Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Nam Định

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (206.18 KB, 24 trang )

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa
VIII đề ra mục tiêu xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó khẳng định rõ vai trò quan trọng của
văn hóa: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu
vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”. Là một trong
những thành tố quan trọng của văn hóa, lễ hội truyền thống không chỉ
đáp ứng đời sống tinh thần của nhân dân mà còn tạo điều kiện để
kinh tế xã hội phát triển.
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng
đậm đà bản sắc dân tộc. Lễ hội truyền thống không chỉ là di sản trong
quá khứ để lại mà còn là tài sản vô giá trong đương đại; vốn liếng của
nhiều lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội nhất là trong bối cảnh đất
nước đang phát triển.
Hiện nay, lễ hội truyền thống ngày càng được phục dựng nhưng
lại bị biến tấu nhiều, thậm chí có sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai
làm mất đi giá trị nguyên gốc của nó. Vì thế, quản lý nhà nước
(QLNN) về lễ hội truyền thống là một trong những công việc trọng
tâm của Đảng và nhà nước, các cấp chính quyền trong cuộc vận động
xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.
Nằm ở phía Đông Nam của Đồng bằng sông Hồng, Nam Định là
một trong những nơi có lễ hội truyền thống đa dạng, phong phú. Trong
xu thế giao lưu và hội nhập hiện nay, cũng như ở các nơi khác, nếu lễ
hội truyền thống trên địa bàn tỉnh không có giải pháp quản lý tốt sẽ
đứng trước nguy cơ bị thương mại hóa, thậm chí bị mai một.
Góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về lễ hội của tỉnh Nam
Định, tôi chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
1



trên địa bàn tỉnh Nam Định” làm luận văn tốt nghiệp chương trình
đào
tạo Cao học Quản lý công của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về lễ hội truyền thống thì rất nhiều công trình của
các nhà khoa học, chuyên gia. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về
quản lý, tổ chức lễ hội chưa nhiều.
Về đề tài nghiên cứu cấp Bộ, có đề tài khoa học: “Quản lý lễ
hội dân gian cổ truyền thực trạng và giải pháp” của hai tác giả:
Nguyễn Thu Linh và Phan Văn Tú (2004).
Về luận án Tiến sĩ, phải kể đến luận án Tiến sĩ Văn hóa học
“Quản lý lễ hội truyền thống của khu vực Đồng bằng Bắc Bộ từ năm
1945 đến nay” của tác giả Bùi Hoài Sơn (2007).
Một số luận văn thạc sĩ Quản lý văn hóa như: “Quản lý lễ hội
truyền thống ở tỉnh Thái Bình từ năm 1986 đến nay” của Nguyễn
Thanh Bình, “Quản lý lễ hội cổ truyền trên địa bàn tỉnh Hà Tây” của
Phạm Thị Thanh Quy...
Nghiên cứu về lễ hội ở tỉnh Nam Định hiện nay đã có một số
công trình nghiên cứu, một số bài báo đăng trên các tạp chí, website
trong và ngoài nước. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH, TT &
DL) Nam Định đã tiến hành thực hiện đề tài khoa học: “Lễ hội và
các giải pháp quản lý lễ hội” (2007). Từ đó đến nay, công tác tổ
chức và quản lý lễ hội thay đổi rất nhiều nhưng không có một công
trình nghiên cứu nào. Vì vậy, luận văn này sẽ là công trình nghiên
cứu góp phần vào nâng cao hiệu quả QLNN về lễ hội truyền thống
của tỉnh nhà trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2



3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích nghiên cứu cơ sở lý luận QLNN về lễ hội
truyền thống, trên cơ sở đó đi sâu nghiên cứu QLNN về lễ hội truyền
thống trên địa bàn tỉnh Nam Định; từ đó, đề xuất các giải pháp QLNN
về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Nam Định trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có 3 nhiệm vụ nghiên cứu sau: Khái quát, có chọn lọc
cơ sở lý luận QLNN về lễ hội truyền thống; Phân tích, đánh giá thực
trạng QLNN về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Nam Định; Đề xuất
các giải pháp QLNN về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Nam Định.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý của
nhà nước đối với các lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Nam Định.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: hoạt động QLNN về lễ hội truyền thống theo quy
định của pháp luật; Về không gian: trên địa bàn tỉnh Nam Định; Về
thời gian: từ năm 2001 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về QLNN về lễ hội truyền thống thời kỳ đổi mới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, tác giả sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp sưu tầm tư liệu;
phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp; phương pháp so

3



sánh; phương pháp chuyên gia; phương pháp phỏng vấn trực tiếp;
phương pháp khảo sát thực tế.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về lý luận
Luận văn khái quát, có chọn lọc cơ sở lý luận QLNN về lễ hội
truyền thống; vận dụng trong QLNN về lễ hội truyền thống trên địa
bàn tỉnh Nam Định.
6.2. Về thực tiễn
+ Phân tích thực trạng hoạt động lễ hội truyền thống trên địa
bàn tỉnh Nam Định thời gian qua;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về lễ hội truyền thống
trên địa bàn tỉnh Nam Định;
+ Phân tích phương hướng và đề xuất các giải pháp QLNN về
lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Nam Định thời gian tới;
+ Kết quả nghiên cứu của tác giả có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo trong học tập, giảng dạy, nghiên cứu môn học QLNN về
văn hóa, giáo dục, y tế; Tổ chức và quản lý lễ hội và cho các nhà
quản lý trong lĩnh vực QLNN về hoạt động lễ hội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục luận văn kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về lễ hội truyền
thống.
Chương 2: Thực trạng lễ hội truyền thống và quản lý nhà nước
về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Nam Định.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp quản lý nhà nước về lễ
hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Nam Định.

