Tải bản đầy đủ (.doc) (58 trang)

Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 – 2014 tại Thành phố Uông Bí – Tỉnh Quảng Ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (737.7 KB, 58 trang )

MỤC LỤC


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, địa bàn xây dựng và phát triển dân
sinh, kinh tế xã hội, quốc phòng và an ninh. Vai trò của đất đối với con người và các
hoạt động sống trên trái đất rất quan trọng, nhưng lại giới hạn về diện tích và cố định về
vị trí. Do vậy việc sử dụng đất phải hết sức tiết kiệm và hợp lý trên cơ sở hiệu quả, lâu
bền.
Công tác lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất là một yêu cầu đặc biệt để sắp
xếp quỹ đất cho các lĩnh vực và đối tượng sử dụng hợp lý, có hiệu quả phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng, tránh được sự chồng chéo, gây
lãng phí trong sử dụng, hạn chế sự huỷ hoại đất đai, phá vỡ môi trường sinh thái. Đây
là một nội dung quan trọng để quản lý Nhà nước về đất đai, được thể chế hóa trong
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992: “Nhà nước thống
nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và
có hiệu quả”. Luật đất đai năm 2003 quy định: “quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” là 1
trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất được quy định từ Điều 21 đến Điều 30 của Luật đất đai và được cụ thể hóa tại Nghị
định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ (từ Điều 12 đến Điều 29),
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ, Thông tư số
19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế của Uông Bí đang trong giai đoạn phát triển
mạnh mẽ trên tất cả các mặt. Bên cạnh đó, Uông Bí lại là địa bàn chịu sự chi phối, tác
động thu hút và phát triển của tam giác kinh tế trọng điểm là Hà Nội - Quảng Ninh Hải Phòng; mức độ đầu tư trong mọi lĩnh vực đều tăng lên, nhất là các lĩnh vực như:
du lịch, thương mại, công nghiệp, khai khoáng, xây dựng phát triển đô thị,... Điều này
dẫn đến sự gia tăng về nhu cầu sử dụng đất cho các lĩnh vực. Bên cạnh những tác động




2

tích cực, thì những mâu thuẫn là không thể tránh khỏi trong quá trình bố trí quỹ đất; từ
đó đã gây áp lực không nhỏ đối với tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn
Thành phố.
Nhu cầu bức xúc đặt ra là phải nhanh chóng xác lập các căn cứ pháp lý, khoa học
để điều chỉnh kịp thời các mối quan hệ có diễn biến tiêu cực và phát huy các yếu tố tích
cực, làm cơ sở cho việc sử dụng đất, phân bổ hợp lý, sử dụng tiết kiệm cho hiệu quả
cao, thiết lập các hành lang pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử
dụng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất...trên địa bàn Thành phố trong thời gian tới.
Từ những lý do trên, đòi hỏi Thành phố phải tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2020, đảm bảo sử dụng nguồn tài nguyên đất một cách có hiệu quả và bền vững.
Xuất phát từ thực tế trên cũng như nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của
vấn đề, đồng thời được sự phân công của Khoa Quản lý đất đai, cùng với sự hướng
dẫn của cô giáo Đinh Thị thanh Huyền – giảng viên Khoa Quản lý đất đai – Trường
Đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội, em tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 – 2014 tại
Thành phố Uông Bí – Tỉnh Quảng Ninh”.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng, phân tích những biến động trong sử dụng đất
Thành phố Uông Bí.
- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất của Thành phố
Uông Bí 2010 – 2014, tìm ra những yếu tố tích cực, những hạn chế bất cập
trong quá trình tổ chức thực hiện phương án quy hoạch.
- Đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả
phương án quy hoạch sử dụng đất cho kỳ sau, đảm bảo hài hòa giữa các mục
tiêu ngắn hạn và dài hạn, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Thành

phố Uông Bí.


3

2.2. Yêu cầu
- Nắm vững phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 của
Thành phố Uông Bí.
- Đánh giá chính xác thực trạng sử dụng các loại đất về số lượng, chất
lượng, phân bố loại hình sử dụng đất, hiệu quả sử dụng đất, xu thế biến động
các loại đất, mức độ đáp ứng nhu cầu đất đai cho quá trình phát triển kinh tế xã hội Thành phố Uông Bí.
- Giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của phương án QHSDĐ
Thành phố Uông Bí phải mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa
phương.


4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm đất đai
Trong nền sản xuất, đất đai giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đất đai là điều
kiện vật chất mà mọi sản xuất và sinh hoạt đều cần tới. Đất đai là khởi điểm
tiếp xúc và sử dụng tự nhiên ngay sau khi nhân loại xuất hiện. Trong quá trình
phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn
minh vật chất và văn minh tinh thần, tất cả các kỹ thuật vật chất và văn hóa
khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất đai. Luật đất
đai hiện hành đã khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá,
là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công tình kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Như vậy, đất đai là điều kiện chung nhất

đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người. Nói cách khác,
không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính
con người. Do vậy, để có thể sử dụng đúng, hợp lý và có hiệu quả toàn bộ quỹ
đất thì việc hiểu rõ khái niệm về đất đai là vô cùng cần thiết. Về mặt thuật
ngữ khoa học “Đất” và “Đất đai” có sự phân biệt nhất định. Theo các nhà
khoa học thì “Đất” tương đương với từ “Soil” trong tiếng Anh, nó có nghĩa
trùng với thổ hay thổ nhưỡng bao hàm ý nghĩa về tính chất của nó. Còn “Đất
đai” tương đương với từ “Land” trong tiếng Anh, nó có nghĩa về phạm vi
không gian của đất hay có thể hiểu là lãnh thổ. Giả thuyết Trái đất được hình
thành như thế nào và có từ bao giờ cũng là vấn đề con người đã từng dày
công nghiên cứu. Sự sống xuất hiện trên Trái đất và tác động vào nó là một
quá trình tiến hóa không ngừng. Theo nghĩa hẹp hơn, từ khi có sự xuất hiện
của con người, con người cùng với sự tiến hóa của mình cũng không ngừng
tác động vào đất (chủ yếu là lớp vỏ địa lý) và làm thay đổi nó một cách nhất
định. Theo tiến trình này, con người cũng nhận thức về đất đai một cách đầy


