Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (256.4 KB, 25 trang )

MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO M'DRĂK
TRƯỜNG PTDT-BT-THCS PHAN BỘI CHÂU

MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN
MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS

NGƯỜI VIẾT : TRƯƠNG THỊ THUÝ HẰNG
ĐƠN VỊ :

TRƯỜNG PTDT-BT-THCS PHAN BỘI CHÂU
M’drăk ngày 3 tháng 2 năm 2012
1

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS

MỤC LỤC
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lời nói đầu
2. Lí do chọn đề tài
3. Cơ sở chọn đề tài
3.1. Cơ sở thực tiễn
3.2. Cơ sở lí luận
4. Mục đích chọn đề tài
PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG THỰC HIỆN
1. Công tác chuẩn bị
1.1. Đối với giáo viên


1.2. Đối với học sinh
2. Một số cách thức thực hiện trong các hoạt động dạy học
2.1. Cách thức ổn định tổ chức
2.2. Cách thức kiểm tra bài cũ
2.3. Cách thức giới thiệu bài mới
2.4. Cách thức tiến hành đọc - tiếp xúc văn bản
2.5. Cách thức tiến hành phân tích văn bản
2.6. Cách thức tổng kết, đánh giá
2.7. Cách thức củng cố bài.
2

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
PHẦN 3: NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
PHẦN 4: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
PHẦN 5: NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
PHẦN 6: KẾT LUẬN
&
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lời nói đầu.
Dạy học là nghề cao quý nhất trong tất cả các nghề cao quý. Đó là lời ca ngợi
của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính vì thế Đảng và Nhà nước ta quan tâm đến giáo
dục, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, đòi hỏi người giáo viên phải có ý thức, phải có
lương tâm nghề nghiệp.
Ở bài viết này tôi muốn đưa ra một số ý kiến nhỏ góp phần thực hiện nhiệm vụ
dạy học của mình.
2. Lí do chọn viết Sáng kiến kinh nghiệm.

Văn học là một môn nghệ thuật, ngoài việc tìm ra đáp án đúng như các môn
khoa học tự nhiên, đáp án của môn văn cần phải có “hồn”, nghĩa là lời văn phải
có cảm xúc, người đọc phải hiểu được những tâm tư, tình cảm, cảm xúc mà tác giả
gửi gắm sau ý lời. Để làm được điều này, người giáo viên có vai trò hết sức quan
trọng trong việc giúp các em hứng thú khi học môn Văn. Chính điều này nên bản
thân đưa ra một số kinh nghiệm trong quá trình dạy học phân môn Văn ở trường
THCS , rất mong các thầy cô giáo cùng góp ý kiến.
3. Mục đích viết Sáng kiến kinh nghiệm.
3

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
Giúp giáo viên có hứng thú, tự tin khi đứng trên bục giảng, giúp học sinh phát
huy được tính tích cực của mình và thấy được cái hay, cái đẹp khi học phân môn
Văn.
4. Cơ sở viết Sáng kiến kinh nghiệm.
4.1 Cơ sở thực tiễn.
“Văn học là nhân học” (Học văn là học làm người). Điều đó chứng tỏ văn học
có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con
người. Là m ột m ôn họ c t huộc nhóm kho a họ c x ã hộ i, m ôn văn có tầ m
q ua n t rọ ng t ro ng việc giáo dục quan đ iểm, t ư t ư ởn g , t ìn h cả m cho họ c
s in h.

Đồ ng t hờ i cũn g l à mô n học t huộ c n hó m cô ng cụ, mô n văn cò n

t hể hiện r õ mố i quan hệ vớ i cá c mô n họ c khá c. Vì họ c t ốt mô n vă n sẽ
t ác đ ộn g t ích cự c tớ i cá c mô n họ c khá c và n gư ợc l ạ i, học t ốt cá c m ôn
học 0khá c cũn g góp phần học tố t m ôn vă n . Đó l à mộ t m ố i q ua n hệ

biện chứ ng khô ng t hể t á ch rờ i. Điều đó đặ t ra yêu cầ u t ăn g cư ờn g t ín h
t hự c hà nh, giả m l í t huyết, gắn học vớ i hàn h, gắ n kiến t hứ c vớ i t hự c
t iễn hết s ứ c phon g phú, s in h đ ộng của cuộ c số ng .
Thế nhưng những năm gần đây, khi ngành khoa học công nghệ phát triển kéo
theo nhu cầu tìm hiểu về khoa học kỹ thuật để đáp ứng sự phát triển của xã hội tạo
nên một áp lực khiến cho những học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường nói riêng
và bậc phụ huynh học sinh nói chung ít quan tâm đến bộ môn văn vì phải chuyên
tâm đến những môn học tự nhiên. Qua thực tế dạy học những năm gần đây cho
thấy: đa số học sinh ít say mê học môn văn. Hầu hết, các em học một cách thờ ơ,
gượng ép và đối phó. Có lẽ vì các em chưa thấy được tầm quan trọng của việc học
văn cũng như vai trò của môn văn học đối với các môn học khác và đối với đời
4