4



Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Văn hóa
Văn hóa là hệ thống giá trị tinh thần đặc trưng cho một cộng đồng
xã hội, do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn, được
cộng đồng chấp nhận, sử dụng và gìn giữ theo thời gian. Văn hóa bao gồm
nhiều thành tố như ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, phong tục, tập quán…trong đó lễ hội cũng là một thành tố.
1.1.2. Lễ hội
Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc sắc nhằm tôn
vinh hay quảng bá cho những giá trị nhất định, là dịp để nuôi dưỡng
tâm hồn cá nhân con người và củng cố tinh thần đoàn kết của dân tộc.
1.1.3. Lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống có một vài đặc điểm nhận diện như sau:
- Là sinh hoạt văn hóa tổng hợp gắn liền với đời sống tâm linh,
tôn giáo tín ngưỡng, sự kiện và nhân vật lịch sử mang tính thiêng;
- Lễ hội truyền thống cũng bao gồm hai thành tố lễ và hội.
Trong đó, lễ là những nghi thức thiêng liêng gắn với nhân vật, biểu
tượng thờ phụng. Còn hội là những trò diễn, trò chơi dân gian, các
hoạt động văn hóa văn nghệ gắn liền với hệ thống lễ;
- Lễ hội truyền thống thường được tổ chức tại không gian văn
hóa cố định như di tích lịch sử hay địa điểm gắn với nhân vật, biểu
tượng thờ phụng.
1.1.4. Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
+ Khái niệm Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống
QLNN về lễ hội truyền thống là quá trình nhà nước sử dụng

5


các công cụ như chính sách, luật pháp, bộ máy và các nguồn lực khác
để kiểm soát hay can thiệp vào các hoạt động lễ hội nhằm bảo tồn và
phát huy những giá trị truyền thống trong lễ hội.
+ Chủ thể và khách thể QLNN về lễ hội truyền thống
Chủ thể quản lý là các cơ quan QLNN về lễ hội truyền thống ở
trung ương và địa phương. Ở trung ương có: Chính phủ; Bộ VH, TT &
DL; Hội đồng Di sản quốc gia. Ở địa phương có UBND các cấp; sở VH,
TT & DL, phòng Văn hóa - Thông tin; ban quản lý di tích các cấp.
- Khách thể quản lý là người tham dự lễ hội truyền thống; cơ sở
vật chất như di tích, nguồn tài chính; cơ sở hạ tầng như đường giao
thông, điện, nước…
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
1.2.1. Thực hiện chức năng của nhà nước
Hoạt động QLNN về lễ hội sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh
sự phát triển của lễ hội truyền thống.
QLNN về lễ hội truyền thống góp phần hoàn thiện bộ máy tổ
chức nhân sự trong lĩnh vực văn hóa, nâng cao trình độ của đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức văn hóa đáp ứng được nhu cầu hưởng
thụ về mặt tinh thần của nhân dân.
1.2.2. Vai trò của lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội
Lễ hội truyền thống hướng con người tới cội nguồn dân tộc và lịch sử.
Lễ hội truyền thống đóng vai trò cố kết và biểu dương sức
mạnh cộng đồng.
Lễ hội truyền thống thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người,
giải quyết những khát khao, những mơ ước của cộng đồng dân tộc.
Lễ hội truyền thống thỏa mãn nhu cầu được hưởng thụ sáng tạo

văn hóa của cộng đồng xã hội.
6


1.2.3. Bảo tồn, phát huy các giá trị của lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống là một bảo tàng sống, ở đó tích tụ vô số
những giá trị văn hóa của dân tộc. QLNN về lễ hội truyền thống là
việc làm cần thiết để bảo tồn và phát huy giá trị của nó.
1.3. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG
1.3.1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý
nhà nước về lễ hội truyền thống
Quy hoạch phát triển lễ hội truyền thống có trong chiến lược
phát triển văn hóa quốc gia và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương.
1.3.2. Xây dựng thể chế, chính sách quản lý nhà nước về lễ hội
truyền thống
Xây dựng thể chế hành chính nhà nước về lễ hội bao gồm
nhiều nội dung.
Xây dựng chính sách QLNN về lễ hội truyền thống là việc nhà
nước đề ra đường lối cụ thể bao gồm các mục tiêu đạt được đối với lễ hội
truyền thống và cách làm để đạt được các mục tiêu đó.
1.3.3. Tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức, viên chức quản lý hoạt động lễ hội truyền thống
Cơ quan QLNN về lễ hội bao gồm: Chính phủ, Bộ VH, TT & DL,
Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia (cấp trung ương) và UBND các cấp,
phòng Văn hóa - Thông, ban quản lý di tích các cấp (cấp địa phương).
Bên cạnh công tác tổ chức bộ máy, công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức, viên chức là việc làm cần thiết để nâng cao hiệu
quả quản lý lễ hội.

