Tải bản đầy đủ (.doc) (73 trang)

Luận văn tốt nghiệp Quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước ở tỉnh nam định

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (371.1 KB, 73 trang )

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của luận văn.
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn mới. Do vậy cần
phải kết hợp chặt chẽ giữa cải cách kinh tế và cải cách hành chính nhằm đẩy mạnh
công cuộc xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa. Điều đó
đòi hỏi nền kinh tế có sự ổn định vững chắc hơn với nhịp độ tăng trưởng cao và lâu
bền.
Đầu tư XDCB có vai trò hết sức to lớn trong việc thúc đẩy kinh tế xã hội ở
mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi địa phương, nó là nền tảng của tăng trưởng và phát
triển bền vững. Chi đầu tư XDCB chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi NSNN hàng
năm.Việc thiết lập cơ chế quản lý chi NSNN, đặc biệt là quản lý chi ngân sách nhà
cho đầu tư XDCB một cách khoa học, hợp lý có vai trò quan trọng góp phần nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN.
Nhận thức được tầm quan trọng của chi NSNN cho đầu tư XDCB với sự
phát triển kinh tế xã hội, những năm gần đây tỉnh Nam Định đã có những ưu tiên
chi NSNN cho XDCB.Tuy vậy, nhu cầu chi NSNN cho đầu tư XDCB ngày càng
lớn trong khi khả năng đáp ứng cho nhu cầu này lại có hạn; đồng thời do sự phức
tạp của quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN cũng như việc cải cách thủ tục hành
chính nên quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN vẫn bộc lộ những tồn tại trong khâu
lập kế hoạch vốn, kiểm soát thanh toán đến quyết toán vốn gây thất thoát, lãng phí
và kém hiệu quả trong chi NSNN cho đầu tư XDCB.
Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn và ý nghĩa quan trọng nói trên, tôi đã lựa chọn
và nghiên cứu đề tài: “Quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN ở tỉnh Nam Định”
làm đề tài cho luận văn Thạc sỹ kinh tế của mình.
2.Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá, phân tích sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý
chi đầu tư XDCB của NSNN ở tỉnh Nam Định; đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn
thiện quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN ở tỉnh Nam Định trong những năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1




- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chi
và quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của NSNN.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng chi và quản
lý chi NSNN cấp tỉnh cho đầu tư XDCB giai đoạn 2011-2015; các giải pháp đề xuất
được nghiên cứu áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 ở tỉnh Nan Định.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp luận nghiên cứu
khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp các phương pháp nghiên
cứu khoa học cụ thể như thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, khái quát hoá… để
làm sáng tỏ các vấn đề theo mục đích nghiên cứu của đề tài đặt ra.
5. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá và phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản lý luận
cơ bản về chi NSNN và quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của NSNN.
- Tổng hợp, phân tích làm rõ thực trạng chi và quản lý chi ngân sách cấp tỉnh
cho đầu tư XDCB ở tỉnh Nam Định nhằm chống thất thoát, lãng phí, nâng cao hiệu
quả chi đầu tư XDCB của NSNN.
6. Kết cấu của đề tài
Chương I: Lý luận chung về chi quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN
Chương II: Thực trạng chi và quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN ở tỉnh
Nam Định.
Chương III: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN ở
tỉnh Nam Định.

2


CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI QUẢN LÝ CHI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

CƠ BẢN CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.
1.1.1.1

Lý luận chung về chi đầu tư XDCB của NSNN
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm chi đầu tư XDCB của NSNN.
. Khái niệm chi đầu tư XDCB của ngân Nhà nước.
Đầu tư được hiểu là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một thời
gian dự án nhằm thu về lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội lớn hơn trong tương lai.
Đầu tư phát triển là loại hình đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô
vốn của nhà đầu tư và quy mô vốn của toàn xã hội. Thông qua đầu tư phát triển thì
cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế được tăng
cường, đổi mới, hoàn thiện, hiện đại hoá, góp phần quan trọng hình thành và điều
chỉnh cơ cấu của nền kinh tế, thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Chi đầu tư phát triển của NSNN là quá trình phân phối và sử dụng một phần
vốn tiền tệ từ quỹ NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, phát triển
sản xuất và dự trữ vật tư hàng hoá của Nhà nước, nhằm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ
mô, thúc đẩy kinh tế vĩ mô và phát triển xã hội.
Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư để xây dựng hệ thống công trình hạ tầng
kỹ thuật như hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu
sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý các chất thải và các công trình khác
phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế và hệ thống công trình hạ tầng xã hội như công
trình y tế, văn hoá, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh,
công viên, mặt nước và các công trình khác để phục vụ phát triển xã hội.
Chi đầu tư XDCB của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng một phần vốn
tiền tệ từ NSNN để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng
nhằm từng bước tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật và
năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế quốc dân.
Vốn ngân sách dành cho chi đầu tư XDCB bao gồm vốn trong nước của các

cấp NSNN, vốn vay nợ nước ngoài của Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ
quan Nhà nước;

3


Vốn trong nước của NSNN các cấp bao gồm: Nguồn vốn XDCB tập trung,
nguồn thu xổ số kiến thiết và nguồn thu tiền sử dụng đất.
1.1.1.2. Đặc điểm chi đầu tư xây dựng của NSNN.
- Chi đầu tư xây dựng của NSNN có đặc điểm nổi bật là đối tượng đầu tư tập
trung vào các dự án hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội không có khả năng thu hồi vốn
mà lợi ích của nó phục vụ cho mọi người, mọi ngành trong xã hội. Chi đầu tư XDCB
là tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng kinh tế, xã hội làm nền tảng đảm bảo cho sự
phát triển kinh tế xã hội của quốc gia; khả năng thu hồi vốn thấp, hoặc không thể thu
hồi vốn trực tiếp nên ở khía cạnh tài chính thì khả năng hoàn vốn khó xác định, việc
đánh giá hiệu quả dự án không phụ thuộc nhiều vào các chỉ tiêu định lượng.
- Chi đầu tư XDCB từ NSNN là khoản chi chỉ yêu cầu nguồn vốn đầu tư lớn
nhưng không có khả năng thu hồi cần có sự đầu tư của Nhà nước: với mục đích đầu
tư cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, làm vốn mồi để tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi,
thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước nên khi Nhà nước quy hoạch
hoặc quyết định đầu tư một dự án thì bên cạnh việc bố trí nguồn cho các dự án còn
phải bố trí vốn cho công tác đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư, xây dựng cơ
sở hạ tầng phục vụ dự án như điện, đường, trường, trại.
Đối với Việt Nam mặc dù khả năng ngân sách còn hạn chế, song Nhà nước
luôn có ưu tiên cho chi đầu tư XDCB, xu hướng chi ngày càng tăng cả về số tuyệt
đối và tỷ trọng chi trong cân đối ngân sách. Tuy nhiên, tỷ trọng chi NSNN cho đầu
tư xây dựng trong từng thời kỳ phụ thuộc vào chủ trương, đường lối phát triển kinh
tế xã hội của Nhà nước; thứ tự và tỷ trọng ưu tiên chi đầu tư XDCB cho từng lĩnh
vực kinh tế xã hội thường có sự thay đổi giữa các thời kỳ phát triển kinh tế xã hội.
- Chi đầu tư XDCB của NSNN mang tính chất chi cho tích luỹ: Từ mục đích

của khoản chi đầu tư xây dựng của NSNN là tạo ra cơ sở kỹ thuật, năng lực sản
xuất phục vụ phục vụ nền kinh tế làm nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế và phát
triển xã hội làm tăng sản phẩm quốc nội.
- Chi đầu tư XDCB của NSNN luôn gắn với việc thực hiện các mục tiêu kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ: Chi đầu tư XDCB
mang đến lợi ích phát triển kinh tế xã hội; vì vậy kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