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
sống. Muốn học giỏi các môn học khác, nghĩa là biết cách diễn đạt, trình bày
những hiểu biết của mình về bất cứ một vấn đề gì cũng đều phải có vốn ngôn ngữ
và có khả năng nói viết thành thục. Muốn giao tiếp tốt trong xã hội, được mọi
người yêu quý, đồng tình ủng hộ cũng phải có vốn ngôn ngữ phong phú, có khả
năng truyền đạt, bày tỏ thông thoát, rõ ràng truyền cảm, thể hiện một tâm hồn
trong sáng, hướng thiện, một con người có văn hoá. Và để làm được như thế thì
khả năng lớn nhất là ở môn Ngữ văn, trong đó có phân môn văn. Nhưng để phân
môn văn thực sự có giá trị, học sinh thực sự hứng thú với môn học này còn phụ
thuộc rất lớn đến năng lực và tâm huyết của người dạy. Tôi nghĩ rằng dạy văn là
dạy bằng cả một tâm hồn. Tình yêu văn của học sinh có thực sự hồi sinh phần lớn
là nhờ người dạy, nhờ những tiết học mà các em được cùng với thầy cô khám phá
những cái hay, cái đẹp trong tác phẩm văn chương, cùng thổn thức, đắn đo,
trăn trở với tác giả trước những cái hay, cái đẹp và cả cái buồn của cuộc đời để

rồi từ đó tâm hồn các em hướng thiện hơn, có niềm tin và tình yêu hơn đối với
con người và cuộc sống.
4.2. Cơ sở lí luận.
4.2.1. Mục tiêu của phân môn văn ở THCS:
Phân môn văn là một bộ phận quan trong nằm ở vị trí đầu tiên trong ba phân
môn: Văn- Tiếng Việt- Tập làm văn của bộ môn Ngữ văn. Mục tiêu quan trọng
nhất của phân môn này là mục tiêu giáo dục. Cùng với các phân môn và các môn
học khác, nó góp phần hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách cho học
sinh. Từ việc khám phá những cái hay, cái đẹp trong tác phẩm văn chương, học
sinh đã có thể tự ý thức về mình, sống có nhân cách, trong sạch và cao thượng
hơn.
5

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
Đồng thời một mục tiêu nữa của phân môn văn là bồi dưỡng và rèn luyện
năng lực cảm thụ, lĩnh hội, đánh giá và thưởng thức văn chương cho học sinh ở
một mức độ nhất định, từ đó sáng tạo văn chương thông qua con đường tư duy
hình tượng.
Mục đích cuối cùng của phân môn văn nói riêng và bộ môn ngữ văn nói
chung là bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, xây dựng nhân cách con người Việt Nam
mới cho học sinh, giáo dục cho các em tình yêu quê hương đất nước, thái độ lao
động mới và những đức tính tốt đẹp cần có ở mỗi con người.
4.2.2. Vị trí của phân môn văn trong chương trình ngữ văn THCS:
Phân môn văn giữ một vị trí chủ đạo, hết sức trọng yếu và chiếm tỷ lệ thời
lượng khá lớn trong chương trình ngữ văn THCS. Dạy phân văn là đầu mối để tích
hợp tri thức và kỹ năng các phần Tiếng Việt và Tập làm văn. Qua giờ Đọc- hiểu
văn bản, giáo viên có thể hình thành, tích luỹ cho học sinh các khái niệm, luận

điểm khái quát về lý thuyết và lịch sử văn học cũng như tri thức văn hoá, đồng
thời giúp học sinh hình thành và phát triển kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Trong đó,
rèn luyện năng lực ngôn ngữ và tư duy như một công cụ, phương tiện để học sinh
học tập các môn học khác. Bồi dưỡng tư tưởng tình cảm tâm hồn và nhân cách cho
học sinh.
4.2.3. Những nguyên tắc cơ bản trong dạy học văn ở THCS:
- Dạy học theo đặc trưng bộ môn:
Môn văn THCS là môn học nghệ thuật. Vì thế dạy học văn học trước hết
phải lưu ý đến tính thẩm mỹ, đến bản chất nghệ thuật của môn học. Điều này được
thể hiện qua các yêu cầu chính là:

6

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
+ Tổ chức hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm văn chương, hình thành ở các
em nhu cầu lắng nghe, cảm nhận bằng cả vốn kiến thức tiếng Việt, bằng cả tâm
hồn.
+ Trong quá trình đọc tác phẩm văn chương phải giúp các em như: Thấy
được cảnh vật, sự kiện, nhân vật, ... đang hiện ra trước mắt mình.
+ Hướng dẫn các em biết thưởng thức, khám phá tác phẩm trong toàn vẹn,
nhất quán của chỉnh thể nghệ thuật. Khuyến khích các em có những tìm tòi, phát
hiện những nhận xét riêng độc đáo xuất phát từ tác phẩm.
Dạy học văn gắn với đời sống:
Với nguyên tắc này phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau:
+ Gắn tác phẩm với cuộc sống lịch sử sinh sản ra nó và cuộc sống đang diễn
ra hôm nay.
+ Gắn thế giới nghệ thuật được nhà văn sáng tạo ra với thế giới tinh thần của

học sinh.
Phải tăng cường mối quan hệ giữa môn văn nhà trường với các hoạt động
ngoài xã hội
Để đảm bảo nguyên tắc này trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương
cần phải xuất phát từ sự thâm nhập, khám phá sâu vào tác phẩm, phải trên cơ sở
gắn tác phẩm với học sinh để từ đó gắn cuộc sống, với xã hội.
- Dạy học văn phải phát huy tính chủ động, tính tích cực của học sinh.
- Dạy học văn phải biết phối hợp các phương pháp và biện pháp dạy học.
- Dạy học phải liên hệ, liên kết với các phân môn, bộ môn khác.
* Như vậy xuất phát từ những cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận như trên, tôi
mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ trong công việc dạy phân môn văn. Đây
7

