Tải bản đầy đủ (.doc) (64 trang)

Tiểu luận cao học Đảng lãnh đạo quản lý lĩnh vực văn hóa trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (498.97 KB, 64 trang )

MỤC LỤC
A: LỜI MỞ ĐẦU………………………………………
B: NỘI DUNG………………………………………….
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN KINH
TẾ……………………………………………….
CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ LĨNH VỰC VĂN
HÓA………………………………………………………
1: Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về chăm lo phát triển văn
hóa…………………………………………………….
CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG VĂN HÓA, GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SỰ
LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VĂN
HÓA……………………………………………………….
1. Bối cảnh tác động đến nền văn hóa Việt Nam……………….
2. Các giải pháp đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước
đối với văn hóa………………………………………...
3. Các giải pháp lớn…………………………………………….
3.1. Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức…
3.2. Giải pháp về ban hành luật pháp và chính sách văn hóa…..
3.3. Giải pháp tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn
hóa…………………………………………………….
3.4. Giải pháp về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn
hóa………………………………………………………
4. Kiến nghị…………………………………………………….
CHƯƠNG IV: LIÊN HỆ VỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN
NAY……………………………………………….
1.Nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam………………………..
2.Gia đình văn hóa và văn hóa gia đình…………………….......
2.1. Vai trò của gia đình và văn hóa gia đình…………………


2.2. Gia đình và văn hóa gia đình trước những thách thức của tiến trình


hội nhập……………………………………………….
2.3. Giá trị văn hóa gia đình và xây dựng giá trị văn hóa gia đình trong
thời kỳ mới…………………………………………..
C: KẾT LUẬN………………………………………………….
Tài liệu tham khảo………………………………………………

A:LỜI MỞ ĐẦU
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn và trong sự
tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”.
Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ, văn hóa do con người sáng
tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người, là hoạt động sản xuất
nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm cho con người
ngày càng hoàn thiện.
Trong vài thập kỷ trước đây, có một số nước cho rằng: chỉ cần tăng
trưởng kinh tế với việc sử dụng cơ chế kinh tế thị trường cùng với việc
phát triển sử dụng khoa học công nghệ cao là có sự phát triển. Sau một
thời gian thực hiện kết quả cho thấy, các quốc gia đó đạt được một số
mục tiêu về tăng trưởng kinh tế nhưng đã vấp phải sự xung đột gay gắt
trong xã hội, sự suy thoái về đạo đức, văn hóa ngày càng tăng. Từ đó, kéo
theo kinh tế phát triển chậm lại, mất ổn định xã hội tăng lên và cuối cùng
là sự phá sản của các kế hoạch phát triển kinh tế, đất nước rơi vào tình


trạng suy thoái, không phát triển được. Đây là quan niệm phát triển nhanh
bằng cách hi sinh các giá trị văn hóa – xã hội cho sự phát triển. Trên thực
tế đã bị phá sản.
Từ thực tế đó, một số nước đã lựa chọn mô hình: tăng trưởng kinh tế,
cùng với việc phát triển tài nguyên con người, bảo vệ môi trường sinh
thái. Mô hình này, tuy tăng trưởng kinh tế không nhanh, nhưng lại bền

vững, xã hội ổn định. Đây là quan niệm phát triển kinh tế gắn liền với
phát triển văn hóa, được các nhà khoa học, các chính khách thừa nhận.
Từ đó, cho rằng: Phát triển là một quá trình nội sinh và tự hướng tâm của
sự tiến hóa toàn cục đặc thù cho mỗi xã hội. Vì vậy, cho nên ở đây có sự
tương đồng về nghĩa và khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa phát triển và
văn hóa. Văn hóa bao trùm tất cả các phương diện của hoạt động xã hội.
Vậy văn hóa là gì? Hiện nay vẫn đang còn có nhiều định nghĩa về văn
hóa, bởi lẽ văn hóa là sản phẩm do lao động của con người tạo ra mà hoạt
động lao động của con người rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Từ đó đi đến việc tạo ra những quan niệm cụ thể khác nhau: văn hóa
trang phục, văn hóa du lịch; văn hóa kinh doanh, văn hóa ẩm thực, văn
hóa con người, văn hóa gia đình, văn hóa làng xã, văn hóa xã hội… Ở
đây trong bài viết này trình bày khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng được
nhiều nhà nghiên cứu tán thành. Đó là: Văn hóa là hệ thống giá trị vật
chất và tinh thần do lao động của người sáng tạo ra, được cộng đồng
khẳng định tích lũy lại, tạo ra bản sắc riêng của từng tộc người, từng xã
hội. Trong Nghị quyết Trung ương 5 ( Khóa VIII), Đảng ta khẳng định:
Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng
đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ
nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh
thế giới để không ngừng


hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách,
bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.
Chúng em những người thuộc thế hê trẻ Việt Nam cũng muốn bầy tỏ
những hiểu biết và tiếp nối, phát huy những giá trị tinh hoa văn hóa dân
tộc trong tiến trình xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh ấm no hạnh
phúc. Nắm được tầm quan trọng to lớn về những giá trị văn hóa, nhận
thức từ lý luận để soi vào thực tiễn em xin chọn đề tài: “ Đảng lãnh đạo

quản lý lĩnh vực văn hóa trong giai đoạn hiện nay”. Trước khi bắt đầu đề
tài của mình, em xin bày tỏ lòng cảm ơn đến các thầy cô trong khoa xây
dựng đảng và chính quyền nhà nước đã hết lòng hết sức giảng dậy cho
sinh viên chúng em trong suốt thời gian qua và đặc biệt qua đây em xin
chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Thu Thủy là người trực tiếp giảng dậy
bộ môn “Đảng lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội” và hướng dẫn em
làm đề tài này.