5

đủ hơn. Ví dụ: “Đất đai là một tổng thể vật chất gồm cả sự kết hợp giữa địa
hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”; hoặc: “Một vạt đất là
một diện tích cụ thể của bề mặt Trái đất. Xét về mặt địa lý, có những đặc tính
tương đối ổn định hoặc những tính chất biến đổi theo chu kỳ có thể dựa đoán
được của sinh quyển theo chiều thẳng đứng phía trên và phía dưới của phần
mặt đất này. Nó bao gồm các đặc tính của phần không khí, thổ nhưỡng địa 8
chất, thủy văn, cây cối, động vật sinh sống trên đó và tất cả các hoạt động
trong quá khứ và hiện tại của con người ở chừng mực mà những đặc tính đó
có ảnh hưởng tới sử dụng vạt đất này trước mắt và trong tương lai” (Brink
man và Smyth, 1976). Tuy nhiên, khái niệm đầy đủ và phổ biến nhất hiện nay
về đất đai như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao

gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt
đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm
tích sát bề mặt cùng với nước ngầm vá khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn
động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người
trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu
thoát nước, đường sá, nhà cửa...)” (Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de
Janerio, Brazil, 1993). Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có thời hạn
theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt,
thảm động thực vật, nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong
lòng đất) theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa
hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý
nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài
người.
2.2. Khái niệm Quy hoạch sử dụng đất
Đất đai là tiềm năng của quá trình phát triển do đất là tư liệu sản xuất đặc
biệt và việc tổ chức sử dụng đất gắn chặt với sự phát triển của nền kinh tế - xã


6

hội. Do vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội. Đây
là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ
thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế và xã hội được xử lý bằng các phương
pháp phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý của các điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội để tổ chức lại việc sử dụng đất theo pháp luật nhà nước nhằm đáp
ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của xã hội một cách tiết kiệm
khoa học và có hiệu quả cao nhất. Khi nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất
có rất nhiều cách nhận thức khác nhau. Có quan điểm cho rằng quy hoạch sử
dụng đất chỉ đơn thuần là biện pháp kỹ thuật nhằm thực hiện việc đo đạc, vẽ
bản đồ đất đai, phân chia diện tích đất, giao đất cho các ngành và thiết kế xây

dựng đồng ruộng ... Bên cạnh đó, có quan điểm lại cho rằng quy hoạch sử
dụng đất được xây dựng trên các quy phạm của Nhà nước nhằm nhấn mạnh
tính pháp chế của quy hoạch sử dụng đất đai. Tuy nhiên, đối với cả hai cách
nhận thức trên bản chất của quy hoạch sử dụng đất không được thể hiện đúng
và đầy đủ vì bản thân của quy hoạch sử dụng đất không nằm trong kỹ thuật đo
đạc và cũng không thuộc về hình thức pháp lý mà nó nằm bên trong việc tổ
chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt, coi đất như đối tượng của
các mối quan hệ xã hội trong sản xuất. Như vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là
một hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, tính kinh tế và tính pháp lý. Cụ thể:
- Tính kỹ thuật: Trong quy hoạch sử dụng đất sẽ sử dụng các công tác
chuyên môn như điều tra, khảo sát, đo đạc, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử
lý số liệu... để tính toán và thống kê diện tích đất đai, thiết kế, phân chia
khoảnh thửa. Từ đó, tạo điều kiện tổ chức sử dụng đất hợp lý trên cơ sở tiến
bộ của khoa học kỹ thuật.
- Tính pháp chế: Biểu hiện của tính pháp chế thể hiện ở chỗ đất đai được
nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào các mục
đích cụ thể đã được xác định theo phương án quy hoạch sử dụng đất.


7

- Tính kinh tế: Khi giao đất, thông qua phương án quy hoạch sử dụng đất
nhà nước đã xác định rõ mục đích sử dụng của diện tích được giao. Đây chính
là biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác triệt để và có hiệu quả cao tiềm
năng đất đai. Ở đây đã thể hiện rõ tính kinh tế của quy hoạch sử dụng đất.
Song, điều này chỉ đạt được khi tiến hành đồng bộ cùng với biện pháp kỹ
thuật và pháp chế. Từ đó có thể rút ra khái niệm quy hoạch sử dụng đất như
sau:
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật
và pháp chế của nhà nước về tổ chức và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học

và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả
nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản
xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều
kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, việc lập quy hoạch sử dụng đất có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài. Căn cứ
vào đặc điểm tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh
tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm
định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử
dụng đất chi tiết của mình, từ đó xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công
tác quản lý nhà nước về đất đai, làm cơ sở để giao đất và đầu tư để phát triển
sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực và phục vụ các nhu cầu dân sinh, nhu
cầu văn hóa xã hội. Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu
hiệu của nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích,
hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh trình trạng chuyển mục đích
tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông lâm nghiệp. Ngăn chặn các
hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh
thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất,


8

phát triển kinh tế xã hội và các hậu quả khó lường về bất ổn chính trị, an ninh
quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển dần sang
nền kinh tế thị trường.
2.3. Tình hình thực hiện Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Sau khi công bố Luật Đất đại 1987, công tác quy hoạch sử dụng đất bắt
đầu được vận hành một cách chính thức theo những tinh thần đã nêu ra trên
đây, và đến nay, qua hơn 20 năm vận hành, nhìn lại một cách tổng quát có thể
đi đến mấy nhận xét chủ yếu sau:

- Công tác quy hoạch sử dụng đất của các cấp, các ngành đã bước đầu đi
vào nền nếp, trở thành cơ sở quan trọng để định hướng cho phát triển thống
nhất và đồng bộ; trở thành công cụ để quản lý, và cũng trở thành phương tiện
để đảm bảo sự đồng thuận xã hội. Ở cấp toàn quốc, Quốc hội đã thông
qua :”Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm
2005” (Nghị quyết số 29/2004/QH11 ngày 15.6.2004);” kế hoạch sử dụng đất
5 năm 2006-2010” (Nghị quyết số 57/2006/QH11 ngày 29.6.2006). Toàn bộ
63 tỉnh, thành phố đều đã tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và
đều đã được chính phủ phê duyệt. Trong tổng số 681 đơn vị hành chính cấp
huyện thì đã có 531 đơn vị (chiếm 78%) hoàn thành việc lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đến năm 2010, số còn lại là đang triển khai (14%) hoặc
chưa triển khai (8%). Đã có 7.576 đơn vị cấp xã trong tổng số 11.074 đơn vị
của cả nước hoàn thành việc lập quy hoạch, kế họach sử dụng đất đến 2010
(đạt 68%). Tuy nhiên, mới chỉ có 7 tỉnh được xem là đã cơ bản hoàn thành
việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 ở cả 3 cấp tỉnh huyện - xã. Quá trình triển khai công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp đã
hình thành được một hệ thống quy trình và định mức trong hoạt động của lĩnh
vực này, đảm bảo tiến hành một cách thống nhất, liên thông với chi phí hợp
lý, phù hợp với những điều kiện về nhân lực và cơ sở hạ tầng hiện có.


9

- Quy hoạch sử dụng đất đã tích cực hỗ trợ cho phát triển kinh tế được
cân đối nhất là trong quá trình phát triển các khu công nghiệp, khu dân cư
mới, khu đô thị mới trên phạm vi cả nước; có tác dụng tích cực trong việc
điều tiết thị trường, góp phần ổn định giá đất, tạo cơ sở thực tế cho các cuộc
giao dịch về đất đai và tổ chức các cuộc đấu giá quyền sử dụng đất. Chỉ tiêu
đất nông nghiệp đến năm 2010 mà Quốc Hội đã duyệt là 26,22 triệu ha, ước
thực hiện là 25,8 triệu ha (đạt 98%), nhưng đất sản xuất nông nghiệp vượt
0,36 triệu ha và đất trồng lúa ước đạt 3,882 triệu ha, cao hơn 21.000 ha so với

mức Quốc Hội đã phê duyệt. Đất phi nông nghiệp Quốc Hội duyệt cho đến
năm 2010 là 4,02 triệu ha, ước thực hiện được 3,64 triệu ha (đạt 90,06%),
trong đó đất khu công nghiệp đạt 96,2%, đất giao thông đạt 71,7%, đất thủy
lợi đạt 66,7%, đất cơ sở y tế đạt 50,0%, đất cơ sở giáo dục đào tạo đạt 93,3%
chỉ tiêu kế hoạch mà Quốc Hội đã phê duyệt...
- Quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch cũng là dịp sinh hoạt dân chủ ở
cơ sở, nhờ đó mà công dân tham gia cụ thể vào sự nghiệp chung có ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi ích thiết thân của mình, trật tự xã hội được đảm bảo,
củng cố lòng tin của nhân dân vào chính quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho
nhiệm vụ xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh.
- Những tồn tại chủ yếu trong công tác quy hoạch sử dụng đất là: - Nhận
thức chưa đồng đều, độ đồng thuận chưa cao, còn có ý kiến cho rằng không
có khái niệm về quy hoạch sử dụng đất mà chỉ có khái niệm về quy hoạch
kiến trúc, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn.v.v...
do đó, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các đơn vị còn bị hạn chế, thiếu
đồng bộ và có trường hợp ảnh hưởng xấu đến chất lượng quy hoạch, chưa
thực chất, còn thiên về hình thức và chạy theo các thủ tục hành chính, tiến
hành thống kê, phân bố về số lượng mà thiếu những tính toán về hiệu quả
kinh tế - xã hội - môi trường... nên tính khả thi của các phương án quy hoạch


10

không cao; các giải pháp tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ, không kịp thời;
công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện quy hoạch chưa được coi
trọng. - Quy hoạch sử dụng đất chưa thực sự được coi là cơ sở pháp lý quan
trọng trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử
dụng đất... Nhiều địa phương do buông lỏng quản lý đã để tự phát chuyển
mục đích sử dụng đất tạo ra tình hình rối loạn trong sử dụng đất và tác động
xấu đến môi trường. Một số nơi nôn nóng trong phát triển công nghiệp, muốn

tranh thủ các nhà đầu tư nên đã cho phép thu hồi, san lấp mặt bằng một lượng
lớn đất nông nghiệp để lập khu công nghiệp, sau đó do thiếu vốn nên các dự
án thực hiện cầm chừng, đất đai lại bị bỏ hoang trở thành “dự án treo”, người
bị thu hồi đất mất việc làm dẫn đến lãng phí nguồn lao động và tài nguyên đất
đai... Việc chấp hành các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các địa
phương chưa nghiêm, vẫn còn tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền
sử dụng đất không đúng với quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt. Quy
hoạch sử dụng đất chưa trở thành “Bản hiến pháp của đời sống”, tính phổ cập
chưa cao, có khi lại bị lợi dụng việc điều chỉnh quy hoạch để làm lợi cho cá
nhân hay một nhóm người, quy trình điều chỉnh quy hoạch chưa thật hợp lý
để đảm bảo tính kịp thời, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
- Việc chuyển đổi số lượng lớn đất trồng lúa sang mục đích phi nông
nghiệp trong một thời gian ngắn, nhất là tại các vùng trồng lúa có điều kiện
canh tác tốt, cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn thiện mà thiếu cân nhắc đến hiệu quả
phát triển kinh tế - xã hội - môi trường lâu dài đã tác động tiêu cực sản xuất
và đời sống của một bộ phân nông dân và đe doạ mục tiêu đảm bảo an ninh
lương thực quốc gia.
- Mặc dù việc “dồn điền đổi thửa” đã thực hiện thành công ở nhiều địa
phương nhưng chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch chỉnh trang đồng ruộng
nên đất sản xuất vẫn còn bị phân bố manh mún trên 70 triệu thửa đất gây trở