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
có thể chưa phải là “sáng kiến” nhưng là những kinh nghiệm, những điều mà tôi
tâm đắc nhất trong quá trình dạy văn, rất mong được quý cấp lãnh đạo và quý
đồng nghiệp quan tâm, chia sẽ và góp ý giúp tôi thực hiện tốt hơn công việc giảng
dạy của mình.
PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG THỰC HIỆN
Như tôi đã nói ở trên, dạy văn là một nghệ thuật, là một công việc quan
trọng trong bộ môn Ngữ văn. Những tác phẩm văn chương trong chương trình mới
là những ký hiệu, những ẩn số, những hình tượng nghệ thuật để cả người dạy và
người học khám phá. Và tôi thấy rằng để dạy văn thành công theo định hướng đổi
mới của Bộ giáo dục thì cả giáo viên và học sinh đều cần trải qua 2 công đoạn
chuẩn bị và thực hiện.
1. Công tác chuẩn bị.
1.1 Đối với giáo viên:

Để chuẩn bị cho một bài dạy thành công người giáo viên cần bỏ công, để
tâm đến những việc sau :
1.1.1. Đọc, thưởng thức tác phẩm:
Tôi thấy rằng đây là khâu rất quan trọng vì nếu giáo viên không đọc trước,
không đọc kỹ tác phẩm trước khi soạn và dạy thì không thể có tâm thế, tinh thần
vá cách thức chuẩn bị, thực hiện tốt. Có chăng chỉ là sự đối phó “nhàn nhạt”, làm
cho xong nhiệm vụ. Đọc tác phẩm, đọc kỹ, đọc nghiền ngẫm, đọc bằng cả tâm
hồn, ... mới thấy được, hiểu được, khám phá được những nét đẹp, những giá trị về
nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Không nên giở sách giáo viên ra soạn rồi
mới đọc tác phẩm. Vì như thế sẽ gây sự áp đặt, giảm khả năng phát hiện và khả

8

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
năng tư duy của giáo viên. Lâu dần như thế giáo viên sẽ tự làm dốt mình, làm thui
chuột “chất văn” của mình.
1.1.2. Tìm hiểu thông tin về tác giả, tác phẩm:
Đây là việc tìm hiểu những yếu tố bên ngoài tác phẩm như: Tác giả, hoàn
cảnh ra đời hoặc xuất xứ của tác phẩm, mục đích sáng tác, vị trí của đoạn trích
trong tác phẩm, vị trí của bài trong chương trình, ... Ngoài những gợi ý ở sách giáo
khoa (phần chú thích) giáo viên cần tham khảo ở một số tài liệu khác có liên quan
đến tác phẩm cần tìm hiểu để có những hiểu biết cụ thể, sâu và rộng về tác phẩm,
thời đại, hoàn cảnh, ... từ đó vững vàng và thuận lợi hơn trong công tác soạn và
dạy, đồng thời qua đó cũng mở rộng và nâng cao vốn hiểu biết của mình về văn
học.
Ví dụ : Khi tìm hiểu về Nam cao và truyện ngắn “Lão Hạc”(Ngữ văn 8) tôi
đã tìm đọc cuốn “Nam Cao về tác giả và tác phẩm” của nhà xuất bản giáo dục.

Nhờ đó tôi hiểu thêm nhiều điều về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nam Cao
cũng như những vấn đề xoay quanh truyện ngắn “Lão Hạc”.
1.1.3. Đọc nghiên cứu sách giáo viên, sách tham khảo:
Đây là khâu cần thực hiện sau khi đã đọc, thưởng thức tác phẩm và cũng là
khâu rất quan trọng cho việc soạn giáo án. Vì như chúng ta đã biết mọi khám phá,
cảm nhận cũng cần định hướng để không xa đà, rông dài và lệch lạc. Qua sách
giáo viên để ta điều chỉnh những hiểu biết và cảm nhận của mình về tác phẩm.
Bên cạnh đó cũng cần đọc thêm các loại sách tham khảo có chất lượng để so sánh,
lựa chọn, bổ sung và khái quát để từ đó đi đến thiết kế một giáo án hợp lí phù hợp
với đối tượng học sinh và đặc thù bộ môn.
1.1.4. Soạn giáo án và chuẩn bị đồ dùng:
9

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
Đây là khâu cuối cùng nhưng cũng là rất quan trọng trong công tác chuẩn bị
của giáo viên. Giáo viên chắt lọc, xâu chuỗi những hiểu biết, khám phá và những
kiến thức thu hái được từ việc nghiên cứu các loại sách, từ đó thiết kế một giáo án
phù hợp với đặc trưng mỗi môn, nội dung bài học và đối tượng học sinh.
Nội dung và các bước thực hiện trong giáo án phải đảm bảo những quy định
chung của ngành và nhà trường.
Có thể nói trong ba phân môn Văn - Tiếng việt - Tập làm văn thì soạn giáo
án Văn là vất vả nhất, đòi hỏi cao nhất sự kiên trì, lòng say mê và khả năng cảm
thụ tác phẩm cũng như sự sáng tạo và năng khiếu văn chương của người giáo viên.
Bên cạnh giáo án tốt, một bài giảng thành công còn cần có sự hỗ trợ của các
phương tiện dạy học. Theo định hướng đổi mới thì sử dụng máy chiếu, giáo án
điện tử là hiện đại và thuận tiện nhất trong việc dạy văn. Nhưng do điều kiện cơ sở
vật chất của trường lớp còn hạn chế, người giáo viên phải tự khắc phục bằng các

phương tiện dạy học đơn giản khác như bảng phụ, tranh ảnh, băng, đĩa máy catset,

1.2. Đối với học sinh:
Việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh cũng rất quan trọng nhưng để việc
chuẩn bị đó thực sự có hiệu quả thì rất cần sự chỉ dẫn cụ thể của giáo viên. Và
việc chuẩn bị của học sinh cũng phải tiến hành theo các khâu như sau:
1.2.1. Đọc và tìm hiểu tác phẩm:
Cũng như giáo viên, trước khi soạn bài học sinh cũng phải đọc kĩ tác phẩm
ít nhất hai lần. Đối với những tác phẩm dài và khó càng phải đọc nhiều lần, đọc
nghiền ngẫm và tự trả lời được câu hỏi như:
- Tác phẩm viết về điều gì?
10