B. NỘI DUNG CƠ SỞ LÝ LUẬN –THỰC TIỄN.
CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN ĐẤT NƯỚC.
Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ, văn hóa do con người sáng
tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người, là hoạt động sản xuất
nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm cho con người
ngày càng hoàn thiện, xa rời trạng thái nguyên sơ ban đầu khi từ con vật
phát triển thành con người. Con người tồn tại, không chỉ cần những sản
phẩm vật chất mà còn có nhu cầu hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần,
con người và xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu văn hóa tinh
thần đòi hỏi ngày càng cao. Đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần đó chính
là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất cho con người
và xã hội.


Trên ý nghĩa đó, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là
mục tiêu của sự phát triển. Vì xét cho cùng, mọi sự phát triển đều do con
người quyết định mà văn hóa thể hiện trình độ vun trồng ngày càng cao,
càng toàn diện con người và xã hội, làm cho con người và xã hội ngày
càng phát triển, tiến bộ; điều đó nghĩa là ngày một xa rời trạng thái
nguyên sơ, mông muội để tiến tới một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc

và văn minh. Trong đó, bản chất nhân văn, nhân đạo của mỗi cá nhân
cũng như của cả cộng đồng được bồi dưỡng; phát huy trở thành giá trị
cao quý và chuẩn mực tốt đẹp của toàn xã hội. Mục tiêu này phù hợp với
khát vọng lâu đời của nhân loại và là mục đích phát triển bền vững, tiến
bộ của các quốc gia, dân tộc. Đây là một nội dung quan trọng của Chủ
nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng
Văn hóa là động lực của sự phát triển, bởi lẽ mọi sự phát triển đều do con
người quyết định chi phối. Văn hóa khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng
sáng tạo của con người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con
người đóng góp vào sự phát triển xã hội.
Trước đây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai thác
yếu tố lao động của con người cho sự phát triển. Ngày nay, trong điều
kiện của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết
định cho sự phát triển là trí tuệ, là thông tin, là sáng tạo và đổi mới không
ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao, đáp
ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của mỗi người cũng như của toàn xã
hội.
Trong thời đại ngày nay, một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có
nhiều hay ít lao động, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu
ở chỗ có khả năng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của
nguồn lực con người hay không? Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các


yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa là trong ý chí tự lực, tự cường và khả
năng hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống, trình độ thẩm mỹ của mỗi
cá nhân và của cả cộng đồng.
Một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấu
thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người:
văn hóa trong sản xuất, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong lối sống, văn
hóa trong giao tiếp, văn hóa trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội, văn

hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế… Nói cách khác, hàm lượng trí tuệ,
hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao
bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội càng trở nên hiện thực
bấy nhiêu.
Văn hóa là hệ điều tiết của sự phát triển. Bởi lẽ, văn hóa phát huy mặt
tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và chủ quan,
của các điều kiện bên trong và bên ngoài, bảo đảm cho sự phát triển được
hài hòa, cân đối, lâu bền.
Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào chuẩn mực của nó
là chân, thiện, mỹ (cái đúng, cái tốt, cái đẹp) để hướng dẫn và thúc đẩy
người lao động không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng
cao tay nghề, sản xuất hàng hóa với số lượng ngày càng nhiều với chất
lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của xã hội;
mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo
lý, dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa, sùng bái tiền tệ, nghĩa
là hạn chế xu hướng tiêu cực của hàng hóa và đồng tiền “xuất hiện với
tính cách là lực lượng có khả năng xuyên tạc bản chất con người, cũng
như những mối liên hệ khác”. Hạn chế những tiêu cực này chỉ có thể là
văn hóa và chủ yếu bằng văn hóa.


Toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là một xu thế, đòi hỏi chúng ta phải chủ
động và tích cực hội nhâp. Đây là cơ hội để chúng ta phát triển nhanh có
hiệu quả, nhưng cũng là thách thức rất lớn với nước ta trên nhiều mặt,
trong đó có cả văn hóa. Sự thâm nhập của văn hóa độc hại, của sự lai
căng văn hóa, của lối sống thực dụng và những tiêu cực khác của kinh tế
thị trường…, đã và đang ảnh hưởng, làm băng hoại những giá trị văn hóa
truyền thống, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước…
Cần phải hiểu rằng về mặt kinh tế, việc thực hiện chính sách hội nhập để
tăng cường liên kết, liên doanh với nước ngoài là rất cần thiết. Song, mọi

yếu tố ngoại sinh như vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và
thị trường của nước ngoài chỉ có thể biến thành động lực bên trong của sự
phát triển, nếu chúng được vận dụng phù hợp và trở thành các yếu tố nội
sinh của con người Việt Nam với truyền thống văn hóa, đạo đức, tâm
hồn, lối sống của dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở kiến thức khoa học, kinh
nghiệm và sự tỉnh táo, khôn ngoan, chúng ta cần giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập, phát triển. Bởi lẽ, nền văn
hóa dân tộc sẽ đóng vai trò định hướng và điều tiết để hội nhập và phát
triển bền vững, hội nhập để phát triển nhưng vẫn giữ vững được độc lập,
tự chủ. Hợp tác kinh tế với nước ngoài mà không bị người ta lợi dụng,
biến mình thành kẻ đi vay nặng lãi, thành nơi cung cấp nguyên liệu và
nhân công giá rẻ, thành nơi tiêu thụ hàng hóa ế thừa và tiếp nhận chuyển
giao những công nghệ lạc hậu, tiếp nhận lối sống không lành mạnh với
những ảnh hưởng văn hóa độc hại…
Vì sự phát triển bền vững, văn hóa phê phán lối sống thực dụng, chụp
giật, chạy theo ham muốn quá mức của “xã hội tiêu thụ”, dẫn đến chỗ
làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái. Như vậy, văn hóa
đã góp phần quan trọng vào vấn đề bảo vệ môi trường và sự phát triển
bền vững...