4


trong ngắn hạn cũng như trung hạn và dài hạn là cơ sở nền tảng trong việc xây
dựng, quyết định dự toán chi đầu tư XDCB từng lĩnh vực. Gắn kết kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội với chi đầu tư XDCB đảm bảo phục vụ tốt nhất việc thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và hiệu quả chi đầu tư XDCB.
- Chi đầu tư XDCB từ NSNN mang tính chất là khoản vốn cấp phát không
hoàn lại, thời gian chi cho từng dự án kéo dài, cấp phát trực tiếp đến hạng mục công
trình; sự vận động của tiền vốn dùng để trang trải chi phí đầu tư XDCB chịu sự chi
phối trực tiếp bởi đặc điểm của đầu tư XDCB.
Kết qủa của đầu tư XDCB là những sản phẩm có giá trị lớn, thậm chí có
những dự án kéo dài hàng chục năm. Đây là điểm khác biệt so với những hoạt động
đầu tư khác. Do tính chất lâu dài nên phải dự trù được những thay đổi trong quá
trình thực hiện dự án. Cũng vì giá trị công trình lớn nên người sử dụng không thể
mua toàn bộ công trình trong một lúc mà phải mua từng phần( từng hạng mục hay
bộ phận công trình hoàn thành). Việc cấp phát vốn đầu tư XDCB phải phù hợp với
đặc điểm này. Điều đó thể hiện qua việc chủ đầu tư tạm ứng và thanh toán từng
phần cho nhà thầu trong quá trình thi công xây lắp.
Đầu tư XDCB được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế như
giao thông, xây dựng, nông nghiệp, công nghiệp, y tế, giáo dục, quốc phòng an
ninh... Vì vậy quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB cũng phải phù hợp với từng
loại hình công trình đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư.

Đầu tư XDCB là hoạt động bỏ vốn để xây dựng công trình nên quyết định
đầu tư phải là quyết định tài chính, phải thể hiện được các tiêu chí: Tổng mức đầu
tư, nguồn vốn đầu tư, cơ cấu tài chính, khả năng hoàn vốn,…
Từ các đặc diểm cho thấy trong quá trình phân bổ và giao dự toán chi đầu tư
XDCB phải theo hướng tập trung vốn, tránh dàn trải; phải bố trí vốn theo tiến độ
của công trình, dự án chuyển tiếp có hiệu quả, có khả năng hoàn thành đưa vào sử
dụng trong năm dự toán, đặc biệt là công trình, dự án trọng điểm, cấp bách, sau đó
mới bố trí cho các dự án khởi công mới. Thực hiện nghiêm chỉnh việc công khai
minh bạch trong tất cả các khâu quá trình đầu tư.
1.1.2. Nội dung chi đầu tư XDCB của NSNN.
Chi đầu tư XDCB của NSNN nhằm trang trải các chi phí cho việc đầu tư xây
dựng mới, mở rộng, cải tạo và hiện đại hóa các công trình xây dựng có tính chất và

5


quy mô khác nhau, với nhiều loại chi phí khác nhau. Để phục vụ cho công tác quản
lý người ta dựa theo tiêu chí nhất định để xác định nội dung chi đầu tư XDCB của
NSNN. Cụ thể như sau:
1.1.2.1. Theo tính chất và mục đích sử dụng của nguồn vốn
Theo tính chất và mục đích sử dụng của nguồn vốn NSNN để chi đầu tư
XDCB bao gồm: nguồn vốn đầu tư phát triển của NSNN, nguồn vốn sự nghiệp của
NSNN và nguồn vốn các chương trình mục tiêu, hỗ trợ có mục tiêu của NSNN.
Nguồn vốn đầu tư phát triển của NSNN dành cho chi đầu tư XDCB được sử
dụng để chi đầu tư mới hoặc chi đầu tư xây dựng mở rộng, cải tạo, hiện đại hóa cơ
sở vật chất và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế quốc dân. Thuộc nguồn
vốn đầu tư phát triển của NSNN bao gồm: nguồn vốn XDCB tập trung (vốn trong
cân đối), nguồn thu sử dụng đất, nguồn thu từ hoạt động sổ xổ kiến thiết (chỉ để đầu
tư các công trình phúc lợi công cộng, y tế, giáo dục theo Nghị quyết của Quốc hội);
Nguồn vốn sự nghiệp của NSNN chi đầu tư XDCB được sử dụng để chi đầu

tư xây dựng mở rộng, cải tạo và hiện đại hóa cơ sở vật chất và năng lực sản xuất
phục vụ hiện có của nền kinh tế quốc dân. Không sử dụng nguồn vốn sự nghiệp của
NSNN để chi xây dựng mới.
1.1.2.2. Theo phân cấp nhiệm vụ chi NSNN.
Theo quy định của Luật NSNN, mỗi cấp ngân sách trong hệ thống NSNN
thống nhất được phân cấp cụ thể nguồn vốn và nhiệm vụ chi ngân sách. Theo phân
cấp nhiệm vụ chi ngân sách, chi đầu tư XDCB từ NSNN bao gồm chi đầu tư XDCB
các dự án đầu tư do Trung ương quản lý và chi đầu tư XDCB các dự án đầu tư do
địa phương quản lý.
Các dự án đầu tư do trung ương quản lý là các dự án đầu tư thuộc nhiệm vụ
chi của ngân sách trung ương. Các dự án đầu tư do địa phương quản lý là các dự án
đầu tư thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương.
1.1.2.3. Theo ngành kinh tế quốc dân
Theo ngành kinh tế quốc dân dựa vào tính chất kinh tế của hoạt động kinh tế
xã hội của nền kinh tế quốc dân.
Phân theo ngành kinh tế quốc dân, nội dung chi đầu tư XDCB của NSNN
phản ánh số chi và tỷ trọng chi NSNN cho các nghành kinh tế quốc dân như: Nông,
lâm, ngư nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản); Giao thông vận tải;
cấp thoát nước; hạ tầng công cộng khác; giáo dục đào tạo và dạy nghề; khoa học và

6


công nghệ; y tế và các hoạt động xã hội; thể dục thể thao; văn hóa thông tin; quản lý
Nhà nước; quốc phòng an ninh…
1.1.2.4. Theo tính chất và quy mô của dự án đầu tư xây dựng.
Theo tính chất và quy mô của dự án đầu tư xây dựng, các dự án đầu tư được
chia thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và các nhóm
dự án nhóm C. Theo đó chi đầu tư XDCB của NSNN bao gồm chi đầu tư XDCB
các dự án quan trọng quốc gia, chi đầu tư XDCB các dự án nhóm A, chi đầu tư

