Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

SKKN sử dụng phương pháp “bàn tay nặn bột” trong dạy học có làm tăng kết quả học tập môn vật lý của học sinh lớp 8

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.24 MB, 35 trang )

MỤC LỤC
Trang
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI....................................................................................... 2
II. GIỚI THIỆU............................................................................................... 4
1. Hiện trạng ................................................................................................ 4
2. Giải pháp thay thế .................................................................................... 5
3. Vấn đề nghiên cứu ................................................................................... 6
4. Giả thuyết nghiên cứu ............................................................................. 6
III. PHƯƠNG PHÁP .......................................................................................7
1. Khách thể nghiên cứu .............................................................................. 7
2. Thiết kế nghiên cứu.................................................................................. 7
3. Quy trình nghiên cứu................................................................................ 8
4. Đo lường và thu thập dữ liệu ................................................................. 11
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ ............................................... 13
V. BÀN LUẬN ............................................................................................... 14
VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ........................................................ 15
1. Kết luận .................................................................................................. 15
2. Khuyến nghị........................................................................................... 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................... 17
PHỤ LỤC ................................................................................................. 18
Phụ lục 1: Kế hoạch bài học................................................................. 18
Phụ lục 2: Đề kiểm tra trước và sau tác động ..................................... 25
Phụ lục 3: Bảng tính độ tin cậy ........................................................... 27
Phụ lục 4: Bảng điểm ........................................................................... 31
Phụ lục 5: Bảng so sánh dữ liệu .......................................................... 33

1


I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
Việc giảng dạy Vật lý ở nhà trường không chỉ dừng lại ở việc làm cho học sinh


biết đầy đủ những kiến thức theo quy định trong chương trình mà cịn làm cho học
sinh hiểu được một cách sâu sắc các kiến thức, rèn luyện cho các em khả năng vận
dụng tri thức để giải quyết những nhiệm vụ học tập và những vấn đề mà thực tiễn đặt
ra. Quan trọng hơn là rèn luyện phương pháp tự học, hình thành và phát triển năng lực
tìm tịi nghiên cứu cho học sinh trên hành trình chiếm lĩnh tri thức.
Bài học Vật lý lớp 8 là những kiến thức khoa học, thường liên quan đến các hiện
tượng, quy luật đang xảy ra trong thiên nhiên và cuộc sống quanh ta. Cho nên, con
đường khám phá để thu nhận kiến thức cho bản thân phải được thực hiện qua hoạt
động nghiên cứu, quan sát, tiến hành thí nghiệm,... Song, trong quá trình tổ chức các
hoạt động, giáo viên chưa kích thích, lơi cuốn được sự tích cực chủ động học tập của
học sinh làm cho kiến thức học sinh được xây dựng thiếu hệ thống, thiếu vững chắc,
năng lực sáng tạo của học sinh chưa được phát triển.
Có nhiều phương pháp dạy học hay, thú vị trong việc khơi dậy năng lực tìm tịi,
giúp học sinh tiếp nhận kiến thức Vật lý một cách nhanh chóng, có hệ thống và có
chiều sâu. Tuy nhiên, có một phương pháp mà tơi tâm đắc nhất, đó là phương pháp
“Bàn tay nặn bột”.
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp dạy học hiện đại dựa trên cơ sở
của sự tìm tòi - nghiên cứu khoa học. Phương pháp này tạo cho học sinh tính tị mị,
ham muốn khám phá và say mê học tập, nhờ đó học sinh nắm vững, hiểu sâu, nhớ lâu
kiến thức hơn.
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong
dạy học đem lại hiệu quả lớn, góp phần nâng cao chất lượng dạy học cho cấp Tiểu
học, nhưng ở cấp Trung học cơ sở thì chưa có nghiên cứu nào, riêng mơn Vật lý cũng
vậy. Vì lẽ đó, tôi quyết định đi sâu nghiên cứu việc sử dụng phương pháp “Bàn tay
nặn bột” nhằm nâng cao chất lượng dạy học Vật lý lớp 8a2.
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương là hai lớp 8, trường THCS
Chà Là. Lớp 8a1 (chọn 26 em) làm lớp đối chứng, lớp 8a2 (chọn 26 em) làm lớp thực
nghiệm. Lớp thực nghiệm được tổ chức dạy học bằng phương pháp “Bàn tay nặn bột”
ở các bài 16, 19, 21. Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học
tập của học sinh: Lớp thực nghiệm đạt kết quả học tập cao hơn lớp đối chứng. Điểm

trung bình thang đo kết quả của lớp thực nghiệm là 8,0; của lớp đối chứng là 6,5. Kết
quả kiểm chứng T-test độc lập cho thấy p = 0,0012 < 0,05 nghĩa là có sự khác biệt lớn
giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. Độ chênh lệch giá trị
2


trung bình chuẩn SMD = 0,826 > 0,8 thêm một lần nữa khẳng định mức độ ảnh hưởng
của tác động trong nghiên cứu là lớn, giải pháp mới có hiệu quả.
Vậy, việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học có làm tăng kết
quả học tập Vật lý của học sinh.

3


II. GIỚI THIỆU:
1. Hiện trạng:
Trong những năm gần đây, Ngành Giáo dục và Đà tạo đã tập trung chỉ đạo việc
thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Kết quả
đạt được rất khả quan nhưng không đồng đều. Chất lượng giáo dục ở một số địa
phương vùng nông thôn, vùng xa,... chưa cao, chất lượng giảng dạy một số mơn Tốn,
Vật lý,... cịn hạn chế, vẫn cịn nhiều học sinh bỏ học vì học yếu và không ham học.
Thế nên, ngày 05/9/2014, phát biểu chỉ đạo của Tiến sĩ Nguyễn Vinh Hiển - Thứ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo - khi đến dự Lễ Khai Giảng ở một trường Trung học,
một lần nữa kêu gọi: Trong năm học này, mỗi giáo viên phải khơng ngừng tích cực đổi
mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học; chú trọng phương pháp hướng dẫn
học sinh học tập tiếp thu kiến thức dựa trên các hoạt động trải nghiệm tìm tịi, nghiên
cứu khoa học nhằm khơi dậy tính tích cực, phát huy tính sáng tạo, tạo điều kiện thuận
lợi cho học sinh phát triển kỹ năng, năng lực bản thân, góp phần đẩy mạnh chất lượng
giáo dục... Thứ trưởng cịn nói: Những đổi mới này chính là tiền đề cho việc đổi mới
căn bản nền Giáo dục Việt Nam hiện đại những năm học sau - phát biểu còn được đưa