1.3.4. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lễ hội
truyền thống
7


Tuyên truyền về lễ hội truyền thống gồm có các nội dung sau:
- Tuyên truyền về ý nghĩa và giá trị của lễ hội truyền thống
nhằm nâng cao nhận thức của các cơ quan, ban ngành và người dân
khi tham gia lễ hội.
- Tuyên truyền các văn bản chính sách QLNN về lễ hội truyền thống.
1.3.5. Đầu tư các nguồn lực quản lý nhà nước về lễ hội
truyền thống
Nguồn lực cho quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống bao
gồm nguồn lực về vật chất và nguồn lực về con người. Đầu tư nguồn
lực tốt thì nâng cao hiệu quả QLNN về lễ hội.
1.3.6. Tổng kết, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về lễ
hội truyền thống
Tổng kế t, đánh giá là việc làm cần thiết và bắt buộc sau khi lễ
hội kết thúc. Ban tổ chức lễ hội đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm
cho những lần hội sau và báo cáo bằng văn bản lên cơ quan cấp trên.
1.3.7. Thanh tra, kiểm tra hoạt động lễ hội truyền thống
Hai nội chung cơ bản: Một là, việc thực hiện chủ trương chính
sách của Đảng và pháp luật của nhà nước; Hai là, kiểm tra và xử lý
nghiêm những sai phạm trong lĩnh vực tổ chức và quản lý lễ hội
truyền thống, ngăn chặn kịp thời các biểu hiện tiêu cực trong lễ hội.
1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC
1.4.1. Tỉnh Phú Thọ
Để đảm bảo an ninh trật tự, văn hóa, văn minh lễ hội; ngành
VH, TT & DL tỉnh cùng với chính quyền địa phương, các đơn vị

chức năng đã tăng cường công tác quản lý và tổ chức các hoạt động
lễ hội ngay từ đầu năm.
Đặc biệt, trong năm 2015, lễ hội đền Hùng những nét mới như: Lễ
8


phát hành đặc biệt bộ tem “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương - Di sản văn
hóa phi vật thể của nhân loại” và khai mạc Ngày sách đất Tổ năm 2015…
1.4.2. Tỉnh Thái Bình
Trong những năm qua, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và
tổ chức hoạt động lễ hội trên địa bàn tỉnh đã được các cấp ủy đảng,
chính quyền quan tâm.
Đặc biệt, phải kể tới những chuyến biến trong quản lý và tổ
chức lễ hội đền Trần Thái Bình. Trong tổ chức lễ hội, ban tổ chức
đặc biệt quan tâm cả phần lễ và phần hội. Năm 2015, Ban tổ chức hội
lấy Câu lạc bộ Long Hưng Thi hội làm nòng cốt, phối hợp với các
câu lạc bộ thơ khác và phối hợp với sự chỉ đạo của Sở VH, TT & DL
tỉnh, lấy ngày 15 tháng Giêng là Ngày Thơ Việt Nam và đưa thành
một nội dung vào lễ hội hằng năm.
1.4.3. Bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về lễ hội
truyền thống cho tỉnh Nam Định
Cần phải có sự quan tâm của các cơ quan ban ngành trong công
tác chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện các văn bản của Đảng, nhà
nước và tỉnh.
Phát huy vai trò của từng tiểu ban, từng cơ quan trong việc tổ
chức và quản lý lễ hội.
Khuyến khích các tỉnh bạn tham gia vào chương trình lễ hội
vừa làm phong phú nội dung lễ hội vừa có dịp để quảng bá giá trị văn
hóa độc đáo và làm giàu kinh tế địa phương.
Đưa thêm các chương trình, các buổi trình diễn, các buổi triển

lãm về di sản văn hóa địa phương tạo điều kiện lưu giữ và phát huy
giá trị các di sản đó.
Đầu tư nâng cấp các tuyến đường, xây dựng cơ sở hạ tầng phục
vụ cho các mùa lễ hội.
9


Chương 2
THỰC TRẠNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH NAM ĐỊNH
2.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN
HÓA - XÃ HỘI TỈNH NAM ĐỊNH
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý, Nam Định nằm ở phía Nam châu thổ sông
Hồng. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh năm 2005 là 1.649,86 km 2, được
chia thành 10 đơn vị hành chính gồm 9 huyện và một thành phố loại
1 trực thuộc tỉnh..
Về địa hình, Nam Định có địa hình tương đối bằng phẳng, bao
gồm 2 vùng chính là vùng đồng bằng thấp trũng và vùng đồng bằng
ven biển, ở phía Tây Bắc tỉnh có một số ít đồi núi thấp.
2.1.2. Điều kiện kinh tế
Những năm gần đây, tốc độ phát triển kinh tế của Nam Định
nhanh và bền vững. Tổng sản phẩm trong tỉnh 2014 ước đạt 16.007
tỷ đồng, tăng 12,5% so với năm 2013. Tổng sản phẩm bình quân đầu
người ước đạt 30 triệu đồng.
2.1.3. Điều kiện văn hóa - xã hội
Nam Định là một vùng đất địa linh nhân kiệt, sớm phát triển và
giàu truyền thống lịch sử, văn hoá. Trên địa bàn Nam Định có gần
4000 di tích lịch sử văn hóa.