XDCB các dự án nhóm B và chi đầu tư XDCB các dự án nhóm C.
Tính chất của dự án đầu tư xây dựng thường được xem xét gắn với tính chất
ngành và lĩnh vực, ảnh hưởng và tác động của dự án đến các vấn đề an ninh, quốc
phòng, môi trường, phát triển kinh tế xã hội của quốc gia. Quy mô của dự án đầu tư
được xem xét là tổng mức vốn của dự án.
Dự án quan trọng quốc gia là dự án đầu tư có tính chất quan trọng về an
ninh, quốc phòng, lịch sử văn hóa hoặc có ảnh hưởng lớn đến môi trường và phát
triển kinh tế xã hội của quốc gia. Các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội xem
xét quyết định về chủ trương đầu tư. Các dự án nhóm A là các dự án có quy mô lớn,
các dựa án nhóm B có quy mô vừa, dự án nhóm C có quy mô nhỏ.
1.1.2.5. Theo trình tự đầu tư và xây dựng.
Theo trình tự đầu tư và xây dựng bao gồm các giai đoạn là lập quy hoạch,
chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác
sử dụng. Theo đó chi đầu tư XDCB của NSNN được chia thành chi vốn quy hoạch,
chi vốn chuẩn bị đầu tư, chi vốn thực hiện dự án.
Vốn quy hoạch là vốn dùng để trang trải các chi phí lập các dự án quy hoạch.
Chi phí lập dự án quy hoạch bao gồm chi phí điều tra, khảo sát, nghiên cứu, lập dự
án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch phát
triển ngành, quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị và nông thôn, quy hoạch chi tiết
các đô thị trung tâm, quy hoạch chi tiết sử dụng đất đai.
Vốn chuẩn bị đầu tư là vốn trang trải các chi phí cho công tác chuẩn bị đầu
tư. Chi phí cho công tác chuẩn bị đầu tư bao gồm: chi cho công tác nghiên cứu về
sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư; tiến hành tiếp xúc; thăm dò thị trường
trong và ngoài nước để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn

7


vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư; điều tra; khảo sát lựa chọn địa điểm xây

dựng; lập dự án đầu tư.
Vốn thực hiện dự án là vốn dùng để trang trải các chi phí để tổ chức thực hiện
dự án như: chi phí đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư chuẩn bị mặt bằng xây
dựng; chi tư vấn, khảo sát thiết kế, chi thi công xây lắp bao gồm cả thiết bị,…
1.1.2.6. Theo mục đích của các dự án đầu tư.
Theo mục đích dựa án đầu tư được sử dụng vốn NSNN thì chi đầu tư XDCB
bao gồm:
Chi các dự án thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
không có khả năng thu hồi vốn như các dự án giao thông, thủy lợi, giáo dục đào tạo,
y tế, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên,
các trạm trại thú y, động thực vật, nghiên cứu giống mới và cải tạo giống, xây dựng
các công trình văn hóa, xã hội, thể dục thể thao, phúc lợi công cộng, quản lý Nhà
nước, khoa học kỹ thuật, bảo vệ môi trường sinh thái khu vực, vùng, lãnh thổ.
Chi hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực cần thiết có
sự tham gia của Nhà nước theo quy đinh của pháp luật.
Chi cho các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội chung của cả
nước, vùng miền, ngành, quy hoạch sử dụng đất đai cả nước, các vùng kinh tế và
các vùng kinh tế trọng điểm; quy hoạch chung xây dựng đô thị, nông thôn,…
Các dự án khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
1.1.2.7. Theo mức độ đã thực hiện của dự án đầu tư.
Theo mức độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng bao gồm các dự án khởi công
mới, các dự án dở dang chuyển tiếp, dự án hoàn thành thì chi đầu tư XDCB có thể
chia thành chi XDCB các dự án hoàn thành; chi XDCB các dự án dở dang chuyển
tiếp; chi XDCB các dự án khởi công mới.
Chi XDCB các dự án hoàn thành là khoản chi để thanh toán cho các dự án
hoàn thành chờ quyết toán và dự án hoàn thành đã phê duyệt quyết toán nhưng chưa
được bố trí thanh toán.
Chi XDCB các dự án khởi công mới là khoản chi để thanh toán cho các dự
án chưa tổ chức đấu thầu , hoặc đang trong quá trình tổ chức đấu thầu để lựa chọn
nhà thầu thi công xây lắp.

1.1.2.8. Theo cơ cấu công nghệ của vốn đầu tư.
Theo cơ cấu công nghệ của vốn đầu tư, nội dung chi đầu tư XDCB của
NSNN bao gồm chi vốn xây dựng, chi vốn thiết bị và chi khác của dự án đầu tư.

8


Vốn xây dựng của dự án là vốn dùng để trang trải các chi phí xây dựng của
dự án đầu tư bao gồm: chi phí phá và tháo dỡ các công trình xây dựng; chi phí san
lấp mặt bằng xây dựng; chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình chính,
công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công; chi phí nhà tạm tại hiện trường
để ở và điều hành thi công .
Chi phí xây dựng của dự án đầu tư được xác định cho từng công trình, hạng
mục công trình cụ thể và được xác định bằng cách lập dự toán xây dựng. Đối với
công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công, chi phí xây dựng được xác định
bằng cách lập dự toán; nhà tạm để ở và điều hành thi công tại hiện trường thì chi phí
xây dựng được xác định bằng cách lập dự toán; nhà tạm để ở và điều hành thi công
tại hiện trường thì chi phí xây dựng được xác định bằng định mức tỷ lệ.
Dự toán chi phí xây dựng bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập
chịu thuế tính trước, thuế GTGT, chi phí xây dựng nhà tạm để ở và điều hành thi
công tại hiện trường. Dự toán chi phí xây dựng có thể xác định theo từng nội dung
chi phí hoặc tổng hợp các nội dung chi phí. Dự toán chi phí xây dựng được lập theo
một trong các phương thức sau:
+ Phương pháp khối lượng và đơn giá xây dựng đầy đủ;
+ Phương pháp tổng khối lượng hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công và
bảng giá tương ứng;
+ Phương pháp suất chi phí xây dựng công trình có các chỉ tiêu kinh tế kỹ
thuật tương ứng đã thực hiện;
+ Các Phương pháp khác phù hợp với tính chất, đặc điểm xây dựng công
trình.

Chi vốn thiết bị của dự án đầu tư.
Vốn thiết bị của dự án đầu tư là vốn dùng để trang trải chi phí mua sắm thiết
bị cộng nghệ (kể cả thiết bị công nghệ cần sản xuất, gia công); chi phí đào tạo và
chuyển giao công nghệ; chi phí lắp đặt và thí nghiệm, hiệu chỉnh thiết bị; chi phí
vận chuyển, bảo hiểm thiết bị; thuế, phí và các chi phí có liên quan khác.
Chi phí mua sắm thiết bị được xác định trên cơ sở khối lượng, số lượng,
chủng loại thiết bị cần mua, gia công và giá mua hoặc gia công thiết bị. Chi phí đào
tạo và chuyển giao công nghệ, chi phí lắp đặt thiết bị, chi phí thí nghiệm, hiệu chỉnh
và các chi phí khác liên quan được xác định bằng dự toán.
Chi vốn chi phí khác của dự án đầu tư.