Văn hóa truyền thống Việt Nam hướng dẫn và cổ vũ một lối sống hòa
hợp, hài hòa với thiên nhiên. Nó đưa ra mô hình ứng xử có văn hóa của
con người đối với thiên nhiên, vì sự phát triển bền vững của thế hệ hiện
nay và các thế hệ con cháu mai sau.
Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ
tha hóa. Thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị văn hóa truyền thống
sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái
bóng mờ của người khác, của dân tộc khác.

Nhận thức sâu sắc giá trị của văn hóa trong quá trình phát triển, Đảng ta
xác định tiến hành đồng bộ và gắn kết chặt chẽ ba lĩnh vực: Phát triển
kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ
then chốt cùng với việc xây dựng văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội
nhằm tạo nên sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước.
Trong đó, nội dung xây dựng văn hóa được xác định: “Xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, một định hướng quan
trọng để đất nước phát triển bền vững .

CHƯƠNG II:QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ LĨNH VỰC VĂN
HÓA- XÃ HỘI
Những quan điểm mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về lĩnh vực xã
hội và văn hóa được thể hiện trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X


Vừa tròn hai năm kể từ ngày khai mạc Đại hội X, cũng là hai năm toàn
Đảng, toàn dân ta triển khai thực hiện nghị quyết ĐH của Đảng. Để góp
phần đưa tinh thần nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, vào mọi lĩnh vực
hoạt động của xã hội, đặc biệt vào lĩnh vực giảng dạy ở trường Chính trị,
tôi mạnh dạn trình bày các quan điểm của Đại hội X về xã hội và văn hoá,
theo

nhận

thức

của

mình.


Trong Mục tiêu và phương hướng tổng quát 5 năm 2006-2010 (trang
75): Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, huy
động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước; phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng
cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và
tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa
nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Như vậy, vấn đề xã hội và văn hoá đã được Đảng ta coi là nội dung
quan trọng. Tư tưởng nổi bật trong đường lối giải quyết các vấn đề xã hội
và phát triển văn hoá của Đảng là “Từ thực tiễn xây dựng đất nước mấy
chục năm qua, chúng ta nhận thức ngày càng sâu sắc rằng: xã hội, văn
hoá là những lĩnh vực thể hiện rõ nhất bản chất của chế độ xã hội chủ
nghĩa”. Đại hội đã thể hiện và khẳng định quyết tâm “Trong những năm
tới, cần đưa việc giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển văn hoá lên
nhanh hơn nữa, tương xứng với nhịp độ phát triển kinh tế”(Báo cáo trên).
Những tư tưởng, quan điểm về xã hội và văn hoá nêu trên định hướng
cho đường lối tiếp tục xây dựng, phát triển về xã hội và văn hoá của Đại
hội X. Tiếp tục xây dựng trên lĩnh vực này vừa có tính chiến lược vừa có


ý nghĩa điều kiện bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và
bảo đảm cho sự phát triển của đất nước theo hướng bền vững.
Đại hội đã chỉ rõ các quan điểm về các lĩnh vực cụ thể hơn trong phát
triển

văn


hoá

-



hội.

1. Trong lĩnh vực xã hội: Đại hội X chỉ rõ các tư tưởng chỉ đạo chủ yếu:
- Đảng ta chủ trương: “Kết hợp chặt chẽ và hợp lý các mục tiêu kinh
tế và mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương.
Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng
chính sách phát triển; Thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát
triển kinh tế, gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ, tạo
động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xã hội.”( Văn kiện Đại hội X,
trang

32)

Cái mới ở đây là Đảng ta đã đặt vấn đề giải quyết tốt mối quan hệ
giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội một cách toàn diện. Đây là cơ sở
để nâng cao tầm nhìn chung, có hệ thống nhằm giải quyết mối quan hệ
kinh tế và xã hội ở cả phương diện vĩ mô, cả phương diện vi mô, cụ thể,
gắn với từng ngành, từng địa phương. Mặt khác, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội phải được tiến hành ngay trong từng bước đi, từng
chính sách phát triển, tạo sự phát triển đồng thời cả kinh tế và tiến bộ xã
hội. Thực hiện các chính sách xã hội phải dựa trên cơ sở của sự phát triển
kinh tế, tránh nôn nóng, chủ quan, duy ý chí, tránh tư tưởng tách bạch
giữa hai lĩnh vực này. Vấn đề quan trọng là phải gắn quyền lợi và nghĩa
vụ, cống hiến và hưởng thụ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của con

người. Quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội là tạo động lực thúc đẩy
kinh

tế

-



hội

phát

triển.