Nam Định có các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc
có sức hấp dẫn, thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế như: lễ hội
Khai ấn đền Trần, lễ hội Phủ Dầy, lễ hội chùa Cổ Lễ, chợ Viềng…

10


2.2. THỰC TRẠNG LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH NAM ĐỊNH
2.2.1. Khái quát về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh
Nam Định
Hoạt động lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định rất phong phú, đa
dạng với hơn 200 lễ hội truyền thống.
Nam Định là tỉnh có nhiều lễ hội phần lớn là lễ hội làng nhưng
đã có một số lễ hội mang tính vùng rộng lớn và có đặc thù cao như lễ
hội đền Trần và lễ hội Phủ Dầy.
2.2.2. Một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở tỉnh Nam Định
2.2.2.1. Hội đền
Lễ hội đền Trần
Lễ hội đền Trần bao gồm: Lễ Khai ấn đền Trần và lễ hội đền Trần.
- Lễ Khai ấn đền Trần
Lễ Khai ấn mang ý nghĩa tâm linh, mở màn cho một năm làm
việc mới, nét sinh hoạt văn hoá truyền thống mang tính biểu tượng,
khát vọng về xã hội Thái Bình Thịnh Trị, được lưu giữ từ bao đời nay.
Thời gian tổ chức lễ hội từ ngày 11- 16 tháng Giêng.
- Lễ hội đền Trần
Thời gian mở hội kéo dài từ 15 đến 20 tháng Tám, chính hội là
20 tháng 8. Năm 2000, lễ hội đền Trần tháng Tám được mang tên gọi
chung là “Lễ hội truyền thống Trần Hưng Đạo”.
Hội đền Gin

Lễ hội truyền thống đền Gin là một lễ hội có quy mô lớn, được
tổ chức tại hai xã Nam Dương, Bình Minh (Nam Trực) từ mồng 8 đến
mồng 10 tháng Chạp kỷ niệm ngày mất của sứ quân Kiều Công Hãn.

11


2.2.2.2. Hội chùa
Lễ hội chùa Cổ Lễ
Hàng năm, từ 13 đến 16 tháng 9 Âm lịch, tại thị trấn Cổ Lễ,
huyện Trực Ninh, hội chùa Cổ Lễ lại được tổ chức tưng bừng với rất
nhiều trò chơi dân gian vui nhộn. Hấp dẫn nhất là cuộc thi bơi thuyền
truyền thống trên dòng sông uốn lượn quanh chùa.
Lễ hội chùa Keo Hành Thiện
Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức vào rằm tháng 9 âm
lịch hằng năm, tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân
Trường nhằm suy tôn Đức Phật và thiền sư Không Lộ.
Hội chùa Lương
Hội chùa Lương được tổ chức từ ngày 13 - 16/3 âm lịch hàng
năm, tại xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, nhằm suy tôn Trần Vũ, Vũ Chi,
Hoàng Gia, Phạm Cấp - 4 tổ từ Cổ Lễ sang đây khai khẩn, lập ấp
năm 1486.
2.2.2.3. Hội phủ
Lễ hội Phủ Dầy được tiến hành từ ngày 01 đến ngày 10 tháng
ba hàng năm nhân dịp ngày hóa của Mẫu Liễu Hạnh, chính thức từ
ngày mồng ba đến ngày mồng tám tháng ba.
Đặc trưng của các hoạt động lễ là tế và rước thỉnh kinh, là rước
nước, lễ rước đuốc. Đặc trưng hội là hội kéo chữ (Hoa trượng hội). Ngoài
ra, lễ hội Phủ Dầy có thêm hình thức đặc biệt là hầu đồng (hầu bóng).
2.2.2.4. Hội chợ

Hội chợ tiêu biểu là chợ Viềng. Đến hẹn lại lên, cứ đến ngày
mùng 8 Tết hàng năm là chợ Viềng lại họp phiên. Chợ Viềng được
xem là chợ độc đáo và thể hiện văn hóa tín ngưỡng rõ rệt của cư dân
Việt ở miền Bắc. Điều làm nên nét duyên của phiên chợ Viềng xuân

