Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Đánh giá nhu cầu hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với bộ luật lao động 2012 trên địa bàn hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.5 MB, 91 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2015

TÊN CÔNG TRÌNH
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU HIỂU BIẾT CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC
GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 3 (KD3)

Hà Nội, 2015


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2015

TÊN CÔNG TRÌNH
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU HIỂU BIẾT CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC
GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 3 (KD3)

Nhóm sinh viên thực hiện : Phạm Thị Nhật
Nữ
Đặng Thị Hiền
Nữ


Lê Thùy Linh
Nữ
Phạm Tiến Dũng
Nam
Vũ Ngọc Quý
Nam
Dân tộc
: Kinh
Lớp
: Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực 54
Khoa
: Kinh tế và quản lý nguồn nhân lực
Năm thứ
:3/4
Ngành học
: Kinh tế nguồn nhân lực
Giảng viên hướng dẫn
: ThS. Phạm Thị Hương Quỳnh

Hà Nội, 2015


MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài .........................................................................................1
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu.......................................................................2
3. Mục tiêu nghiên cứu ...............................................................................................6
4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................6

4.1 Quy trình nghiên cứu ................................................................................................6
4.2 Thu thập số liệu .........................................................................................................6
4.3 Phân tích và xử lý số liệu ..........................................................................................9
5

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .........................................................................9

5.1 Đối tượng nghiên cứu ...............................................................................................9
5.2 Phạm vi nghiên cứu...................................................................................................9
6

Kết cấu đề tài nghiên cứu .....................................................................................10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU HIỂU BIẾT BỘ LUẬT
LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH ........................11
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài ................................................................11
1.1.1

Lao động – Người lao động ....................................................................... 11

1.1.2

Giúp việc gia đình ...................................................................................... 11

1.1.3

Lao động giúp việc gia đình ...................................................................... 11

1.2 Đặc điểm và vai trò của lao động giúp việc gia đình .........................................12
1.2.1


Đặc điểm của lao động giúp việc gia đình ................................................ 12

1.2.2

Vai trò của lao động giúp việc gia đình .................................................... 14

1.3 Các quy định pháp luật liên quan đến lao động giúp việc gia đình .................16
1.3.1

Quy định pháp luật liên quan đến vấn đề Hợp đồng lao động .................. 17

1.3.2

Quy định pháp luật liên quan đến vấn đề Tiền lương ............................... 18

1.3.3

Quy định pháp luật liên quan đến vấn đề Thời gian làm việc –
Thời gian nghỉ ngơi.................................................................................... 18

1.4 Đánh giá mức độ hiểu biết luật của người LĐ GVGĐ ......................................19
1.5 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết Bộ luật Lao động 2012 của
người lao động giúp việc gia đình ..............................................................................22
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ NHU CẦU HIỂU BIẾT CỦA LAO ĐỘNG
GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012 TRÊN ĐỊA BÀN
HÀ NỘI .........................................................................................................................24


2.1 Giới thiệu về mẫu điều tra....................................................................................24

2.1.1 Các đặc điểm liên quan đến người lao động giúp việc gia đình ................. 24
2.1.2 Các đặc điểm liên quan đến hoạt động giúp việc gia đình .......................... 26
2.2 Đánh giá thực trạng mức độ hiểu biết về Bộ luật Lao động 2012 của người LĐ
GVGĐ trên địa bàn Hà Nội ........................................................................................28
2.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo .............................................................. 30
2.2.2 Phân tích mức độ hiểu biết của LĐ GVGĐ về quy định pháp luật
liên quan đến HĐLĐ .................................................................................... 31
2.2.3 Phân tích mức độ hiểu biết của LĐ GVGĐ về quy định pháp luật
liên quan đến Tiền lương ............................................................................. 34
2.2.4 Phân tích mức độ hiểu biết của LĐ GVGĐ về quy định pháp luật
liên quan đến thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi ................................. 35
2.3 Đánh giá nhu cầu hiểu biết Bộ luật Lao động của người LĐ GVGĐ ..............38
2.4 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu hiểu biết Bộ luật Lao động 2012
của LĐ GVGĐ ..............................................................................................................41
2.4.1 Nguyên nhân chủ quan................................................................................... 41
2.4.2 Nguyên nhân khách quan ............................................................................... 42
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................45
3.1 Kết luận ..................................................................................................................45
3.2 Khuyến nghị ...........................................................................................................47
3.2.1 Giải pháp truyền thông .................................................................................. 47
3.2.2 Giải pháp quản lý........................................................................................... 50
KẾT LUẬN ..................................................................................................................52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 01
PHỤ LỤC 02
PHỤ LỤC 03
PHỤ LỤC 04
PHỤ LỤC 05



DANH MỤC VIẾT TẮT

BHYT

: Bảo hiểm y tế

BHXH

: Bảo hiểm xã hội

GVGĐ

: Giúp việc gia đình

GFCD

: Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển cộng đồng

HĐLĐ

: Hợp đồng lao động

ILO

: Tổ chức Lao động quốc tế

LĐ GVGĐ

: Lao động giúp việc gia đình


THCS

: Trung học cơ sở

TĐHV

: Trình độ học vấn

UBND

: Ủy ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Danh mục bảng
Bảng 0.1: Quy mô và cấu trúc mẫu điều tra ................................................................. 07
Bảng 1.1: Trình độ học vấn của lao động giúp việc gia đình (%) ................................ 14
Bảng 2.1: Thống kê mô tả đặc điểm của mẫu nghiên cứu ........................................... 24
Bảng 2.2: Hình thức thỏa thuận lao động của người GVGĐ ....................................... 25
Bảng 2.3: Kinh nghiệm làm việc của mẫu điều tra ...................................................... 28
Bảng 2.4: Số lượng lao động hiểu biết về Bộ luật Lao động áp dụng cho đối tượng
là người GVGĐ ............................................................................................................ 29
Bảng 2.5: Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha (α) ................................... 31
Bảng 2.6: Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố HĐLĐ ....................................... 31
Bảng 2.7: Hệ số Sig khi so sánh sự khác biệt về mức độ hiểu biết các quy định
liên quan đến HĐLĐ giữa các nhóm TĐHV và kinh nghiệm làm việc ....................... 32
Bảng 2.8: Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố Tiền lương ................................ 34
Bảng 2.9: Hệ số Sig khi so sánh sự khác biệt về mức độ hiểu biết các quy định
liên quan đến Tiền lương giữa các nhóm TĐHV và Kinh nghiệm làm việc ................ 34
Bảng 2.10: Thống kê mô tả các biến quan sát nhân tố Thời gian làm việc,