- Trên cơ sở quan điểm đó, văn kiện Đại hội chỉ rõ: “Chúng ta khuyến
khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, đồng thời thực hiện có hiệu
quả chính sách xoá đói giảm nghèo, thực hiện tốt hơn công bằng xã
hội”(Văn

kiện

Đại

hội

X,

trang


33)


Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng ta chủ trương tạo
cơ hội và điều kiện bình đẳng cho mọi người dân làm giàu theo pháp luật,
khắc phục tình trạng tâm lí đố kị, nghi kị nhau dù làm giàu bằng sức lao
động của mình. Phải thật sự khuyến khích, biểu dương và tôn vinh những
người làm giàu chính đáng bằng tài năng trí tuệ, sức lao động của mình.
Đồng thời tập trung giải quyết có hiệu quả chính sách xoá đói giảm
nghèo, thực hiện ngày càng tốt hơn công bằng xã hội. Công bằng xã hội
không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa mà phải trên cơ sở tôn trọng và
khuyến khích tài năng phát triển, chấp nhận có phân tầng xã hội nhưng
hợp lý, có sự giúp dỡ tương trợ lẫn nhau cùng tiến bộ.
- Đại hội khẳng định: “Xây dựng hệ thống chính sách bảo đảm cung
ứng dịch vụ công cộng thiết yếu, tạo điều kiện cho mọi người dân, kể cả
người nghèo được đáp ứng nhu cầu về giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức
khoẻ, văn hoá - thông tin, thể dục thể thao, tạo việc làm…Xây dựng hệ
thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh mẽ hệ thống bảo hiểm y tế,
tiến tới y tế toàn dân. Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng
công bằng, hiệu quả và phát triển, tạo cơ hội cho mọi người dân được bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ. Một tư tưởng mới được nhấn mạnh
là, xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con
người Việt Nam, tăng tuổi thọ và cải thiện giống nòi. Thực hiện tốt chính
sách

dân

số,


các

chính

sách

ưu

đại



hội…

Đoạn lược trích trên được thể hiện trong Văn kiện (từ trang 101-104) là
một sự đổi mới trong chính sách của Đảng đối với lĩnh vực xã hội, là thể
hiện quan tâm cụ thể vào từng chính sách cụ thể. Đặc biệt là đối với các
chính sách có yêu cầu cho sự phát triển của đất nước và của con người.
Những vấn đề như chất lượng con người, sức khoẻ, thể chất, tuổi thọ, tầm
vóc con người …được đề cập trong Đại hội X như một quan điểm có tính
đột

phá

về

chính

sách




hội.


2. Về văn hoá: Văn kiện Đại hội X chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và
nâng cao chất lượng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn
kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn
hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra chất lượng mới
của cuộc sống, xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt
nam thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá”(Văn kiện Đại hội X, trang 33)
Tư tưởng nổi bật ở đây là tập trung nâng cao chất lượng của việc xây
dựng con người và môi trường văn hoá để tạo nhân cách mới của con
người Việt Nam trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
hội

nhập

quốc

tế.

Tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển văn hoá từ hội nghị trung
ương 5 (Khóa VIII) Và kết luận của hội nghị trung ương 10 (Khoá IX),
Đại hội X đã xác định cụ thể ba lĩnh vực cần tập trung thực hiện:
- Xây dựng môi trường, lối sống và đời sống văn hoá của mọi người
dân ở cơ sở, phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm
chủ của nhân dân. Thực hiện theo hướng góp phần nâng cao tinh thần
công dân trong thời kỳ mới, nâng cao ý thức về quyền lợi, trách nhiệm,
nghĩa vụ của mọi công dân đối với nhân dân, dân tộc và thời đại.

- Khuyến khích sáng tạo văn học nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm
công trình có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. (Văn kiện Đại hội X,
trang

213)

Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực đặc trưng của văn hoá và có ý nghĩa
tạo nên bộ mặt văn hoá dân tộc. Để thực hiện được nhiệm vụ này, cần tạo
ra môi trường thuận lợi về vật chất, tinh thần, phát huy dân chủ, đảm bảo
tự do cho mọi sự sáng tạo. Đồng thời nêu cao trách nhiệm công dân của
trí thức, văn nghệ sĩ trước nhân dân, dân tộc và thời đại.
- Tập trung xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hoá,
chú

trọng

xây

dựng

các

công

trình

văn

hoá


tiêu

biểu.

Hệ thống thiết chế văn hoá bao gồm toàn bộ bộ máy tổ chức, các cơ


quan hoạt động sáng tạo, biểu diện, nghiên cứu quản lí văn hoá, nghệ
thuật; các đơn vị hành chính - sự nghiệp, toàn bộ cơ sở vật chất kĩ thuật
và đội ngũ nhân sự cùng với cơ chế hoạt động để xây dựng vấn đề trong
Chiến lược xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Cùng với xây dựng thiết chế văn hoá, Đảng còn chủ trương tập trung
vào các vấn đề trong Chiến lược xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, xây dựng các công trình văn hoá lớn tiêu biểu cho những
thành tựu sáng tạo mới của nền văn hoá Việt Nam hiện đại.
Như vậy là trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng và phát triển
văn hoá - xã hội, Đảng ta tiếp tục bổ sung và phát triển một số quan điểm
mới./.

CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG VĂN HÓA, GIẢI PHÁP ĐẢM
BẢO SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VĂN
HÓA.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, vai trò lãnh đạo của
Đảng là nhân tố quan trọng dẫn tới sự thành công. Thời gian qua đã
chứng minh sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quan trọng nhất cho sự phát
triển của văn hóa Việt Nam. Chúng ta đang


tập trung vào phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nêu cao vai trò của

văn hóa, giáo dục nhằm giải quyết các nhiệm vụ của xã hội đặt ra trong
thời kỳ mới, khắc phục những yếu kém, bất cập của văn hóa truyền thống
để bổ sung bằng việc xây dựng các giá trị văn hóa mới, tiếp thu những
yếu tố tích cực của văn hóa nhân loại. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
trên lĩnh vực văn hóa trong thời kỳ đổi mới hiện nay là một yêu cầu
khách quan trong sự phát triển kinh tế xã hội nói riêng và phát triển đất
nước nói chung.
1 : Bối cảnh tác động đến nền văn hóa Việt Nam
Đây là thời kỳ sắp xếp lại lực lượng của các quốc gia trên phạm vi
toàn cầu, những mâu thuẫn giai cấp, dân tộc và tôn giáo diễn ra hết sức
phức tạp; các quốc gia, các dân tộc vừa hợp tác, vừa cạnh tranh để phát
triển; xu thế hòa bình, ổn định và phát triển là xu thế chung của nhân loại
tiến bộ. Hơn lúc nào hết việc phát huy sự tương đồng giữa các nền văn
hóa để phát triển, khai thác lợi thế ổn định bên trong và xu thế hòa bình
để phát triển đang tác động vào Việt Nam và văn hóa Việt Nam.
Đây là thời kỳ chuyển đổi của cuộc cách mạng khoa học - công
nghệ từ kiểu cũ sang kiểu mới hướng tới sinh thái và nhân văn hơn, trong
đó công nghệ hóa kiểu cũ với những công nghệ gây ô nhiễm môi trường,
bóc lột sức lao động của con người, điều kiện sống của con người không
được quan tâm, làm cho đô thị hóa kiểu cũ tập trung đông dân vào các
thành phố lớn, đang được chuyển sang công nghệ mới hướng tới sinh thái
và nhân văn với các công nghệ cao và sạch, cho năng suất cao, không ảnh
hưởng tới môi trường, cân bằng sinh thái. Các nước đi sau đang có lợi thế
để đầu tư vào công nghệ mới và tập trung vào phát triển con người, hơn
lúc nào hết cần tập trung vào 4 trụ cột chính: công nghệ gen và cải tạo


giống cây trồng; công nghệ vật liệu mới với đầy đủ tính năng, tác dụng
đáp ứng được yêu cầu dân sinh, quốc phòng, an ninh... (công nghệ siêu
mỏng, siêu cứng, siêu bền); năng lượng: thu hút đầu tư vào những lĩnh

vực năng lượng chiến lược (xăng - dầu, nguồn nước, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên...) để xây dựng chiến lược năng lượng quốc gia (từ nhiệt điện
sang thủy điện và điện nguyên tử) và khoa học quản lý trong đó công
nghệ thông tin chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, có thể giải quyết hàng loạt
vấn đề (chính phủ điện tử, mua - bán qua mạng, đào tạo từ xa, chữa bệnh
và quản lý qua mạng...) đòi hỏi quản lý phải biết xử lý thông tin và tạo ra
thông tin mới để tiến tới tự động hóa trong

quản lý xã hội, hình thành nền kinh tế tri thức (có trên 70% các
ngành kinh tế có hàm lượng chất xám) và tương ứng với nó là xã hội
thông tin. Thông tin đang trở thành sức mạnh, quyền lực (người nào nắm
tri thức, người đó có quyền lực).
Sự chuyển biến trên đây đang làm cho thế giới thực được chia
thành 2 thế giới mới (thế giới thực với những tồn tại khách quan và thế
giới ảo qua mạng), làm cho các nước phải hợp tác với nhau để phát triển,
để chia sẻ và chiếm lĩnh thông tin nhằm phát triển quốc gia của mình, dẫn
tới việc chuẩn bị kiến thức khoa học, kỹ thuật cho công dân thông qua
giáo dục - đào tạo (GD-ĐT). Đây là những vấn đề hết sức cần thiết khi
mà tốc độ phát minh ngày càng gia tăng, khoảng cách giữa phát minh và
ứng dụng được rút ngắn dần để có thể lựa chọn loại hình công nghệ thích
ứng với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mình.
Đây là thời kỳ mà xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đã và đang
tác động rất lớn đến tất cả các lĩnh vực khác nhau ở các quốc gia khác


nhau trên phạm vi toàn, là một xu thế khách quan của thời kỳ hiện đại.
Toàn cầu hóa đang là sự tác động và ảnh hưởng chung của khu vực này
đến khu vực khác trên phạm vi toàn thế giới, quốc tế hóa lực lượng sản
xuất (Mác) và toàn cầu hóa để phát triển trên cơ sở phân công lao động
quốc tế.

Trong những năm 1980, nhiều quốc gia đã đầu tư vào phát triển
giao thông (huyết mạch của nền kinh tế và tạo điều kiện cho giao lưu văn
hóa) và sự bùng nổ thông tin, công nghệ cao sau thời kỳ chiến tranh lạnh
đã làm cho việc tự do hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của các
quốc gia ngày càng gia tăng, sự lưu thông kinh tế mở rộng, ra đời nhiều
tổ chức kinh tế khu vực và thế giới, chỉ một tác động nhỏ cũng sẽ ảnh
hưởng tới các quốc gia, các khu vực và toàn thế giới.
Đánh giá vấn đề toàn cầu hóa sẽ có tác động tích cực đến sách phát
triển kinh tế xã hội của từng quốc gia. Đây là cơ hội giúp cho mỗi nước
trong việc chuyển giao công nghệ, làm cho kinh tế hoạt động theo quỹ
đạo chung nếu không muốn loại mình ra khỏi cộng đồng thế giới. Nhưng
quốc tế hóa cũng mang lại những tiêu cực to lớn như bần cùng hóa các
nước nghèo và chậm phát triển, các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế thế
giới không bình đẳng, các nước nghèo dễ bị đẩy ra ngoài cuộc chơi, sự
phân hóa giàu nghèo gia tăng.