12


chính là ở ý nghĩa cầu may trong năm mới, mong muốn sản xuất gặp
mưa thuận, gió hòa, làm ăn phát đạt quanh năm.
2.2.3. Đặc điểm của lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh
Nam Định
2.2.3.1. Số lượng lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh nhiều
và quy mô mở hội ngày càng phát triển
Theo số liệu thống kê của sở VH, TT & DL Nam Định, lễ hội
truyền thống chiếm 96% tổng số lễ hội. Trong năm gần đây, mỗi năm
tăng từ 10 - 15 lễ hội, trong đó lễ hội truyền thống tăng từ 8 - 12 lễ hội.
Các lễ hội truyền thống ngày càng có xu hướng dài ngày, mở
rộng không gian, có sự quảng bá rộng rãi, thu hút khách về dự hội.
2.2.3.2. Lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh ngày càng
được phục dựng
Việc phục dựng các nghi lễ và trò chơi dân gian trong lễ hội
cũng được chú trọng. Đặc biệt là việc phục dựng lễ rước Nước và tế
Cá là điểm mới trong lễ Khai ấn đền Trần đầu xuân 2014. Năm 2015,
Nam Định tiếp tục phục dựng thêm một nghi lễ khác là lễ rước kiệu
Ngọc Lộ vào ngày 11 tháng giêng âm lịch.
2.2.3.3. Xu hướng người dự lễ hội ngày càng đông về số
lượng và đa dạng về thành phần
Bảng 2.1: Thống kê số lượng người tham dự hai lễ hội truyền
thống lớn trên địa bàn tỉnh Nam Định (Đơn vị: 1000 người) [39,8]

STT

Tên lễ hội

Lễ hội Khai
1
ấn đền Trần
2 Hội chợ Viềng

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Năm 2014

570

620

655

670

720

520


540

560

575

590

Căn cứ vào bảng số liệu trên cho thấy rằng: số lượng người

13


tham dự ở lễ hội truyền thống của tỉnh ngày càng tăng, năm sau tăng
nhiều so với năm trước.
Người về dự lễ hội không chỉ tăng nhanh về số lượng mà còn
gia tăng về đối tượng, thành phần tham dự.
2.2.3.4. Nhiều trò chơi dân gian trong lễ hội truyền thống bị
mai một, xuất hiện những trò chơi hiện đại không phù hợp
Cùng với sự cải biến của thời gian, sự tác động của nền kinh tế
thị trường nhiều trò chơi dân gian trong lễ hội xưa không còn tồn tại.
Những năm gần đây, trong các lễ hội ở Nam Định xuất hiện
nhiều trò chơi hiện đại rèn luyện về sức khỏe, những trò chơi mang
tính trí tuệ. Bên cạnh đó xuất hiện những trò chơi mang tính ăn thua.
2.3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
2.3.1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý
nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa bàn Tỉnh
Công tác quy hoạch không gian lễ hội luôn được tỉnh Nam

Định quan tâm chú trọng.
Về việc xây dựng đề án: Năm 2012, tỉnh Nam Định xây dựng
Đề án đổi mới công tác tổ chức lễ Khai ấn đền Trần theo chỉ đạo của
Bộ VH, TT & DL và phối hợp Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam.
2.3.2. Xây dựng thể chế, chính sách quản lý nhà nước về lễ
hội truyền thống trên địa bàn Tỉnh
Trong những năm qua, tỉnh Nam Định đã ban hành một số văn
bản về quản lý lễ hội.
Căn cứ vào quy định của nhà nước, tỉnh đã xây dựng chính
sách quản lý phù hợp với cấp quản lý lễ hội truyền thống từ tỉnh đến
địa phương.

14


2.3.3. Tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,
viên chức quản lý hoạt động lễ hội truyền thống trên địa bàn Tỉnh
Theo phân cấp quản lý, bộ máy tổ chức và cơ cấu nhân sự quản
lý văn hóa của tỉnh Nam Định chia thành 3 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện,
cấp xã.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho công
chức, viên chức làm công tác quản lý văn hóa, lễ hội luôn được quan
tâm đẩy mạnh.
2.3.4. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lễ hội
truyền thống trên địa bàn Tỉnh
Việc tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, các văn
bản quản lý nhà nước, văn bản của tỉnh, ngành liên quan đến công tác
quản lý và tổ chức lễ hội được đẩy mạnh với nhiều hình thức và nội
dung phong phú.
2.3.5. Đầu tư các nguồn lực quản lý nhà nước về lễ hội

truyền thống trên địa bàn Tỉnh
Công tác đầu tư tu bổ, tôn tạo di tích của tỉnh được Bộ, tỉnh
quan tâm. Trong giai đoạn 2010 - 2015, sở VH, TT & DL tỉnh chủ trì
thực hiện rất nhiều dự án tu bổ, tôn tạo di tích. Trong năm 2014 2015, Nam Định tập trung vào tu bổ, tôn tạo 3 điểm di tích quốc gia
đặc biệt là đền Thiên Trường, đền Cố Trạch và chùa tháp Phổ Minh
và 2 di tích quốc gia là đền Bảo Lộc, đình miếu Cao - Đài.
2.3.6. Tổng kết, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về lễ
hội truyền thống trên địa bàn Tỉnh
Sau mỗi kỳ tổ chức lễ hội đều có sơ kết, tổng kết rút kinh
nghiệm cho những lần tổ chức sau. Việc sơ kết, tổng kết và đánh giá
kết quả tổ chức lễ hội truyền thống được thực hiện 6 tháng, hàng năm
và 05 năm ở cấp tỉnh, cấp huyện, thành phố.
15


