Căn cứ vào nhu cầu và đặc điểm của đối tượng tuyên truyền, phổ biến
pháp luật, chúng ta có thể phân định nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật
nhau sau đây:
Một là, mức độ tối thiểu về hiểu biết pháp luật cho mọi công dân (pháp
luật phổ thông), để mỗi công dân “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp
luật”, họ phải có những hiểu biết tối thiểu về pháp luật và những kỹ năng tối
thiểu để sử dụng pháp luật bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cũng như các
nghĩa vụ của mình. Những hiểu biết và kỹ năng đó chính là nội dung tối thiểu
của tuyên truyền, phổ biến, phổ cập pháp luật, bao gồm: thông tin cơ bản về bản
chất, vai trò của nhà nước và pháp luật; một số thông tin cơ bản về tổ chức bộ
máy nhà nước thực thi pháp luật, đặc biệt là cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của công dân; các quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của công dân do Hiến
pháp và một số đạo luật quy định; một số thủ tục, trình tự pháp lý để bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp và thực hiện các nghĩa vụ của công dân. Trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá thì nội dung trọng tâm mà quần chúng

nhân dân cần được tuyên truyền là: Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2013; Luật Phổ biến giáo dục pháp luật năm 2012; Luật Hôn
nhân và Gia đình năm 2014; Luật Đất đai 2013; Luật xử lý vi phạm hành chính
2012; Luật Biển Việt Nam 2012; Luật Chính quyền địa phương 2015; Luật Hoà


20
giải ở cơ sở; Bộ luật Lao động 2012; Bộ Luật Dân sự; Bộ Luật Hình sự; các điều
ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các
thoả thuận quốc tế”...
Hai là, mức độ về hiểu biết pháp luật theo nhu cầu công việc. Mỗi công
dân, mỗi người lao động trong từng lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội,
lại có nhu cầu hiểu biết và kỹ năng sử dụng các phương tiện pháp luật khác
nhau. Do đó, nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở cấp độ này cũng phải
được mở rộng và chuyên sâu hơn so với mức độ tối thiểu nội dung đó bao gồm:
hệ thống những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý thường gặp trong thực
tiễn (như quy phạm pháp luật, hệ thống pháp luật, các nguồn và hình thức pháp
luật, các quan hệ pháp luật …); một số văn bản pháp luật thực định liên quan đến
lĩnh vực hoạt động và vùng quan tâm của đối tượng; các quyền và nghĩa vụ cụ thể
của công dân trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động nghề nghiệp; quá trình tố
tụng và vị trí của các chủ thể tố tụng để thực hiện, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ
đó.
Như vậy, vấn đề đặt ra là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp
luật cho nhân dân như thế nào là cần và đủ, đối với quần chúng nhân dân cần
trang bị cho họ những nội dung kiến thức PL sau đây:
- Những nội dung cơ bản và cơ sở lý thuyết dưới dạng phổ thông nhất về
nguồn gốc, bản chất, vai trò của Nhà nước và pháp luật. Là công cụ để thiết chế
hóa đường lối chính sách của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được
thực hành có hiệu quả; là dụng cụ để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội;
là công cụ để nhân dân phát huy dân chủ và quyền làm chủ và bổn phận của

mình. Pháp luật được thể hiện bản chất về mặt giai cấp và bản chất về mặt xã
hội.
- Hệ thống tri thức dưới dạng cơ bản về quyền và nghĩa vụ của người lao
động theo ý nghĩa là những công dân. Người lao động phải thực hiện hợp đồng