thời gian nghỉ ngơi........................................................................................................ 36
Bảng 2.11: Hệ số Sig khi so sánh sự khác biệt về mức độ hiểu biết các quy định
liên quan đến thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi giữa các nhóm trình độ học
vấn và kinh nghiệm làm việc ........................................................................................ 36
Bảng 2.12: Bảng tổng kết kết quả phân tích phương sai ANOVA .............................. 38
Bảng 2.13: Nhu cầu muốn tìm hiểu Bộ luật Lao động của người GVGĐ ................... 39
Bảng 2.14: Thứ tự ưu tiên các nội dung cần tìm hiểu trong Bộ luật Lao động ............ 39
Bảng 2.15: Các khó khăn mà người GVGĐ gặp phải trong quá trình tìm hiểu
Bộ luật Lao động .......................................................................................................... 44
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 1.1: Các giai đoạn thay đổi hành vi ................................................................ 22
Biểu đồ 1.2: Quá trình thay đổi hành vi và nhu cầu của LĐ GVGĐ ........................... 23
Biểu đồ 2.1: Nghề nghiệp mà người lao động tham gia trước khi làm GVGĐ ........... 25
Biểu đồ 2.2: Thu nhập mà người lao động nhận được từ công việc GVGĐ ................ 26
Biểu đồ 2.3: Tỉ lệ % các loại hình công việc giúp việc gia đình .................................. 27
Biểu đồ 2.4: Kênh tìm việc làm của LĐ GVGĐ .......................................................... 27
Biểu đồ 2.5: Các nội dung mà người giúp việc quan tâm khi thỏa thuận lao động ..... 29
Biểu đồ 2.6: Nguồn thông tin giúp LĐ GVGĐ biết đến Bộ luật Lao động ................. 30
Biểu đồ 2.7: Lý do người GVGĐ không muốn tìm hiểu Bộ luật Lao động ................. 41


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2015

BẢN TÓM TẮT
Tên công trình
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU HIỂU BIẾT CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC
GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012

TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 3 (KD3)

Hà Nội, 2015


i

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, ở Việt Nam, Bộ luật Lao động năm 2012 đã bổ sung quy định về
quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đến lao động giúp việc gia đình trong
Chương XI, Mục 5 từ Điều 179 đến Điều 183 quy định về “Lao động là người giúp
việc gia đình”, song song, còn có Nghị định số 27/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày
07/04/2014 và Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động thương binh và
xã hội ngày 15/08/2014. Như vậy, có thể thấy, đây là một bước tiến tích cực trong việc
xây dựng khung pháp lý về giúp việc gia đình cũng như từng bước đưa giúp việc gia
đình trở thành một nghề trong thị trường lao động.
Tuy nhiên, trong thị trường lao động, lao động giúp việc gia đình vẫn luôn phải
đối mặt các nguy cơ như bị mắng chửi, đánh đập, đe dọa, bị lạm dụng sức lao động,
lạm dụng tình dục... nguy cơ không được gia chủ thực hiện đúng thỏa thuận ban đầu
về công việc, thời gian, tiền lương … Lý do tại sao như vậy? Trên thực tế có rất ít
những nghiên cứu trả lời cho câu hỏi này đứng trên góc độ đánh giá mức độ hiểu biết
và ý thức tuân thủ các quy định pháp luật của lao động giúp việc gia đình. Trong khi,
sự hiểu biết về pháp luật của người lao động giúp việc gia đình ảnh hưởng đến những
quyền lợi mà họ được hưởng. Do đó, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Đánh giá
nhu cầu hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với Bộ luật Lao động 2012
trên địa bàn Hà Nội” trong công trình nghiên cứu khoa học sinh viên năm 2015. Hy
vọng nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần hữu ích trong việc nâng cao hiểu biết Bộ

luật Lao động 2012 của người lao động giúp việc gia đình trên địa bàn Hà Nội nói
riêng và trên cả nước nói chung.

2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Giúp việc gia đình là một công việc xuất hiện rất sớm trong quá trình phát triển xã
hội và mang lại thu nhập ổn định cho nhiều lao động trên thế giới. Tuy nhiên, giúp
việc gia đình vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề và nó đã trở thành mối quan tâm của các nhà
nghiên cứu và tổ chức trong nhiều năm nay.
Một số nghiên cứu và báo cáo có thể kể ra là: Nghiên cứu “Một số loại hình giúp
việc gia đình ở Hà Nội hiện nay và các giải pháp quản lý” (2010) của tác giả PGS.TS
Ngô Thị Ngọc Anh, báo cáo “ Tổng quan về tình hình lao động giúp việc gia đình tại
Việt Nam từ năm 2007 đến nay” (2013) và nghiên cứu “Giá trị kinh tế của lao động


ii
giúp việc gia đình đối với gia đình và xã hội” của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia
đình và Phát triển cộng đồng (GFCD). Và gần đây nhất là nghiên cứu “ Đánh giá năng
lực làm việc của lao động giúp việc gia đình trên địa bàn Hà Nội – Ngụ ý cho đào tạo
nghề” do nhóm sinh viên trường đại học Kinh tế quốc dân thực hiện. Một số đề tài
nghiên cứu có cùng chung đối tượng nghiên cứu là đánh giá/ phân tích mức độ hiểu
biết và ý thức tuân thủ pháp luật, tuy nhiên khách thể điều tra và khách thể nghiên cứu
lại khác nhau, cụ thể như nghiên cứu “Thực trạng hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp
luật của dân cư khu vực miền núi Thanh Hóa” của tác giả Lê Thị Hồng Phúc đăng trên
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số 11/2005), tác giả Đặng Thanh Nga cũng đã tiến
hành nghiên cứu “Thực trạng về mức độ nhận thức pháp luật của người chưa thành
niên phạm tội” đăng trên Tạp chí Tâm lý học, số 6/2008…
Có thể thấy, các nghiên cứu về lao động giúp việc gia đình ngày càng nhiều hơn
và trên nhiều góc độ khác nhau. Trong khi đó, nếu cùng hướng nghiên cứu về đo
lường mức độ hiểu biết pháp luật thì khách thể điều tra lại khác nhau. Chính vì vậy,
nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài “Đánh giá nhu cầu hiểu biết của lao động giúp việc

gia đình đối với Bộ luật Lao động 2012 trên địa bàn Hà Nội” sẽ tập trung phân tích
và đánh giá các mức độ hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với Bộ luật Lao
động 2012, cụ thể trên 3 khía cạnh: Hợp đồng lao động – Tiền lương – Thời gian làm
việc và thời gian nghỉ ngơi. Mô hình đánh giá mức độ hiểu biết mà nhóm sử dụng căn
cứ trên khung lý thuyết về các giai đoạn thay đổi hành vi để xem xét mức độ hiểu biết
về Bộ luật Lao động 2012 của người giúp việc đang ở giai đoạn nào, từ đó tìm hiểu
nhu cầu và điều chỉnh hành vi tìm hiểu pháp luật của nhóm đối tượng này. Đồng thời,
trong quá trình nghiên cứu, nhóm cũng xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu
cầu hiểu biết về Bộ luật Lao động 2012 của người giúp việc gia đình để từ đó khuyến
nghị một số giải pháp nhằm nâng cao mức độ hiểu biết luật của người lao động giúp
việc gia đình trên địa bàn Hà Nội.

