Tải bản đầy đủ (.docx) (43 trang)

Hệ thống văn bản về đạo đức công vụ, thực trạng và giải pháp nâng cao đạo đức công vụ trong tình hình hiện nay.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (356.12 KB, 43 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG

ĐỀ TÀI
HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ VÀ
THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA NGƯỜI CÁN BỘ CÔNG CHỨC
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở NƯỚC TA
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Nghi thức nhà nước
Giảng viên giảng dậy: ThS : Đinh Thị Hải Yến
Sinh viên thực hiện : Lữ Tuấn Vũ
Lớp: Đại học Quản trị văn phòng 13A
Khóa : 2013- 2017

Hà Nội, tháng 05 năm 2016

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG

ĐỀ TÀI
HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ VÀ
THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA NGƯỜI CÁN BỘ CÔNG CHỨC
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ Ở NƯỚC TA
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Nghi thức nhà nước
Giảng viên giảng dậy: ThS : Đinh Thị Hải Yến
Sinh viên thực hiện : Lữ Tuấn Vũ
Lớp: Đại học Quản trị văn phòng 13A


Khóa : 2013- 2017

Hà Nội, tháng 05 năm 2016

2


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CBCC

Cán bộ công chức.

XHCN

Xã hôi chủ nghĩa.

ĐNCBCC

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

CBCCVC

Cán bộ, công chức, viên chức.

ĐTCB

Đào tạo cán bộ

ĐTBD

CBCCVC

Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chứ, viên
chức

UBND

Uỷ ban nhân dân

3


4


5


LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đối với người cán bộ, công chức, đạo đức là gốc, là nền tảng để quyết định
mọi vấn đề có liên quan đến chất lượng thực thi công vụ, sinh thời Bác Hồ có dạy
“Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì
cũng khó”.
Đạo đức công vụ của cán bộ, công chức được hình thành và phát triển phải
là một quá trình lâu dài, liên tục và thống nhất, bao gồm các ảnh hưởng khách quan
và tác động chủ quan của toàn xã hội. Trong những tác động xã hội ảnh hưởng đến
việc rèn luyện, giáo dục đạo đức công vụ có những tác động của nhà trường, của
các đoàn thể, của gia đình, của các đồng nghiệp, các nhóm bạn, của các cơ quan
văn hoá giáo dục ngoài nhà trường, của các cơ quan thông tin đại chúng trong đó

nhà trường là khâu quan trọng trong việc giáo dục đạo đức công vụ cho người học.
Đạo đức công vụ được hiểu là đạo đức thực thi công vụ của cán bộ, công
chức; là những giá trị và chuẩn mực đạo đức được áp dụng cho một nhóm người
nhất định trong xã hội. Cán bộ, công chức trong lĩnh vực hoạt động cụ thể là công
vụ. Đạo đức công vụ là hệ thống các chuẩn mực quy định nhận thức và hành động
được xem là tốt hay xấu, là nên hay không nên làm trong hoạt động công vụ của
người cán bộ, công chức nhằm xây dựng một nền công vụ trách nhiệm, chuyên
nghiệp và trong sạch, tận tụy, công tâm. Đạo đức công vụ của người cán bộ, công
chức gắn liền với đạo đức xã hội, những chuẩn mực được xã hội coi là giá trị,
nhưng đồng thời đạo đức công vụ là đạo đức nghề nghiệp đặc biệt thực thi công
vụ của cán bộ, công chức, do đó đạo đức công vụ gắn chặt với quyền lợi, nghĩa vụ,
trách nhiệm những điều cán bộ, công chức không được làm, cách ứng xử của cán
bộ, công chức khi thi hành công vụ do pháp luật quy định. Vì vậy, đồng thời với
6


những cố gắng để biến những quy định pháp luật đối với cán bộ, công chức thành
những chuẩn mực đạo đức công vụ, nêu cao tính tự giác, trách nhiệm phục vụ nhân
dân của cán bộ, công chức, cần thể chế hoá những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức
thàn những quy phạm pháp luật.
Đây là một đề tài hay và là vấn đề nóng trong trong các tổ chứ
c, hiện nay tôi đang học tại trường Đại học Nội vụ Hà Nội và định hướng bản
thân mình vào hoạt động trong các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Hiện nay các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và đia phương cũng
đang thực hiện hoat động nâng cao đạo đức trong thực hiên công vụ.
Hiện nay tôi là một sinh viên của ngành Quản trị văn phòng trường Đại học
Nội Vụ, theo tôi thấy đạo đức công vụ là vấn đề cần được chú trọng và hết sức
quan trọng trong hoạt động của cơ quan,tổ chức. Chính vì vậy mà tôi đã lựa chọn
đề tài Hệ thống các văn bản quy định về đạo đức ông vụ và thực trạng thực
đạo đức công vụ của người cán bộ công chức và những giải pháp nâng cao