11

ngại lớn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
- Diện tích rừng tuy có tăng nhưng rừng tự nhiên vẫn tiếp tục bị tàn phá, suy
giảm cả về chất lượng và số lượng; việc quản lý rừng còn nhiều bất cập, tác
động của sản xuất lâm nghiệp đối với quá trình xoá đói giảm nghèo còn nhiều
hạn chế, đa số người dân ở miền núi chưa thể sống ổn định với nghề rừng, do
đó công tác trồng rừng, bảo vệ rừng và phát triển rừng còn rất nhiều khó

khăn.
- Đất giao thông còn thiếu so với nhu cầu phát triển, mật độ đường bộ
đạt mức trung bình trong khu vực nhưng mật độ quốc lộ còn ở mức rất thấp
(0,053km/km2 ) nếu so sánh với Trung Quốc (0,2 km/km2 ) hay Thái Lan
(0,11 km/km2 ). Việc bố trí các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh,
khu dân cư bám sát các trục đường chính đã ảnh hưởng đến an toàn giao
thông, gây lãng phí trong đầu tư và hạn chế khả năng nâng cấp, mở rộng.
- Diện tích cho phát triển đô thị tăng nhanh, cơ cấu sử dụng đất chưa hợp
lý: đất ở chiếm tỷ lệ cao và chủ yếu là nhà ở theo hộ gia đình độc lập (Hà Nội
80%, thành phố Hồ Chí Minh 72%), đất giao thông đô thị còn thiếu, chỉ
khoảng 4 – 5 km/km2 (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, Đà
Nẵng...), tỷ lệ đất dành cho giao thông chưa đến 13% trong khi yêu cầu trung
bình là 20 - 25%, đất giao thông tĩnh chỉ đạt chưa đầy 1% trong khi yêu cầu
phải là 3 - 3,5%, hệ số sử dụng đất thấp, chủ yếu là đường 1 tầng.
- Diện tích đất công nghiệp tuy tăng nhanh (bình quân tăng 7.000
ha/năm) nhưng việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp còn dàn trải,
thiếu sự thống nhất trên quy mô liên vùng, liên tỉnh; chưa xem xét đồng bộ
với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân cư, hạ tầng kinh tế - xã hội. Nhiều
khu, cụm công nghiệp không phù hợp với điều kiện và khả năng thực tế dẫn
đến tình trạng triển khai chậm tiến độ, tỷ lệ lấp đầy thấp, để hoang hóa trong
nhiều năm.


12

- Các lại đất công trình hạ tầng xã hội như văn hóa, y tế, giáo dục, thể
dục thể thao tuy luôn được bố trí tăng cường về diện tích đất, nhưng so với
nhu cầu vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ.
- Phần lớn đất bãi thải và xử lý chất thải là lộ thiên hoặc đổ tự nhiên tại
các bãi rác tạm, hầu hết các khu vực nông thôn chưa có quy hoạch khu vực

thu gom rác thải; chưa có các khu bãi chôn lấp và xử lý chất thải nguy hại một
cách triệt để và lâu dài...


13

CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Uông Bí nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ninh cách thành phố
Hạ Long 35 km, cách Hà Nội 120 km, cách Hải Phòng 30 km. Diện tích tự nhiên là
256,30 km2 chiếm 4,03% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh. Vị trí địa lý của
Uông Bí nằm trong khoảng từ 21000’ đến 21010’ Vĩ độ Bắc và từ 106040’đến 106052’
Kinh độ Đông:
- Phía Bắc giáp huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang;
- Phía Nam giáp và thị xã Quảng Yên và thành phố Hải Phòng;
- Phía Đông giáp huyện Hoành Bồ;
- Phía Tây giáp huyện Đông Triều.
Thành phố Uông Bí nằm cách không xa hai khu trung tâm kinh tế lớn Hải Phòng
và Hạ Long, có đường Quốc lộ 18A, đường Quốc lộ 10A và tuyến đường sắt Hà Nội Kép - Bãi Cháy chạy qua đã tạo cho Uông Bí một vị trí thuận lợi trong giao lưu kinh tế
- văn hoá - xã hội, thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài. Uông Bí là một trong
những địa bàn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng
Ninh.
2.1.1.2. Địa hình
Thành phố Uông Bí năm trong vòng cung Đông Triều - Móng Cái chạy
dài theo hướng Tây - Đông. Kiến tạo địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam.
Phía Bắc cao nhất là dãy núi Yên Tử, có đỉnh 1.068m; núi Bảo Đài cao 875m;
phía Nam thấp nhất là vùng bãi bồi; trũng ngập nước ven sông Đá Bạc. Địa
hình chia cắt bởi 8 lạch triều lớn nhỏ từ sông Đá Bạc. Theo đặc điểm địa hình

Uông Bí có 2/3 diện tích là đất đồi núi dốc nghiêng từ phía Bắc xuống phía
Nam và được phân tách thành 3 vùng: vùng cao, vùng thung lũng, vùng thấp.