3. Mục tiêu nghiên cứu
-

Xác định khung lý thuyết đánh giá mức độ hiểu biết để làm cơ sở cho quá trình

khảo sát, đánh giá thực tế mức độ hiểu biết Bộ luật Lao động 2012 của lao động giúp
việc gia đình trên địa bàn Hà Nội.
-

Phân tích mức độ hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với Bộ luật Lao

động 2012, cụ thể trên 3 khía cạnh: Hợp đồng lao động – Tiền lương – Thời gian làm
việc và thời gian nghỉ ngơi.


iii
-


Đánh giá nhu cầu tìm hiểu pháp luật và xác định các nguyên nhân ảnh hưởng

đến nhu cầu tìm hiểu về Bộ luật Lao động 2012 của người giúp việc gia đình.

4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Quy trình nghiên cứu
Đề tài được triển khai 06 bước: (1) Xây dựng cơ sở lý thuyết; (2) Xây dựng bảng
hỏi; (3) Khảo sát thử và kiểm tra độ tin cậy của bảng hỏi; (4) Triển khai khảo sát và
phỏng vấn sâu LĐ GVGĐ; (5) Phân tích dữ liệu; (6) Trình bày kết quả nghiên cứu.

4.2 Thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Nguồn thông tin thứ cấp được thu thập từ tài liệu Bộ luật Lao
động 2012, giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực, giáo trình Hành vi tổ chức, sách, tạp
chí và báo cáo điều tra của Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển cộng
đồng mà có liên quan đến lao động giúp việc gia đình…
-

Số liệu sơ cấp: Được thu thập theo 02 cách sau:
+ Điều tra khảo sát

* Đối tượng điều tra: người lao động giúp việc gia đình trên địa bàn Hà Nội
* Mẫu khảo sát: Tổng số phiếu phát ra là 150 phiếu được phân bổ trên 03 quận của
Hà Nội (bao gồm: Hai Bà Trưng, Cầu Giấy và Hà Đông). Tổng số phiếu thu về là 126.
* Bảng hỏi: đã được thiết kế dựa trên kết quả tổng quan các tài liệu liên quan về
luật, về đặc điểm của người lao động giúp việc và cơ sở lý thuyết về mức độ hiểu biết
cần thiết của cá nhân nhằm hướng tới hành vi tích cực. Bảng hỏi được xây dựng trên
thang đo likert 05 điểm. Nội dung bảng hỏi bao gồm 02 phần: Phần thông tin chung về
người được khảo sát và Phần đánh giá mức độ hiểu biết các quy định pháp luật của lao
động giúp việc gia đình.
+ Phỏng vấn sâu

Hoạt động phỏng vấn sâu được tiến hành sau khi người giúp việc trả lời xong bảng
khảo sát. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu 10 lao động giúp việc gia đình
Mục đích của các cuộc phỏng vấn sâu này là để nắm được mức độ hiểu biết luật cũng
như xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu hiểu biết luật của người giúp
việc gia đình.

4.3 Phân tích và xử lý số liệu
Các dữ liệu nghiên cứu sau khi thu thập xong được thống kê, phân tích và xử lý
bằng phương pháp phân tích định lượng kết hợp định tính. Phân tích định lượng sử
dụng công cụ hỗ trợ của phần mềm SPSS. Trong khi đó, phân tích định tính được sử


iv
dụng kết hợp để phân tích thông tin thu được từ phỏng vấn sâu, cùng với các phương
pháp phân tích, tổng hợp, so sánh… để rút ra các nhận xét và kết luận cho vấn đề
nghiên cứu.

5

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sự hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với Bộ luật Lao động 2012 (sửa
đổi), cụ thể tại Mục 5 (từ Điều 179 đến Điều 183)
- Khách thể điều tra: nhóm chỉ tiến hành điều tra đối với người giúp việc gia đình
làm việc toàn thời gian tại gia đình người sử dụng lao động (không nghiên cứu
trường hợp giúp việc gia đình theo hình thức khoán)

5.2 Phạm vi nghiên cứu
-


Về mặt không gian : Phạm vi điều tra là các hộ gia đình đang sử dụng lao động

giúp việc gia đình trên địa bàn thành phố Hà Nội
-

Về mặt thời gian: Từ tháng 01 đến tháng 03 năm 2015

-

Về mặt nội dung nghiên cứu: Bộ luật Lao động (Luật số: 10/2012/QH 13) ban

hành ngày 18/06/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/05/2013, bao gồm 17 Chương
và 242 Điều. Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về sự hiểu biết của người lao
động giúp việc gia đình đối với các quy định pháp luật tại Mục 5, từ Điều 179 đến
Điều 183 của Bộ luật Lao động, cụ thể hơn trên khía cạnh:
+ Hợp đồng lao động: lý do lựa chọn vì hiện nay Bộ luật Lao động quy định người sử
dụng lao động “phải ký hợp đồng lao động” khi thuê người giúp việc gia đình. Như
vậy, điều này sẽ là cơ sở pháp lý bảo vệ người LĐ GVGĐ khi có tranh chấp xảy ra.
+ Tiền lương - Thời gian làm việc & Thời gian nghỉ ngơi: lý do lựa chọn vì mức độ
hiểu biết của LĐ GVGĐ đối với các quy định pháp luật liên quan đến tiền lương và
thời gian làm việc ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi mà họ được hưởng trong quá trình
thương lượng với chủ sử dụng lao động.

6

Kết cấu đề tài nghiên cứu
Nội dung đề tài nghiên cứu được trình bày theo kết cấu như sau:

Chương 1 : Cơ sở lý luận về nhu cầu hiểu biết Bộ luật Lao động của người lao động

giúp việc gia đình
Chương 2 : Đánh giá nhu cầu hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với Bộ luật
Lao động 2012 trên địa bàn Hà Nội
Chương 3 : Kết luận và khuyến nghị


v

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU HIỂU BIẾT BỘ LUẬT
LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
Đề tài nghiên cứu về nhu cầu hiểu biết luật của người lao động giúp việc gia
đình. Do đó, một số khái niệm mà đề tài sử dụng làm căn cứ cơ sở định hướng đó là:
(1) Khái niệm về lao động – Người lao động; (2) Khái niệm về công việc giúp việc gia
đình; (3) Khái niệm về lao động giúp việc gia đình.

1.2 Đặc điểm và vai trò của lao động giúp việc gia đình
1.2.1 Đặc điểm của lao động giúp việc gia đình
-

Độ tuổi và giới tính của người LĐ GVGĐ: người lao động giúp việc gia đình

tập trung ở nhóm tuổi từ 18-35 và 36-55, trong khi đó, tỷ trọng lao động dưới 18 và
trên 56 tuổi chiếm tỷ lệ thấp. Hầu hết người LĐ GVGĐ là nữ giới (98,7%), lao động
nam giới (1,3%).
-

Trình độ học vấn của người LĐ GVGĐ: Đa số người LĐ GVGĐ đều xuất thân

từ nông thôn, có hoàn cảnh khó khăn nên nhìn chung trình độ học vấn của LĐ GVGĐ

không cao.
-

Lý do đi làm GVGĐ: Lý do chủ yếu mà người lao động chọn làm GVGĐ vì

muốn có thêm thu nhập cho cuộc sống bản thân và gia đình.