lên “Diễn đàn Giáo dục” của báo Tuổi trẻ cùng ngày.
Chất lượng giảng dạy chưa cao, học sinh chán học là trách nhiệm của ai? Chúng ta
khơng hồn tồn đổ lỗi cho học sinh, cũng khơng thể phủ nhận trách nhiệm đó là của
mình.
Như một số đơn vị bạn, thực trạng việc dạy học Vật lý ở nơi tôi đang công tác
(trường Trung học cơ sở Chà Là) cũng thật đáng lo ngại, vẫn còn nhiều học sinh học
yếu, nhiều em nắm kiến thức không vững không chắc nên mau quên bài. Và hệ lụy
gây ra là làm chất lượng giảng dạy chưa cao, nhất là môn Vật lý lớp 8.
Theo tôi, sở dĩ có thực trạng trên là do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, học sinh chưa ý thức việc học, thích chơi game.
Thứ hai, học sinh thiếu sự quan tâm và động cơ học tập từ phía gia đình.
Thứ ba, học sinh khơng thích học mơn Vật lý nên có thái độ học lệch vì cho
rằng Vật lý là mơn phụ, sẽ khơng cịn được chọn thi tuyển 10 khi lên lớp 9, các em chỉ
đầu tư học các mơn Tốn, Ngữ Văn, Tiếng Anh.
Thứ tư, phương pháp dạy học bộ môn chưa phù hợp, giáo viên chưa thật sự đổi
mới phương pháp dạy học.
Làm sao để học sinh hứng thú, ham thích học mơn Vật lý? Làm thế nào để đổi mới
phương pháp dạy học một cách hiệu quả? Trăn trở này đã làm tơi suy nghĩ và tìm
kiếm giải pháp.
4


Muốn học sinh học tích cực thì giáo viên cũng phải có phương pháp dạy tích cực.
Cho nên, ngồi các phương pháp cần thiết thì phương pháp được tơi chọn làm điểm là
việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Vật lý.

2. Giải pháp thay thế:
Đã có nhiều đề tài, sáng kiến kinh nghiệm của nhiều giáo viên ở các địa phương
khác nhau về phương pháp “Bàn tay nặn bột” dành cho cấp Tiểu học nhưng việc sử
dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Vật lý cấp Trung học cơ sở đến

nay chưa được thấy nghiên cứu áp dụng. Tuy nhiên tôi đã mạnh dạn nghiên cứu và sử
dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào quá trình dạy học Vật lý lớp 8a2, đối với
những bài học thích hợp.
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp dạy học hiện đại dựa trên cơ sở
của sự tìm tịi - nghiên cứu khoa học. Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, chính học
sinh là người tìm ra câu trả lời cho các vấn đề đặt ra trong cuộc sống thơng qua tiến
hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đó hình thành kiến
thức cho mình.
Phương pháp này tạo nên tính tị mị, ham muốn khám phá và say mê học tập cho
học sinh. Đứng trước một sự vật hiện tượng, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả
thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực hiện nghiên cứu để kiểm chứng và
đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, phân tích, tổng hợp kiến thức, nhờ
đó kiến thức được học sinh nắm vững, hiểu sâu, nhớ lâu hơn.
Chương trình Vật lý 8 chia làm hai chủ đề lớn:
1. Chuyển động – Lực – Quán tính và Áp suất (học kỳ I).
2. Công – Công suất – Cấu tạo chất và Nhiệt lượng (học kỳ II).
Trong mỗi chủ đề đều có nhiều bài học địi hỏi giáo viên phải áp dụng các
phương pháp dạy học tích cực để học sinh nắm chắc kiến thức của bài thông qua việc
khơi dậy các kỹ năng, năng lực, sáng tạo của học sinh. Nếu học sinh không nắm vững
kiến thức của một hoặc hai chủ đề thì đồng nghĩa với việc kết quả học tập của một học
kỳ khơng cao. Do đó tơi đã khắc phục kết quả học kỳ I trong học kỳ II bằng việc tích
cực đổi mới phương pháp dạy học - sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”- trong
các bài tìm hiểu kiến thức mới.
Các bước thực hiện trong tiến trình hoạt động dạy học của phương pháp “Bàn tay
nặn bột” như sau:
- Bước 1 (Pha 1): Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.
- Bước 2 (Pha 2): Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh.
- Bước 3 (Pha 3): Đề xuất câu hỏi (hay giả thuyết) và thiết kế phương án thực
nghiệm nghiên cứu.
5



- Bước 4 (Pha 4): Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu.
- Bước 5 (Pha 5): Kết luận và hợp thức hóa kiến thức.
(Tùy theo bài học hoặc chủ đề nghiên cứu mà có thể gợp chung bước 2 và 3)
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” được sử dụng khi học các bài thích hợp từ tuần 20
đến tuần 27.
Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng: 8 tuần đầu của
học kỳ II, năm học 2014-2015.

3. Vấn đề nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học có làm tăng kết quả học tập
môn Vật lý của học sinh lớp 8a2 ở trường THCS Chà Là không?

4. Giả thuyết nghiên cứu:
Có, việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học có làm tăng kết
quả học tập môn Vật lý của học sinh lớp 8a2 trường THCS Chà Là trong 8 tuần
nghiên cứu.