9


Vốn chi phí khác của dự án đầu tư vốn là vốn dùng để trang trải các chi phí
khác của dự án đầu tư. Các chi phí khác của dự án đầu tư là toàn bộ các chi phí cần
thiết cho quá trình đầu tư dự án. Chi phí khác bao gồm nhiều khoản chi đa dạng như
chi bồi thường, hỗ trợ tái định cư; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây
dựng, chi phí dự phòng…
Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư bao gồm: chi phí bồi thường nhà
cửa, vật kiến trúc, cây trồng trên đất và các chi phí bồi thường khác; các khoản hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất; chi phí thực hiện tái định cư có liên quan đến bồi
thường, giải phóng mặt bằng của dự án; chi phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư; chi phí sử dụng đất trong thời gian xây dựng; chi phí chi trả cho phần hạ
tầng kỹ thuật đã đầu tư.
Chi phí quản lý dự án: là các chi phí cần thiết cho chủ đầu tư để tổ chức quản
lý việc thực hiện các công việc quản lý dự án từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện
dự án cho đến hoàn thành nghiệm thu bàn giao, đưa công trình vào khai thác sử
dụng như chi phí tổ chức lập báo cáo đầu tư, chi phí tổ chức lập dự án đầu tư hoặc
báo cáo kinh tế - kỹ thuật; chi phí tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và

tái định cư thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư; chi phí tổ chức thẩm định dự án đầu
tư hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật; chi phí tổ chức lập, thẩm định hoặc thẩm tra, phê
duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán công trình; chi phí tổ chức
nghiệm thu, thanh toán, quyết toán hợp đồng; thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây
dựng công trình...
Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm chi phí tư vấn khảo sát xây dựng,
lập báo cáo, thiết kế xây dựng công trình, giám sát công trình và các chi phí tư vấn
khác có liên quan.
Chi phí khác là những chi phí không thuộc các nội dung nêu trên nhưng cần
thiết để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình như chi phí rà phá bom mìn, vật
nổ, chi phí bảo hiểm công trình; chi phí di chuyển thiết bị thi công và lực lượng lao
động đến công trình; chi phí đảm bảo an toàn giao thông phục vụ thi công công
trình; chi phí kiểm toán, thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư; các khoản phí
và lệ phí theo quy định...
1.2. Lý luận chung về quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN.

10


1.2.1. Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi đầu tư XDCB
của NSNN.
1.2.1.1. Khái niệm: Quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN là quá trình vận
dụng các quy luật khách quan, sử dụng hệ thống các phương pháp tác động đến hoạt
động chi NSNN cho đầu tư XDCB nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
Đối tượng tác động là toàn bộ các khoản chi đầu tư XDCB của NSNN được
bố trí trong niên độ NSNN hàng năm để phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã
hội trong từng giai đoạn, từng thời kỳ.
Quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN ở địa phương là sự liên kết hữu cơ
giữa bộ máy quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN ở địa phương với vai trò là chủ
thể quản lý vì khách thể quản lý là các đơn vị chủ đầu tư và đối tượng quản lý là các

khoản chi.
Mục tiêu của quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN nói chung và từng địa
phương nói riêng là với số tiền nhất định đem lại kết quả tốt nhất về kinh tế xã hội
đồng thời giải quyết hài hoà mối quan hệ về lợi ích giữa một bên là chính quyền địa
phương một bên là các chủ thể khác trong xã hội.
1.2.1.2. Các nhân tố tác động đến quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN.
- Cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý chi đầu tư XDCB.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có vai trò
quan trọng, tác động trực tiếp đến việc quản lý chi đầu tư XDCB phục vụ mục tiêu
tăng trưởng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng nâng cao hiệu quả và
phát huy được lợi thế của từng vùng, từng ngành, từng sản phẩm, trên cơ sở đó tăng
nhanh khả năng cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế xã hội.
Khung khổ pháp luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến chi đầu tư
XDCB gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn thực
hiện của Nhà nước như: Hiến pháp, luật (bộ luật), pháp lệnh, nghị định, nghị quyết,
chỉ thị, thông tư, quy chế , quy định, quyết định, tiêu chuẩn, quy tắc,...
Các văn bản trên được ban hành ở cấc cấp độ khác nhau và do cơ quan Nhà
nước khác nhau ban hành. Như vậy, có rất nhiều loại văn bản pháp luật thuộc nhiều
ngành luật khác nhau điều chỉnh với những nội dung rất phức tạp.

11


Văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư XDCB bao gồm: các văn bản quy
phạm pháp luật như Luật xây dựng, đầu tư, các nghị định của Chính phủ , các
Thông tư hướng dẫn của Bộ, ngành... Pháp luật về đầu tư XDCB quy định về hoạt
động đầu tư XDCB, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư XDCB; pháp luật về đầu tư
XDCB liên quan tới các giai đoạn của chu trình dự án đầu tư XDCB, đặc biệt là ở
khâu thực hiện dự án đầu tư XDCB.
Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình chi đầu tư XDCB từ

NSNN về nguyên tắc sẽ tạo ra một khuôn khổ pháp lý đồng bộ, đầy đủ, không
chồng chéo, tạo điều kiện cho chủ thể trực tiếp tham gia vào các quá trình của dự án
đầu tư XDCB từ NSNN chủ động thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình
trong quá trình quản lý và thực hiện dự án.
Thời gian qua, các cơ sở pháp lý liên quan đến quản lý vốn đầu tư XDCB
thuộc NSNN đã, đang tiếp tục được cải tiến và dần hoàn thiện để thực sự tạo ra
hành lang pháp lý thuận lợi, bình đẳng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn
quan trọng này. Đồng thời tạo điều kiện và định hướng các nguồn vốn khác đáp ứng
tích cực các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở cấp vĩ mô.
Tuy nhiên bên cạnh đó, các hạn chế như thiếu đồng bộ, thiếu tầm chiến
lược, chồng chéo, bỏ sót đối tượng quản lý,... Trong các cơ sở pháp lý liên quan đến
công tác quản lý Nhà nước nói chung và quản lý vốn đầu tư vẫn còn và tiếp tục là
trở ngại đáng kể cho quá trình triển khai thực hiện các chương trình, dự án đầu
tư,...
- Lựa chọn mục tiêu đầu tư.
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của Nhà nước. Về phương diện quản lý, sử dụng vốn đầu tư nói chung và
vốn đầu tư XDCB nói riêng, Nhà nước sử dụng hàng loạt cơ chế chính sách được
thể chế hóa thành các quy định, thủ tục cần thiết. Trong luận văn, chủ yếu nghiên
cứu một số nhân tố chính ảnh hưởng đến quản lý vốn đầu tư XDCB thuộc NSNN.
Trước hết, việc xác định mục tiêu đầu tư phải dựa vào nhiệm vụ phát triển
kinh tế xã hội, yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các quy hoạch phát triển hạ

12


tầng cơ sở và chiến lược sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ. Sau đó để hiện
thực hóa các mục tiêu, cần xây dựng các dự án đầu tư. Tuy nhiên không phải dự án
nào được hình thành là có vốn đầu tư đáp ứng - bởi lẽ các nguồn lực phục vụ đầu
tư, đặc biệt là NSNN rất khan hiếm. Trong quá trình hình thành và xác định dự án,

các chủ dự án đầu tư phải thăm dò, nắm bắt, lựa chọn để tiếp cận, tính toán nguồn
vốn đầu tư cho dự án.
Mặt khác để nguồn vốn đầu tư bỏ vào dự án có hiệu qủa theo bản chất đồng
vốn đầu tư trong nền kinh tế thị trường, thì dự án được hình thành và xác định đó
phải có độ khả thi cao. Muốn vậy, chủ dầu tư và cơ quan quản lý Nhà nước đối với
vốn đầu tư phải tuân thủ, thực hiện đầy đủ, đảm bảo chất lượng quy trình quản lý
đầu tư xây dựng của Nhà nước.
Đối tượng các dự án đầu tư XDCB tập trung sử dụng vốn NSNN và vốn sự
nghiệp có tính chất đầu tư XDCB từ NSNN:
+ Dự án có quy mô lớn mà các thành phần kinh tế khác khó có khả năng đáp
ứng. Các công trình loại này thường là các công trình lớn có phạm vi ảnh hưởng sâu
rộng đến sự phát triển kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng,
miền, địa phương hoặc ngành kinh tế.
+ Dự án có khả năng thu hồi vốn thấp. Các dự án này do khả năng thu hồi
vốn thấp nên không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác đầu tư trong khi công trình
lại có ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng nên Nhà nước phải sử dụng NSNN để đầu
tư xây dựng.
+ Dự án mà các thành phần kinh tế khác không được phép đầu tư. Loại này
thường là các công trình thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng, các công trình có ảnh
hưởng lớn đến đời sống kinh tế xã hội của nhân dân.
- Xác định đúng nhu cầu vốn đầu tư.
Để quản lý chi đầu tư XDCB, phía xác định được vốn đầu tư được sử dụng
vào đâu? Quy mô ra sao? Nghĩa là phải xác định nhu cầu đầu tư. Cơ sở khoa học
cho việc xác định là việc chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, từng địa
phương, từng ngành, lĩnh vực cụ thể.