2.3.7. Thanh tra, kiểm tra hoạt động lễ hội truyền thống
trên địa bàn Tỉnh
Công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động trước, trong và
sau thời gian diễn ra lễ hội. Sở VH, TT & DL đã thành lập Đoàn
Thanh tra liên ngành bao gồm Thanh tra Sở, phòng An ninh văn hóa
PA83, công an tỉnh, lực lượng quản lý thị trường, cộng tác viên thanh
tra của phòng Văn hóa - Thông tin các huyện, thành phố cùng các lực
lượng chức năng tiến hành nhiều đợt thanh tra, kiểm tra.
2.4. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
2.4.1. Kết quả đạt được
Trong những năm vừa qua, công tác quản lý và tổ chức lễ hội
truyền thống trên địa bàn tỉnh Nam Định đã đạt được những kết quả
tích cực.
2.4.2. Hạn chế

- Việc quy hoạch lễ hội trên toàn bộ địa bàn tỉnh chưa thực
hiện được, mới chỉ dừng lại ở kiểm kê, đánh giá giá trị.
- Sự phối hợp giữa các tiểu ban, sư phân công nhiệm vụ giữa
ban quản lý di tích, thủ nhang trong lễ hội truyền thống chưa rõ ràng,
chặt chẽ, chưa kịp thời giải quyết những chấn chỉnh những phát sinh,
tồn tại diễn ra trong lễ hội.
- Các văn bản quản lý nhà nước về lễ hội của tỉnh mới chủ yếu
là các văn bản hành chính nhà nước. Còn các văn bản mang tính quy
phạm pháp luật rất ít, hầu như không có.
- Việc quản lý nguồn thu từ di tích và lễ hội vẫn chưa được
thống nhất do mỗi di tích và lễ hội có cách quản lý khác nhau.
- Công tác tuyên truyền về ý nghĩa, giá trị của di tích, lễ hội
truyền thống chưa được chú trọng, đôi khi chỉ mang tính hình thức..
16


- Số lượng cán bộ văn hóa xã, phường đào tạo đúng chuyên
ngành còn ít, phần lớn được đào tạo ở các chuyên ngành khác.
- Kinh phí đầu tư vào tu bổ di tích và cơ sở hạ tầng cho lễ hội
truyền thống còn ít, chủ yếu dừng lại ở những lễ hội có quy mô lớn.
- Việc thanh tra, kiểm tra các hoạt động lễ hội truyền thống còn
chưa triệt để.
2.4.3. Nguyên nhân
2.4.3.1. Nguyên nhân của những kết quả
Do công tác lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của các cơ quan quản
lý của tỉnh.
2.4.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế
Thứ nhất, kinh phí đầu tư và nguồn nhân lực phục vụ cho công
tác quy hoạch rất lớn. Trong khi đó, ngân sách cho văn hóa còn ít nên
chưa thể có quy hoạch tổng thể về lễ hội.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ QLNN về lễ hội truyền thống trên địa
bàn tỉnh còn mỏng, trình độ chuyên môn còn hạn chế, thiếu đồng bộ,
nhất là tại cấp huyện và cấp xã dẫn đến chất lượng quản lý không cao.
Thứ ba, mỗi di tích và lễ hội có cách quản lý khác nhau nên
khó có thể quy định về quản lý nguồn thu sau lễ hội.
Thứ tư, do kinh phí cho ngân sách xã về văn hóa rất hạn chế
nên nhiều xã không đủ để cấp cho tổ chức các lễ hội truyền thống ở
địa phương.
Thứ năm, việc thanh tra, kiểm tra chưa được tiến hành thường
xuyên, các vi phạm trong lễ hội, nhất là trong khu vực kinh doanh
dịch vụ vui chơi giải trí chưa kịp xử lý kịp thời và chưa được đủ sức
ren đe.

17


Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
3.1. XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
Lễ hội truyền thống hiện nay có xu hướng biến đổi mạnh mẽ.
Hiện nay, do nhiều yếu tố nên quy mô của các hội làng cũng được
mở rộng cả về không gian và thời gian.
Đối tượng người tham dự lễ hội càng ngày càng có xu hướng
tăng nhanh. Quy mô của lễ hội ngày càng mở rộng cả về số lượng
người tham gia đã gây sự quá tải về không gian tổ chức lễ hội.
Lễ hội truyền thống đang có xu hướng biến đổi cả về mục đích,
chức năng và cấu trúc.
3.2. PHƯƠNG HƯỚNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG

3.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lễ hội
truyền thống và tổ chức lễ hội truyền thống trong thời kỳ đổi mới
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lễ hội truyền
thống trong thời kỳ đổi mới thống nhất với văn hóa, được thể hiện qua
các kỳ đại hội.
Ngoài các nghị quyết có đề cập tới văn hóa nói chung, lễ hội
nói riêng còn có một số văn bản đề cập trực tiếp tới lễ hội và công tác
QLNN về lễ hội.
3.2.2. Phương hướng của tỉnh Nam Định về quản lý nhà
nước hoạt động lễ hội truyền thống
Đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nam
Định đến năm 2020 có đề cập đến phương hướng phát triển lễ hội
trong đó có lễ hội truyền thống.