Đảng ta đã nhìn thấy tất cả những tiêu cực và tích cực của toàn cầu
hóa để đưa ra đánh giá của mình: toàn cầu hóa là xu thế khách quan, tác
động trên phạm vi toàn cầu, do vậy phải chủ động tham gia (87% kinh tế


thế giới do các nước tư bản chủ nghĩa chi phối) và đấu tranh để xác lập
các giá trị và chuẩn mực chung.
Về chính trị, toàn cầu hóa có thể san bằng mọi nền kinh tế thế giới,
mỗi quốc gia đều có rào cản bảo vệ lợi ích của mình, có chính sách quản
lý riêng (nhưng xu thế quyền lực có thể bị giảm đi) để từ đó điều chỉnh lại
quan niệm cho đến cách điều hành để giữ vững độc lập và an ninh quốc
gia.
Toàn cầu hóa tác động đến văn hóa và các phương tiện thông tin
đại chúng, qua con đường nhập khẩu văn hóa phẩm, dịch vụ vui chơi giải

trí (nhấn mạnh các cảm giác mạnh và lạ) làm cho xã hội hiện đại đang bị
trơ lì cảm xúc, đòi hỏi giáo dục văn hóa phải làm tròn chức năng và
nhiệm vụ của mình trong việc bảo tồn vị thế và văn hóa dân tộc. Mặt
khác, toàn cầu hóa cũng làm thay đổi lối sống xã hội, xuất hiện khái niệm
công dân toàn cầu, thay đổi về quan niệm, tín ngưỡng, tôn giáo và tâm
linh, mang đến cả tích cực và tiêu cực, tác động đến văn hóa Việt Nam.
Một câu hỏi được đặt ra: liệu có toàn cầu hóa về văn hóa được không?
Xin trả lời ngay: toàn cầu hóa tác động vào các chủ thể tham gia, nhưng
các chủ thể này gắn liền với các quốc gia, quyền lợi quốc gia và nền văn
hóa của dân tộc, nên toàn cầu hóa về văn hóa là khó khăn và khó có thể
xảy ra.
Đây là thời kỳ đất nước ta đang chuyển mạnh sang kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Về phương diện văn hóa, kinh tế thị
trường là tài sản, thành tựu của văn hóa nhân loại, muốn phát triển phải
hòa nhập kinh tế và nhìn nhận lại mặt tích cực và tiêu cực của nó.
Ưu thế của kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường giải phóng các
tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, về vốn, về khoa học công nghệ, về


nguồn lực con người để làm đa dạng hóa và năng động hóa xã hội và nền
kinh tế. Kinh tế thị trường còn là xu thế kinh tế tấn công, do quy luật cạnh
tranh và quy luật cung - cầu quy định, do đó, rất năng động, là nền kinh tế
quảng cáo khi hàng hóa mới luôn xuất hiện. Một mặt, kinh tế thị trường
tạo ra quá trình dân chủ hóa về kinh tế, làm tiền đề cho dân chủ hóa về
văn hóa - xã hội; mặt khác, vì phải chấp nhận sự tồn tại của nhiều thành
phần kinh tế khác nhau, do vậy, về mặt luật pháp và cơ chế, chính sách
luôn

bảo vệ cho sự bình đẳng của các thành phần, đồng thời đòi hỏi các
thành phần kinh tế phải duy trì và xác định vai trò của mình trong quá

trình chung. Kinh tế thị trường làm cho công dân tham gia và giám sát
mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, quan tâm đến dư luận xã hội,
đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, tham gia bảo quản và lưu giữ các
giá trị văn hóa; kích thích năng lực sáng tạo của các cá nhân và của cả
cộng đồng để thúc đẩy tiến bộ xã hội, đòi hỏi các cấp lãnh đạo, quản lý
theo kịp tiến trình phát triển của kinh tế thị trường.
Mặt trái của kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường làm phân hóa xã
hội ngày càng sâu sắc, phân hóa giàu - nghèo, khu vực giàu - nghèo, quốc
gia giàu - nghèo, gây ra nhiều rủi ro cho nền kinh tế, do vậy, các chính
sách xã hội phải đảm bảo công bằng xã hội là một yêu cầu lớn đối với các
nhà hoạch định chính sách. Kinh tế thị trường còn tạo ra sự suy thoái về
lối sống và đạo đức xã hội (đặc biệt ở các nước mới mở cửa, do thiếu
kinh nghiệm và chưa quen cách quản lý mới). Kinh tế thị trường luôn
khai thác lợi ích, nên luôn mang trong mình nó cả tích cực và tiêu cực,
làm biến dạng bản sắc văn hóa dân tộc (do mọi thứ đều được mua - bán,
các sản phẩm văn hóa, các cổ vật... được bán ra nước ngoài). Vấn đề đặt


ra cho văn hóa, giáo dục là cần chuẩn bị kỹ và đào tạo chu đáo nguồn
nhân lực cho kinh tế thị trường - nhân tố thành công cho phát triển kinh tế
xã hội - có đủ kiến thức, trình độ, ý chí và nghị lực, làm cho con người
biết chấp nhận và vượt lên khó khăn, thách thức.
Kinh tế thị trường đã trải qua 2 giai đoạn: kinh tế thị trường dã man
- tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi giá và kinh tế thị trường văn minh - chấp
nhận tự do cạnh tranh trên cơ sở tôn trọng luật pháp và các giá trị văn hóa
xã hội. Văn hóa phải làm bà đỡ cho kinh tế thị trường văn minh ra đời
trên cơ sở xây dựng hệ thống định hướng và pháp luật cho xã hội, tạo ra
môi trường lành mạnh cho phát triển văn hóa xã hội và kinh tế, hướng tới
nền kinh tế nhân văn.
Đây là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệm hóa, hiện đại hóa theo hướng sinh