14

2.1.1.3. Khí hậu
Do vị trí địa lý và địa hình nằm trong cánh cung Đông Triều - Móng Cái,
có nhiều dãy núi cao ở phía Bắc và thấp dần xuống phía Nam đã tạo cho
Uông Bí một chế độ khí hậu đa dạng, phức tạp vừa mang tính chất khí hậu
miền núi vừa mang tính chất khí hậu miền duyęn hải.
Dăy núi Běnh Hương với độ cao 384 - 358 m nằm giữa vùng núi Yên Tử
và núi Bảo Đài đã tạo nên dải thung lũng dài, hẹp và vùng đất thấp làm cho
khí hậu Uông Bí phân thành nhiều tiểu vùng khác nhau: vùng núi cao phía
Bắc đường Lán Tháp - Năm Mẫu có khí hậu miền núi lạnh và mưa vừa; vùng
núi cao dọc đường Lán Tháp - Năm Mẫu có khí hậu thung lũng, ít mưa, mùa
hè nóng, mùa đông lạnh; vùng núi nằm giữa phía Nam đường Lán Tháp Năm Mẫu và phía Bắc đường 18A kéo dài đến hạ lưu sông Đá Bạc có tích
chất khí hậu miền duyên hải.
a. Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 22,20C. Mùa hè nhiệt độ trung
bình 22 - 300C, cao nhất 34 - 360C. Mùa đông nhiệt độ trung bình 17 - 20 0C,
thấp nhất 10 - 120C. Số giờ nắng trung bình mùa hè 6 - 7 giờ/ngày, mùa đông
3 - 4 giờ/ngày, trung bình số ngày nắng trong tháng là 24 ngày.
b. Chế độ mưa: Tổng lượng mưa trung bình năm là 1.600 mm, cao nhất là
2.200 mm, thấp nhất 1.200 mm. Mưa thường tập trung vào các tháng 6,7,8
chiếm tới 60% lượng mưa cả năm. Đặc biệt tháng 7 có lượng mưa lớn nhất
346,3 mm; tháng 11 có lượng mưa nhỏ nhất 29,2 mm. Lượng mưa trung bình
các tháng trong năm là 133,3 mm. Số ngày có mưa trung bình năm là 153 ngày.
Với chế độ mưa tập trung và phân hoá theo mùa, cùng với các tác nhân
khác (hoạt động công nghiệp, chặt phá rừng...) đã chi phối mạnh nền sản xuất
nông nghiệp của Thành phố cũng như ảnh hưởng rõ rệt đến môi trường và đời

sống của nhân dân.


15

c. Chế độ gió: Có hai hướng gió thịnh hành là hướng Đông Nam thổi vào
mùa hè và hướng Đông Bắc vào mùa đông. Trong các tháng mùa hè thường
chịu ảnh hưởng của mưa bão với sức gió và lượng mưa lớn.
Gió bão: Cũng như các huyện thị khác ven biển Bắc Bộ, trung bình mỗi
năm có khoảng 2-3 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp tới Uông Bí.
d. Độ ẩm không khí: Trung bình năm 81%, cao nhất 89,3%, thấp nhất
50,8%. Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 3, có độ ẩm trung bình là 84,8%,
thấp nhất là tháng 11, có độ ẩm trung bình là 76,5%.
Nhìn chung, Uông Bí chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu Đông bắc Bắc bộ
mang nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài về mùa
đông. Với đặc điểm khí hậu như vậy, Uông Bí có điều kiện tương đối thuận lợi
để phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp. Tuy nhiên với lượng mưa bão tập
trung, địa hình dốc là những nguyên nhân chính gây nên xói mòn, úng lụt, ảnh
hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp nói riêng, phát triển kinh tế của Thành
phố nói chung.
2.1.1.4. Thuỷ văn
Uông Bí chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ nhật triều vịnh Bắc bộ, biên độ
dao động thuỷ triều trung bình 0,6 m.
Hệ thống sông suối của Thành phố phần lớn là các sông nhỏ, diện tích
lưu vực hẹp, nguồn nước và lưu lượng không lớn. Sông lớn nhất và có ảnh
hưởng mạnh tới chế độ thuỷ văn của Thành phố là sông Đá Bạc, đoạn chảy
qua Thành phố (thuộc địa phận các phường Phương Nam, Phương Đông, Yên
Thanh và Quang Trung) có chiều dài 12 km, rộng trung bình 400 m, độ sâu
lúc thủy triều lên đảm bảo cho tàu 5.000 tấn và xà lan 400 - 500 tấn ra vào
cảng; là đường thủy liên tỉnh, tàu bè và thuyền lớn có thể đi lại vận chuyển

vật tư, hàng hóa đi Hải Dương, Hải Phòng và ngược lại.
Ngoài sông Đá Bạc, Thành phố còn có các con sông khác như Vàng


16

Danh, sông Uông và sông Sinh. Sông Vàng Danh là thượng nguồn của sông
Uông, là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho Uông Bí. Sông Sinh bắt nguồn từ
vùng núi phía tây bắc Uông Bí chảy qua trung tâm Thành phố (giữa phường
Yên Thanh và phường Quang Trung), cắt trục đường 18A với chiều dài 15
km, sông này có khả năng cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp. Các sông
đều xuất phát từ các dãy núi cao chảy qua Thành phố và đổ vào sông Đá Bạc.
Uông Bí với địa hình phức tạp, phần lớn diện tích đất rừng là rừng
thưa, độ che phủ thấp nên trong mùa mưa, lượng mưa lớn với năng lượng hạt
mưa ít bị cản lại dẫn tới dòng nước sông suối chảy xiết, dòng chảy tập trung,
gây úng lụt ở vùng phía Nam Thành phố.
Ngoài hệ thống sông suối, Uông Bí còn có hệ thống hồ ao, đáng chú ý là
hồ Yên Trung rộng 50 ha, hồ Tân Lập 16 ha. có khả năng cung cấp nước cho
sản xuất, và có thể tổ chức thành những điểm nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cho
khách du lịch. Tuy nhiên khả năng cung cấp nước của các hồ này cũng rất hạn
chế về mùa khô.
2.1.2. Các nguồn tài nguyên
2.1.2.1. Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê đất đai 01/01/ 2014 cho thấy tổng diện tích tự
nhiên của Thành phố Uông Bí là 25.630,77 ha.
Theo tài liệu điều tra thổ nhưỡng của Viện Quy hoạch và thiết kế nông
nghiệp xây dựng năm 2003, tài nguyên đất của Thành phố được chia thành 7
nhóm, 8 đơn vị đất và 11 đơn vị đất phụ.
2.1.2.2. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước của Thành phố Uông Bí có từ các nguồn nước mặt,

nước ngầm. Chế độ thuỷ văn của Uông Bí chịu ảnh hưởng trực tiếp của biên
độ giao động thuỷ triều trung bình 0,6 m.
Nhìn chung nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và