6


III. PHƯƠNG PHÁP:
1. Khách thể nghiên cứu:
Chọn hai nhóm tương đương:
Lớp 8a1 là nhóm đối chứng.
Lớp 8a2 là nhóm thực nghiệm.
+ Học sinh: Vì tổng số học sinh của hai lớp khác nhau: 8a1: 29/12nữ, 8a2: 32/17nữ
nên ứng với mỗi lớp, tôi chọn 26 học sinh. 26 học sinh ở hai nhóm được chọn tham
gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về số lượng, giới tính và dân tộc. Cụ

thể như sau:
Bảng 1: Giới tính, dân tộc của học sinh hai lớp 8 trường THCS Chà Là:
Lớp

Giới tính

Số học sinh

Dân tộc

Nam

Nữ

Kinh

Khác

8a1

26

14

12

26

0


8a2

26

14

12

26

0

Về thành tích học tập của các em ở hai nhóm là tương đương nhau. Kết quả học
tập của hai nhóm ở năm học trước tương đương nhau về điểm số.
Bảng 2: Thống kê trung bình mơn Vật lý cuối năm học 2013-2014:
Lớp

TSHS

Giỏi

Khá

TB

Yếu

Kém

8a1


26

7

8

10

1

0

8a2

26

8

8

9

1

0

+ Giáo viên: Dạy cả hai lớp thực nghiệm và đối chứng.

2. Thiết kế nghiên cứu:

Chọn hai nhóm của hai lớp: 8a1 là nhóm đối chứng, 8a2 là nhóm thực nghiệm. Tơi
dùng bài kiểm tra 15 phút để kiểm tra năng lực nhận biết, thông hiểu, vận dụng kiến
thức đã học của học sinh trước tác động. Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình
của hai nhóm có sự khác biệt nhau, do đó tơi dùng phép kiểm chứng T-test độc lập để
kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm trước khi tác động.
Kết quả:
Bảng 3: Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương (theo phụ lục 5
trang 33):

Giá trị trung bình
Giá trị p

Đối chứng

Thực nghiệm

6.46

6.31
0,359
7


p = 0,359 > 0,05 từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm
thực nghiệm và đối chứng là khơng có nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương.
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương
và tính điểm trung bình (giá trị trung bình) ta được kết quả ở bảng sau:
Bảng 4: Thiết kế nghiên cứu (theo phụ lục 5 trang 33, 34):
Kiểm tra
Nhóm


Kiểm tra sau

trước tác

Tác động

tác động

động
Thực nghiệm

Dạy học có sử dụng phương

6,31

(8a2)
Đối chứng

pháp Bàn tay nặn bột
Dạy học không sử dụng phương

6,46

(8a1)

pháp Bàn tay nặn bột

8,0
6,5


Cho thấy điểm trung bình của lớp thực nghiệm trước và sau tác động có sự
khác biệt, của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau tác động có sự chênh lệch.

3. Quy trình nghiên cứu:
3.1. Chuẩn bị bài của giáo viên:
Lớp đối chứng: Soạn kế hoạch bài học không sử dụng phương pháp Bàn tay
nặn bột.
Lớp thực nghiệm: Soạn kế hoạch bài học có sử dụng phương pháp Bàn tay nặn
bột.
3.2. Tiến hành dạy thực nghiệm:
Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà
trường và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan. Cụ thể như sau:
Bảng 5: Thời gian thực nghiệm (dạy lớp 8a2):
Thời gian

Tiết PPCT

Tên bài dạy

Tuần 23

22

Bài 16: Cơ năng

Tuần 25

24


Bài 19: Các chất được cấu tạo như thế nào?

Tuần 27

26

Bài 21: Nhiệt năng

• Cách thực hiện:
Bước 1 (Pha 1): Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề:
Để thực hiện bước này, giáo viên chủ động đưa ra một tình huống ngắn
gọn, dễ hiểu đối với học sinh (như một cách dẫn nhập vào bài học) rồi đặt câu hỏi nêu
vấn đề.
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học nên phải gây mâu thuẫn
nhận thức, kích thích tính tị mị, thích tìm tịi, nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bị
8


tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức. Vì vậy, giáo viên nên
dùng câu hỏi mở, khơng dùng câu hỏi đóng (có hoặc khơng).
Bước 2 (Pha 2): Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh:
Đây là pha quan trọng, đặc trưng của phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
Trong bước này, giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban
đầu của mình trước câu hỏi nêu vấn đề (tức trước khi học kiến thức mới). Tiến hành
thảo luận nhóm (4 - 6 học sinh) để trao đổi ý kiến. Cuối cùng, học sinh ghi vở thực
hành quan niệm của mình và phát biểu trước lớp.
Quan niệm ban đầu này phải phong phú và có thể đúng hoặc sai.
Bước 3 (Pha 3): Đề xuất câu hỏi (hay giả thuyết) và thiết kế phương án
thực nghiệm nghiên cứu:
 Đề xuất câu hỏi: Từ những khác biệt và phong phú về quan niệm ban

đầu của học sinh, giáo viên nhanh chóng chọn các quam niệm ban đầu tiêu biểu có
liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học, linh hoạt điều khiển học sinh thảo luận
đề xuất các câu hỏi (giả thuyết).
 Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu: Từ các câu hỏi được đề
xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghị các em đề xuất giả thuyết, thiết kế
phương án thực nghiệm tìm tịi - nghiên cứu để kiểm chứng giả thuyết. Câu hỏi có thể
là: "Theo các em, làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên?; "Bây
giờ các em hãy suy nghĩ về phương án giải quyết các câu hỏi mà lớp đặt ra?",... Tùy
theo kiến thức hay vấn đề đặt ra, học sinh có thể đề xuất nhiều phương án thực nghiệm
tìm tịi nghiên cứu khác nhau, cho nên giáo viên sẽ quyết định tiến hành ít nhất hai
phương án với các dụng cụ đã chuẩn bị sẵn. Lưu ý: Các phương án thực nghiệm tìm
tịi - nghiên cứu ở đây là các phương án để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi (giả thuyết)
đã đề xuất. Giáo viên nên chọn hai phương án đúng hoặc một đúng một sai.
Bước 4 (Pha 4): Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu:
Tùy bài học, việc tiến hành thực nghiệm tìm tịi - nghiên cứu có thể là
quan sát hay nghiên cứu tài liệu hoặc thực hành thí nghiệm.
Nếu phải làm thí nghiệm thì ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật
thật, giáo viên nên khéo léo chọn những dụng cụ thích hợp để tiến hành nghiên cứu,
nếu khơng có dụng cụ thì có thể làm trên mơ hình hoặc quan sát tranh vẽ. Khi thí
nghiệm xong, giáo viên yêu cầu học sinh rút ra kết luận (trả lời câu hỏi đặt ra).
Việc tổ chức học sinh làm thí nghiệm theo nhóm: giáo viên thực hiện bình
thường như trước nay (giáo viên nêu mục đích, yêu cầu thí nghiệm, chia nhóm, phát
dụng cụ; học sinh làm thí nghiêm; giáo viên bao quát lớp, quan sát từng nhóm, nhắc
nhở nhỏ trong nhóm,...)
9