thái và nhân văn. CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ nông
nghiệp lạc hậu sang công nghiệp hiện đại. Về văn hóa, chúng ta đang ở
thời kỳ văn hóa tiền công nghiệp sang văn hóa công nghiệp trong đó vai
trò kinh nghiệm chiếm vị trí lớn. Khi chuyển sang văn minh công nghiệp
thì tư duy khoa học phải chiếm vị trí hàng đầu, đòi hỏi phải phát triển
khoa học cho con

người trong cộng đồng. Do vậy cần phải đầu tư thích đáng vào văn hóa,
giáo dục để tạo ra con người mới, nguồn nhân lực mới cho xã hội công
nghiệp.
Quá trình CNH, HĐH không chỉ là quá trình chuyển đổi cơ cấu lao
động và phân công lao động xã hội, không chỉ là quá trình thay thế về
khoa học công nghệ mà còn là quá trình chuyển đổi tư duy, lối sống, tác
phong của dân tộc (từ quán tính quản lý làng - xã chuyển sang quản lý


công nghiệp vốn gây cản trở không ít cho tốc độ phát triển) cho phù hợp
với sự phát triển của xã hội công nghiệp hiện đại và hội nhập kinh tế quốc
tế. Đây cũng là nhiệm vụ cốt lõi của văn hóa, giáo dục trong giai đoạn
hiện nay.
Đây là thời kỳ chống các nguy cơ cản trở sự nghiệp đổi mới. Đó là
các nguy cơ tụt hậu, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ bùng phát
các tệ nạn xã hội (tham ô, tham nhũng, lợi dụng kẽ hở của luật pháp để
làm giàu bất chính, suy thoái đạo đức, lối sống...) và nguy cơ diễn biến
hòa bình.
Có thể nói, sự tác động của thời đại và bối cảnh dân tộc làm cho
nền văn hóa chuyển đổi một cách sâu sắc: tiếp thu tinh hoa văn hóa dân
tộc và thời đại, phát huy nhân tố tích cực, loại bỏ nhân tố tiêu cực, tạo ra
những giá trị văn hóa mới để giải quyết những xung đột trong hệ chuẩn
mực xã hội cũ và mới (đạo đức xã hội, tình yêu, hôn nhân, giới tính...).

Văn hóa và quản lý văn hóa phải được thang định chuẩn và thước đo giá
trị mới đánh giá, kiểm định trên cơ sở kiên trì mục tiêu XHCN lấy chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng phát triển và
làm biểu tượng cho sự phát triển kinh tế xã hội.
2. Các giải pháp bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà
nước đối với văn hóa

Một là, cần quán triệt sâu sắc 5 quan điểm, 10 nội dung và 4 giải
pháp của Đảng tại Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Kết
luận Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 10 (khóa IX) về tiếp tục
thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) trong thời gian tới.


Hai là, các cấp ủy Đảng, các cơ quan quản lý về văn hóa, các tổ
chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp và toàn thể xã hội phải thực hiện
đầy đủ, đồng bộ một số giải pháp quan trọng, có chủ trương và ban hành
sớm các chính sách thống nhất trong phạm vi cả nước về phát triển văn
hóa nhằm khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài nước, phát triển mọi
tiềm năng sáng tạo của nhân dân để phát triển văn hóa, văn nghệ và giáo
dục trong giai đoạn hiện nay; Đảm bảo những điều kiện để văn hóa văn
nghệ làm tốt vai trò xã hội và chức năng cao cả của nó; Thực hiện đầy đủ
quyền tác giả, các chế độ thù lao nghệ thuật, bảo đảm cho các nghệ sĩ
chuyên nghiệp và cán bộ quản lý có thể sống, làm việc và tiếp tục sáng
tạo; Kiểm soát được các chương trình biểu diễn nghệ thuật để thu nhập
giữa người sáng tác và người biểu diễn không chênh lệch quá nhiều, kiểm
soát được các show biểu diễn thông qua cấp phép hành nghề để thu thuế
thu nhập và tránh tình trạng diễn viên ra nước ngoài biểu diễn ở lại và nói
xấu nền văn hóa dân tộc, nói xấu chế độ; Khuyến khích và thể nghiệm
các sáng tạo các loại hình nghệ thuật, các hình thức biểu diễn nhưng

không buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; Trân
trọng nhân cách, tài năng, sự độc đáo của văn hóa các dân tộc thiểu số,
tinh hoa văn hóa của nhân loại, tôn trọng các nền văn hóa khác, tôn trọng
văn nghệ sĩ, chu đáo, tế nhị, chân tình trong quan hệ đối xử, có cách làm
việc thích hợp với từng cá tính sáng tạo...

3: Các giải pháp lớn
Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc là một quá trình cách mạng đầy khó khăn, phức tạp đòi hỏi nhiều
thời gian, nhiều giải pháp kiên trì, đồng bộ và có liên quan khăng khít với
nhau.