đạo đức công cụ ở nước ta”” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài : đạo đức công vụ của cán bộ, công chức
các cơ quan nhà nước và các đơn vị hành chính sự nghiệp. Đề tài tập chung
nghiên cứu vấn đề đạo đức công vụ, thực trạng của đạo đức công vụ và đưa ra các
giải pháp khắc phục nhằm nâng cao vấn đề đạo đức công vụ trong văn hóa công
sở của nước ta hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Chủ đề đạo đức công vụ là một chủ đề lớn, bao gồm đạ đức công vụ của
cán bộ, công chức của cá nhân khi được nhà nước trao quyền thực thi công vụ. vì

7


vậy đề tài tập chung nghiên cứu về đạo đức công vụ của cán bộ công chức, viên
chức trong các cơ quan hành chính.
4. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu lý luận về đạo đức công vụ, đạo đức công vụ và của cán bộ,
công chức, trong thực thi đạo đức công vụ. và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động thực thi công vụ của cán bộ công chức, là cơ sở để đề ra nhiệm
vụ xây dựng hệ thống quy chuẩn đạo đức cong vụ góp phần nâng cao chất lượng
cán bộ, công chức trong các cơ quan ở trung ương và địa phương .
5. Mục tiêu nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứ làm rõ những vấn đề về lý luận về đạo đức công vụ
trong nhà nước pháp quyền; đánh gía thực trạng đạo đức công vụ của cán bộ, công
chức, viên chức, ở việt nam hiện nay; đề xuất một số phương hướng, giải pháp
nhằm nâng cao đạo đức công vụ ở nước ta hiện nay.
6.Lịch sử nghiên cứu.
- Công vụ, công chức nhà nước của tác giả Phạm Hồng Thái, ấn hành năm
2004.

- vấn đề đạo đức của cán bộ lãnh đạo quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay,

luận án tiến sỹ triết học, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2005 của Mai Xuân Hợi.
- Đạo đức công chức và xây dựng đạo đức công chức ở nước ta hiện nay.
Luận văn thạc sỹ của Lê Thị Hằng – viện triết học năm 2008.
- Trách nhiệm công chức , viên chức và đạo đức công vụ ở nước ta, Luận
án tiến sỹ của Cao Minh Công – Viện khoa học xã hội Việt Nam năm 2012.

8


- Pháp lệnh cán bộ,công chức. Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí
số:48/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005: Luật hống tham nhũng 2005; Quy
chế văn hóa công sở tại các cơ quan nhà nước ban hành kèm theo quyết định số:
129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007. Luật cán bộ, công chức năm 2008;
Luật viên chức số : 58/2010/QH 12 ngày 15 tháng 11 năm 2010. Chỉ thị số 03/CTTW ngày 14/5/2011 về việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh vàThủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 1973/CT-TTg ngày
07/11/2011, về việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh.
7. Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành được đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp như:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp quan sát.

8. Đóng góp đề tài.

Hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức công vụ
cho cán bộ công chức. Hệ thống được chuẩn mực đạo đức công vụ cần giáo dục
cho cán bộ công chức.
Là cơ sở để định hướng đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ để đáp ứng
nhu cầu xã hội , nâng cao tính hiệu quả công tác quản lý .

9


Đề tài đã chỉ ra những ưu điểm, kết quả đã đạt được và những hạn chế của
công tác nâng cao ý thức trách nhiệm về đao đức công vụ cho CBCC.
Đáp ứng được yêu cầu tìm kiếm tài liệu nâng cao tính hiểu biết cho sinh
viên nghành quản lý nhà nước và đội ngũ CBCC khu vực hành chính.
9. Cấu trúc của đề tài
Chương 1: Những lý luận chung về đạo đức công vụ.
Chương 2: Thực trạng đạo đức của cán bộ công chức trong thực thi công
vụ
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đạo đức công vụ ở
Việt Nam hiện nay.