13


-Lựa chọn hình thức đầu tư và hình thức quản lý thực hiện dự án đầu tư

+Lựa chọn hình thức đầu tư: Trên cơ sở nguồn vốn đầu tư từ NSNN và cơ sở
tính toán, lập báo cáo khả thi (tiền khả thi), chủ đầu tư phải lựa chọn hình thức đầu
tư phù hợp. Tùy theo điều kiện cụ thể, có thể lựa chọn các hình thức sau:
Đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN (kể cả vốn ODA).
Đầu tư XDCB bằng toàn bộ nguồn vốn tín dụng đầu tư của NSNN.
Đầu tư bằng sự kết hợp 2 nguồn vốn trên.
Ngoài việc kết hợp giữa các nguồn vốn để đầu tư, các chủ đầu tư còn đầu tư
bằng các hình thức kết hợp Nhà nước và nhân dân cùng làm...
+ Lựa chọn hình thức quản lý thực hiện DADT và xây dựng :
Căn cứ quy mô, tính chất của dự án và năng lực của mình, chủ đầu tư lựa
chọn một trong những hình thức quản lý thực hiện dự án sau: Chủ đầu tư trực tiếp
quản lý thực hiện dự án, Chủ nhiệm điều hành dự án, Chìa khóa trao tay, Tự thực
hiện dự án.
Đối với các dự án sử dụng nguồn vốn NSNN, vốn tín dụng đầu tư Nhà nước,
vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn ĐTPT của DNNN, chủ đầu tư phải trình
người có thẩm quyền quyết định đầu tư, quyết định hình thức quản lý thực hiện dự
án. Đối với các dự án sử dụng các nguồn vốn khác, chủ đầu tư quyết định hình thức
quản lý thực hiện dự án.
- Một số nhân tố khác.
Bên cạnh các nhân tố trên, chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch và việc
chỉ đạo thực hiện theo quy hoạch, kế hoạch, các quy định về lựa chọn nhà thầu tư
vấn, nhà thầu thi công, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước, công tác
tổ chức quản lý đầu tư xây dựng, tổ chức vận hành khai thác đối tượng đầu tư hoàn
thành, việc công khai cung cấp thông tin cũng như chất lượng và năng lực công tác
chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý dự án... là các nhân tố quan
trọng có ảnh hưởng đến chi đầu tư XDCB của NSNN.
1.2.2. Các nguyên tắc quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN.

14



Quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN có các nguyên tắc, biện pháp, trình tự
quản lý và cấp phát vốn riêng trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc quản lý chi NSNN
nói chung và được vận dụng phù hợp với đặc điểm của đầu tư XDCB. Sau đây là
các nguyên tắc quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN:
Thứ nhất, Chi đầu tư XDCB phải cấp phát đúng đối tượng:
Cấp phát vốn đầu tư XDCB của NSNN được thực hiện theo phương thức cấp
phát không hoàn trả nhằm đảm bảo vốn để đầu tư các dự án cần thiết phải đầu tư
thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh... Từ đó tạo ra cơ sở vật
chất kỹ thuật cần thiết cho sự phát triển toàn diện của nền kinh tế quốc dân. Song
với sự giới hạn về nguồn vốn NSNN và để đảm bảo hiệu quả đầu tư, đòi hỏi cấp
phát vốn phải đúng đối tượng là các công trình, dự án đầu tư thuộc đối tượng sử
dụng vốn theo quy định của Luật NSNN và quy chế quản lý đầu tư XDCB.
Thứ hai, Chi đầu tư XDCB phải trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh trình tự
đầu tư và xây dựng, có đầy đủ các tài liệu thiết kế và dự toán được duyệt.
Trình tự đầu tư và xây dựng là trật tự các giai đoạn của quá trình đầu tư và
xây dựng từng công trình. Các dự án đầu tư không phân biệt quy mô và mức vốn
đầu tư đều được thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và được thực hiện 3 giai
đoạn là chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai
thác sử dụng. Các công việc trong giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc đưa công
trình vào khai thác sử dụng có thể thực hiện tuần tự hoặc gối đầu, xen kẽ theo điều
kiện cụ thể của từng dự án đầu tư.
Nội dung công việc giai đoạn chuẩn bị cho đầu tư bao gồm: Nghiên cứu về
sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư, tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước
và ngoài nước để xác định nhu cầu thiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm,
nguồn cung ứng vật tư và thiết bị, khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình
thức đầu tư, điều tra, khảo sát, lựa chọn địa điểm xây dựng; lập dự án đầu tư (báo
cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo khả thi hoặc báo cáo đầu tư); thẩm định và phê
duyệt dự án đầu tư (quyết định đầu tư) của cấp có thẩm quyền. Kết quả cuối cùng


15


của giai đoạn chuẩn bị đầu tư là báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo đầu tư của
dự án được cấp có thẩm quyền xem xét phê duyệt để ra quyết định đầu tư.
Nội dung công việc của giai đoạn thực hiện đầu tư bao gồm: Xin giao đất
hoặc thuê đất; xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên nếu có;
thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện tái định cư và phục hồi, chuẩn bị
mặt bằng xây dựng; khảo sát, thiết kế và lập dự toán, kể cả thiết kế tổng dự toán, dự
toán công trình; chỉ định thầu hoặc đầu thầu và thương thảo, ký kết hợp đồng về xây
lắp và mua thiết bị; thi công xây dựng lắp đặt công trình, mua sắm máy móc thiết bị
theo hợp đồng; quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng;
nghiệm thu bộ phận hoặc hạng mục công trình hoàn thành và thanh toán vốn đầu tư,
quyết toán và bàn giao đưa bộ phận hoặc hạng mục công trình hoàn thành vào vận
hành.
Nội dung giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng bao
gồm: tổng nghiệm thu và bàn giao công trình; thực hiện kết thúc xây dựng công
trình; vận hành và hướng dẫn sử dụng công trình; bảo hành công trình; thẩm định và
phê duyệt quyết toán công trình hoàn thành.
Thứ ba, Chi đầu tư XDCB từ NSNN phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế
hoạch.
Vốn đầu tư XDCB chỉ được sử dụng cho mục đích đầu tư XDCB theo kế
hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không sử dụng cho các mục đích khác
như trang trải nhu cầu chi tiêu thường xuyên của đơn vị... Cấp phát vốn đầu tư
XDCB phải tuân thủ đúng kế hoạch vốn đã duyệt cho từng công trình, tổng số vốn
cấp phát thanh toán trong năm kế hoạch cho từng dự án đầu tư, không vượt kế
hoạch vốn năm của dự án được duyệt; không được điều chuyển vốn từ công trình
này sang công trình khác nếu không có quyết định của cấp có thẩm quyền, đặc biệt
là việc điều chuyển vốn từ công trình trung ương sang công trình địa phương. Các
khối lượng XDCB hoàn thành phải có trong kế hoạch XDCB năm mới được cấp