3.1. Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức
Đảng và Nhà nước ta những năm qua đã làm rất nhiều điều để nâng cao
nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về vai trò, vị trí chiến lược quan
trọng của sự nghiệp xây dựng văn hoá.
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) của Đảng
ta đánh dấu bước tiến lớn trong nhận thức của toàn Đảng về văn hoá. Hội
nghị đã tổng kết sâu sắc thực trạng văn hoá nước ta, đặc biệt là thời kỳ 10
năm đổi mới (nhất là từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến nay)
dựa trên cơ sở Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung
ương (khoá VII) về văn hoá, văn nghệ, căn cứ vào thực tiễn, đối chiếu
yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đã chỉ ra những gì
được và chưa được trong lĩnh vực văn hoá cùng việc lý giải những
nguyên nhân (đặc biệt là các nguyên nhân chủ quan) của thực trạng đó.
Văn kiện của Hội nghị đã xác định rõ những vận hội mới cũng như những
thách thức gay gắt đối với sự nghiệp xây dựng văn hoá trong bối cảnh
nước ta và thế giới hiện nay và sắp tới. Nêu lên những quan điểm chỉ đạo
lâu dài, vạch ra phương hướng, mục tiêu chiến lược của sự nghiệp văn

hoá. Văn kiện còn chỉ rõ những nhiệm vụ bao quát cũng như những việc
cần làm ngay nhằm cho văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần của
xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tinh thần và nội dung của Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương (khoá VIII) chắc chắn sẽ có ảnh hưởng to lớn, lâu bền
đối với toàn bộ đời sống văn hoá, đời sống tinh thần của dân tộc, của đất
nước ta trong những năm sắp tới. Quán triệt những nội dung cơ bản của
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII
có thể coi là "bước đột phá" để tạo chuyển biến sâu sắc trong toàn Đảng,


toàn dân về vai trò, vị trí chiến lược của văn hoá trong sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta.
Bên cạnh những thành tựu nổi bật của đất nước trên lĩnh vực phát triển
kinh tế, giữ vững và củng cố sự ổn định chính trị - xã hội trước những
biến động lớn xảy ra trên thế giới cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 mà
trong đó có phần tác động to lớn của sức mạnh văn hoá tích tụ từ nhiều
năm qua, chúng ta có thể thấy nổi bật lên những vấn đề nhức nhối: đó là
sự dao động về tư tưởng, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội,
sự phai nhạt về lý tưởng của một bộ phận đảng viên và nhân dân, sự suy
thoái về đạo đức, lối sống, nhiều tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng...
Để đẩy lùi và tiến tới xoá bỏ về cơ bản những tiêu cực nêu trên đồng thời
khẳng định, tôn vinh, phát huy những giá trị tư tưởng đạo đức, lối sống
văn hoá mới tốt đẹp, việc quan trọng đầu tiên phải làm là tạo được một
phong trào cách mạng của đông đảo quần chúng dưới các khẩu hiệu: "Tất
cả vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh" và "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá". Thông qua
phong trào này mà giáo dục cho toàn dân chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự
lực, tự cường, tinh thần nỗ lực phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội, đưa
đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Phong trào cách mạng

sâu rộng này của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng và
chính quyền, cần được tiến hành rộng khắp từ cơ sở, trong các đoàn thể
nhân dân, đặc biệt là Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, kết hợp
lồng ghép với nội dung của các cuộc vận động đã có như Người tốt, việc
tốt; Uống nước nhớ nguồn; Đền ơn đáp nghĩa; Xoá đói giảm nghèo; Xây
dựng gia đình văn hoá, làng - xã - ấp văn hoá; Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống mới ở các khu dân cư...
3.2. Giải pháp về ban hành luật pháp và các chính sách văn hoá


Những nhận thức về tầm quan trọng của văn hoá, những chủ trương
đường lối lớn về văn hoá chỉ có thể đi vào cuộc sống thông qua việc ban
hành luật pháp và các chính sách văn hoá.
Chúng ta có một số luật, pháp lệnh, nghị định, các văn bản pháp quy về
văn hoá; những văn bản đó đã phát huy tác dụng tốt điều chỉnh các hoạt
động văn hoá. Tuy nhiên, một số văn bản hoặc chưa được cụ thể hoá, chi
tiết hoá, hoặc có điểm tỏ ra không còn thích hợp với thực tế, do vậy mà
cần có sự bổ sung sửa chữa (như Luật Báo chí, Luật Xuất bản). Chúng ta
cũng cần sớm nghiên cứu xây dựng và hoàn chỉnh các luật: Luật Di sản
văn hoá dân tộc, Pháp lệnh quảng cáo, Luật Điện ảnh, Luật Truyền hình
và phát thanh... Bên cạnh đó, cần bổ sung, hoàn thiện hoặc xây dựng mới
các quy chế, quy định rõ ràng về việc cưới, việc tang, về lễ hội, về việc
cúng bái ở các đền chùa, việc đốt vàng mã, việc bảo vệ trật tự, vệ sinh
cảnh quan môi trường ở những nơi công cộng.
ở các khu dân cư cũng như ở các cơ quan, trường học, xí nghiệp, bệnh
viện, doanh trại chúng ta cần khuyến khích việc định ra những quy ước
về nếp sống, về sự ứng xử giao tiếp sao cho có thể xây dựng được một
môi trường sinh hoạt, công tác nghiêm minh, lành mạnh.
Chính sách văn hoá là phương thức thể hiện sự lãnh đạo, quản lý của Nhà
nước. Chính sách văn hoá bao quát toàn bộ các hoạt động của văn hoá và

có liên quan trực tiếp đến các ngành hoạt động khác trong xã hội.
Các chính sách văn hoá được thể hiện trong những nhóm chính như sau:
- Nhóm chính sách tổ chức - cán bộ, đào tạo, quy hoạch đội ngũ kế cận.


×