21
lao động, thoả ước lao động tập thể. Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao
động, tuân theo sự điều hành hợp pháp của ngưòi sử dụng lao, thực hiện các quy
định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế.
- Một số kiến thức pháp luật có liên quan đến đời sống, đến một số lĩnh
vực: lao động, dân sự, hình sự, nghĩa vụ quân sự, hôn nhân và gia đình, đất đai,
tài nguyên môi trường, xử lý vi phạm hành chính, chứng thực hộ tịch, giám định
tư pháp...
- Trang bị cho người lao động hệ thống tri thức pháp luật cần thiết để họ
nhận thức đúng đắn và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thực hiện đúng những
quyền và nghĩa vụ của công dân.
Trang bị những tri thức pháp luật cơ bản, cần thiết và đủ cho nhân dân là
mục đích đầu tiên của tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Nó đóng vai trò quan
trọng trong việc đảm bảo sự hình thành ý thức pháp luật và hành vi tích cực, hợp
pháp của nhân dân. Tri thức pháp luật càng đầy đủ thì tình cảm pháp luật càng
mạnh mẽ, bởi lẽ tình cảm đó dựa trên những khái niệm, tư tưởng, quan điểm,
những quy phạm pháp luật. Mặt khác, những tri thức pháp luật giúp cho con
người ứng xử theo đúng pháp luật. Do vậy, cũng không nên hiểu một cách giản
đơn rằng tri thức pháp luật chỉ là sự am hiểu giản đơn về những quy phạm pháp
luật nào đó mà nó còn là sự nhận thức và hiểu biết thấu đáo nội dung, ý nghĩa về
quyền và nghĩa vụ của người lao trong các mối quan hệ pháp luật.
Từ việc xác định phạm vi, đặc điểm và các mức độ yêu cầu về nội dung
tuyên truyền pháp luật có thể thấy rằng, không thể có một hình thức hay một chủ
thể để tuyên truyền, phổ biến pháp luật riêng biệt. Do đó, cần phải có sự phối

hợp nhiều hình thức, phương tiện, chương trình, mục tiêu tuyên truyền, phổ biến
pháp luật của các chủ thể khác nhau để hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm đạt được
mục đích đề ra.


22
Trong quá trình đổi mới toàn diện của đất nước trên mọi lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hoá xã hội… có nhiều quan điểm, khái niệm đang được nhận
thức lại một cách cơ bản. Đó là sự phát triển tất yếu phù hợp với yêu cầu khách
quan, mang ý nghĩa tích cực, nhưng về góc độ tuyên truyền, phổ biến, đó cũng
là một nét đặc thù đòi hỏi người tuyên truyền phải lựa chọn các nội dung tuyên
truyền pháp luật sao cho vừa mang tính nguyên tắc, tương đối ổn định; vừa
mang tính linh hoạt. Với nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật luôn luôn
phát triển, thay đổi vì vậy đòi hỏi người tiếp cận cũng phải liên tục thường
xuyên cập nhật nếu không muốn trở thành lạc hậu hay “mù” về pháp luật.

1.2.3. Hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho quần
chúng nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá
1.2.3.1. Tuyên truyền miệng
Là hình thức mà người nói trực tiếp nói với người nghe về một nội dung
pháp luật nào đó nhằm nâng cao nhận thức, niềm tin, ý thức cho người nghe và
kích thích người nghe hành động theo mục đích của người tuyên truyền.
Một buổi nói chuyện chuyên đề về pháp luật thường là một buổi nói về
một lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, quản lý... gắn với một số chế
định, ngành luật. Một buổi nói chuyện chuyên đề thường không đóng khung
trong phạm vi pháp luật, trong khuôn khổ một vấn đề khép kín mà mở ra nhiều
lĩnh vực có liên quan, nhiều hướng suy nghĩ. Chính vì thế, các buổi nói chuyện
chuyên đề thường thu hút được đông đảo báo cáo viên pháp luật, cán bộ nghiên
cứu, cán bộ xây dựng pháp luật, cán bộ tuyên truyền pháp luật, hoà giải viên,

thành viên các Câu lạc bộ pháp luật... tham gia.
Báo cáo viên trong các buổi nói chuyện chuyên đề phải là người có kiến
thức chuyên ngành sâu rộng về lĩnh vực được trình bày và am hiểu pháp luật.