10


CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ
1.1Công vụ công chức và đạo đức công vụ.
1.1.1 khái quát về công vụ.
Công vụ là khái niệm mang tính lịch sử được sử dụng rộng rãi trong khoa học
chính trị, nhất là trong hoạt động nhà nước. Công vụ là thuật ngữ để chỉ một dạng
hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do các công chức viên chức nhà nước

tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của
nhà nước, phục vụ lợi ích của nhà nước và xã hội.
Khái niệm công vụ gắn chặt vói nền hành chính nước ta. Là một loại lao
động đặc thù thể hiện bộ phận quản ly nhà nước : thực thi pháp luật ; đưa pháp
luật vào đời sống ; Quản lý và sử dụng hiệu quả công sản và ngân sách nhà nước
phục vụ cho nhân dân và xã hội. Đề cập đến công vụ là đề cập đến trách nhiệm
của công chức thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ nhân dân và
xã hội. Về mặt pháp lý trách nhiệm thường được xem xét trong mối quan hệ thống
nhất giữa quyền và nghĩa vụ. Do đó công vụ chính là trách nhiệm của chủ thể
quyền lực công thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo qui định của pháp luật. Với
ý nghĩa quan trọng như vậy, bất kỳ nhà nước nào cũng xây dựng một nền công vụ
có hiệu lực, hiệu quả và nhấn mạnh đến chất lượng công vụ. Các quốc gia có thể
chế chính trị và tổ chức bộ máy khác nhau nên quan niệm về công vụ cũng có
điểm khác nhau. Tuy nhiên bản chất của hoạt động công vụ đều giống nhau.
Khái niệm công vụ có thể được xem xét và tiếp cận dưới nhiều góc độ và
phạm vi khác nhau. Thứ nhất có thể hiểu hoạt động của công chức thực hiện các
hoạt động hành chính nhà nước. Thứ hai, công vụ được hiểu là hoạt động của công
chức trong các cơ quan nhà nước , đơn vị sự nghiệp của nhà nước và lực lượng vũ
trang. Thứ 3 công vụ được hiểu là công việc của nhà nước, có nghĩa hoạt động
11


thiết chế , tổ chức nhà nước đều thực hiện công vụ. Thứ tư, công vụ được hiểu là
sự hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức hoạt động trong mọi cơ quan đơn vị
sự nghiệp của nhà nước và cả cán bộ, chiến sĩ làm việc trong lực lượng vũ trang.
Công vụ là một hoạt động do công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo
quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân
dân và xã hội( Từ điển bách khoa toàn thư wikipedia).Mục đích của công vụ là
phục vụ nhân dân và xã hội.Nội dung hoạt động công vụ gắn với việc thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quản lý mọi mặt của đời sống xã hội,

đồng thời thực hiện chức năng tổ chức phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
không vì mục đích lợi nhuận.Chủ thể thực thi công vụ là công chức.
Hoạt động công vụ không chỉ thuần tuý mang tính quyền lực nhà nước, mà còn
bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước uỷ
quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân dân. Các hoạt động này đều do công chức,
nhân danh nhà nước tiến hành Nó bao gồm các hoạt động nhân danh quyền lực và
các hoạt động của các tổ chức được nhà nước uỷ quyền. Ở các nước trên thế giới,
khi đề cập đến công vụ, người ta ít nói đến yếu tố quyền lực nhà nước mà thường
chỉ nói tới công chức nhân danh pháp luật hoặc nhân danh nhà nước. Bởi lẽ, pháp
luật là công cụ chính, chủ yếu do nhà nước ban hành.Công vụ được tiến hành theo
chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của nhà nước và tuân theo pháp luật.Hoạt động
công vụ mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp.
Công chức: Theo quy định tại Khoản 2, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức: “Công
chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức
danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân
dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;
trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
12


chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi
chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo
quy định của pháp luật”.
Tổng hợp số liệu thống kê về đội ngũ của Bộ Nội vụ, hiện nay, số lượng
viên chức khoảng 1,6 triệu người, CBCC khoảng 580.000 người kể cả số CBCC
cấp xã. Cơ cấu đội ngũ CBCC có nhiều thay đổi, so với trước đây số chuyên viên

cao cấp đã phát triển nhiều, nhưng về cơ bản có cơ cấu sau:
- Chuyên viên cao cấp: 3,7%,
- Chuyên viên chính: 10,1%,
- Chuyên viên: 46,3%,
- Cán sự: 34%,
- Nhân viên: 5,9%.
Đội ngũ CBCC được phân theo trình độ đào tạo như sau:
- Trình độ đại học trở lên: 60.0%
- Trình độ trung cấp: 34.0%
- Trình độ phổ thông, sơ cấp: 6.0%