phát vốn thanh toán. Khối lượng XDCB vượt tiến độ thuộc các công trình có yêu

16


cầu đẩy nhanh tiến độ đầu tư và xây dựng nếu cấp có thẩm quyền cân đối được
nguồn vốn thì mới được cấp phát thanh toán.
Thứ tư, Chi đầu tư XDCB được thực hiện theo mức độ khối lượng thực tế
hoàn thành và chỉ trong phạm vi giá được duyệt.
Khối lượng XDCB hoàn thành được cấp vốn thanh toán phải là khối lượng
thực tế đã thực hiện, chất lượng đúng thiết kế, thực hiện đúng quy trình đầu tư và
xây dựng, có trong kế hoạch XDCB năm và đã được nghiệm thu, bàn giao theo
đúng chế độ quy định của Nhà nước. Mức vốn cấp phát thanh toán cho từng công
trình, hạng mục công trình, từng khối lượng cơ bản hoàn thành nghiệm thu phải
được xác định căn cứ vào dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chỉ được
cấp phát thanh toán trong phạm vi giá dự toán đã được duyệt. Trong trường hợp đấu
thầu, thì mức vốn cấp phát thanh toán là giá trúng thầu hoặc giá được tính theo đơn
giá trúng thầu được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng theo nguyên tắc giá trúng
thầu hoặc giá tính theo đơn giá trúng thầu không được vượt dự toán đã duyệt. Các
trường hợp vượt dự toán đòi hỏi chủ đầu tư phải lập dự toán bổ sung, giải trình và
chỉ được cấp vốn thanh toán khi có quyết định của cấp có thẩm quyền.
Thứ năm, giám đốc bằng đồng tiền.
Kiểm tra bằng đồng tiền đối với việc sử dụng tiền vốn đúng mục đích, đúng
kế hoạch, có hiệu quả là sự thể hiện chức năng của tài chính
Kiểm tra bằng đồng tiền bao trùm toàn bộ chu trình đầu tư, bắt đầu từ giai
đoạn kế hoạch hóa đầu tư và kết thúc khi đưa tài sản cố định đã được tạo ra và được
thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc cấp phát và cho vay đầu tư XDCB
Thực hiện công tác giám đốc bằng đồng tiền trong quá trình cấp phát đầu tư
XDCB nhằm thúc đẩy sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm, đúng mục đích, đúng kế hoạch
và thúc đẩy các đơn vị thực hiện tốt trình tự đầu tư và xây dựng, kế hoạch tiến độ

thi công, đảm bảo chất lượng công trình và hoàn thành công trình đúng thời hạn để
đưa vào sản xuất sử dụng.
Giám đốc bằng đồng tiền được thực hiện đối với mọi dự án đầu tư, trong tất
cả các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng; bao gồm giám đốc trước, trong
và sau khi cấp phát vốn.

17


Những nguyên tắc nêu trên của chế độ cấp phát đầu tư XDCB là một thể
thống nhất, chi phối toàn bộ công tác cấp phát vốn đầu tư XDCB và có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, chúng là điều kiện tiền đề để thực hiện lẫn nhau
1.2.3. Nội dung quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN.
1.2.3.1. Lập kế hoạch chi đầu tư XDCB của NSNN.
Công tác kế hoạch vốn đầu tư XDCB bao gồm việc lập và phân bổ vốn đầu
tư XDCB, nó là một khâu rất quan trọng của quá trình quản lý chi đầu tư XDCB của
NSNN. Việc phân bổ vốn đầu tư XDCB hợp lý có ý nghĩa quyết định đến tiến độ
thực hiện dự án và hiệu quả vốn đầu tư với phát triển kinh tế xã hội địa phương.
Trình tự lập kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư XDCB hàng năm như sau:
Hướng dẫn lập và thông báo số kiểm tra
Hàng năm, căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính Phủ, Thông tư hướng
dẫn, thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách của Bộ Tài chính, Bộ kế hoạch và
đầu tư; các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở
trung ương thực hiện thông báo số kiểm tra về dự toán và tổ chức hướng dẫn chủ
đầu tư thuộc quyền quản lý lập kế hoạch vốn đầu tư XDCB (kế hoạch vốn đầu tư
đối với dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển hoặc kế hoạch chi đầu tư đối với dự án
sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư).
Lập, tổng hợp và trình phê duyệt kế hoạch.
Chủ đầu tư các dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển căn cứ vào tiến độ và
mục tiêu thực hiện dự án lập kế hoạch vốn đầu tư XDCB của dự án gửi cơ quan cấp

trên. Chủ đầu tư các dự án sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư căn cứ vào
nhu cầu sửa chữa, mở rộng, nâng cấp các cơ sở vật chất hiện có của đơn vị lập kế
hoạch vốn đầu tư XDCB gửi cơ quan quản lý cấp trên. Cơ quan quản lý cấp trên của
chủ đầu tư có trách nhiệm tổng hợp kế hoạch vốn NSNN theo quy định của Luật
ngân sách.
Việc lập dự toán phải căn cứ vào những dự án đầu tư có đủ các điều kiện bố
trí vốn theo quy định và phù hợp với khả năng ngân sách hàng năm, kế hoạch vốn 5

18


năm; đồng thời ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai của các chương
trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định đang thực hiện.
Các Bộ, UBND các tỉnh tổng hợp, lập kế hoạch vốn đầu tư XDCB gửi Bộ tài
chính, Bộ kế hoạch và đầu tư. Trước khi gửi, dự toán NSĐP phần kế hoạch vốn đầu
tư XDCB, UBND tỉnh phải trình thường trực HĐND tỉnh xem xét cho ý kiến. Trên
cơ sở kế hoạch phát triển KTXH, các cân đối chủ yếu của nền kinh tế, Bộ kế hoạch
đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính tổng hợp báo cáo Thủ tướng chính phủ
trình Quốc hội quyết định và giao chỉ tiêu kế hoạch vốn đầu tư cho Bộ, địa phương.
Phân bổ,thẩm tra và thông báo kế hoạch.
Sau khi dự toán NSNN được Quốc hội quyết định và Chính phủ giao dự toán
ngân sách, các Bộ, UBND các cấp lập phương án phân bổ kế hoạch vốn đầu tư
XDCB cho các dự án đầu tư thuộc phạm vi quản lý đã đủ các điều kiện theo quy
định, khớp đúng với chỉ tiêu được giao về tổng mức đầu tư, cơ cấu vốn, cơ cấu
ngành kinh tế, mức vốn các dự án quan trọng đúng Nghị quyết của Quốc hội...
Phương án phân bổ vốn đầu tư XDCB của UBND các cấp phải trình HĐND cùng
cấp thông qua và quyết định. Sở tài chính cùng Sở kế hoạch đầu tư dự kiến phân bổ
vốn cho từng dự án do cấp tỉnh quản lý. Phòng tài chính kế hoạch có trách nhiệm
cùng các cơ quan chức năng tham mưu giúp UBND huyện phân bổ vốn cho từng dự
án do huyện quản lý. Ban tài chính tham mưu cho UBND cấp xã phân bổ vốn đầu

tư các dự án do xã quản lý và được phân cấp.
Điều kiện để một dự án đầu tư XDCB được lựa chọn vào danh mục kế hoạch
vốn hàng năm của NSNN:
- Đối với các dự án quy hoạch: có đề cương hoặc nhiệm vụ dự án quy hoạch
được duyệt có thẩm quyền.
- Đối với các dự án chuẩn bị đầu tư: phải phù hợp với quy hoạch phát triển
ngành và lãnh thổ được duyệt theo thẩm quyền.
- Đối với các dự án thực hiện đầu tư: phải có quyết định đầu tư từ thời điểm
trước ngày 31 tháng 10 năm trước kế hoạch.
Các yêu cầu trong việc lập, phân bổ, giao dự toán chi đầu tư XDCB:

19


Xây dựng dự toán chi đầu tư XDCB của các Bộ, cơ quan trung ương trên cơ
sở đảm bảo vốn cho các công trình, dự án đang thực hiện dở dang; bố trí đủ tiền cho
các dự án nhóm C hoàn thành trong 3 năm, dự án nhóm B hoàn thành trong 5 năm,
hạn chế bố trí vốn cho các dự án mới chưa thật sự cần thiết.
Xây dựng dự toán chi đầu tư phát triển của các địa phương trên cơ sở hệ
thống tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn NSNN từng
giai đoạn, bao gồm cả số bổ sung có mục tiêu vốn đầu tư phát triển từ ngân sách
Trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản bổ sung có mục tiêu khác theo
quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Xây dựng dự toán chi đầu tư XDCB cần rà soát, sắp xếp, điều chỉnh lại việc
bố trí đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN, góp phần ổn định kinh tế
vĩ mô, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững. Trong đó ưu tiên bố trí dự
toán cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia, phát triển khuc vực nông
nghiệp, nông thôn, thúc đẩy xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững; tiếp tục ưu
tiên vốn đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế ,
khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng,..

Ưu tiên bố trí vốn thực hiện các chính sách về an ninh xã hội; bố trí bảo đảm
đủ vốn đối ứng cho các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn ODA theo các cam
kết; tập trung vốn cho các công trình, dự án chuyển tiếp có hiệu quả, công trình
trọng điểm, cấp bách về đê điều, thủy lợi, phát triển giao thông nông thôn, hạ tầng
các khu phân lũ, chậm lũ, hạ tầng du lịch.
Đảm bảo vốn cho công tác chuẩn bị đầu tư; thanh toán nợ khối lượng
XDCB đã hoàn thành của các công trình; bố trí hoàn trả các khoản vốn ứng trước
theo qui định;
Số vốn còn lại bố trí cho các dự án, công trình khởi công mới, trong đó ưu
tiên vốn dự án, công trình trọng điểm quốc gia; kiên quyết đình hoãn khởi công các
dự án không có trong quy hoạch được duyệt, chưa đủ thủ tục theo qui định, còn
nhiều vướng mắc về thủ tục đầu tư, chưa giải phóng mặt bằng, các dự án chưa thật
sự cấp bách, hiệu quả thấp, ...

20


Đảm bảo bố trí đủ vốn đối ứng từ ngân sách địa phương cho các dự án,
chương trình được ngân sách trung ương hỗ trợ một phần để thực hiện các mục tiêu
dự án, chương trình.
Đối với các chương chình, dự án, nhiệm vụ quan trọng của địa phương thực
hiện từ nguồn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương, phải thực hiện bố trí
theo đúng mục tiêu, dự toán được giao.
Tập trung vốn bố trí cho các dự án, công trình có hiệu quả, có khả năng hoàn
thành đưa vào sử dụng trong năm.
Phân bổ và giao dự toán chi đầu tư phát triển cho các cơ quan, đơn vị trực
thuộc và chính quyền cấp dưới đối với lĩnh vực giáo dục – đào tạo và dạy nghề, lĩnh
vực khoa học và công nghệ không được thấp hơn mức Thủ tướng Chính phủ giao
cho các lĩnh vực này.
Sau khi bố trí cho các nhiệm vụ nêu trên mới bố trí cho các dự án khởi công

mới có đủ điều kiện bố trí vốn theo chế độ quy định, theo hướng tập trung vốn,
tránh dàn trải; trong đó ưu tiên cho các công trình, dự án đầu tư phát triển lĩnh vực
nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Trường hợp có nhu cầu huy động vốn để đầu tư xây dựng công trình kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội do ngân sách cấp tỉnh đảm bảo thuộc danh mục đầu tư trong
kế hoạch 5 năm đã được HĐND cấp tỉnh quyết định, thì được phép huy động vốn
trong nước, đảm bảo mức dư nợ huy động tối đa không vượt quá 30% vốn đầu tư
XDCB trong nước của ngân sách cấp tỉnh.
Bố trí đủ vốn để thanh toán cho các dự án đã đưa vào sử dụng và đã được
phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành mà còn thiếu vốn; bố trí vốn để
thanh toán chi phí kiểm toán, thẩm tra phê duyệt quyết toán của các dự án hoàn
thành nhưng chưa được thanh toán do chưa phê duyệt quyết toán.
Trường hợp dự án được bố trí vốn trong kế hoạch thực hiện đầu tư nhưng chỉ
để làm công tác chuẩn bị thực hiện dự án thì cần chi chú rõ trong bản phân bổ vốn.
Giao kế hoạch vốn cho các chủ đầu tư: Sau khi phân bổ vốn, đồng thời với
việc gửi cho các cơ quan liên quan, các Bộ và UBND các tỉnh, các huyện giao chỉ
tiêu kế hoạch cho các chủ đầu tư để thực hiện.

21


Thẩm tra phân bổ vốn đầu tư:
Thẩm tra phân bổ vốn đầu tư là việc cơ quan tài chính các cấp thẩm tra tính
chính xác giữa phân bổ của cơ quan, đơn vị đến đơn vị sử dụng ngân sách với nội
dung dự toán do cơ quan có thẩm quyền giao; bảo đảm đúng chính sách, chế độ,
định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách. Giúp phát hiện những dự án phân bổ không
đúng quy định để điều chỉnh cho các dự án khác đủ điều kiện.
Bộ Tài chính có ý kiến thẩm tra phân bổ vốn đầu tư của các dự án do các Bộ,
cơ quan trung ương quản lý. Trường hợp có dự án phân bổ không đúng quy định,
Bộ Tài chính có ý kiến dừng thanh toán, nếu đã thanh toán thì thực hiện thu hồi

ngay số vốn đã thanh toán cho dự án đó. Các Bộ có trách nhiệm chỉ đạo chủ đầu tư
các dự án phân bổ vốn không đúng quy định hoàn trả NSNN số vốn đã thanh toán
và chịu trách nhiệm về hậu quả do việc phân bổ không đúng quy định gây ra.
Đối với dự án thuộc tỉnh, huyện quản lý: Trong quá trình tham gia với các
đơn vị liên quan về kế hoạch vốn đầu tư hàng năm, Sở Tài chính, Phòng Tài chính
Kế hoạch đồng thời thực hiện luôn nhiệm vụ thẩm tra kế hoạch phân bổ vốn đầu tư
để trình UBND cấp tỉnh, cấp huyện quyết định. Căn cứ quyết định về kế hoạch vốn
đầu tư của UBND cấp tỉnh, cấp huyện, KBNN thực hiện kiểm soát thanh toán theo
quy định. Trường hợp có dự án không đủ thủ tục đầu tư, không đảm bảo các quy
định về điều kiện bố trí vốn, KBNN không thanh toán và thông báo Sở Tài chính,
Phòng Tài chính Kế hoạch để trình UBND cấp tỉnh, cấp huyện xử lý.
Chủ đầu tư gửi cơ quan Tài chính các cấp phương án phân bổ vốn đầu tư
kèm theo các tài liệu như: Đối với dự án quy hoạch: văn bản phê duyệt đề cương
hoặc nhiệm vụ dự án quy hoạch và phê duyệt dự toán chi phí công tác quy hoạch.
Đối với các dự án chuẩn bị đầu tư: văn bản phê duyệt dự toán chi phí công tác
chuẩn bị đầu tư. Đối với các dự án thự hiện đầu tư: dự án đầu tư xây dựng công
trình (hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với dự án chỉ lập báo cáo kinh tế - kỹ
thuật) và quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền.
Điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư hàng năm:
Điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư là việc các Bộ, địa phương theo thẩm quyền
rà soát tiến độ thực hiện và mục tiêu đầu tư của các dự án trong năm để điều chỉnh,