Bước 5 (Pha 5): Kết luận và hợp thức hóa kiến thức:
Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tịi - nghiên cứu, các câu hỏi dần dần
được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức mới được hình thành. Tuy

nhiên giáo viên phải hệ thống và chuẩn xác lại kiến thức bằng cách yêu cầu một vài
học sinh cho kết luận sau thực nghiệm (rút ra kiến thức bài học), sau đó giáo viên chốt
nội dung cho học sinh ghi vở thực hành. Giáo viên có thể in tờ rời ghi sẵn kiến thức
bài học cho học sinh dán vào vở thực hành nếu kiến thức bài dài và phức tạp.
Để khắc sâu kiến thức bài học cho học sinh, giáo viên cho học sinh nhìn
lại, đối chiếu lại các ý kiến ban đầu (quan niệm ban đầu). Từ những quan niệm ban
đầu sai lệch, sau quá trình thực nghiệm tìm tịi - nghiên cứu, chính học sinh tự phát
hiện ra mình đúng hay sai mà khơng phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt.
Chính học sinh tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi
một cách chủ động. Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ, khắc sâu kiến thức
hơn.
• Ví dụ cụ thể:
Giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng kiến thức về nguyên tử, phân tử
bài 19: CÁC CHẤT ĐƯỢC CẤU TẠO NHƯ THẾ NÀO? như sau:
Bước 1: Giáo viên tạo tình huống xuất phát bằng cách đưa ra một cốc
thủy tinh chứa nước và đặt câu hỏi nêu vấn đề: Nước trong cốc được cấu tạo như thế
nào mà nhìn nó có vẻ như liền một khối?
Bước 2: Học sinh suy nghĩ, tiến hành thảo luận và trình bày trước lớp
quan niệm ban đầu: Nước được cấu tạo từ những hạt vô cùng nhỏ bé; nước được cấu
tạo từ nhiều giọt nước nhỏ; nước được cấu tạo từ những hạt riêng biệt, giữa chúng có
khoảng cách,...
Bước 3: Giáo viên chọn quan niệm: Nước được cấu tạo từ những hạt vô
cùng nhỏ bé và giữa những hạt này có khoảng cách.
Học sinh thảo luận đề xuất câu hỏi: Liệu nước có được cấu tạo
từ những hạt vơ cùng nhỏ bé khơng hay nó liền một khối? Giữa những hạt nhỏ bé này
có khoảng cách khơng?
Giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh đề xuất phương án thực
nghiệm tìm tịi - nghiên cứu: “Bây giờ các em hãy suy nghĩ tìm phương án giải quyết
câu hỏi mà lớp mình đặt ra?”
Học sinh đề xuất các phương án thực nghiệm: (1) Làm thí

nghệm đổ nước vào rượu xem thể tích hỗn hợp có giảm so với tổng thể tích của chúng
khơng, nếu có thì thí nghiệm chứng tỏ quan niệm được chọn là đúng, ngược lại là sai.
(2) Quan sát ảnh chụp của nước qua kính hiển vi hiện đại.
10


Bước 4: Giáo viên tổ chức học sinh làm thí nghiệm nghiên cứu, quan sát
tranh,... theo phương án đề xuất.
Sau thí nghiệm, học sinh thu được kết luận: Nước được cấu tạo
từ những hạt vô cùng nhỏ bé và giữa những hạt nước có khoảng cách.
Bước 5: Học sinh phát biểu kết luận. Giáo viên giới thiệu: Những hạt vô
cùng nhỏ bé đó là nguyên tử, phân tử và khái quát kết luận trên cho nhiều chất.
Học sinh rút ra kết luận chung: “Các chất được cấu tạo từ các
hạt riêng biệt vô cùng nhỏ bé gọi là nguyên tử, phân tử. Giữa các nguyên tử, phân tử
có khoảng cách”, học sinh ghi vào vở học (vở thực hành).
Giáo viên dành thời gian 1 phút cho học sinh đối chiếu lại quan
niệm ban đầu cá nhân đã bộc lộ, nghiệm lại kiến thức bài học.
Tiếp theo, giáo viên giới thiệu về sự nhỏ bé của nguyên tử, phân tử rồi tiến
hành thí nghiệm mơ hình “Trộn cát với ngơ” để hướng dẫn học sinh giải thích các hiện
tượng thực tế liên quan về nguyên tử, phân tử: C2 trang 69; C3, C4, C5 trang 70 SGK.