18


Trong đề án Quy hoạch tổng thể phát triển thành phố Nam Định
trở thành Trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của Vùng Nam đồng bằng
sông Hồng có đề cập phương hướng phát triển ngành văn hóa, trong đó
có công tác quản lý lễ hội của thành phố Nam Định đến năm 2020.
3.3. GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LỄ HỘI TRUYỀN
THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
3.3.1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về lễ hội
truyền thống trên địa bàn Tỉnh
Tiến hành quy hoạch tổng thể không gian di tích và lễ hội. Khi
thực hiện quy hoạch phải đặt trong quy hoạch với các lĩnh vực kinh
tế - xã hội khác.
Căn cứ vào Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 của
quốc gia, xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học phục vụ bảo tồn,

phát huy giá trị văn hóa trong lễ hội truyền thống.
Đối với việc quy hoạch tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ
dưới hình thức chợ - hội cần phải được thực hiện theo nguyên tắc
nhất định.
3.3.2. Hoàn thiện về thể chế, chính sách quản lý hoạt động
lễ hội truyền thống trên địa bàn Tỉnh
Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách
đặc biệt làm chính sách phối hợp liên ngành. Đặc biệt, nên ban hành
quy chế tổ chức và quản lý lễ hội mới của tỉnh thay cho Quy chế tổ
chức lễ hội 1998 đã lỗi thời.
Cần có chế độ chính sách hợp lý cho những người tham gia
hoạt động bảo vệ di tích và tổ chức lễ hội. Xây dựng các chính sách
khuyến khích hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy
và giới thiệu lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh.

19


Cần có quy định về việc xây dựng quy chế thu chi trong tất cả
các lễ hội một cách công khai minh bạch.
Xây dựng chính sách phối hợp chặt chẽ, thường xuyên và đồng
bộ giữa các cấp, các ngành. Chính sách quản lý phải phù hợp với quy
mô, tính chất, đặc điểm lễ hội ở từng địa phương.
Xây dựng chính sách quản lý nguồn thu sau lễ hội thống nhất
trên toàn tỉnh, tránh tình trạng sử dụng không đúng mục đích.
3.3.3. Kiện toàn tổ chức bộ máy và đào tạo bồi dưỡng cán
bộ, công chức, viên chức làm công tác quản lý lễ hội truyền thống
trên địa bàn Tỉnh
Bố trí, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ làm việc đúng ngành,


phù hợp với năng lực, trình độ chuyên môn của họ.
Đa dạng hóa hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,
viên chức làm nhiệm vụ QLNN về lễ hội truyền thống.
3.3.4. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
về lễ hội truyền thống trên địa bàn Tỉnh
Ngành văn hóa nên phối hợp với ngành chức năng và địa
phương, cơ sở tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều
hình thức và nội dung phong phú góp phần giới thiệu, phổ biến các
giá trị văn hóa đặc sắc của địa phương.
3.3.5. Tăng cường đầu tư các nguồn lực cho tổ chức lễ hội
truyền thống trên địa bàn Tỉnh
Đầu tư xây dựng tổng thể mặt bằng tổ chức lễ hội đáp ứng
được số đông trong những ngày cao điểm.
Hoàn thiện cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi để thu hút
nhân dân và du khách thập phương về dự hội.
Đối với nhân sự, cần có sự đầu tư cải thiện môi trường làm
việc, trang thiết bị cũng như chế độ đãi ngộ về vật chất hợp lý.
20


3.3.6. Xã hội hóa trong tổ chức và quản lý lễ hội truyền
thống trên địa bàn Tỉnh
Thực hiện xã hội hóa thông qua các hình thức sau:
- Kêu gọi các cá nhân, dòng tộc trong và ngoài địa

phương đóng góp tiền, đồ vật để tổ chức lễ hội.
- Xây dựng các dự án đấu thầu kinh doanh các hoạt
động trong lễ hội và kêu gọi các nhà thầu tham gia.
3.3.7. Tổng kết, đánh giá, khen thưởng trong hoạt động
quản lý lễ hội truyền thống trên địa bàn Tỉnh

Học tập mô hình của Bộ VH, TT & DL; sở VH, TT & DL tỉnh
cũng nên tổ chức hội nghị trực tuyến tổng kết công tác quản lý lễ hội
trong năm tại các điểm cầu của thành phố, huyện trong tỉnh.
Ban tổ chức lễ hội truyền thống có chế độ động viên,

khuyến khích kịp thời bằng các hình thức khen thưởng vật
chất (tiền) và tinh thần (giấy khen) đối với các đơn vị, cá
nhân đạt thành tích trong trong việc bảo tồn, phát huy giá trị
văn hóa của dân tộc.
3.3.8. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
trong hoạt động lễ hội truyền thống trên địa bàn Tỉnh
Đổi mới cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động văn hóa, kinh
doanh dịch vụ văn hóa với phương châm phòng ng ừa, ngăn chặn

kịp thời tránh để sự việc xảy ra rồi mới xử lý.
Kiện toàn đội ngũ thanh tra, giám sát của ngành t ừ tỉnh đến cơ

sở.
3.4. KIẾN NGHỊ
3.4.1. Với các cơ quan trung ương
* Với Chính phủ

21


- Đầu tư kinh phí, nhân lực cho để tổ chức tốt lễ hội truyền
thống.
- Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp
luật về quản lý lễ hội để các đơn vị cấp dưới có cơ sở chỉ đạo và
thực hiện.