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
- Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh nào?
- Tác phẩm sử dụng cách viết như thế nào?
- Em có ấn tượng nhất với chi tiết (sự việc) nào trong tác phẩm?
Làm được như thế, các em đã có những hiểu biết ban đầu về tác phẩm, thuận
lợi cho việc soạn và học.
1.2.2. Soạn bài:
Đây là công việc quan trọng, có phần vất vả đối với học sinh. Chính vì thế
một số em thường soạn theo kiểu đối phó: Soạn qua loa, hời hợt hoặc chép sách
giải, chép vở soạn của người khác. Vì thế, giáo viên cần hướng dẫn uốn nắn cho
các em cách soạn và kiểm tra bài soạn của các em thường xuyên. Ngoài ra, hướng
dẫn các em tìm đọc những cuốn sách bổ ích phục vụ cho môn học hiện có ở thư
viện hoặc bán ngoài thị trường. Tập cho các em thói quen để làm tư liệu tham
khảo và vận dụng. Việc nay tôi đã từng hướng dẫn học sinh làm và được các em

hưởng ứng rất tích cực, thực hiện có hiệu quả. Bản thân tôi cũng có cuốn sổ ghi
chép bên mình, đó là cuốn “Tích luỹ văn học” và khi có điều kiện tôi chia sẽ
những điều mà mình ghi chép được cho học sinh khiến các em hào hứng và tin
tưởng hơn ở việc các em đang làm.
2. Một số cách thức thực hiện trong các hoạt động dạy học.
2.1. Cách thức ổn định tổ chức:
Thông thường ở khâu này giáo viên kiểm tra sỹ số bằng cách hỏi lớp trưởng.
Nhưng theo tôi trừ những tuần học đầu giáo viên chưa nhớ hết tên học sinh, chưa
nắm được nhiều về đặc điểm tình hình lớp, nhưng sau khi đã nhớ, đã nắm được
nhiều thì giáo viên có thể kiểm tra sỹ số bằng cách quan sát lớp và nêu tên học
sinh vắng mặt, sau đó mới tìm hiểu nguyên nhân sự vắng mặt của các em. Cách
11

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
làm đó vừa thể hiện tinh thần trách nhiệm, vừa thể hiện sự quan tâm của giáo viên
đối với học sinh, đối với lớp. Nhờ đó mối quan hệ thầy trò trở nên gần gũi và thân
thiết hơn, tạo tâm thế tốt cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học.
2.2. Cách thức kiểm tra bài cũ:
Có nhiều cách kiểm tra bài cũ như: Nêu câu hỏi, nêu bài tập trắc nghiệm để
học sinh trả lời hoặc ra bài tập học sinh làm, ... Làm cách nào là phụ thuộc vào
thời gian cho phép, đặc trưng bộ môn, nội dung bài học và buộc học sinh. Tuy
nhiên chúng ta không nên chỉ hỏi những câu hỏi buộc học sinh phải học thuộc
lòng mà nên có những câu hỏi “Có vấn đề” để học sinh phải suy nghĩ, liên hệ, xâu
chuỗi dựa trên những hiểu biết và cảm nhận từ tác phẩm đã học.
Ví dụ : Qua bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”(Ngữ văn 9) của nhà thơ Thanh
Hải, em hiểu thế nào là sống đẹp, sống có ích ?
Hoặc là : Cái chết của nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của

nhà văn Nam Cao gợi cho em những suy nghĩ gì? (Ngữ văn 8)
Hay : Qua bài thơ “Ngắm trăng của Hồ Chí Minh”(Ngữ văn 7) em hiểu
được tình cảm gì của Bác thể hiện ở đây?
Những câu hỏi kiểu như trên tuy không bắt học sinh phải học thuộc nhưng
học sinh phải hiểu đúng, hiểu sâu tác phẩm và biết liên hệ mở rộng mới trả lời
được. Và để trả lời những câu hỏi học sinh cũng phải có khả năng lập luận và khả
năng diễn đạt. Qua đó, các em sẽ dễ dàng hơn khi tiếp xúc và thực hành làm văn
nghị luận cùng như các kiểu văn bản. Tuy nhiên hiệu quả của khâu kiểm tra bài cũ
còn phụ thuộc vào kỹ năng nhận xét, đánh giá, ghi điểm của giáo viên. Nếu đánh
giá hời hợt, qua loa chiếu lệ sẽ khiến cho học sinh được kiểm tra và cả lớp hoang
mang, mơ hồ và “sợ kiểm tra”, giảm hưng phấn học tập.
12