13


Số CBCCVC kể cả lực lượng vũ trang hiện nay chiếm khoảng gần 3% tổng
dân số. Nhìn chung, đội ngũ CBCCVC hiện nay phần nào đáp ứng được nhu cầu
ngày cao của công vụ từng bước chuyển đổi nền hành chính theo hướng phục vụ,
hướng trọng tâm vào người dân, doanh nghiệp.
1.1.2 Khái niệm về đạo đức công vụ
Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã
hội, của một tập hợp người nhất định về thế giới, về cách sống. Nhờ đó con người
điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc,
chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người
trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin
cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Từ khái
niệm trên, chúng ta thấy đạo đức có một số đặc trưng sau: Đạo đức là một hình
thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội, bị chi phối bởi điều kiện kinh tế - xã
hội. Đạo đức là tiêu chuẩn phản ánh mối tương quan giữa lợi ích chung của xã hội
và lợi ích riêng của từng người, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Đạo đức

được thể hiện ở hành vi đạo đức mang tính tự giác, tự nguyện và vì lợi ích của
người khác
Đạo đức bao gồm các yếu tố cấu thành là: Ý thức đạo đức, hành vi đạo đức
và quan hệ đạo đức. Ý thức đạo đức Con người không thể sống bên ngoài các mối
quan hệ xã hội. Để tồn tại, con người phải dựa vào nhau trên cơ sở những lợi ích
cá nhân phải phù hợp với những lợi ích của cộng đồng. Những nguyên tắc bảo
đảm cho sự phù hợp của những quyền lợi ấy khi đã trở thành tình cảm, quan
điểm, quan niệm sống chính là ý thức đạo đức. Mọi hành vi được thực hiện do
thôi thúc của một động cơ nào đó. Khi hành vi được thực hiện do thôi thúc của ý
thức đạo đức thì nó được gọi là hành vi đạo đức. Hành vi đó thể hiện ý thức đạo
14


đức và văn hoá đạo đức của cá nhân. Hành vi đạo đức tác động trực tiếp đến con
người và gắn liền với ý thức đạo đức. Quan hệ đạo đức là những quan hệ đã được
ý thức đạo đức điều chỉnh giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tập thể và
xã hội. Những quan hệ này thường được hình thức hoá bằng những nghi thức xã
hội, những phong tục, tập quán... vì thế một mặt nó thể hiện ý thức đạo đức, mặt
khác nó đóng vai trò hình thành và củng cố ý thức đạo đức.
Đạo đức công vụ trước hết là một dạng của đạo đức nói chung, được dựa trên
đạo đức nói chung. Đạo đức công vụ là một phạm trù tương đối động rộng, được
hiểu là đạo đức thực thi công vụ của cán bộ, công chức; là những giá trị và chuẩn
mực đạo đức được áp dụng cho một nhóm người nhất định trong xã hội, cán bộ,
công chức trong lĩnh vực hoạt cụ thể là công vụ. Đạo đức công vụ là hệ thống các
chuẩn mực quy định nhận thức và hành động được xem là tốt hay xấu, là nên hay
không nên làm trong hoạt động công vụ của người cán bộ, công chức nhằm xây
dựng một nền công vụ trách nhiệm, chuyên nghiệp và trong sạch, tận tụy, công
tâm. Đạo đức công vụ bao hàm đạo đức, lối sống, cách xử sự của cán bộ, công chức
không chỉ trong các mối quan hệ xã hội thông thường mà còn trong phạm vi thực
hiện nhiệm vụ công.

1.1.3 Vai trò của đạo đức công vụ.
Đạo đức có vai trò quan trọng trong đời sống của mỗi cá nhân, nhóm và tập
thể, tổ chức: Chức năng điều chỉnh hành vi, Chức năng giáo dục, Chức năng nhận
thức. Trước hết ta cần khẳng định đại bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức của chúng
ta đã vượt qua nhiều khó khăn thử thách, cố gắng thực hiện và phấn đấu hoàn thành
nhiệm vụ, giữ vững đạo đức, phẩm chất cách mạng , có ý thức tổ chức kỷ luật tinh
thần trách nhiệm, chấp hành phân công công tác tổ chức, lối sống lành mạnh, giản
di, gắn bó với nhân dân. Mặc dù còn nhiều khó khăn và tác động phức tạp của nền
kinh tế thị trường nhưng đội ngũ cán bộ, công chức đã góp phần đóng vai trò quyết
định trong những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước.
15