1.2.2 Vai trò của lao động giúp việc gia đình
-

Đối với gia đình của người GVGĐ: Tiền công của lao động giúp việc gia đình

là nguồn tài chính chi tiêu chủ yếu trong gia đình, ngoài ra còn tạo nguồn tiết kiệm,
tích lũy cho lao động giúp việc gia đình khi hết khả năng lao động.
-

Đối với gia đình của người thuê LĐ GVGĐ: Lao động giúp việc gia đình giúp

người phụ nữ giảm thời gian và sức lực cho công việc nhà, góp phần gia tăng thu nhập
cho gia đình gia chủ…
-

Đối với xã hội: Nghề giúp việc gia đình đã tạo việc làm cho một bộ phận người

lao động không có cơ hội, khả năng tìm được việc làm ổn định, góp phần cho sự phát
triển của địa phương, nơi xuất thân của người lao động.

1.3 Các quy định pháp luật liên quan đến lao động giúp việc gia đình
Hiện nay, quy định pháp luật về “Lao động là người giúp việc gia đình” được
trình bày từ Điều 179 đến Điều 183, Mục 5, Chương XI của Bộ luật Lao động năm



vi
2012. Sau đó, Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 7/4/2014 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về lao động là người giúp việc gia
đình và ngày 15/08/2014, Bộ Lao động – Thương binh xã hội cũng ban hành Thông tư
số 19/2014/TT-BLĐTBXH về việc hướng dẫn thi hành một số điều từ Nghị định số
27/2014/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài ta chỉ xét 03 vấn đề
chính liên quan đến LĐ GVGĐ đó là: Hợp đồng lao động – Tiền lương – Thời gian
làm việc, thời gian nghỉ ngơi.

1.4 Đánh giá mức độ hiểu biết luật của người LĐ GVGĐ
Mô hình đánh giá mức độ hiểu biết dựa trên khung lý thuyết về sự thay đổi hành vi
(Prochaska và DiClemente, 1984,1986) ). Áp dụng vào đối tượng cụ thể là người lao
động giúp việc gia đình, để đánh giá mức độ hiểu biết về Bộ luật Lao động 2012 của
đối tượng này thì nhóm có sự điều chỉnh về 05 giai đoạn thay đổi hành vi như sau:
- Giai đoạn 1: Nhận thức - Trong giai đoạn này, người GVGĐ bắt đầu từ chỗ
chưa biết kiến thức, dự định thay đổi hành vi tuân thủ theo quy định của Bộ luật Lao
động. Khi tiếp cận thông tin, những người giúp việc đã biết, đã được cung cấp kiến
thức, đã hiểu ra vấn đề.
- Giai đoạn 2: Chấp nhận - Người LĐ GVGĐ có các thông tin về lợi ích và rủi ro
liên quan đến việc hiểu biết pháp luật, vì vậy họ chấp nhận cần phải hiểu luật nhưng
chưa sẵn sàng thay đổi.
- Giai đoạn 3: Có ý định - Họ đã có ý định thay đổi và chuẩn bị cho sự thay đổi
hành vi của mình. Tức là sau khi chủ động tìm hiểu rõ các quy định pháp luật, họ dự
kiến áp dụng vào các thỏa thuận với chủ sử dụng lao động để đảm bảo quyền lợi cho
bản thân.
- Giai đoạn 4: Thực hiện - Người giúp việc sẵn sàng thực hiện thay đổi và thay
đổi theo kế hoạch của họ. Đây là giai đoạn khó khăn cần có sự giúp đỡ của những
người tuyên truyền pháp luật và sự tư vấn của người thân, bạn bè có kinh nghiệm.

- Giai đoạn 5: Duy trì - Những người LĐ GVGĐ thực hiện pháp luật và duy trì
hành vi mới có lợi cho bản thân trong quá trình tham gia thị trường lao động.
1.5 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết Bộ luật Lao động

2012 của người lao động giúp việc gia đình


vii
Ở đây, nguyên nhân trong từng giai đoạn thay đổi hành vi hiểu biết và tuân thủ
các quy định của Bộ luật Lao động đối với người LĐ GVGĐ đó là:
 Giai đoạn 1: Nhận thức - Trong giai đoạn này, nguyên nhân mà người GVGĐ
không thay đổi hành vi sang giai đoạn tiếp theo là vì họ chưa có nắm được các thông
tin chung, cơ bản về Bộ luật Lao động 2012. Hoặc đối với một số người đã biết đến
luật nhưng lại không quan tâm vì họ chưa hiểu biết về quyền lợi mà họ được hưởng
cũng như chưa nhận thấy nguy cơ tiềm tàng của việc thiếu hiểu biết luật và tuân thủ
luật. Do đó, để thuyết phục họ tiến tới giai đoạn tiếp theo thì cần phải nhận thức được
nhu cầu của người GVGĐ trong giai đoạn này là họ cần phải được cung cấp các thông
tin tổng quát, cung cấp nhiều thông tin hơn liên quan đến lợi ích mà họ nhận được nếu
thay đổi hành vi.
 Giai đoạn 2: Chấp nhận - Ở giai đoạn này, nguyên nhân người LĐ GVGĐ
chưa sẵn sàng thay đổi, sẵn sàng chủ động tìm hiểu các quy định mà luật đưa ra vì vẫn
còn thiếu một số thông tin và cần sự trợ giúp từ bên ngoài để đi đến quyết định. Do đó,
có thể thấy, nhu cầu của người GVGĐ trong giai đoạn này chính là cần có sự bổ sung
các kiến thức mới, sự động viên khuyến khích thay đổi hành vi từ những người tuyên
truyền, giáo dục.
 Giai đoạn 3: Có ý định - Khi người giúp việc gia đình có sự chủ động tìm hiểu
rõ các quy định pháp luật và dự kiến áp dụng nhưng chưa thực hiện thì nguyên nhân
của việc này là do người LĐ GVGĐ thiếu kỹ năng thực tế, chưa biết cách áp dụng như
thế nào đối với bản thân. Do vậy, họ cần có sự hướng dẫn, giúp đỡ chi tiết cách thực
hiện như thế nào.