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
* Đặc biệt ở khâu này cần chú ý kiểm tra nhận xét cách soạn và bài soạn của
học sinh. Có những em chép nguyên xi sách giải mà không hiểu gì. Đối với những
trường hợp này giáo viên cần phê bình và hướng dẫn các em sử dụng sách giải như
thế nào cho hiệu quả. Điểm của bài soạn có thể chấm riêng nếu cần thiết. Tuy
nhiên để đảm bảo tính công bằng, tạo phong trào soạn bài đầy đủ và hiệu quả thì
cần thu vở soạn của các em về chấm theo đợt
2.3. Sau khâu kiểm tra bài cũ là giới thiệu bài mới:
Tuỳ theo từng thể loại và nội dung, thời gian bài dạy để có cách giới thiệu
bài hợp lý. Tuy nhiên để gây hứng thú, gợi trí tò mò và gợi cảm xúc cho học sinh
chúng ta có thể dùng tranh ảnh và những hiểu biết thực tế để giới thiệu hoặc hỏi
học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài “Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La - Phông Ten”(Ngữ văn 9) chúng ta có thể giới thiệu bài bằng cách treo bức tranh (minh
họa hình ảnh chó sói và cừu bên bờ suối) ở sách giáo khoa (phóng to) lên bảng và

hỏi học sinh:
+ Bức tranh minh hoạ hình ảnh gì?
+ Em có những hiểu biết gì về hai loài vật này?
+ Nhờ vao đâu mà em biết ? (ví dụ: Qua chương trình thế giới động vật ở
vô tuyến truyền hình hoặc qua phim hoạt hình “Chó sói và chuột Mích – ki”). Từ
đó giới thiệu vào bài văn:
Hay là : Khi dạy bài “Chiếu Dời đô” của Lý Công Uẩn,(Ngữ văn 8) chúng
ta có thể giới thiệu bài bằng cách treo bức tranh “Tái hiện lễ dời đô năm 1010”
lên bảng và hỏi học sinh:
+ Bức tranh này minh hoạ điều gì?
13

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
+ Nhờ vào đâu mà em biết ?
Từ đó giáo viên giới thiệu vào bài.
2.4. Cách tiến hành đọc - tiếp xúc văn bản:
Nên cho học sinh tìm hiểu vài nét chính về tác giả và tác phẩm trước khi đọc
văn bản vì những hiểu biết khái quát đó sẽ giúp các em dễ khám phá tác phẩm hơn
khi đọc và có tâm thế tốt cho những hoạt động tiếp theo. Có nhiều cách đọc tác
phẩm như: Đọc diễn cảm, đọc lượt qua, đọc phân vai hoặc đọc thầm, ... tuỳ theo
từng văn bản và thời gian cho phép để hướng dẫn, triển khai và uốn nắn cho học
sinh cách đọc phù hợp. Giáo viên nên đọc trước một lượt hoặc một đoạn để làm
mẫu. Đọc với những văn bản quá dài không thể đọc hết ở lớp nên học sinh tóm tắt
đoạn bị lược để qua đó kiểm tra việc đọc ở nhà của học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài “Làng” của Kim Lân giáo viên đọc mẫu một đoạn sau đó
lần lượt mời hai học sinh lần lượt đọc hết phần chữ lớn. Còn phần chữ nhỏ là
phần lược trích giáo viên giành để hỏi học sinh bằng cách yêu cầu học sinh gấp

sách lại và trả lời câu hỏi:
- Theo các em đoạn bị lược trích kể lại sự việc gì?
- Sự việc đó chủ yếu liên quan đến nhân vật nào trong tác phẩm?
Khi tìm hiểu về thể loại giáo viên không nên nhập nhằng giữa thể loại, kiểu
văn bản và phương thức biểu đạt. Cần giúp học sinh phân biệt ba khái niệm này để
các em không lúng túng khi tìm hiểu văn bản và khi ứng dụng vào việc làm văn.
Ví dụ: Khi tìm hiểu văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương”(Ngữ văn
9) giáo viên đặt câu hỏi:
- Truyện được viết theo thể loại nào?
- Phương thức biểu đạt chính của truyền là gì?
14

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
- Qua tác phẩm này em hiểu thêm được gì về thể loại truyện truyền kỳ?
Tìm hiểu đề tài, chủ đề và đại ý của tác phẩm hoặc đoạn trích trước khi phân
tích cũng là một việc làm cần thiết đối với nhiều loại văn bản như: Tiểu thuyết,
truyện ngắn, thơ trung đại, thơ hiện đại,.... giúp học sinh có thói quen tìm hiểu bài
bản một tác phẩm và thói quen liên hệ, mở rộng với những văn bản đã học.
Ví dụ : Khi dạy bài “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ
nên đặt những câu hỏi như: Truyện viết về đề tài gì? Những tác phẩm nào em đã
học cũng viết về đề tài đó? Nội dung chính của truyện là gì? , từ đó rút ra Đại ý
2.5. Cách thức tiến hành phân tích văn bản:
Khi phân tích văn bản, một hoạt động quan trọng chiếm nhiều thời gian
nhất, người giáo viên cần làm chủ kiến thức để thoát lý giáo án, có thời gian cho
việc hướng dẫn, gợi mở để học sinh khám phá tác phẩm và để có những đánh giá,
nhận xét và kết luận chính xác, sâu sắc, dễ hiểu, có cách ghi ngắn gọn mà đầy đủ,
tích hợp cần thiết. Điều đặc biệt cần chú ý nhất khi phân tích văn bản là cách đặt

câu hỏi và lựa chọn đối tượng trả lời. Một hệ thống câu hỏi mà giáo viên thường
sử dụng là đi từ dễ đến khó, từ “tìm” đến “hiểu”. Đối với những câu hỏi để “tìm”
như tìm từ ngữ, tìm chi tiết, tìm hình ảnh, ....thường là những câu hỏi dễ cho nên
cần gọi những học sinh yếu trả lời để các em có cơ hội để tham gia hoạt động và
bộc lộ mình. Đối với những câu hỏi để rút ý, tìm ra “ chân lý” thì người giáo viên
cần dùng những câu hỏi phụ, gợi dẫn, gợi mở để các em dễ phát hiện, dễ khái
quát. Chú ý cần nêu những câu hỏi có vấn đề như:
Tại sao nhà thơ Chế Lan Viên lại dùng hài câu thơ:
“Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con”
15