Vậy đạo đức công vụ có vai trò cực kì quan trọng phù hợp với điều kiện cụ
thể và thể chế chính trị ở Việt Nam. Bên cạnh đó, việc quy định công chức trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập là phù hợp với Hiến pháp
của Việt Nam, thể hiện được trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức cung cấp
các dịch vụ công thiết yếu và cơ bản cho người dân, bảo đảm sự phát triển cân đối
giữa các vùng, lãnh thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêu dân chủ và
công bằng xã hội.
Tuy nhiên, vấn đề đạo đức, lối sống hiện nay trong một bộ phận không nhỏ
cán bộ, công chức đang bị suy thoái với những biểu hiện khác nhau như: sa vào
chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa
địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc, né tránh, thiếu bản
lĩnh đấu tranh với những hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Chưa thực sự lấy
việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu, làm thước đo mức độ và kết quả
thực hiện nhiệm vụ của mình. Lợi dụng chức vụ, vị trí để ức hiếp gây khó dễ với
người dân trong việc thực hiện các thủ tục hành chính. Ngoài ra, số lượng cấn bộ
công chức bị xử lý kỷ luật những năm gần đây ngày càng tăng… Thực trạng này
đã và đang ảnh hưởng đến uy tín và làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

1.2 Hệ thống các văn bản quy định về đạo đức công vụ của cán bộ, công
chức.
1.2.1Hệ thống văn bản quy định đạo đức công vụ
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đọa đực, nất là đạo
đức công vụ của người công chức. Đạo đức theo quan điểm của người là đạo đức
mới, đạo đức cách mạng, coi đạo đức là gốc nền tảng của cách mạng.
Đảng ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đực và giáo dục đạo đức và
giáo dục đạo đức chi nhân dân, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức. đảng ta coi văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội mà đạo đức là một yếu tố cấu thành quan trọng
16


của nó.Thể chế hóa quan điểm của đảng, nhà nước đã ban hành nhiều quy định về
đạo đức công chức.
Sắc lệnh số 76/SL của Chủ Tịch nước : Sắc lệnh ban hành Quy chế Công
chức(20/5/1950). Quy chế công chức, Hiến pháp năm 1992; Pháp lệnh cán bộ,công
chức. Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí số:48/2005/QH11 ngày 29 tháng 11
năm 2005: Luật hống tham nhũng 2005; Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan
nhà nước ban hành kèm theo quyết định số: 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm
2007. Luật cán bộ, công chức năm 2008; Luật viên chức số : 58/2010/QH 12 ngày
15 tháng 11 năm 2010. Chỉ thị số 03/CT-TW ngày 14/5/2011 về việc tiếp tục đẩy
mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vàThủ tướng Chính
phủ đã ban hành Chỉ thị 1973/CT-TTg ngày 07/11/2011, về việc tiếp tục đẩy mạnh
học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Ngoài ra đạo đức công vụ còn được quy định rõ tại những ngành cụ thể như:
Luật công an nhân dân số: 73/2014/QH13 ngày 07/01/2015. quy định về
nguyên tắc tổ chức, hoạt động; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ, chính
sách đối với Công an nhân dân.
Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo : Ban hành
Quy định về đạo đức nhà giáo.

Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam số 16/1999/QH10 ngày 21 tháng
12 năm 1999 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2000, được sửa
đổi, bổ sung . Luật số 19/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2008; . Luật số 72/2014/QH13 ngày 27 tháng 11
năm 2014 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sĩ quan Quân đội
nhân dân Việt Nam, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.

17


Đồng thời, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức của một số tổ chức, Bộ,
ngành đã được ban hành như: Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức
làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; Quy tắc ứng xử của cán bộ, công
chức, viên chức ngành văn hóa, thể thao và du lịch; Quy tắc ứng xử của cán bộ,
công chức, viên chức ngành giao thông vận tải; Quy tắc ứng xử của cán bộ, công
chức, viên chức làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn; Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong
các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Nội vụ; Quy tắc ứng xử của cán
bộ, công chức, viên chức Bộ Tư pháp.
1.2.2 Nội dung của những quy định đạo đức công vụ
Cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là sự ra đời của hệ thống pháp luật mới. Với
bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân, những giá trị đạo đức nghề nghiệp
hướng tới xây dựng một nền công vụ mới, phục vụ nhân dân được chú trọng, hình
thành và phát triển trên nền tư tưởng đạo đức mới, pháp luật mới. Trong hệ thống
pháp luật mới đã xuất hiện và ngày càng hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp
luật về công chức, công vụ. Nhiều nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức mới của xã hội
mới được thể chế hóa thành những quy phạm pháp luật cho chuẩn mực hành vi của
cán bộ, công chức trong thi hành công vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xây