 Giai đoạn 4 và 5: Thực hiện/ Duy trì - Người giúp việc khi bắt đầu thực hiện
hành vi tuân thủ pháp luật, họ có thể thất bại do không nhận được sự hợp tác từ phía
chủ nhà. Vì thế, đây là giai đoạn khó khăn cần có sự giúp đỡ của những người tuyên
truyền pháp luật và sự tư vấn của người thân, bạn bè có kinh nghiệm.
Như vậy, có thể thấy rằng, đối với từng giai đoạn, việc xác định các nguyên nhân ảnh
hưởng đến mức độ hiểu hiểu là rất cần thiết để từ đó xác định đúng nhu cầu và đáp
ứng nhu cầu, giúp đối tượng có thể đạt được mục tiêu thay đổi hành vi mới.


viii

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ NHU CẦU HIỂU BIẾT CỦA LAO ĐỘNG
GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1 Giới thiệu về mẫu điều tra
2.1.1 Các đặc điểm liên quan đến người lao động giúp việc gia đình
Nghiên cứu được tiến hành với 150 mẫu điều tra tại 3 quận Hai Bà Trưng, Cầu
Giấy, Hà Đông; thu hồi 126 phiếu. Sau khi loại bỏ 08 phiếu không chính xác, còn lại
118 phiếu hợp lệ cho phân tích
Đặc điểm mẫu nghiên cứu được mô tả dưới đây:
- Phân loại theo giới tính: Đối tượng tham gia công việc GVGĐ chủ yếu là nữ giới
(chiếm 94,9%), ở đây vẫn có một tỉ lệ nhỏ nam giới tham gia ở công việc này (5,1%).
- Phân loại theo độ tuổi: Người GVGĐ dưới 40 tuổi chiếm 22; từ 40 tuổi trở lên
chiếm đến gần 80%, trong đó nhóm người có độ tuổi trên 50 chiếm 39,8%.
- Phân loại theo trình độ học vấn: LĐ GVGĐ có trình độ chiếm tỉ lệ 42,4 %, tiếp
đến là nhóm đối tượng trên THCS, chiếm 36,4% và thấp nhất là nhóm đối tượng có
trình độ Tiểu học(21,2%)
- Phân loại theo tình trạng hôn nhân: Số lao động GVGĐ vẫn đang còn gia đình
chiếm tỉ lệ khá cao (67,8%).
Ngoài ra, đa số người GVGĐ đều làm nghề nông (chiếm 65,3%) và sau khi

chuyển sang làm công việc GVGĐ mức thu nhập hiện tại của họ ở mức từ 3,5 triệu
đồng – 5 triệu đồng.

2.1.2 Các đặc điểm liên quan đến hoạt động giúp việc gia đình
- Hình thức thỏa thuận lao động: Số người GVGĐ “thỏa thuận miệng” với chủ sử
dụng lao động chiếm 90,7%, “thỏa thuận bằng giấy tờ” chiếm 9,3%.
- Các hình thức công việc GVGĐ: Căn cứ theo Bộ luật Lao động 2012, nhóm điều
tra phân loại ra 6 hình thức công việc GVGĐ. Kết quả khảo sát cụ thể là nhu cầu về
lau dọn, làm vệ sinh nhà cửa chiếm tỷ lệ cao nhất là 66,95%. Xếp thứ hai về tỷ lệ
phần trăm là lao động giúp việc với mục đích trông trẻ em (55,08%). Tiếp đến là lao
động giúp việc với mục đích nấu ăn cho gia đình (53,39%).
- Kênh tìm việc làm của lao động GVGĐ: Kênh thông tin tìm việc làm của lao
động GVGĐ chủ yếu là qua họ hàng, người thân trong gia đình (49,2%), tiếp đó là qua
bạn bè, người quen (28,8%), trung tâm môi giới việc làm và các phương tiện thông tin
đại chúng lần lượt là 16,1% và 5,9%.


ix
- Kinh nghiệm làm GVGĐ: Tỉ lệ người có kinh nghiệm làm việc từ 6 tháng đến
dưới 1 năm chiếm 29,7%, tiếp theo là tỉ lệ nhóm người có kinh nghiệm làm việc từ 1
đến dưới 3 năm và từ 3 năm trở lên (lần lượt là 27,1% và 28%). Thấp nhất hiện nay là
tỉ lệ nhóm LĐ GVGĐ có kinh nghiệm dưới 6 tháng (15,3%).

2.2 Đánh giá thực trạng mức độ hiểu biết về Bộ luật Lao động 2012 của
người LĐ GVGĐ trên địa bàn Hà Nội
Khảo sát của nhóm nghiên cứu cho thấy, luật áp dụng cho người LĐ GVGĐ đã
được áp dụng hơn 3 năm nhưng có đến hơn một nửa số người được điều tra (55,1%) là
trả lời “Không biết” về luật này. Trong số những người “Có biết” đến các quy định của
Luật Lao động áp dụng cho LĐ GVGĐ thì nguồn thông tin mà họ biết đến luật chủ
yếu là qua bạn bè, người thân (chiếm 50,9%), tiếp theo là từ các trung tâm giới thiệu

việc làm (20,8%). Trong khi đó, các nguồn thông tin chính thống là ti vi, báo đài hay
qua chính quyền địa phương lại rất thấp (lần lượt là 11,3% và 3,8%). Đặc biệt, nhóm
nghiên cứu tiến hành đánh giá sâu mức độ hiểu biết Luật của những LĐ GVGĐ “Có
biết” đến Bộ luật Lao động trên 3 nội dung: HĐLĐ – Tiền lương – Thời gian làm việc,
thời gian nghỉ ngơi theo thang đo Likert 05 mức độ.

2.2.1 Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Thông qua kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha (α) , nhóm nghiên cứu
thấy rằng có 7 biến hợp đồng lao động, 3 biến tiền lương và 3 biến thời gian làm việc,
nghỉ ngơi đáng tin cậy và phù hợp để phân tích.

2.2.2 Phân tích mức độ hiểu biết của LĐ GVGĐ về quy định pháp luật liên
quan đến HĐLĐ
Mức độ hiểu biết về quy định pháp luật liên quan đến HĐLĐ được nhóm xây
dựng từ 7 biến mức độ. Điểm trung bình mức độ hiểu biết về những nội dung cần quy
định rõ trong HĐLĐ giữa hai bên là 2,29 điểm. Trong đó “Các quy định về trách
nhiệm mỗi bên khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật” đạt số điểm trung
bình thấp nhất là 1,92. Điểm trung bình cao nhất là của nội dung “Cung cấp thông tin
trước khi ký kết hợp đồng lao động” (2,63).
 Phân tích phương sai ANOVA
Căn cứ vào kết quả phân tích phương sai ANOVA, các cặp giả thuyết tương ứng
với đặc điểm của các nhóm đối tượng khảo sát được đưa ra kết luận như sau:
Không có sự khác nhau về mức độ hiểu biết HĐLĐ theo
Bác bỏ
Trình độ H0
trình độ học vấn
học vấn
H1 Có sự khác nhau về mức độ hiểu biết HĐLĐ theo TĐHV Chấp nhận



x
Kinh

H0

nghiệm
làm việc

H1

Không có sự khác nhau về mức độ hiểu biết HĐLĐ theo

Bác bỏ

kinh nghiệm làm việc
Có sự khác nhau về mức độ hiểu biết HĐLĐ theo kinh
nghiệm làm việc

Chấp nhận

2.2.3 Phân tích mức độ hiểu biết của LĐ GVGĐ về quy định pháp luật liên
quan đến Tiền lương
Mức độ hiểu biết về quy định pháp luật liên quan đến Tiền lương được xây dựng
từ 3 biến mức độ. Mức điểm trung bình chỉ đạt ở 2,26 điểm cho thấy: sự quan tâm về
vấn đề tiền lương không đồng nghĩa với việc có hiểu biết pháp luật về các quy định
pháp luật liên quan đến tiền lương.
 Phân tích phương sai ANOVA
Căn cứ vào kết quả phân tích phương sai ANOVA, các cặp giả thuyết tương ứng với
đặc điểm của các nhóm đối tượng khảo sát được đưa ra kết luận như sau:
Trình độ

học vấn

H0
H1
H0

Kinh
nghiệm
làm việc

H1

Không có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy định
liên quan đến tiền lương theo trình độ học vấn