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
để kết thúc đoạn thơ thứ ba?
Hoặc: Tại sao trong câu thơ đầu của bài thơ “Viếng lăng Bác” Viễn Phương
không dùng từ “viếng” mà lại dùng từ “thăm”?
Có nhiều cách tổ chức, hướng dẫn phân tích tác phẩm. Ngoài cách làm
truyền thống là phân tích từng đoạn, từng phần, từng vấn đề trong tác phẩm hoặc
đoạn trích thì có thể dùng sơ đồ đề phân tích, khái quát
Khi dạy các văn bản nghị luận, giáo viên có thể dùng sơ đồ câm để học sinh
lên điền các luận điểm, luận cứ. Từ đó tích hợp với tập làm văn ở cách làm văn
nghị luận.
Khi phân tích tác phẩm thơ, cần đi từ văn đến ý thơ vì thơ là chủ yếu dùng
hình ảnh, từ ngữ, giọng điệu, kết cấu, ... để bộc lộ nội dung tư tưởng. Cho nên khi
phân tích thơ cần khai thác các từ ngữ hình ảnh, giọng điệu để đi đến nhận xét
khái quát.
Ví dụ: Khi phân tích đoạn trích Chị em Thuý Kiều: trọng “Truyện Kiều”

của Nguyễn Du(Ngữ văn 9), giáo viên nêu các câu hỏi như:
- Đoạn trích có tất cả bảo nhiêu câu thơ?
- Trong bốn câu thơ đầu em chú ý nhất đến hình ảnh nào?
- Những hình ảnh đó có ý nghĩa gì? Tác giả sử dụng nhữung nghệ thuật gì
trong mỗi hình ảnh?
- Qua đó em hiểu trọng tâm của bốn câu thơ đầu là gì?
- Tại sao tác giả tả Vân trước rồi mới tả Thuý Kiều?
- Theo em vì sao tác giả dùng bốn câu thơ để tả Vân nhưng lại dùng đến
mươi hai câu thơ để tả Kiều?

16

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
Những câu hỏi tôi lược dần ở trên là đi từ dễ đến khí, từ văn đến ý. Khi triển
khai dạy theo cách này tôi nhận thấy học sinh say mê phát biểu, xây dựng bài hơn
và hiểu nhanh hơn. Tuy nhiên đối với những câu hỏi khó không phải ở lớp nào các
em cũng giơ tay phát biểu nhiều cho nên tôi trực tiếp tuyên dương những em có
câu trả lời đúng, đôi khi còn cho điểm để khuyến khích cổ động các em. Làm thể
không những các em có hứng thú học mà còn nhớ kiến thức bài học tốt hơn. Đó
cũng là cách để tôi phát hiện học sinh giỏi, học sinh có năng khiếu.
Còn đối với khi dạy văn bản tự sự tôi lại thường đi theo cách ngược lại là đi
từ yến đến văn. Bởi như chúng ta đã biết, văn bản tự sự thường có nội dung dài,
phạm vi phản ánh cũng phong phí và rộng lớn hơn. Cho nên nếu đi từ văn đến ý sẽ
chiến rất nhiều thời gian.
Tuy nhiên tuỳ theo từng đối tượng học sinh trong lớp để có cách đặt câu hỏi
và ghi bảng phù hợp. Với những lớp có nhiều học sinh yếu ít giơ tay phát biểu thì
tôi nên thêm một số câu hỏi gợi mở, dẫn dắt để học sinh dễ phát hiện và suy nghĩ.

Có thể nói hoạt động phân tích văn bản là công việc vất vả và chiếm nhiều
thời gian nhất nhưng lại là trọng tâm của bài dạy học tác phẩm. Bên cạnh cách nêu
câu hỏi để dẫn dắt học sinh tìm hiểu người giáo viên còn phải có những lời nhận
xét, khái quát vấn đề một cách tiếp xúc với văn bản mẫu, được thu nhận thêm vốn
từ ngữ và cách diễn đạt của giáo viên. Đó cũng là mối quan hệ của môn văn với
các phân môn và môn học khác.
2.6. Cách thức tổng kết, đánh giá tác phẩm:
Ở hoạt động này có nhiều cách thực hiện nhưng dù là cách nào cũng phải
phù hợp với nội dung bài học, đối tượng học sinh và thời gian cho phép. Bản thân
tôi thường tiến hành tổng kết bằng cách đưa ra những câu hỏi như:
17

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
- Tác phẩm (đoạn trích) trên có những nội dung gì đáng chú ý?
- Em có suy nghĩ gì trước nhưng vẫn đề mà tác giả đã đatự ra trong tác
phẩm?
- Từ nội dung các tác phẩm (đoạn trích) em hiểu thêm được gì về con người
và cuộc sống?
- Tác phẩm (đoạn trích) có những thành công nào về mặt nghệ thuật?
Ngoài ra có những bài mà nội dung và nghệ thuật đều phong phú thì tôi có
thể thực hiện bằng cách nêu câu trắc nghiệm (ghi sẵn ở bảng phụ hoặc phiếu học
tập) và cho học sinh lên bảng làm hoặc thảo luận nhóm để làm theo từng bàn sau
đó dùng chính bài tập trắc nghiệm đó để củng cố bài học.
Ví dụ:
Khi dạy bài “chị em Thuý Kiều” trong chương trình văn lớp 9, để tổng kết
và củng cố bài tôi đưa ra hai bài trắc nghiệm (hai bảng phụ)
1. Nội dung ý nghĩa của đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” là gì?