22


chuyển vốn từ các dự án không có khả năng thực hiện sang các dự án thực hiện
vượt tiến độ, còn nợ khối lượng, các dự án có khả năng hoàn thành vượt kế hoạch
trong năm, nhằm sử dụng tối ưu hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ NSNN.
Trước khi điều chỉnh, các Bộ, địa phương phải làm việc với KBNN để xác
định số vốn thuộc kế hoạch năm đã thanh toán cho dự án, số vốn còn thừa do không

thực hiện được, đảm bảo cho kế hoạch của dự án sau khi điều chỉnh kế hoạch không
thấp hơn số vốn KBNN đã thanh toán. Trường hợp sau khi đã điều chỉnh mà còn
thừa vốn so với kế hoạch giao thì số vốn thừa được điều chỉnh cho các đơn vị khác
theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
Thời hạn điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư hàng năm kết thúc chậm nhất là
ngày 31 tháng 12 năm kế hoạch.
Tổ chức chấp hành dự toán chi đầu tư XDCB từ NSNN
Chấp hành dự toán chi đầu tư XDCB từ NSNN là quá trình sử dụng tổng hợp
các biện pháp kinh tế - tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu kế hoạch đầu
tư XDCB đã được duyệt trong dự toán ngân sách trở thành hiện thực.
Cán Bộ và UBND các tỉnh, huyện sau khi phân bổ vốn, đồng thời với việc
gửi kế hoạch vốn đầu tư cho các cơ quan tài chính, KBNN liên quan để theo dõi,
làm căn cứ kiểm soát, thanh toán vốn, tiến hành giao chỉ tiêu kế hoạch cho các chủ
đầu tư để thực hiện.
Căn cứ vào dự toán năm và khả năng thu, chi quý, cơ quan tài chính chuyển
nguồn cho cơ quan KBNN thanh toán vốn đầu tư cho các dự án theo đề nghị của
chủ đầu tư.
Cấp phát thanh toán vốn đầu tư XDCB của NSNN nhằm trang trải các chi
phí đầu tư và xây dựng các công trình thuộc các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn
NSNN. Cấp phát thanh toán vốn đầu tư XDCB của NSNN bao gồm cấp phát tạm
ứng, thu hồi tạm ứng và cấp phát thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành.
Trong một số trường hợp cần đẩy nhanh tiến độ của dự án hoặc thực hiện
nhiệm vụ cấp bách trong khi dự án chưa được bố trí kế hoạch thì được xem xét ứng
trước dự toán ngân sách năm sau.

23


Cấp phát tạm ứng và thu hồi tạm ứng vốn đầu tư
Cấp phát tạm ứng vốn đầu tư là việc KBNN cấp phát vốn cho các công

trình của chủ đầu tư khi chưa có khối lượng XDCB hoàn thành, nhằm tạo điều
kiện về vốn cho các nhà thầu thực hiện đúng kế hoạch đầu tư XDCB, đúng hợp
đồng kinh tế đã ký kết, hoặc để chủ đầu tư trang trải các chi phí (như chi phí ban
quản lý, chi phí đền bù,...) trong quá trình đầu tư xây dựng công trình do chính
chủ đầu tư thực hiện.
Hiện nay, công tác tạm ứng và thu hồi tiền tạm ứng được thực hiện theo quy
định tại Công văn số 10254/BTC-ĐT ngày 27/7/2015 và Nghị định số 37/2015/NĐCP ngày 22/4/2015. Mức vốn tạm ứng được tính bằng tỷ lệ phần trăm so với hợp
đồng nhưng không vượt mức tạm ứng tối đa và kế hoạch vốn đầu tư hàng năm của
gói thầu;
Bảng 1.1: Mức tạm ứng của các gói thầu xây lắp
TT
2
1
2
2
2
3

Tỷ lệ
tạm ứng

Mức tạm ứng tối đa

Gxl < 10 tỷ đồng

20%

≤ 50%

10 tỷ ≤ Gxl ≤ 50 tỷ đồng


15%

≤ 50%

50 tỷ đồng > Gxl

10%

≤ 50%

Giá trị gói thầu xây lắp

Mức tạm ứng vốn đối với hợp đồng mua sắm thiết bị, tùy theo giá trị hợp
đồng, do nhà thầu và chủ đầu tư thỏa thuận trên cơ sở tiến độ thanh toán trong hợp
đồng nhưng tối thiểu bằng 10% giá trị hợp đồng.
Mức tạm ứng vốn đối với hợp đồng tư vấn theo thỏa thuận trong hợp đồng
giữa chủ đầu tư với nhà thầu nhưng tối thiểu bằng 25% giá trị hợp đồng.
Đối với các dự án cấp bách như xây dựng và tu bổ đê điều, công trình vượt
lũ, thoát lũ, công trình giống, các dự án khắc phục ngay hậu quả lũ lụt thiên tai, mức
vốn tạm ứng tối thiểu bằng 50% giá trị hợp đồng.

24


Đối với một số cấu kiện, bán thành phẩm trong xây dựng có giá trị lớn phải
được sản xuất trước để bảo đảm tiến độ thi công và một số loại vật tư dự trữ theo
mùa, thì mức tạm ứng có thể theo nhu cầu cần thiết do chủ đầu tư thống nhất với
nhà thầu.
Như vậy, việc tạm ứng vốn cho các dự án thuộc trách nhiệm của chủ đầu tư

và mức tạm ứng vốn cụ thể do chủ đầu tư và nhà thầu thỏa thuận, thống nhất và
phải được quy định trong hợp đồng kinh tế giữa các bên.
Để tiền tạm ứng được nhà thầu sử dụng đúng mục đích và xử lý các vi phạm
của nhà thầu trong quá trình thực hiện hợp đồng, trước khi tạm ứng nhà thầu phải
gửi bảo lãnh tiền tạm ứng; mức bảo lãnh thực hiện theo thỏa thuận giữa chủ đầu tư
với nhà thầu được ghi trong hợp đồng kinh tế.
Tiền tạm ứng được thu hồi qua các lần thanh toán khối lượng của hợp đồng
và bắt đầu thu hồi từ lần thanh toán khối lượng hoàn thành đầu tiên, không kể là
mức thực hiện bao nhiêu và thu hồi hết khi thanh toán khối lượng hoàn thành đạt
80% giá trị hợp đồng. Mức thu hồi tạm ứng lần đầu và từng lần do chủ đầu tư và
nhà thầu thỏa thuận thống nhất trong hợp đồng.
Trường hợp vốn tạm ứng chưa thu hồi hết do gói thầu chưa được thanh toán
đạt tỷ lệ quy định nhưng dự án không được ghi tiếp kế hoạch hoặc bị đình công, chủ
đầu tư phải giải trình với KBNN về tình hình vốn tạm ứng chưa thu hồi, đồng thời
báo cáo cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Trường hợp đã cấp phát vốn tạm ứng mà gói thầu không triển khai thi công
theo đúng thời hạn quy định trong hợp đồng, chủ đầu tư phải giải trình với KBNN
và có trách nhiệm hoàn trả số vốn đã tạm ứng.
Thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành
Cấp phát thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành là việc KBNN cấp phát
vốn cho các công trình của chủ đầu tư khi có khối lượng XDCB (xây dựng, thiết
bị, chi phí khác) hoàn thành đã được nghiệm thu và đủ điều kiện được cấp phát
thanh toán.

25


×