17

nông nghiệp ở Uông Bí rất hạn chế, đặc biệt rất khó khăn vào mùa khô. Trong
thời gian tới cần có biện pháp cải tạo, xây dựng các công trình dự trữ nước
mưa, phủ xanh đất trống, bảo vệ rừng và đưa nước ngọt từ nơi khác đến để
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
2.1.2.3. Tài nguyên rừng
Thành phố Uông Bí có diện tích rừng khá lớn, năm 1991 toàn Thành phố
có 13.057 ha chiếm 53,35% tổng diện tích tự nhiên. Nhưng do việc phá rừng
lấy đất sản xuất nông nghiệp, khai thác rừng lấy gỗ và khai thác khoáng sản
đã làm diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm nhanh. Năm 1993 diện tích rừng
chỉ còn 7.381 ha, chiếm 30,16%, giảm 5.676 ha (43,47%) so với năm 1991.
Từ năm 1994 thực hiện chương trình 327 (chương trình khoanh nuôi, bảo vệ,
trồng rừng), chương trình 661, diện tích rừng tăng lên nhanh. Đến năm 2014
diện tích rừng là 12.694,11 ha, chiếm 49,53% diện tích tự nhiên, trong đó
rừng tự nhiên là 5.935,98 ha và rừng trồng là 6.758,13 ha.
Thảm thực vật rừng của Uông Bí nhìn chung là nghèo, nhỏ và phân tán.
Động vật rừng ở Uông Bí khá phong phú, đa dạng tập trung chủ yếu ở
khu vực rừng Quốc gia Yên Tử.
Rừng ở Uông Bí có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế
- xã hội, bảo vệ môi sinh khu vực, giữ nguồn nước, tạo cảnh quan, giữ gìn các
di tích lịch sử văn hoá. Vì vậy cần phải có chính sách đầu tư, khai thác hợp lý
và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng.
2.1.2.4. Tài nguyên khoáng sản
Than đá là nguồn khoáng sản lớn nhất của Uông Bí, tổng diện tích dành

cho khai thác than khoảng trên 600 ha. Trữ lượng của vùng than Đông Triều Mạo Khê - Uông Bí đạt 1,4 tỷ tấn, chiếm 40% trữ lượng than trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh (3,5 tỷ tấn). Công nghiệp khai thác than ở Uông Bí đã được thực
hiện từ năm 1916. Sản lượng khai thác than trên vùng Yên Tử, Vàng Danh


18

đạt hơn 3,85 triệu tấn/năm. Đây là ngành công nghiệp chủ đạo đóng góp rất
lớn cho phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
Ngoài than đá, Uông Bí còn có khả năng khai thác và sản xuất vật liệu
xây dựng (đá, cát, sỏi, xi măng, vôi, gạch, ngói ở các xã, phường như Phương
Nam, Thượng Yên Công, Quang Trung, Vàng Danh, Bắc Sơn...) cung cấp
nhu cầu về vật liệu xây dựng cho địa bàn Thành phố và các vùng lân cận.
2.1.2.5. Tài nguyên nhân văn
Người Uông Bí vốn là dân cư của bộ lạc Ninh Hải đã cùng các bộ lạc
khác khai sơn phá thạch dựng nên nước Văn Lang của các vua Hùng. Dưới
triều đại nhà Trần, Uông Bí với Yên Tử là cái nôi của Phật giáo Việt Nam
dòng Thiền phái Trúc Lâm. Từ xa xưa, người dân Uông Bí đã có nghề tiểu
thủ công mỹ nghệ khá tinh xảo.
Chùa Yên Tử được xây dựng vào cuối thế kỷ XI.
Ngày nay Thành phố có nhiều dân tộc cùng sinh sống như dân tộc Kinh,
Tày, Hoa, Sán Dìu, Nùng, Dao, Thanh Y, Mường, Thổ. Trong đó dân tộc
Kinh chiếm trên 90%. Nhân dân Uông Bí có truyền thống cùng nhau đoàn kết
đấu tranh bảo vệ quê hương.
Với truyền thống lịch sử, nguồn nhân lực dồi dào, đội ngũ công nhân
được đào tạo có trí, đức và kinh nghiệm sản xuất, có tính cần cù, chịu khó và
những tiềm năng sẵn có, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh
Quảng Ninh, Thành ủy, Uỷ ban nhân dân Thành phố, Uông Bí sẽ trở thành
một Thành phố có nền kinh tế - văn hoá -xã hội phát triển xứng đáng là một
trong những địa bàn chiến lược của tỉnh Quảng Ninh.

2.1.3. Thực trạng cảnh quan môi trường
Môi trường có tầm quan trọng rất đặc biệt đối với đời sống con người và
sinh vật, liên quan chặt chẽ với nguồn tài nguyên thiên nhiên, với sự phát
triển kinh tế - xã hội và sự sống của con người.


19

Với đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp - xây
dựng, dịch vụ - du lịch và nông - lâm - ngư nghiệp, cảnh quan thiên nhiên của
Thành phố Uông Bí đã bị tác động mạnh mẽ, môi trường đã có dấu hiệu bị ô
nhiễm mà các nguyên nhân chủ yếu là:
- Các hoạt động công nghiệp (khai thác than, sản xuất điện, khai thác vật
liệu xây dựng, sản xuất xi măng...).
- Quá trình đô thị hoá và hoạt động du lịch.
- Sản xuất nông nghiệp...
Chính vì vậy, trong những năm qua Thành phố đã có nhiều cố gắng
trong việc quy hoạch, quan trắc và thẩm định đánh giá tác động môi trường
đối với tất cả các dự án đầu tư trên địa bàn. Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ
trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, tăng độ che phủ rừng, mở rộng
diện tích rừng ngập mặn, cải thiện chất lượng môi trường nước, không khí;
thu gom, xử lý rác thải, nhờ đó đã giải quyết phần nào những bức xúc về ô
nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm trong sản xuất điện, vật liệu xây dựng,
khai thác, chế biến, vận chuyển than, đất đá.
2.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
2.2.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong những năm qua nền kinh tế của Thành phố tiếp tục phát triển toàn diện,
duy trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt
17,32%/năm (trong đó: thương mại, dịch vụ đạt 18,5%/năm; công nghiệp, xây dựng
đạt 17,51%/năm; nông, lâm, thủy sản đạt 8,93%/năm). Thu nhập bình quân đầu người