A. Khắc học rõ nét chân dung hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều.
B. Ngợi ca vẻ đẹp, tài năng của con người và dự cảm kiếp người tài hoa bạc
mệnh.
C. Thực hiện tư tưởng nhân văn, quan điểm thẩm mỹ tiến bộ, triết lý về con
người của tác giả.
D. Gồm tất cả ba ý trên.
2. Nghệ thuật của đoạn trích trên là gì? Hãy lựa chọn câu trả lời chính xác
và đầy đủ nhất trong số các câu trả lời sau:
A. Bút pháp miêu tả ước lệ cổ điển, các miêu tả tinh tế.

18

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
B. Bút pháp ước lệ tượng trưng, trình tự miêu tả hợp lý, giọng điệu trang
trọng, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị.
C. Bút pháp miêu tả ước lệ, cổ điển. Trình tự miêu tả hợp lý, tinh tế, giọng
điệu trang trọng, ngợi ca.
D. Giọng điệu trang trọng tự nhiên, từ ngữ gợi hình, gợi cảm.
Ngoài ra còn có những bài mà nội dung và nghệ thuật kết hợp chặt chẽ, lô
gíc tôi có thể thực hiện bằng sơ đồ học sau:
VD: Khi học bài: ‘Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn.
Kẻ sơ đồ:
SƠ ĐỒ BÀI HỌC

Mục đích dời đô
( Hoa Lư khônh phù hợp)
Ý tưởng

dời đô.

Nêu lịch sử
(Dời đô phát triển)

Thực tế nhà Đinh, Lê.
( Không dời đô nên suy vong)

Nguyên nhân chọn Đại La
(Hội tụ đủ mọi điều kiện)

Lợi thế của Đại La
(Lý tưởng về mọi mặt)

Sau câu tổng kết đánh giá thường có phần luyện tập. Giáo viên có thể vận
dung ngay chính những câu hỏi trong phần luyện tập để tổng kết hoặc củng cố bài.
Nếu không có thời gian để luyện tập trên lớp thì giáo viên vẫn phải hướng dẫn
cách làm và yêu cầu học sinh về nhà thực hiện. Không nên vì bất cứ lý do gì mà
19

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
bỏ qua phần luyện tập (nếu có) vì như thế sẽ khiến học sinh xem nhẹ khâu thực
hành vận dụng kiến thức đã học ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục.
2.7. Cách thức củng cố bài:
Như chúng ta đã biết dạy văn là cách dạy làm người, thông qua tác phẩm
văn chương để giáo dục con người về tình cảm, đạo đức, lối sống,....chính vì thế ở
phần củng cố bài ngoài mục đích nhằm hệ thống kiến thức bài học con nhằm liên

hệ, mở rộng kiến thức và giáo dục học sinh. Có nhiều cách để củng cố bài mà tôi
thường vận dụng như: nêu câu hỏi, nêu bài tập trắc nghiệm, ...
Ví dụ: Sau khí học xong bài thơ “Bài thơ Tiểu đội xe không kính” của Phạm
Tiến Duật(Ngữ văn 9) em có suy nghĩ gì về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
của nhân dân ta? Bài thơ đã bồi đắp cho em những tình cảm gì?
Hay: Sau khi học xong bài “Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn em có suy nghĩ
gì và tình cảm gì về lịch sử đất nước Việt Nam ta?
Trên đây chỉ là một số cách thực hiện các hoạt động dạy học trong một vài
thể loại cơ bản. Theo tôi thấy dù ở bất cứ thể loại nào thì tất cả các hoạt động dạy
học trên là một chuỗi liền mạnh có tính liên kết, thống nhất rất chặt chẽ. Khi triển
khai tất cả các hoạt động này, để lôi cuốn học sinh tôi rất chú ý đến việc khơi gợi
và nuôi dương cảm xúc của học sinh vì dạy học tác phẩm văn chương là dạy bằng
cả tâm hồn, cảm xúc. Có tạo được không khí giàu cảm xúc thì mới tạo nên cái hay
đảm bảo đúng đặc trưng môn học nghệ thuật.
Ví dụ: Khi dạy bài “Lão Hạc” của nhà văn Nam Cao, có thể khơi gợi, gây
cảm xúc cho học sinh bằng cách giới thiệu bài:
- Theo bức tranh minh hoạ Lão Hạc gầy gò khắc khổ đang vuốt ve “cậu
Vàng” và hỏi: Bức tranh minh hoạ hình ảnh gì? (hình ảnh một người đàn ông và
20

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
một con chó). Em nhận xét như thế nào về hình ảnh một con người được vẽ trong
bức tranh? (đó là một người đàn ông già nua, ốm yếu, khắc khổ và đau thương).
Giáo viên giới thiệu: Đây chính là bức tranh minh hoạ hình ảnh nhân vật
Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Vậy cuộc đời, số phận và tính
cách của nhân vật này như thế nào, mời các em cùng đi tìm hiểu tác phẩm.
Với cách giới thiệu như thế không những gây hứng thú học tập mà còn gợi