Bác bỏ

Có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy định liên

Chấp

quan đến tiền lương theo trình độ học vấn

nhận

Không có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy định
liên quan đến Tiền lương theo kinh nghiệm làm việc

Bác bỏ


Có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy định liên

Chấp

quan đến Tiền lương theo kinh nghiệm làm việc

nhận

2.2.4 Phân tích mức độ hiểu biết của LĐ GVGĐ về quy định pháp luật liên
quan đến thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi
Mức độ hiểu biết về quy định pháp luật liên quan đến Thời gian làm việc, thời
gian nghỉ ngơi được xây dựng từ 3 biến mức độ. Trong đó, điểm trung bình về hiểu
biết của người lao động GVGĐ về các quy định liên quan đến thời gian làm việc, thời
gian nghỉ ngơi vẫn còn ở mức thấp(2,72). Tuy nhiên mức độ hiểu biết đối với từng quy
định liên quan đến tiền lương có mức đồng đều khá cao (độ lệch chuẩn 0,046).
 Phân tích phương sai ANOVA
Căn cứ vào kết quả phân tích phương sai ANOVA, các cặp giả thuyết tương ứng với
đặc điểm của các nhóm đối tượng khảo sát được đưa ra kết luận như sau:


xi

Trình độ
học vấn

H0
H1

Kinh
nghiệm

làm việc

H0

H1

Không có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy
định liên quan đến thời gian làm việc, nghỉ ngơi theo
Bác bỏ
trình độ học vấn
Có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy định liên
Chấp nhận
quan đến thời gian làm việc, nghỉ ngơi theo TĐHV
Không có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy
định liên quan đến thời gian làm việc, nghỉ ngơi theo
Bác bỏ
kinh nghiệm làm việc
Có sự khác nhau về mức độ hiểu biết các quy định liên
quan đến thời gian làm việc, nghỉ ngơi theo kinh Chấp nhận
nghiệm làm việc

Tóm lại, qua kết quả phân tích phương sai ANOVA cho thấy rõ ràng có sự khác
biệt trong mức độ hiểu biết Bộ luật Lao động của người lao động GVGĐ (về Hợp
đồng lao động, Tiền lương, Thời gian làm việc, nghỉ ngơi) theo trình độ học vấn và
kinh nghiệm làm việc. Cụ thể: có sự khác biệt rõ nét giữa nhóm trình độ học vấn dưới
Tiểu học và THCS, nhóm kinh nghiệm làm việc dưới 6 tháng và trên 3 năm.

2.3 Đánh giá nhu cầu hiểu biết Bộ luật Lao động của người LĐ GVGĐ
 Xét về số lượng LĐ GVGĐ có nhu cầu mong muốn tìm hiểu Bộ luật Lao động
Số lượng LĐ GVGĐ trả lời “Có” nhu cầu mong muốn tìm hiểu Luật chiếm đến

68% trong tổng số 118 người được điều tra. Người LĐ có trình độ từ THCS trở lên thì
có nhu cầu muốn tìm hiểu pháp luật cao hơn (chiếm 86,3%) so với người có trình độ
tiểu học (nhu cầu muốn tìm hiểu chỉ chiếm 13,7%).
 Xét về các nội dung mong muốn tìm hiểu trong Bộ luật Lao động
Tiền lương là mối quan tâm đầu tiên của người lao động trong số các mục cần
phải quan tâm khi tìm hiểu về Bộ luật Lao động, có điểm trung bình là 3,75.Tiếp theo
là các nội dung liên quan đến thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi và các chế độ
phúc lợi xã hội cũng được người lao động quan tâm nhiều (mức điểm trung bình lần
lượt là 2,4 và 2,0). Nội dung liên quan đến “Trách nhiệm với cơ quan quản lý nhà
nước” thì gần như người giúp việc không quan tâm đến(mức điểm trung bình là 0,6).
 Xét về nguồn thông tin mà người GVGĐ muốn tiếp cận
Người lao động GVGĐ muốn tiếp cận thông tin từ “Ti vi, báo chí, radio” chiếm
tới 39,9%. Tiếp đến là nguồn thông tin từ “Chính quyền địa phương” (26,3%), “Bạn
bè người thân”(13%),” Chủ gia đình thuê giúp việc”(10,8%),” Trung tâm giới thiệu
việc làm”(7,8%), Nguồn khác”(2,2%).


xii

2.4 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu hiểu biết Bộ luật Lao
động 2012 của LĐ GVGĐ
Theo như trong quá trình điều tra kết hợp với phỏng vấn sâu, nhóm đã xác định
được một số nguyên nhân ảnh hưởng như sau:

2.4.1 Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu tìm hiểu luật của người GVGĐ nằm chính
ở thái độ của họ đối với vấn đề này như thế nào. Ở đây, chiếm đến 43,1% lý do nằm ở
“Bản thân không muốn tìm hiểu”.Nguyên nhân thực sự khiến cho người GVGĐ có thái
độ không quan tâm đến tìm hiểu pháp luật nằm ở chỗ: họ thiếu thông tin về lợi ích mà
họ sẽ nhận được từ pháp luật, các bằng chứng về sự thiệt thòi mà những người lao

động GVGĐ khác đã gặp phải khi không biết về luật. Ngoài ra lý do “Giúp việc cho
người quen, họ hàng” cũng được người giúp việc lựa chọn nhiều để giải thích cho
hành vi không muốn tìm hiểu luật của họ (chiếm 27,6%).

2.4.2 Nguyên nhân chủ quan
- Từ phía chủ sử dụng lao động
Đối với người GDVĐ thì môi trường làm việc của họ chính là nhà của gia chủ
thuê lao động giúp việc. Do đó, sự hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật của chủ gia
đình cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự hiểu biết của người giúp việc. Thêm vào đó, sự
nhiệt tình hướng dẫn của chủ sử dụng lao động cũng có thể xem là một nguyên nhân
ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết Bộ luật Lao động của lao động giúp việc gia đình.

- Từ phía quan niệm xã hội về công việc GVGĐ
Đối với công việc giúp việc gia đình, quan niệm xã hội Việt Nam xa xưa vốn đã
“coi rẻ” những người đi ở đợ, làm mướn. Họ sống và làm việc vất vả nhưng không
được ăn cùng mâm, ngủ cùng nhà với gia đình chủ, quần áo đều mặc lại đồ thừa…
Xuất phát từ chính điều này đã khiến cho cả phía người chủ và người giúp việc có
những quan niệm không đúng về công việc giúp việc gia đình.