4. Đo lường và thu thập dữ liệu:
Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra 15 phút do người nghiên cứu ra đề,
được tiến hành sau khi học xong bài 6: LỰC MA SÁT, dạng đề tự luận với 4 câu hỏi
(Xem phần phụ lục 2 trang 25).
Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra 15 phút do người nghiên cứu ra đề, được
tiến hành sau khi học xong bài 21: NHIỆT NĂNG, dạng đề tự luận với 4 câu hỏi
(Xem phần phụ lục 2 trang 25, 26).
Hai bài kiểm tra được áp dụng cho cả nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Tôi tiến hành kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu bằng cách chia đôi dữ liệu: 4 câu

hỏi của đề kiểm tra ở hai lần trước tác động và sau tác động được chia thành câu hỏi
số chẵn và lẻ, sau đó tính tổng điểm các câu hỏi chẵn, lẻ, tơi được kết quả sau:
Bảng 6: Bảng tính độ tin cậy (theo phụ lục 3 trang 27, 28, 29, 30):
LỚP THỰC NGHIỆM
Trước tác

Sau tác động

động
Số học sinh
Hệ số tương quan chẵn,
lẻ rhh
Độ tin cậy SpearmanBrown rSB
Kết luận

LỚP ĐỐI CHỨNG
Trước tác

Sau tác động

động

26

26

26

26


0,596

0,553

0,561

0,579

0.747

0,712

0,718

0,733

Đáng tin cậy

Đáng tin cậy

Đáng tin cậy

Đáng tin cậy

11


Độ giá trị của dữ liệu được kiểm chứng bằng giá trị nội dung, những câu hỏi tôi
đưa ra khái quát được nội dung môn học, phản ánh đầy đủ, rõ ràng quá trình nghiên
cứu.

* Tiến hành kiểm tra và chấm điểm:
Tôi đã tiến hành bài kiểm tra 15 phút trước tác động vào tuần 7 học kỳ I và bài
kiểm tra 15 phút sau tác động vào tuần 27 học kỳ II. Đồng thời, thực hiện chấm bài
theo đáp án (nội dung kiểm tra và đáp án được trình bày ở phụ lục 2, kết quả kiểm tra
được trình bày ở phần phụ lục 3, 4).
Thời điểm kiểm tra ở hai lớp như nhau (cùng thực hiện đồng loạt sau tiết sinh
hoạt chủ nhiệm của tuần 7, 27). Giáo viên coi kiểm tra lớp 8a1: Trần Thị Bích Tuyền
– giáo viên bộ môn. Giáo viên coi kiểm tra lớp 8a2: Nguyễn Thanh Hồng – giáo viên
chủ nhiệm.
Điểm kiểm tra được lấy vào cột 15 phút của quy chế điểm.

12


IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ
Bảng 7: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động (theo phụ lục 5 trang 34):
Đối chứng

Thực nghiệm

Mốt

8

9

Trung vị

7


8,5

Điểm trung bình

6,5

8,0

Độ lệch chuẩn

1,82

1,55

Giá trị p của T-test

0,0012

SMD

0,826

Như bảng 3 (trang 7) ở trên đã chứng minh kết quả hai nhóm trước tác động là
tương đương nhau: p = 0,359 > 0,05. Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung
bình bằng T-test độc lập cho kết quả p = 0,0012 < 0,05 cho thấy sự chênh lệch điểm
trung bình giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là có ý nghĩa, có giá trị, tức là
chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung bình nhóm
đối chứng là khơng ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD =


8,0 − 6,5
= 0,826
1,82

Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0,826 > 0,8
cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc sử dụng phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột
đến kết quả học tập của học sinh nhóm thực nghiệm là lớn.
Vậy, giả thuyết của đề tài “Sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học
nhằm làm tăng kết quả học tập môn Vật lý của học sinh lớp 8a2” đã được kiểm chứng.

6.46 6.31

6.5

8.0

Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
13


V. BÀN LUẬN
Kết quả giá trị trung bình bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là 8,0;
của nhóm đối chứng là 6,5. Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 1,5 cho thấy giá
trị trung bình điểm của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp
được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng.
Phép kiểm chứng T-test giá trị trung bình sau tác động của hai lớp là p = 0,0012 <
0,05. Kết quả này khẳng định sự chênh lệch giá trị trung bình của hai nhóm khơng
phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0,826 > 0,8

chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
Qua kết quả thu nhận được trong quá trình nghiên cứu và ứng dụng, tôi nhận thấy
rằng việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học đã làm nâng cao
năng lực tư duy, khả năng tiếp thu kiến thức cho học sinh; học sinh học tập nhờ hành
động và cuốn hút mình trong hành động nên các em tích cực, hứng thú hơn trong học
tập, mạnh dạn, tự tin hơn trước tập thể... tất cả góp phần rất lớn vào việc nâng cao chất
lượng dạy và học môn Vật lý ở đơn vị.

14


VI. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Tổ chức dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” là tạo điều kiện thuận lợi để
học sinh phát huy sự tự chủ động xây dựng kiến thức, đồng thời phát huy được vai trò
tương tác của tập thể học sinh đối với quá trình nhận thức của mỗi cá nhân học sinh.
Như vậy kiến thức học sinh thu nhận được xây dựng một cách hệ thống và vững chắc,
năng lực sáng tạo của học sinh từng bước được phát triển.
Qua quá trình áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”, có thể nhận thấy sự ham
thích của học sinh, các em hứng thú với những hoạt động tìm hiểu kiến thức mới. Nhờ
đó, giờ học trở nên chất lượng, hiệu quả, số học sinh học tập tiến bộ nhiều hơn.
Như vậy, việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học đã nâng cao
kết quả học tập Vật lý của học sinh.
Khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học, giáo viên cần chú ý:


Phải lựa chọn chủ đề, bài học, đơn vị kiến thức thích hợp, gần gũi với đời

sống mà học sinh cảm nhận và có ít nhiều quan niệm ban đầu về chúng.



Khơng bình luận, nhận xét về tính đúng sai khi học sinh bộc lộ quan niệm ban

đầu hoặc đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu.


Với phương án thực nghiệm tìm tịi - nghiên cứu là tiến hành thí nghiệm thì

phương án thí nghiệm phải đơn giản với các dụng cụ gần gũi, dễ tìm, dễ làm đối với
học sinh. Ưu tiên phát triển thí nghiệm tự làm.


Nhóm làm việc lý tưởng là từ 4 đến 6 học sinh, trong đó có một thư ký và một

nhóm trưởng để ghi lại và trình bày nội dung thảo luận. Khơng nhất thiết phải chọn
nhóm trưởng là học sinh khá, giỏi.