1.465 USD/người/năm. Các ngành kinh tế trọng điểm như: Công nghiệp (khai thác
than và vật liệu xây dựng, nhiệt điện, xi măng, cơ khí chế tạo thiết bị nâng hạ); dịch vụ,
thương mại, du lịch có bước phát triển nhanh cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng khu vực I (nông, lâm, ngư
nghiệp) giảm dần; tỷ trọng khu vực II, III (công nghiệp, xây dựng - dịch vụ, du lịch,


20

thương mại) tăng nhanh và ngày càng giữ vai trò chủ đạo. Đến năm 2014, tỷ trọng các
ngành trong cơ cấu kinh tế cơ bản có sự chuyển dịch hợp lý: Công nghiệp, xây dựng
chiếm 77,00%; du lịch, dịch vụ, thương mại chiếm 20,72%; nông, lâm, thủy sản chiếm
2,28%.
2.2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
2.2.2.1. Khu vực kinh tế nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp trong những năm qua tuy gặp nhiều khó khăn do thiên tai,
dịch bệnh, nhưng vẫn giữ ổn định và có bước phát triển mới. Giá trị sản xuất nông
nghiệp tăng bình quân 8,93%/năm.
Tích cực chuyển dịch cơ cấu giống, mùa vụ, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất nhằm nâng cao năng suất, sản lượng trên một đơn vị diện tích; tuy diện tích
gieo trồng và sản lượng có giảm do tiến trình công nghiệp hoá, đô thị hoá; song, giá trị
sản lượng nông nghiệp/đơn vị diện tích đất canh tác năm sau vẫn cao hơn năm trước.
Triển khai một số mô hình sản xuất nông sản tập trung bước đầu mang lại hiệu
quả, tạo ra sản phẩm mới có giá trị kinh tế cao trên thị trường. Chăn nuôi gia súc, gia
cầm tuy gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh và rét hại kéo dài nên có thời gian số lượng
đàn gia súc, gia cầm phát triển chậm; song số đàn gia súc, gia cầm vẫn tăng; quy mô cơ
cấu chăn nuôi đã có chuyển đổi tích cực, một số mô hình chăn nuôi công nghiệp và
chăn nuôi động vật có giá trị kinh tế cao được hình thành, phát triển nhân rộng. Công
tác phòng chống dịch bệnh thường xuyên được quan tâm nên đã kịp thời khống chế,
không để lây lan ra diện rộng.

Thành phố đã hoàn thành quy hoạch lại vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, tiếp
tục đầu tư mở rộng cơ sở hạ tầng, chuyển đổi một số diện tích trồng lúa hiệu quả thấp
sang nuôi trồng thuỷ sản; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới vào nuôi trồng. Sản
lượng nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản luôn tăng cao.
Sản xuất lâm nghiệp phát triển nhanh với sự tham gia tích cực của các thành phần
kinh tế và nhân dân trong trồng rừng, chăm sóc bảo vệ, phát triển kinh tế rừng, nhất là


21

rừng đặc dụng Yên Tử. Đã hình thành được vùng nguyên liệu cung cấp trụ mỏ và cho
sản xuất giấy tại các xã, phường: Vàng Danh, Bắc Sơn, Thượng Yên Công,…đưa tỷ lệ
che phủ rừng đạt gần 49%. Số vụ cháy rừng có xu hướng giảm dần, trong năm chỉ xẩy
ra một số điểm cháy rừng nhỏ, chủ yếu là rừng trồng, không gây thiệt hại lớn và kinh
tế. Sản lượng khai thác nhựa thông năm 2010 đạt 147 tấn, đến năm 2014 đạt 228 tấn.
2.2.2.2. Khu vực kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Trong những năm qua sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tuy gặp khó
khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; song hoạt
động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn Thành phố cơ bản ổn
định, duy trì tốc độ tăng trưởng khá.
Đã phát triển được một số cơ sở công nghiệp mới có công nghệ hiện đại như: Mở
rộng nhà máy nhiệt điện Uông Bí 1 (300MW) và 2 (330 MW), nhà máy xi măng Lam
Thạch 2, nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ (20.000 tấn sản phẩm/năm), nhà máy gạch
tuynen Thanh Sơn (25 triệu viên/năm), hệ thống cảng thuỷ nội địa của tập đoàn Xuân
Lãm, cảng Điền Công,…
Trong quá trình phát triển sản xuất một số cơ sở sản xuất đã cố gắng đầu tư ứng
dụng khoa học công nghệ nhằm giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, như: Nhà
máy nhiệt điện Uông Bí, nhà máy xi măng Lam Thạch,…
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của toàn Thành phố trong
những năm qua tăng bình quân là 17,51%/năm.

2.2.2.3. Khu vực kinh tế thương mại - dịch vụ, du lịch
Các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch trong những năm qua phát triển khá đa
dạng, đạt mức tăng trưởng cao, đáp ứng yêu cầu về sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng
trong nhân dân. Trong những năm qua giá trị kinh doanh thương mại, dịch vụ, du lịch
tăng bình quân 18,50%/năm, mức lưu chuyển hàng hoá tăng bình quân 15%/năm.
Hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển tương đối đồng đều ở cả 3 khu vực:
trung tâm đô thị, nông thôn, miền núi. Công tác xã hội hoá đầu tư, nâng cấp và quản lý