dựng nền công vụ mới, gắn với nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Quyền lực nhà nước liên quan trực tiếp đến nền công vụ, được phản ánh qua
một trong những nội dung cốt yếu của nền công vụ, đó là đội ngũ cán bộ, công
chức. Bất kỳ nhà nước nào cũng phải định ra những chuẩn mực đạo đức trong nền
công vụ của mình. Ngoài những nội dung chuẩn mực mà nhiều quốc gia sử dụng
tương tự như nhau, thì tuỳ theo đặc điểm văn hoá, tâm lý xã hội... mỗi quốc gia lại
có những chuẩn mực đạo đức đặc thù riêng trong nền công vụ của mình. Chuẩn
18


mực đạo đức công vụ của cán bộ, công chức Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Nhà nước và nền công vụ nước ta coi là “cái nền”, “cái gốc” của đội ngũ cán
bộ, công chức và được gói gọn trong 4 chữ “cần”, “kiệm”, “liêm”, “chính”, suy
rộng ra là “nhân, nghĩa, liêm, trí, dũng, tín”. Ngay từ năm 1950, trong điều kiện
khó khăn, gian khổ của công cuộc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc
lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam. Với văn bản
này có thể nói, đây là lần đầu tiên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành
một hệ thống các quy phạm pháp luật khá hoàn chỉnh, làm cơ sở pháp lý cho việc
xây dựng đội ngũ công chức cách mạng Việt Nam. Trong đó, tại Lời nói đầu, nội
dung về công chức và đạo đức công vụ đã được thể hiện rất rõ: “Công chức Việt
Nam là những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền
nhân dân… Công chức Việt Nam phải đem tất cả sức lực và tâm trí, theo đúng
đường lối của Chính phủ và nhằm lợi ích của nhân dân mà làm việc”. Điều 2 của
Quy chế quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ nhân dân, trung thành với
Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có
hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước. Công
chức Việt Nam phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Điều 3 Quy chế công
chức Việt Nam quy định quyền lợi của công chức và tại các điều tiếp theo quy định
việc tuyển dụng, tổ chức, quản trị, sử dụng công chức. Từ những quy định trên có
thể thấy, ngay trong Quy chế công chức đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, Nhà

nước ta đã nêu lên những chuẩn mực đạo đức pháp lý rất quan trọng đối với công
chức nhà nước. Lần đầu tiên những giá trị đạo đức truyền thống: cần, kiệm, liêm,
chính... được thể chế hoá thành những giá trị chuẩn mực pháp lý đối với công chức
Việt Nam. Điều này có ý nghĩa quan trọng và vượt qua thời gian, đến nay những
quy định này vẫn còn nguyên giá trị.
Kế thừa và phát huy những quy định pháp luật về công chức và đạo đức
công vụ và nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng và kiện toàn đội ngũ công chức trong
19


tình hình mới, Hiến pháp năm 1980 quy định tại Điều 8: “Tất cả các cơ quan nhà
nước và nhân viên nhà nước phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, liên hệ chặt
chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, phát huy dân
chủ xã hội chủ nghĩa. Nghiêm cấm mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.”
Như vậy, với quy định của Hiến pháp 1980, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt
Nam, Nhà nước ta đã ban hành những chuẩn mực về đạo đức. Pháp lý cho công
chức và cơ quan nhà nước trong đạo luật gốc, đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý
cao nhất. Hiến pháp 1992 tại Điều 8 cũng quy định: “Các cơ quan nhà nước, cán
bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ
chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên
quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”.
Như vậy với quy định này, Hiến pháp 1992 đã kế thừa Hiến pháp 1980 nhưng đồng
thời phát triển thêm lên để không ngừng hoàn thiện những nguyên tắc, những quy
định hiến định đối với đạo đức công vụ và các chuẩn mực pháp lý cho công chức
nhà nước.
Căn cứ vào Hiến pháp 1992, để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có
phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ, năng lực và tận tụy phục vụ nhân dân, trung
thành với Tổ quốc, Nhà nước ta đã ban hành Luật cán bộ, công chức, trong đó,
những chuẩn mực đạo đức - pháp lý được thể hiện một cách tập trung và rất cụ thể
ở các quy định về nghĩa vụ của công chức, như: trung thành với Đảng Cộng sản

Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ
quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân; liên hệ
chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; chấp
hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước. Luật cán bộ, công chức cũng quy định: trong khi thi hành công vụ, cán
bộ, công chức có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp
20


hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền
khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí
mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn
kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm
tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên. Đối với cán bộ,
công chức là người đứng đầu thì còn phải thực hiện các nghĩa vụ như: chỉ đạo tổ
chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của
cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của
cán bộ, công chức; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng,
quan liêu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về để xảy ra
quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tổ chức thực hiện
các quy định pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hoá công sở trong cơ quan, tổ chức,
đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có
hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây
phiền hà cho công dân... Với việc ban hành Luật cán bộ, công chức, chế định công
chức và đạo đức công vụ đã có bước phát triển và hoàn thiện mới, góp phần xác lập
các chuẩn mực đạo đức - pháp lý cho cán bộ, công chức Việt Nam trong tiến trình
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh. Luật Phòng, chống
tham nhũng cũng có những quy định phản ánh những nội dung về chuẩn mực công
chức, công vụ, trong đó xác định cụ thể cán bộ, công chức là một trong những đối

tượng là người có chức vụ, quyền hạn. Xác định tham nhũng là hành vi của người
có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn này để tham ô, hối lộ hoặc
cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, tập
thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. Những hành
vi tham nhũng được xác định là: tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa; nhận hối lộ; lợi
dụng chức quyền để đưa hối lộ, môi giới hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử
dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa... Để đảm bảo các nguyên tắc về chuẩn mực
đạo đức trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức và nhằm chống lãng phí,
21


thực hành tiết kiệm ngân sách nhà nước, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
quy định trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí như: thực hiện công vụ được giao đúng quy định của pháp luật, nội quy,
quy chế của cơ quan, tổ chức, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; sử
dụng tiền, tài sản nhà nước được giao đúng mục đích, định mức, tiêu chuẩn, chế độ
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; tham gia giám sát, đề xuất các biện
pháp, giải pháp thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan, tổ chức và trong
lĩnh vực công tác được phân công, kịp thời phát hiện, tố cáo, ngăn chặn và xử lý
hành vi gây lãng phí theo thẩm quyền. Ngoài ra Luật cũng quy định cán bộ, công
chức có hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức như: khiển trách; cảnh
cáo... buộc thôi việc. Chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức cũng được quy
định trong thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan khi thực thi công vụ.
Trong quan hệ giải quyết công việc với công dân, tổ chức, cán bộ, công chức phải
làm việc đúng thẩm quyền, không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây khó
khăn, phiền hà. Cán bộ, công chức không tiếp nhận và giải quyết công việc của
công dân, tổ chức tại nhà riêng. Cán bộ, công chức phải có trách nhiệm bảo vệ bí
mật nhà nước, bí mật công tác và bí mật nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo của
công dân, tổ chức theo quy định của pháp luật. Trong hoạt động ở doanh nghiệp

nhà nước và thực hiện dân chủ ở xã cũng có những văn bản quy phạm pháp luật
quy định chuẩn mực đạo đức cán bộ, công chức, viên chức khi thi hành công vụ...
Các chuẩn mực về công chức và đạo đức công vụ đã được nhà nước ban hành dưới
các hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Từ những nội dung cơ bản này, Chính
phủ và chính quyền các cấp, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nhà nước đã
ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thực hiện và quản lý sâu
rộng hơn, cụ thể hơn trong các hoạt động của nền công vụ. Đó là các quy định pháp
luật về xây dựng cơ chế tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ, công chức một cách minh
bạch; những quy định nhằm tăng cường tính minh bạch thông qua việc công khai
22


và giám sát đối với tài sản và trách nhiệm cá nhân, hoặc các quy định nhằm nâng
cao đạo đức công vụ, hạn chế tiêu cực như sách nhiễu, vòi vĩnh, hối lộ...
Tiểu kết.
Đạo đức công vụ là đạo đức thực thi công vụ của cán bộ, công chức;
là những giá trị và chuẩn mực đạo đức được áp dụng cho một nhóm người nhất
định trong xã hội cán bộ, công chức trong lĩnh vực hoạt cụ thể là công vụ. Trong
chương 1 những lý luận về đạo đức công vụ đã cho ta thấy đạo đức, đạo đức công
vụ và vai trò hết sức quan trọng của đạo đức công vụ. Hệ thống được những văn
bản của nhà nước ta từ thời kỳ mới khai sinh cho đến thời điểm hiện tại. Chỉ ra
một điểm rằng đạo đức công vụ của nước ta được chú trọng đến công tác công vụ
của “ người công bộc của nhân dân” từ những quy định cho đến luật. Nhiều nguyên
tắc, chuẩn mực đạo đức mới của xã hội mới được thể chế hóa thành những quy
phạm pháp luật cho chuẩn mực hành vi của cán bộ, công chức trong thi hành công
vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu xây dựng nền công vụ mới, gắn với nhà
nước của dân, do dân và vì dân.