Mỗi học sinh phải có vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức

và ngôn ngữ của các em.
Việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Vật lý đã đem lại
nhiều hiệu quả quan trọng. Tuy nhiên, giáo viên cũng gặp phải những khó khăn:


Đây là phương pháp mới mẽ đối với học sinh nên có nhiều em còn e dè, ngại

bộc lộ quan niệm ban đầu, đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu trước lớp. Do
đó, giáo viên nên khuyến khích động viên hoặc chỉ định học sinh phát biểu.



Với những học sinh còn lúng túng trong cách ghi vở thực hành thì giáo viên

phải có sự hướng dẫn cụ thể (ghi theo ba phần: P1- Phần ghi chú cá nhân: Ghi các
quan niệm ban đầu, các suy nghĩ, các câu hỏi cá nhân đặt ra trong quá trình học và
thảo luận. P2 -Phần ghi chú tổng kết của nhóm sau thảo luận. P3- Phần ghi chú tổng
kết sau khi thảo luận cả lớp, tức nội dung kiến thức bài học).
15




Với phương án thực nghiệm tìm tịi - nghiên cứu là tiến hành thí nghiệm thì

giáo viên (hoặc giáo viên cùng với học sinh) phải chuẩn bị, dự trù nhiều dụng cụ để
học sinh làm thí nghiệm vì sẽ có nhiều phương án được học sinh đề xuất, thiết kế.
Để tổ chức dạy học bằng phương pháp “Bàn tay nặn bột” người dạy phải đầu tư
nhiều cho việc soạn giảng và mất thời gian nhiều cho việc chuẩn bị. Nhưng với lịng
nhiệt tình với trẻ và sự tâm huyết với nghề, tơi nghĩ sẽ khơng có gì làm trở ngại quyết
tâm nâng cao chất lượng, mong muốn đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với
yêu cầu mới của giáo dục hiện nay trong mỗi chúng ta.

2. Khuyến nghị:
Đối với cấp trên: Thường xuyên mở các đợt tập huấn liên quan đến đổi mới
phương pháp dạy học, tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng việc dạy học hiệu quả cho
giáo viên. Nên chọn Vật lý là một trong số các mơn thi tuyển vào lớp 10 nhằm tránh
tình trạng học sinh học lệch ngay từ lớp dưới.
Đối với giáo viên: Không ngừng tự học, tự rèn để nâng cao trình độ chun mơn
nghiệp vụ và năng lực sư phạm, tích cực đầu tư, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy
học bộ mơn.

Với những mặt tích cực của việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy
học Vật lý, tơi nghĩ rằng đề tài hồn tồn có thể áp dụng rộng rãi ở các khối lớp của
trường Trung học cơ sở. Rất mong các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia sẻ để nâng cao
kết quả học tập môn Vật lý cho học sinh của mình.
Người thực hiện

Trần Thị Bích Tuyền

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Vật lý 8.
Vũ Quang – Bùi Gia Thịnh.
2. Tài liệu “Phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học Vật lý” cấp Trung học.
Vụ Giáo dục Trung học.
3. Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội 2011
4. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Vật lý THCS
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
5. Website: />

17


PHỤ LỤC
Phụ lục 1: KẾ HOẠCH BÀI HỌC
(Giáo án có sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột)
Ngày dạy: 25/02/2014

Tuần: 27 (08 HKII)
Tiết: 26

Bài 21 : NHIỆT NĂNG

1. Mục tiêu:
1.1 Kiến thức:
+ Học sinh biết và phát biểu được định nghĩa nhiệt năng. Nêu được nhiệt độ của
vật càng cao thì nhiệt năng của nó càng lớn.
+ Học sinh hiểu và nêu được tên hai cách làm biến đổi nhiệt năng và tìm được ví
dụ minh họa cho mỗi cách.
+ Học sinh biết phát biểu định nghĩa nhiệt lượng và nêu được đơn vị đo nhiệt
lượng là gì.
1.2 Kỹ năng:
+ Quan sát các hiện tượng liên quan đến sự thay đổi nhiệt năng và nhận biết được
nguyên nhân làm thay đổi nhiệt năng của vật.
+ Phân biệt được hai khái niệm nhiệt năng và nhiệt lượng.
1.3 Thái độ:
Ý thức học tập, tích cực tư duy.
2. Trọng tâm:
Các cách làm thay đổi nhiệt năng.
3. Chuẩn bị:
3.1 Giáo viên:
Dụng cụ cho cả lớp:  Quả bóng.
 Nước nóng, cốc thủy tinh.
 Giấy nhám hoặc vải khô.
3.2 Học sinh:
+ Học bài, làm bài tập về nhà, nghiên cứu bài mới, SGK.
+ Dụng cụ: 1 đồng tiền kim loại / 4HS.
4. Tiến trình dạy học:

4.1 Ổn định tổ chức và kiểm diện:
+ Giáo viên kiểm diện.
- Cán sự bộ môn báo cáo việc chuẩn bị bài của các bạn.
18


4.2 Kiểm tra miệng:
Câu hỏi

Trả lời

1. + Nguyên tử, phân tử chuyển động hay

1. + Nguyên tử, phân tử chuyển động không

đứng yên? Chuyển động của phân tử phụ

ngừng. Nhiệt độ càng cao thì các nguyên tử,

thuộc gì?

phân tử chuyển động càng nhanh

+ Bài tập 20.4 SBT.
+ Nhiệt năng là gì?