22

hệ thống các chợ có bước phát triển mới. Hàng năm Thành phố thường xuyên duy trì
tổ chức hội chợ thương mại quốc tế Uông Bí.
Hoạt động dịch vụ vận tải hàng hoá và vận chuyển hành khách được đầu tư mở
rộng và phát triển đa dạng dưới nhiều hình thức. Dịch vụ bưu chính, viễn thông phát
triển nhanh với tốc độ tăng bình quân 42,9%/năm. Hệ thống dich vụ tài chính, ngân
hàng, bảo hiểm phát triển nhanh về số lượng mạng lưới, đa dạng hoá về loại hình và
tiện ích.
Trong chiến lược phát triển kinh tế của Thành phố, phát triển du lịch khu di tích
và danh thắng Yên Tử là một trọng điểm. Ngoài ra các khu du lịch khác (Khu du lịch
sinh thái Lựng Xanh, hồ Yên Trung, chùa Hang Son, chùa Ba Vàng, đình Điền Công)
cũng đang được đầu tư, nâng cấp.
2.2.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
2.2.3.1. Dân số và phân bố dân cư
Theo số liệu thống kê năm 2014, dân số Uông Bí là 105.755 nhân khẩu,
trong đó 74.678 khẩu thành thị (chiếm 70,61%) và 31.077 khẩu nông thôn
(chiếm 29,39%). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,37%; tỷ lệ tăng dân số cơ học
là 0,31%; mật độ dân số bình quân 413 người/km 2. Dân cư của Thành phố
phân bố không đồng đều giữa các vùng, mật độ dân số cao nhất là khu trung
tâm Thành phố lên tới 1.400 người/km2, thấp nhất là xã Thượng Yên Công 75

người/km2.
Trong những năm qua, công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được chú
trọng, mức giảm sinh hàng năm được duy trì. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên
bình quân hàng năm giảm 0,05%. Tuy nhiên gần đây dân số ở Thành phố liên
tục gia tăng cơ học do một lượng lớn người đến học tập và làm việc tại địa
phương, tập trung chủ yếu ở khu trung tâm Thành phố và phường Vàng Danh.
Với tốc độ thị hóa ngày càng cao như hiện nay cùng với việc phát triển và
hình thành một cách đồng bộ các khu công nghiệp, khu du lịch trên địa bàn


23

Thành phố trong thời gian tới... thì tỷ lệ tăng dân số cơ học theo dự báo sẽ
tăng mạnh.
2.2.3.2. Lao động và việc làm
Năm 2014, Uông Bí có 74.537 lao động (nam 38.851 lao động, nữ
35.686 lao động), trong đó lao động phi nông nghiệp chiếm 78,8% (lao động
công nghiệp, xây dựng chiếm 51,2%; lao động thương mại, dịch vụ chiếm
27,6%), lao động nông nghiệp chiếm 21,2% tổng số lao động.
Về việc làm, hàng năm Thành phố đã giải quyết việc làm cho khoảng
4.000 lao động.
Nhìn chung nguồn lao động của Thành phố tương đối dồi dào, là điều
kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, lực lượng lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp. Do vậy, trong tương lai cần có
hướng đào tạo nghề cho người lao động, nhất là lao động tay nghề cao, mới
có thể đáp ứng được nhu cầu lao động trong điều kiện khoa học kỹ thuật ngày
càng phát triển của Thành phố.
2.2.3.3. Thu nhập và mức sống
Tình hình phát triển kinh tế-xã hội của Thành phố kéo theo đời sống của
đại bộ phận cư dân trên địa bàn được nâng lên rõ rệt. Mức thu nhập bình quân

người dân tăng trung bình 15%/năm, đạt 1.465 USD/người/năm. Ngày càng
có nhiều hộ khá, giàu, đặc biệt tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 14,96% năm
2000 xuống còn 5,61% năm 2010 và 2,42% năm 2014 (số hộ cận nghèo là
1,44%). Các tiện nghi sinh hoạt của đại bộ phận dân cư được cải thiện đáng
kể, tuy nhiên sự chênh lệch về thu nhập và chi tiêu giữa các địa phương cũng
như khu vực thành thị và nông thôn trong Thành phố còn khá lớn. Tỷ lệ số hộ
được sử dụng điện là 100%; số người sử dụng nước sạch là 85% trong tổng số
dân.
2.2.4. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn


24

2.2.4.1. Thực trạng phát triển đô thị
Hệ thống đô thị của Uông Bí năm 2010 gồm 7 phường với tổng diện tích
đất đô thị là 13.053,20 ha (chiếm 50.93% diện tích tự nhiên), dân số đô thị
74.678 khẩu thành thị (chiếm 70,61% dân số toàn Thành phố), bình quân đất
đô thị là 1.748 m2/người dân đô thị. Khu vực trung tâm Thành phố mật độ dân
số đạt tới 1.400 người/km2.
Đô thị của Uông Bí phát triển tập trung dọc theo tuyến quốc lộ 18, tập
trung hơn tại khu vực tiếp giáp giữa phường Thanh Sơn, Yên Thanh và
Quang Trung. Đây là khu vực trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội
và cũng là địa bàn xây dựng trụ sở khối cơ quan các Phòng, Ban ngành của
Thành phố.
- Các cơ sở công nghiệp - dịch vụ đang trong giai đoạn phát triển, các
công trình văn hoá, phúc lợi công cộng đang dần được đầu tư xây dựng nâng
cấp và hoàn thiện.
- Hệ thống cấp nước tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm của Thành
phố nhưng cũng chỉ đáp ứng cho khoảng 85% dân số đô thị tại các khu vực
này.

- Vẫn còn tồn tại một số các cơ sở sản xuất kinh doanh có khả năng gây
ô nhiễm môi trường sống trong các khu dân cư. Tuy nhiên, gần đây đô thị của
Thành phố đã có những chuyển biến tích cực, bước đầu có sự tập trung đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, nhất là khu đô thị mới của Thành phố. Bộ mặt
đô thị có bước chuyển biến rõ rệt, dân số đô thị, khách tham quan, du lịch
ngày càng tăng. Công nghiệp và dịch vụ từng bước phát triển, các công trình
như điện chiếu sáng, bưu chính viễn thông, phát thanh truyền hình dần được
mở rộng. Việc cung cấp nước sạch ở một số khu vực ngày càng tốt hơn, đời
sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
2.2.4.2. Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn


×