23



CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC CỦA CÁN BỘ CÔNG CHỨC TRONG THỰC
THI CÔNG VỤ
2.1 Đạo đức công vụ và văn hóa công sở.
2.1.1 Đạo đức công vụ.
Xây dựng bộ máy hành chính năng động, hiệu quả và trong sạch đang là mục
tiêu chính của công cuộc cải cách hành chính. Để thực hiện được mục tiêu này,
trước hết phải có một đội ngũ công chức giỏi về nghiệp vụ và đáp ứng dược những
chuẩn mực của đạo đức công vụ.Đạo đức công vụ, một khái niệm không mới. Tuy
nhiên, nội dung của nó là gì, đâu là chuẩn mực, cơ quan nào đánh giá và giám sát
lại là những câu hỏi bỏ ngỏ.
Theo Khổng Tử Đạo là Đường đi, hướng đi, lối làm việc, ăn ở. Đức: sống
đúng luân thường là có Đức. Theo Đạo tu thân tới mức hiệp nhất với trời đất, an
hoà với mọi người là có Đức. Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý
của con người, nó thuộc về vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử
dụng trong 3 phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng
phạt đôi lúc còn được gọi giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ
nghĩa nhân văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ
thống này. Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui
tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với
nhau, với xã hội,với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai chúng
được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã
hội. Quan hệ đạo đức là môt kiểu quan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên tính hiện thực
của bản chất xã hội của con người. Quan hệ đạo đức là hình thức liên hệ giữa các
cá nhân với nhau và với xã hội dựa trên ý thức đạo đức và chuẩn mực, lý tưởng đạo
đức. Khi tuân theo những chuẩn mực, lý tưởng đạo đức, hoạt động của con người
24



thường đụng chạm đến lợi ích của nhau. Hoạt động này sẽ dẫn đến sự đáp trả bằng
sự đánh giá hoặc bằng ứng sự, nên đã hình thành quan hệ đạo đức. Đạo đức công
vụ là sự thể hiện đặc thù đạo đức chung của xã hội trong công vụ của đội ngũ cán
bộ, công chức, nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trong quá trình quản lý các
mặt của đời sống xã hội; đó là những quy tắc chuẩn mực, giá trị được xã hội thừa
nhận là tốt đẹp, do quá trình tu dưỡng rèn luyện theo tiêu chuẩn mà có được khi họ
thi hành công vụ.
Đạo đức công vụ trong xã hội hiện đại đã trở thành một điều không thể thiếu
của một quốc gia phát triển, gắn liền với đạo đức phục vụ nhân dân của cán bộ,
công chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:” Cũng như sông phải có nguồn
nước mới, không có nguồn thì song cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây
héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thi dù tài giỏi đến mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân” (trích Hồ Chí Minh toàn tập). Nội dung công
vụ thể hiện trong các quan hệ: Công vụ quan hệ với nhà nước. Công vụ quan hệ
với nhân dân. Công vụ quan hệ với cấp trên. Công vụ quan hệ với cấp dưới. Công
vụ quan hệ với đồng nghiệp (cùng cấp). Đó là những mối quan hệ dựa trên nền tảng
lợi ích cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội.
2.1.2 Văn hóa công sở.
Văn hóa nơi công sở cũng giống như bất cứ một loại hình văn hóa nào khác
là một loạt những hành vi và qui ước mà con người dựa vào đó để điều khiển các
mối quan hệ tương tác của mình với những người khác. Văn hóa này bao gồm cả
những quy định chính thức, được ghi thành văn bản của một công ty và cả những
quy định bất thành văn mà bạn chỉ học được bằng kinh nghiệm.
Văn hóa công sợ ở nước ta thực tế đáng buồn, trong nhiều năm qua sự độc
đoán chuyên quyền trong bộ máy công quyền đã làm giảm sút niềm tin của nhân
25


×