- Có quy chế quy định riêng về việc thu chi và quản lý tài chính
trong lễ hội, kể cả những lễ hội nhỏ tránh sự mâu thuẫn không đáng
có xảy ra.
- Tăng thêm một biên chế cán bộ quản lý di tích ở mỗi xã để
đảm bảo chế độ và nâng cao tinh thần trách nhiệm với công việc của
họ.
* Với Bộ VH, TT & DL
- Triển khai xây dựng đề án Quy hoạch tổng thể lễ hội giai
đoạn 2015 - 2030, định hướng đến năm 2030.
- Ban hành quy chế tổ chức, quản lý lễ hội mới thay cho quy
chế tổ chức lễ hội năm 2001 đã có nhiều điểm bất cập.
- Kiểm tra, thanh tra đột xuất với những lễ hội có quy mô nhỏ,
trên cơ sở đó tham mưu cho Chính phủ ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật phù hợp với tình hình thực tế.
3.4.2. Với tỉnh Nam Định
- Hoàn thành sớm việc kiểm kê, phân loại lễ hội truyền thống.
- Xây dựng, ban hành Quy chế tổ chức lễ hội mới của tỉnh
(thay cho Quy chế tổ chức lễ hội cũ).
- Xây dựng mức thu phí, lệ phí trông giữ các phương tiện tham
gia giao thông trên địa bàn tỉnh sát thực tế thay cho Nghị quyết
63/NQ-HĐND tỉnh không còn phù hợp.
- Có chế độ cho những người làm công tác quản lý lễ hội đặc
biệt là những trụ trì trông coi di tích.
22


- Phân cấp Ban Quản lý khu Di tích Lịch sử - Văn hóa đền
Trần, chùa Tháp (di tích quốc gia đặc biệt) trực thuộc Ban Quản lý Di
tích và Danh thắng tỉnh Nam Định thuộc Sở VH, TT & DL.
- Cần triển khai công tác đánh giá hoạt động tổ chức lễ hội ở

cấp địa phương theo tiêu chí, thang điểm đánh giá thực hiện công tác
quản lý và tổ chức lễ hội (ban hành kèm theo quyết định số 486/QĐBVHTTDL ngày 12/02/2015 của Bộ trưởng Bộ VH, TT & DL).
- Tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết công tác tổ chức và quản lý
lễ hội theo định kỳ 6 tháng, 1 năm theo hình thức trực tuyến để tiết
kiệm được thời gian và kinh phí cho tỉnh.

23


KẾT LUẬN
Nghiên cứu giải pháp QLNN về lễ hội truyền thống là yêu cầu
cấp thiết cần đặt ra cho các nhà quản lý văn hóa nói chung và các nhà
quản lý văn hóa tỉnh Nam Định nói riêng.
Luận văn “Quản lý nhà nước về lễ hội truyền thống trên địa
bàn tỉnh Nam Định” đã đạt được một số kết quả sau:
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung từ sách, báo, các công
trình khoa học; luận văn đã đưa ra chính kiến của tác giả về khái
niệm, vai trò, nội dung của QLNN về lễ hội truyền thống. Bên cạnh
đó, tác giả đưa ra kinh nghiệm QLNN về lễ hội truyền thống ở tỉnh
Phú Thọ và tỉnh Thái Bình. Từ đó, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm
cho QLNN về lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Nam Định.
- Đóng góp những ý kiến đánh giá về thực trạng QLNN về lễ
hội truyền thống của tỉnh Nam Định. Để có được chương 2, tác giả
đã dựa trên rất nhiều nguồn tư liệu như sách báo, tạp chí của trung
ương và địa phương; báo cáo tổng kết công tác QLNN về lễ hội; các
cuộc phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý lễ hội truyền thống. Đặc
biệt, tác giả đã có quá trình đi thực tế rất nhiều các lễ hội truyền
thống của tỉnh để nhìn nhận và đánh giá.
- Từ quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước,
của tỉnh Nam Định; trên cơ sở học tập kinh nghiệm QLNN về lễ hội

truyền thống ở địa phương, tác giả đưa ra các giải pháp QLNN về lễ
hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Nam Định. Luận văn có đề cập tới
những giải pháp mà các cơ quan ban ngành tỉnh Nam Định đã quan
tâm tới nhưng chưa triển khai thực hiện và các giải pháp mới chủ
quan tác giả nhận thấy tích hợp và đem lại kết quả tích cực.

24



×