(4đ)
(10đ)

+ Bài tập 20.4: Vì phân tử nước hoa

chuyển động không ngừng, một số phân tử
nước hoa bức ra khỏi lọ chuyển động tới các
vị trí khác nhau trong lớp. (4đ)
+ Tổng động năng của các phân tử cấu tạo
nên vật gọi là nhiệt năng của vật.
(2đ)

4.3 Bài mới:
Hoạt động của thầy và trò

Nội dung bài học

Hoạt động 1: Tạo tình huống học tập:
+ GV: Làm thí nghiệm thả quả bóng rơi như
hình 21.1, u cầu HS quan sát độ cao của
quả bóng sau mỗi lần nảy lên.
- HS: Theo dõi, nêu hiện tượng.
+ GV: Đặt vấn đề vào bài: Cơ năng của quả
bóng đã biến mất hay được chuyển hóa
thành dạng năng lượng khác?
Hoạt động 2: Tìm hiểu về nhiệt năng:
* Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi
nêu vấn đề:
+ GV: Đưa ra một đồng tiền kim loại.
? Làm

thế nào để đồng tiền kim loại này

nóng lên?
* Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của

HS:
- Bằng hiểu biết của bản thân trong thực tế,
HS tìm phương án làm cho đồng tiền kim
loại nóng lên và viết suy nghĩ cá nhân ra vở
thực hành.
19


- HS: Thảo luận nhóm (4HS/nhóm) trong 1
phút, thống nhất phương án.
+ GV: Lấy ý kiến vài nhóm HS và ghi bảng
động (theo 2 cụm):
 Cọ xát xuống đất, chà vào vải khô, đem
đi cưa , dùng búa gõ nhiều lần,...
 Phơi nắng, hơ lửa, cho vào nước
nóng,...
 Chú

ý: GV không nhận xét đúng sai.

* Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và
thiết kế phương án thí nghiệm:
+ GV: Chọn phương án khả thi nhất: Cọ
xát, cho vào nước nóng.
- HS : Đề xuất câu hỏi: Liệu bằng cách cọ
xát và cho vào nước nóng thì đồng tiền kim
loại có nóng lên khơng?
+ GV: Nêu câu hỏi để HS đề xuất phương
án thực nghiệm tìm tịi - nghiên cứu: (1) Lấy
đồng tiền kim loại cọ xát vào vải khô nhiều

lần. (2) Lấy đồng tiền kim loại cho vào nước
nóng.
* Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tịi –
nghiên cứu:
+ GV: Nêu mục đích/yêu cầu thí nghiệm
chuẩn bị tiến hành, phát dụng cụ thí nghiệm,
giao nhiệm vụ cho các nhóm.
- HS: Làm TN theo phương án đề xuất.
+ GV: Bao quát lớp, quan sát từng nhóm,
hướng dẫn nhóm (nếu có).
* Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến
thức:
+ GV: Qua thí nghiệm, ta đã biết cách làm
cho một vật nóng lên.
? Khi vật nóng

lên, các phân tử cấu tạo nên

vật chuyển động như thế nào? (Nhanh hơn)
? Khi đó

động năng của các phân tử cấu tạo
20


nên vật sẽ ra sao? (Động năng của các phân
tử cấu tạo vật càng lớn)
+ GV: Vì vậy, nhiệt năng của vật càng lớn.
? Nhiệt


năng là gì?

 GV: Hướng dẫn HS hình thành khái
niệm nhiệt năng, mối liên hệ giữa nhiệt năng
và nhiệt độ.

I. Nhiệt năng:
+ Tổng động năng của các phân tử cấu
tạo nên vật gọi là nhiệt năng của vật.
+ Nhiệt độ của vật càng cao, các phân tử

 Củng cố
? Có

kiến thức nhiệt năng:

một vật nóng và một vật lạnh, vật nào

cấu tạo nên vật chuyển động càng nhanh và
nhiệt năng của vật càng lớn.

có nhiệt năng? Vì sao? (Cả hai vật đều có
nhiệt năng. Vì dù vật nóng hay lạnh, các
phân tử cấu tạo nên vật cũng ln chuyển
động khơng ngừng)
+ GV: Có thể vật khơng có cơ năng nhưng
bất kỳ vật nào cũng có nhiệt năng.
? Muốn

thay đổi nhiệt năng ta làm thay đổi


đại lượng nào? (Nhiệt độ)
+ GV: Giới thiệu lại các phương án, HS nêu
tên chung cho từng phương án.
+ GV: Kết lại hai cách làm thay đổi nhiệt
năng của một vật.
+ GV: Giới thiệu khái niệm về thực hiện
công.

II. Các cách làm thay đổi nhiệt năng:

- HS: Dựa vào thí nghiệm đã làm (hoặc
nghĩ ra thí nghiệm tương tự) trả lời C1.

1. Thực hiện cơng:

+ GV: Hướng dẫn HS diễn đạt hồn chỉnh

C1: Dùng tay cọ xát miếng đồng vào vải

C1.

khô (thực hiện cơng lên miếng đồng), miếng
đồng nóng lên, nhiệt năng của nó tăng.

+ GV: Nêu khái niệm truyền nhiệt (SGK).

2. Truyền nhiệt:

- HS: Dựa vào thí nghiệm đã làm (hoặc

nghĩ ra thí nghiệm tương tự) trả lời C2.
+ GV: Hướng dẫn HS diễn đạt hồn chỉnh

C2: Cho cái thìa kim loại vào cốc nước
21


C2.

nóng, nước nóng truyền nhiệt cho cái thìa

Hoạt động 3: Tìm hiểu về nhiệt lượng:

làm cái thìa nóng lên, nhiệt năng của nó

+ GV: Nhắc lại thí nghiệm C2:

tăng.

? Nhiệt

năng của thìa tăng lên là do đâu?

III. Nhiệt lượng:

(Do nước nóng truyền nhiệt cho thìa) →
Phần nhiệt năng thìa nhận được từ nước
nóng gọi là nhiệt lượng.
? Sau


khi truyền nhiệt, nhiệt năng của

nước nóng thay đổi như thế nào? (Giảm) →
Phần nhiệt năng nước nóng giảm (mất) đi
cũng gọi là nhiệt lượng.
? Nhiệt

lượng là gì?
+ Phần nhiệt năng mà vật nhận thêm

+ GV: Thông báo ký hiệu và đơn vị nhiệt

được hay mất bớt đi trong quá trình truyền

lượng.

nhiệt gọi là nhiệt lượng.