23
Khi tổ chức một buổi nói chuyện chuyên đề nói chung và chuyên đề pháp luật
nói riêng, người ta thường gắn vào các sự kiện chính trị, thời sự, những ngày có
ý nghĩa lịch sử.
Có thể tổ chức một buổi tuyên truyền pháp luật trong một buổi họp hoặc
tổ chức tuyên truyền pháp luật cá biệt. Đặc biệt, việc tổ chức tuyên truyền pháp
luật lồng ghép trong các buổi họp sẽ đạt được kết quả cao hơn bởi vì:
Do đối tượng dự buổi họp rất đa dạng, cụ thể là cán bộ, công chức; người
quản lý doanh nghiệp; người lao động; người dân ở xã, phường, tổ dân phố, cho
nên tuỳ từng đối tượng mà người tuyên truyền lựa chọn nội dung pháp luật để
lồng ghép cho phù hợp. Nội dung pháp luật được truyền tải cụ thể trên cơ sở kế
hoạch của cấp trên hoặc có thể do cán bộ tuyên truyền đề xuất trên cơ sở tình
hình chính trị, kinh tế, xã hội của địa phương.
Khi lồng ghép nội dung pháp luật vào một buổi họp, điểm quan trọng bậc
nhất là cách đặt vấn đề với người nghe. Cần đặt vấn đề sao cho người nghe thấy
rằng vì sự quan trọng và cấp thiết của việc tuyên truyền văn bản pháp luật lồng
ghép vào hội nghị, cuộc họp này chứ không phải nhờ hội nghị, cuộc họp này để
phổ biến pháp luật. Nếu có thể được, người nói công bố việc tuyên truyền pháp
luật là một nội dung trong chương trình cuộc họp hoặc công bố chương trình
cuộc họp trước cho người dự cuộc họp. Một việc quan trọng nữa là xác định thời
điểm, bối cảnh để phổ biến pháp luật sao cho hợp lý nhất để người nghe dễ tiếp
thu và tạo không khí thoải mái cho người nghe. Qua đó, việc lồng ghép tuyên
truyền, phổ biến pháp luật vào cuộc họp sẽ đạt được hiệu quả cao hơn.
Để đạt được hiệu quả cao trong việc tuyên truyền bằng miệng thì tuyên
truyền viên cần chú ý những điểm sau:

Thứ nhất, phải gây được thiện cảm đối với người nghe: Việc gây thiện
cảm ban đầu cho người nghe rất quan trọng. Thiện cảm ban đầu thể hiện ở nhân
thân, tâm thế và biểu hiện của người nói khi bước lên bục tuyên truyền. Thiện


24
cảm ban đầu tạo ra sự hứng thú, say mê của người nghe, củng cố được niềm tin
về vấn đề đang tuyên truyền. Tuyên truyền viên có thể bắt đầu từ một câu
chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đại chúng nói đến nhiều thời
gian qua hoặc có thể bắt đầu từ một bộ phim đã chiếu khá phổ biến hoặc cũng có
thể bằng các tình huống xảy ra gần địa bàn nơi tổ chức tuyên truyền..
Thứ hai, tạo sự hấp dẫn, gây ấn tượng trong khi nói: Nghệ thuật tuyên
truyền là tạo nên sự hấp dẫn, gây ấn tượng bằng giọng nói, điệu bộ, ngôn ngữ.
Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc, truyền cảm. Hết sức tránh lối nói đều đều,
giọng nói, âm lượng phải thay đổi theo nội dung và nhấn mạnh vào những điểm
quan trọng, cần phải chú ý. Động tác, cử chỉ cần phải phù hợp với nội dung và
giọng nói để nâng cao hiệu quả tuyên truyền của lời nói. Người nói có thể kết
hợp, lồng ghép, sử dụng hợp lý, chính xác ý tứ, ngôn từ trong kinh điển, thơ văn,
ca dao, dân ca vào buổi tuyên truyền pháp luật để tăng tính hấp dẫn, thuyết phục
đối với người nghe.
Thứ ba, bảo đảm các nguyên tắc sư phạm trong tuyên truyền miệng:
Người nói cần tôn trọng các nguyên tắc sư phạm. Từ bố cục bài nói, diễn đạt các
đoạn văn, liên kết giữa các đoạn văn đến cách nói đều phải rõ ràng, mạch lạc,
lôgic. Người nghe cần được dẫn dắt từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ
gần đến xa và tuỳ từng vấn đề mà dùng lý luận soi sáng cho thực tiễn hoặc từ
thực tiễn mà đi sâu vào lý luận. Mục đích cuối cùng vẫn là để người nghe hiểu
rõ hơn, toàn diện hơn về những vấn đề mà người nói đó nêu ra.
Thứ tư, sử dụng phương pháp thuyết phục trong tuyên truyền miệng.
Tuyên truyền miệng về pháp luật chủ yếu dùng phương pháp thuyết phục với ba
bộ phận cấu thành là chứng minh, giải thích và phân tích.

1.2.3.2. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phich, tranh cổ động;


×