cảm xúc, lòng trắc ẩn ở học sinh. Và những cảm xúc, cảm nhận ban đầu đó cũng
sẽ được duy trì, nuôi dưỡng trong suôt quá trình dạy học.
Khi dạy bài “Viếng Lăng Bác” của nhà thơ Viễn Phương khi giới thiệu bài
tôi có thể hát hoặc mở băng cho học sinh nghe một đoạn trong bài hát “Viếng lăng
Bác Hồ” và hỏi học sinh:
Em có cảm xúc gì khi nghe bài hát này?
Sau đó giới thiệu: Đây là một bài hát được phổ nhạc từ bài thơ: “Viếng lăng
Bác” của Viễn Phương - Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Vậy nội
dung bài thơ này như thế nào hôm nay cô và các em sẽ cùng tìm hiểu.
Như vậy để thành công trong quá trình dạy học một tác phẩm văn chương
nghệ thuật, để học sinh yêu thích môn văn, say mê học văn người giáo viên ngoài
vốn kiến thức còn phải có những kỹ năng, phương pháp nghệ thuật dạy học sinh
đọc sáng tạo và hợp lý. Tuy nhiên để có những giờ dạy thành công còn phụ thuộc
vào nhiều yếu tố khách quan như học sinh, điều kiện dạy học, khí hậu thời tiết,...
PHẦN 3: NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Trong quá trình thực hiện nhưng hình thức dạy học như trên tôi nhận thấy
học sinh có nhiều tiến bộ rõ rệt. Các em nhiệt tình và tự giác hơn trong việc chuẩn
bị bài, học bài cũ và hăng say phát biểu xây dựng bài trên lớp. Có nhiều em thích
21

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
và có hứng thú học tập môn văn hơn.Ví dụ như một lớp mà tôi đảm nhiệm môn
ngữ văn năm học 2010- 2011:
Tổng số học sinh: 36 em. Kết quả nhu sau:
Chất lượng
Giỏi
Khá

Trung bình
yếu
Kém

Khảo sát đầu năm
0
4
18
9
5

Kết quả cuối năm
4
10
20
2
0

Bên cạnh đó, đối với bản thân, tôi nhận thấy cũng được nâng cao hơn về vốn
kiến thức, kỹ năng giải tiếp, ý thức trách nhiệm, miền tin và lòng yêu nghề.
PHẦN 4: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Qua quá trình thực hiện đề tài này bàn thân tôi rút ra một số kinh nghiệm
cho công tác dạy học như sau:
- Trước hết muốn thành công ở bất cứ công việc gì, lĩnh vực nào cũng đòi
hỏi phải có lòng say mê tâm huyết, dầy công suy nghĩ, học hỏi tìm tòi khám phá
một cách có hệ thống.
- Đồng thời để có thành công cũng cần đến sự trả nghiệm, ý thức tích luỹ,
vận dụng vốn hiểu biết, vốn sống.
- Là giáo viên dạy văn cần thói quen trau dồi ngôn ngữ, trau chuốt và thận
trọng trong cách dùng từ đặt câu cả khi nói và viết: Coi giáo án là những “ Đứa

con tinh thần” mà mình đã đầu tư nuôi dưỡng bằng cả thời gian, sức lực và trí tuệ.
PHẦN 5: NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
* Đối với nhà trường:
- Nên thành lập một câu lạc bộ sáng tác thơ văn dành cho lứa tuổi thanh
thiếu niên hoạt động theo các chủ đề, chủ điểm của nhà trường và ngành giáo dục.
22

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
những học sinh có bài viết hay sẽ được tuyên dương vào buổi chào cờ đầu tháng
hoặc đầu quý để khuyến khích các em sáng tác.
- Thư viên cần tăng cường thêm các loại sách tham khảo dành cho giáo viên
và học sinh. Tạo điều kiện thuận lợi cho các em khi mượn và trả sách.
* Đối với ngành giáo dục:
Phổ biến và nhân rộng những đề tài có chất lượng để giáo viên có điều kiện
tiếp xúc, học hỏi và rút kinh nghiệm.
G. KẾT LUẬN
Nhờ sự chỉ đạo và giúp đỡ tận tình của Ban giám hiệu nhà trường, của các
thầy cô giáo đồng nghiệp, bản thân đã có một vài thành công nhỏ trong công tác
dạy học môn Ngữ văn nói chung và dạy phân môn Văn nói riêng. Tuy nhiên trong
quá trình thực hiện cũng không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Và những
gì tôi trình bày ở trên có thể cũng chưa thực sự khoa học, bản thân tôi làm tốt hơn
công tác dạy học và giáo dục của mình.
Cuối cùng xin gửi tới quý vị lời chúc sức khoẻ, hạnh phúc và thành đạt.
Xin chân thành cảm ơn!
Eatrang, ngày 3 tháng 2 năm 2012
Người thực hiện


TRƯƠNG THỊ THUÝ HẰNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK Ngữ văn 7,8,9 Nhà xuất bản Giáo dục
23

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS
2. Phương pháp dạy học văn:
Nhón tác giả: Nguyễn Văn Bổn, Phạm Xuân Đạm, Nguyễn Thanh Tứ.
3. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn ngữ văn lớp 9.
Nhóm tác giả: PGS - TS: Vũ Nho.
TS: Nguyễn Thuý Hồng.
4. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn Ngữ
văn lớp 7.
Nhóm tác giả: PGS - TS: Vũ Nho.
TS: Nguyễn Thuý Hồng.
TS: Nguyễn Trọng Hoàn.
5. Thiết kế bài giảng Ngữ văn 9.
Tác giả: TS Nguyễn Văn Đường.
Thạc sỹ: Hoàng Dân.
6. Phân phối chương trình THCS môn ngữ văn - Bộ giáo dục và đào tạo.
HẾT

24

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng



MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY PHÂN MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS

25

Ng ười th ực hi ện: Tr ương Th ị Thuý H ằng


×