- HS: Giải thích vì sao đơn vị nhiệt lượng là

+ Ký hiệu: Q

J.

+ Đơn vị: J

+ GV: Giới thiệu nhà Vật lý học người Anh
(Jun)

Jun (1818 – 1889)

Hoạt động 5: Vận dụng:
+ GV: Lần lượt nêu các câu hỏi C3, C4.
- HS: Dựa vào kiến thức lý thuyết đã tiếp
thu, lần lượt trả lời C3, C4.
+ GV: Gợi ý cho HS thực hiện C4 (nếu có):

IV. Vận dụng:
C3: Nhiệt năng của đồng giảm, của nước
tăng. Đây là sự truyền nhiệt.

Khi xoa hai bàn tay vào nhau thì hai bàn tay
có năng lượng ở dạng nào?
(Động năng và thế năng trọng trường). Sau
khi chà, cảm giác hai bàn tay ra sao? (Nóng
lên). Lúc này, nhiệt năng hai bàn tay thay
22


đổi như thế nào? (Tăng lên). Có sự chuyển
hóa năng lượng nào?
+ GV: Nhận xét, ghi điểm (nếu có).
- HS: Đọc lại tình huống mở bài (C5).
- HS: Suy nghĩ, trả lời.

C4: Có sự chuyển hóa từ cơ năng sang
nhiệt năng. Đây là sự thực hiện công.

+ GV: Ghi điểm động viên.
C5: Cơ năng của quả bóng khơng biến mất
mà đã chuyển hóa thành nhiệt năng của quả

bóng, của khơng khí ở gần quả bóng và của
mặt sàn.

4.4 Câu hỏi, bài tập củng cố:
1. HS đọc ghi nhớ bài học.

1. “Ghi nhớ” trang 75 SGK.

2. Bài tập 21.1 và 21.2 SBT.

2. Bài 21.1: Câu C - Bài 21.2: Câu B

4.5 Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà:

NỘI DUNG GHI VỞ THỰC HÀNH

- Học sinh: + Đối với bài học ở tiết này:
 Học bài, đọc mục “Có thể em chưa biết”
 Bài tập về nhà: 21.3; 21.4 SBT.
+ Đối với bài học ở tiết sau: “Ôn tập”
 Ôn lại kiến thức từ tiết 19 (bài Định luật về công) đến tiết 26 (bài

Nhiệt năng).
 Xem lại cơng thức tính công, công suất.

- Giáo viên: + Hướng dẫn bài tập 21.3 (Chú ý thuật ngữ: bay, cao và xét xem viên

đạn có nóng lên khơng để xác định các dạng năng lượng); bài tập 21.4 (Dựa vào định
nghĩa truyền nhiệt và điều kiện có cơng để xác định khi nào có truyền nhiệt, khi nào có
thực hiện cơng).

+ Nhận xét tiết học, ghi sổ đầu bài.

5. Rút kinh nghiệm:
 Nội dung:........................................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
 Phương pháp:...............................................................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................
 Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học: ....................................................................................................
.....................................................................................................................................................................................

6. Phụ lục: Không.

23


Phụ lục 2: ĐỀ KIỂM TRA TRƯỚC VÀ SAU TÁC ĐỘNG
1. KIỂM TRA 15 PHÚT TRƯỚC TÁC ĐỘNG (TUẦN 7 – HKI):
24




Đề bài:
Câu 1: Một học sinh đi xe đạp từ nhà đến trường. Chuyển động của bạn ấy là đều

hay khơng đều? Vì sao? (2,5đ)
Câu 2: Khi phấn viết lên bảng thì xuất hiện lực ma sát gì? Ma sát đó có lợi hay
có hại? (2,5đ)
Câu 3: Cho một ví dụ về lực ma sát lăn? (2,5đ)
Câu 4: Nêu một hiện tượng trong thực tế có liên quan đến quán tính? (2,5đ)



Đáp án:
Câu 1: Là chuyển động khơng đều (1,5đ). Vì tốc độ của bạn ấy thay đổi (có lúc

bạn chạy nhanh, có lúc bạn chạy chậm). (1đ)
Câu 2: + Khi phấn viết lên bảng thì xuất hiện lực ma sát trượt. (1,5đ)
+ Lực ma sát này có lợi. (1đ)
Câu 3: Quả bóng lăn trên sân cỏ. Lực ma sát lăn xuất hiện giữa quả bóng và mặt
sân làm cản trở chuyển động lăn của quả bóng. (2,5đ)
Câu 4: Khi nhổ cỏ, nếu ta bức đột ngột thì cỏ bị đứt ngang vì có qn tính. (2,5đ)
*******
2. KIỂM TRA 15 PHÚT SAU TÁC ĐỘNG (TUẦN 27 – HKII):


Đề bài:
Câu 1: Khi nào vật có động năng? Cho ví dụ? (2,5đ)
Câu 2: Cho một thìa đường cát vào cốc nước rồi khuấy lên, đường tan và nước

có vị ngọt. Tại sao vậy? (2,5đ)
Câu 3: Nêu một ví dụ minh họa cách làm thay đổi nhiệt năng bằng truyền nhiệt?
(2,5đ)
Câu 4: Hãy thiết kế một thí nghiệm chứng tỏ có thể làm thay đổi nhiệt năng của
một vật bằng cách thực hiện cơng? (2,5đ)


Đáp án:
Câu 1: Khi vật chuyển động thì vật có động năng (1,5đ). Ví dụ: Hịn bi đang lăn

có động năng. (1đ)

Câu 2: Vì giữa các phân tử đường và phân tử nước có khoảng cách nên khi cho
đường vào rồi khuấy lên, các phân tử đường đã chuyển động xen vào khoảng cách
giữa các phân tử nước và ngược lại. Vì vậy đường tan và nước có vị ngọt. (2.5đ)
Câu 3: Hơ đồng tiền kim loại trước ngọn lửa (1đ). Ngọn lửa truyền nhiệt cho
đồng tiền làm đồng tiền nóng lên, nhiệt năng của nó tăng. (1,5đ)

25


×