- Từ phía cơ quan quản lý của Nhà nước
Trên thị trường lao động, mọi hoạt động của con người đều bị ràng buộc vào luật
pháp. Các quy định luật hoặc cho phép hoặc giới hạn hoặc nghiêm cấm một số hành vi
trao đổi, mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, trên thực tế điều tra lại cho thấy, các khó khăn
mà người GVGĐ gặp phải khi muốn tiếp cận tìm hiểu pháp luật lại nằm ở lý do “Địa
phương không có/ có quá ít các hoạt động tuyên truyền, thông tin liên quan đến pháp
luật” và “Kênh thông tin truyền thông tư vấn pháp luật của Nhà nước còn ít”


xiii


CHƯƠNG III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
3.1 Kết luận
Trên cơ sở mục tiêu và phương pháp nghiên cứu, đề tài nghiên cứu “ Đánh giá
nhu cầu hiểu biết của lao động giúp viêc gia đình đối với Bộ luật Lao động 2012
trên địa bàn Hà Nội” đã được triển khai thực hiện. Kết quả nghiên cứu cho phép rút
ra một số kết luận như sau:
 Tỉ lệ người chưa biết Bộ luật Lao động 2012 là rất lớn (chiếm 55,1%). Số LĐ
GVGĐ biết đến Luật thì mức độ hiểu biết của họ đều ở mức độ thấp. Với mức độ hiểu
biết như vậy, xét trong 05 giai đoạn của quá trình thay đổi hành vi, có thể thấy người
LĐ GVGĐ mới chỉ ở giai đoạn 02.
 Có sự khác biệt về mức độ hiểu biết các quy định pháp luật liên quan đến hợp
đồng lao động, tiền lương, thời gian làm việc nghỉ ngơi giữa các nhóm trình độ học
vấn và kinh nghiệm làm việc.
 Nhu cầu tìm hiểu luât là cao (chiếm 68%). Những người có trình độ hoc vấn cao
và nhiều kinh nghiêm thì nhu cầu hiểu biết luật một cách chính thống và cặn kẽ ngày
càng lớn. Nội dung về lương,các nội dung liên quan đến thời gian làm việc, thời gian
nghỉ ngơi, các chế độ phúc lợi xã hội là các nội dung được người lao động quan tâm
nhiều. Những nội dung liên quan đến “Trách nhiệm với cơ quan quản lý nhà nước” thì
gần như người giúp việc không quan tâm đến.
 Hai nguyên nhân chính tác động đến nhu cầu hiểu biết Bộ luật Lao động của
người giúp việc, đó là: (1) nguyên nhân chủ quan từ phía bản thân người lao động, (2)
khách quan từ phía người chủ sử dụng, từ quan niệm của xã hội về nghề và từ phía của
các cơ quan quản lý nhà nước.

3.2 Khuyến nghị
Trên cơ sở khung lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi con người kết hợp với
những kết quả thống kê, đánh giá nhu cầu và nguyên nhân ảnh hưởng đến mức độ hiểu
biết cũng như nhu cầu tìm hiểu Bộ luật Lao động của người LĐ GVGĐ, nhóm nghiên
cứu đề xuất với các cơ quan quản lý nhà nước một số giải pháp cụ thể như sau:
- Giải pháp truyền thông: Với đối tượng này, nhóm đề xuất triển khai hoạt động

“Truyền thông thay đổi hành vi”.
- Giải pháp quản lý: Cần xây dựng một hệ thống dữ liệu về người giúp việc gia đình.
Hiện nay không có cơ quan quản lý người GVGĐ hoặc cơ quan quản lý lao động,
thêm vào đó việc đăng ký tạm trú cho người GVGĐ sống cùng hộ - gia đình gia chủ


xiv
cũng chưa được các hộ gia đình thực hiện đầy đủ, nghiêm túc. Thực trạng này dẫn
tới những khó khăn cho công tác quản lý người giúp việc cũng như trong việc điều tra,
tuyên truyền nâng cao hiểu biết về luật cho cả hai phía: người lao động và người sử
dụng lao động. Ngoài ra, một số giải pháp quản lý khác như:
+ Quy định cụ thể cấp quản lý, phương thức và nội dung quản lý về LĐ GVGĐ.
+ Tuyên truyền nâng cao nhận thức về giá trị của LĐGVGĐ, đồng thời phải
thường xuyên giám sát, đánh giá và tổng kết để nêu lên những gương điển hình về mối
quan hệ LĐ GVGĐ.
+ Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) tập trung xây dựng
khung chương trình và giáo trình đào tạo nghề giúp việc gia đình với mục tiêu nâng
cao khả năng có việc làm và phát triển nghề của nhóm lao động này. Nội dung đào tạo
ngoài các kiến thức và kỹ năng để thực hiện công việc thì phải bổ sung cả các kiến
thức về luật để người lao động có thể bảo vệ quyền lợi của bản thân.
+ Xây dựng đội ngũ cán bộ Tư pháp có chất lượng, nâng cao được nhận thức, kịp
thời đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị và cả kỹ năng
tuyên truyền. Từ đó thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật,
nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ và nhân dân, làm cầu nối đưa pháp
luật đến với nhân dân. Đồng thời, tăng cường xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên
truyền viên pháp luật vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, có phẩm chất chính trị
tốt, trình độ chuyên môn vững vàng, có kỹ năng truyền đạt, am hiểu pháp luật và kiến
thức xã hội, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.



xv

KẾT LUẬN
Trong những năm qua, chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam ngày càng
được cải thiện do sự tăng trưởng ổn định về kinh tế - xã hội. Chất lượng cuộc sống
được nâng cao kéo theo đó là sự phát triển của các loại hình dịch vụ gia đình mà
không thể không nhắc đến là loại hình giúp việc gia đình. Tuy nhiên, loại hình dịch vụ
giúp việc gia đình ngày nay chưa được quan tâm đúng mức và ít được pháp luật lao
động chung đề cập đến. Đó là lý do chính dẫn đến lao động giúp việc gia đình phải đối
mặt với các nguy cơ gặp rủi ro trong quá trình lao động.
Trên thực tế, Bộ luật Lao động 2012 đã bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ
của các bên liên quan đến lao động giúp việc gia đình, từ đó đã tạo ra cơ sở pháp lý
quan trọng về quản lý lao động giúp việc gia đình. Trong khi sự hiểu biết về pháp luật
là một trong những lý do đảm bảo quyền lợi cũng như giúp họ nhận thức được trách
nhiệm của mình khi tham gia vào thị trường giúp việc gia đình. Đề tài “Đánh giá nhu
cầu hiểu biết của lao động giúp việc gia đình đối với Bộ luật Lao động 2012 trên địa
bàn Hà Nội” được thực hiện với mục đích phân tích và đánh giá nhu cầu hiểu biết của
lao động giúp việc gia đình, từ đó khuyến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao mức
độ hiểu biết luật của lao động giúp việc gia đình. Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu
đã chỉ ra những vấn đề cơ bản về lao động giúp việc gia đình, giới thiệu tổng quát về
Bộ luật Lao động giúp việc gia đình với ba khía cạnh nghiên cứu là hợp đồng lao
động, tiền lương và thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi. Trên cơ sở tổng hợp những
thông tin thực tế và nghiên cứu tài liệu, việc đánh giá nhu cầu hiểu biết Bộ luật Lao
động giúp việc gia đình đã đưa ra những kết luận cụ thể về thực trạng mức độ hiểu biết
luật hiện nay, nhu cầu và nguyên nhân ảnh hưởng đến nhu cầu của người LĐ GVGD,
đóng góp một phần dữ liệu cho những nghiên cứu sau này. Tuy nhiên, những kết luận
này chưa thể hoàn toàn chính xác, do việc cung cấp thông tin của lao động gia đình
còn mang tính chủ quan. Mặt khác, do thời gian, kinh nghiệm và kỹ năng còn hạn chế
nên trong quá trình thực hiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, như đánh giá
và phân tích số liệu chưa đưa ra được những kết luận chính xác nhất. Hy vọng rằng,

kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích hỗ trợ các cơ quan chức năng
nhằm đưa ra những chính sách nâng cao hiểu biết cho người lao động trong tương lai.


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2015

BẢN TỔNG HỢP
Tên công trình
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU HIỂU BIẾT CỦA LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC
GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2012
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh doanh và quản lý 3 (KD3)

Hà Nội, 2015


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự tăng trưởng ổn định kinh tế - xã hội, chất lượng cuộc sống của
người dân Việt Nam trong khoảng gần 20 năm qua được nâng cao rõ rệt. Đi đôi với sự
cải thiện về mức sống thì các loại hình dịch vụ xã hội giành cho gia đình cũng gia
tăng. Trong số các dịch vụ đó, giúp việc gia đình đang trở thành một trong số những
dịch vụ quan trọng. Họ đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, giải phóng phụ
nữ làm việc ngoài xã hội với cường độ cao khỏi gánh nặng công việc trong gia đình,

có nhiều thời gian hơn dành cho sự nghiệp, học hành, nghỉ ngơi, giải trí... Bên cạnh đó,
giúp việc gia đình còn mang lại thu nhập tương đối ổn định cho nhiều lao động, đặc
biệt là lao động nữ ở nông thôn có trình độ học vấn thấp, không có nghề nghiệp ổn
định. Chính vì vậy, nhu cầu xã hội đối với loại hình lao động này ngày một gia tăng.
Theo Trung tâm Dự báo và Thông tin thị trường lao động Quốc gia dự đoán, số
lượng việc làm liên quan tới lao động giúp việc gia đình sẽ tăng từ 157.000 người năm
2008 lên tới 246.000 người vào năm 2015.
Tuy nhiên, trong thị trường lao động, lao động giúp việc gia đình vẫn bị đánh giá
thấp và ít được pháp luật lao động chung đề cập đến. Lý do là lao động giúp việc gia
đình mang đậm nét đặc trưng về giới với 98,7% lực lượng lao động là phụ nữ, xuất
thân chủ yếu từ nông thôn, gia cảnh khó khăn, nghề nghiệp không ổn định, một số
lớn tuổi không có chồng, bị góa hoặc ly hôn... Vì vậy, các định kiến xã hội đối với
nghề này là không cần có kỹ năng, công việc phù hợp thiên chức của phụ nữ n ê n
không cần đào tạo. Bên cạnh đó, môi trường làm việc của người giúp việc gia đình
cũng thường khép kín trong không gian nhà của người sử dụng lao động (gia chủ), vì
vậy quan niệm xã hội ít nhiều thiếu sự tôn trọng đối với người giúp việc. Trên thực tế,
giúp việc gia đình vẫn chưa được công nhận là một nghề, chưa được quản lý và đào
tạo. Chính vì những đặc thù này, lao động giúp việc gia đình dễ phải đối mặt các nguy
cơ như bị mắng chửi, đánh đập, đe dọa, bị lạm dụng sức lao động, lạm dụng tình dục...
nguy cơ không được gia chủ thực hiện đúng thỏa thuận ban đầu về công việc, thời
gian, tiền lương …
Công ước số 189 về “Việc làm bền vững cho lao động giúp việc gia đình” đã
được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2011 tại Hội


2
nghị thường niên lần thứ 100. Đây là một sự kiện lịch sử đối với lao động giúp việc
gia đình trên thế giới. Vì công ước này là khung pháp lý quốc tế đầu tiên về tiêu
chuẩn lao động nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích tại nơi làm việc cũng như cải thiện
các điều kiện làm việc cho lao động giúp việc gia đình.

Ở Việt Nam, để có cơ sở pháp lý quản lý lao động giúp việc gia đình, Bộ luật
Lao động năm 2012 đã bổ sung quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên liên
quan đến lao động giúp việc gia đình trong Chương XI, Mục 5 từ Điều 179 đến Điều
183 quy định về “Lao động là người giúp việc gia đình”. Tiếp theo đó, Nghị định số
27/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao
động là người giúp việc gia đình được ban hành ngày 07/04/2014. Đến ngày
15/08/2014, Bộ Lao động – Thương binh xã hội cũng ban hành Thông tư số
19/2014/TT-BLĐTBXH về việc hướng dẫn thi hành một số điều từ Nghị định số
27/2014/NĐ-CP. Như vậy, có thể thấy, đây là một bước tiến tích cực trong việc xây
dựng khung pháp lý về giúp việc gia đình cũng như từng bước đưa giúp việc gia
đình trở thành một nghề trong thị trường lao động.
Hiện nay, ở nước ta, nội dung nghiên cứu về lao động giúp việc gia đình được đề
cập nhiều hơn trong khoảng 15 năm trở lại đây. Phần lớn các vấn đề được tập trung
phân tích, đánh giá như: giới trong cơ cấu lao động giúp việc gia đình, năng lực làm
việc của người giúp việc và mong muốn của người sử dụng lao động về kiến thức,
kỹ năng, phẩm chất cần thiết người giúp việc; vấn đề bạo lực và lạm dụng, an toàn
lao động… Thế nhưng, những nghiên cứu khoa học liên quan đến việc đánh giá mức
độ hiểu biết và nhu cầu tìm hiểu các quy định pháp luật của lao động giúp việc gia
đình lại chưa có nhiều. Trong khi, sự hiểu biết về pháp luật của người lao động giúp
việc gia đình ảnh hưởng đến những quyền lợi mà họ được hưởng. Do đó, nhóm nghiên
cứu đã lựa chọn đề tài “Đánh giá nhu cầu hiểu biết của lao động giúp việc gia đình
đối với Bộ luật Lao động 2012 trên địa bàn Hà Nội” trong công trình nghiên cứu
khoa học sinh viên năm 2015. Hy vọng nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần hữu ích
trong việc nâng cao hiểu biết về Bộ luật Lao động 2012 của người lao động giúp việc
gia đình trên địa bàn Hà Nội.

2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Giúp việc gia đình là một công việc xuất hiện rất sớm trong quá trình phát triển xã
hội và mang lại thu nhập ổn định cho nhiều lao động trên thế giới. Cùng với xu thế



×