Tải bản đầy đủ (.doc) (74 trang)

Giải pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.08 MB, 74 trang )

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập tại Trường Đại Học Vinh đến nay, em đã
nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các Thầy Cô trong khoa
Giáo dục và đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn QLGD. Cùng với tri thức
và tâm huyết của mình, thầy, cô đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho
chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc biệt với sự hướng
dẫn tận tình của các Thầy Cô ở cơ sở thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn thầy cô đã tận tâm hướng dẫn chúng em từ
cái nhỏ nhất trong cách học đến thảo luận về lĩnh vực sáng tạo trong
nghiên cứu khoa học. Kiến thức của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ
ngỡ. Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô và các bạn học
cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, em xin kính chúc Thầy Cô thật dồi dào sức khỏe, niềm
tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức
cho thế hệ mai sau.
Xin chân thành cảm ơn!

1


MỤC LỤC
Trang

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
1
2
3
4
5


6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19

Viết tắt
CBQLGD
CLGD
CNTT
CSVC SP
DTNT
GD-ĐT
GDTX
GV
HCMHS
HS
HT

QL
QLHCNN

SGK
TH
THPT
UBNN
XHCN

Viết đầy đủ
Cán bộ quản lý giáo dục
Chất lượng giáo dục
Công nghệ thông tin
Cơ sở vật chất sư phạm
Dân tộc nội trú
Giáo dục – Đào tạo
Giáo dục thường xuyên
Giáo viên
Hội cha mẹ học sinh
Học sinh
Hiệu trưởng
Quy định
Quản lý
Quản lí hành chính nhà nước
Sách giáo khoa
Tiểu học
Trung học phổ thông
Ủy ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa

2



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác quản lý là một việc làm hết sức khó khăn. Người quản lý nếu
chỉ có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý cũng chưa đủ mà người quản
lý phải hội tụ đủ các yếu tố, năng lực lãnh đạo thì mới thích ứng được với
sự tiến triển của xã hội hiện nay. Nhất là người làm công tác quản lý trong
lĩnh vực giáo dục lại càng khó khăn hơn. Bởi quản lý giáo dục không phải
chỉ đơn thuần về công tác quản lý công tác dạy và học mà còn quản lý về
con người, mà quản lý con người thì vô cùng phức tạp. Nếu trong nhà
trường người cán bộ quản lý nhanh nhạy trong mọi vấn đề thì trường hợp
đó sẽ rất có lợi, vì vậy đòi hỏi người quản lý phải năng động sáng tạo, biết
cách “Khơi nguồn và thắp sáng ước mơ”, biết hòa mình vào công tác quần
chúng, biết hi sinh vì tập thể, quan tâm đến mọi người, biết lo toan, chia sẽ
công việc, biết xây dựng kết hoạch hoạt động khoa học thì sẽ làm tốt công
việc được giao.
Để đạt được mục đích trên người hiệu trưởng không những có trình độ
năng lực quản lý mà phải có tâm huyết với nghề nghiệp, có năng lực lãnh
đạo cơ sở giáo dục trong bối cảnh mới. Trên thực tế nơi nào có người Hiệu
trưởng quan tâm, nhạy cảm, năng động tâm huyết và được đào tạo, bồi
dưỡng năng cao phẩm chất và năng lực lãnh đạo thường xuyên thì nơi đó
có phong trào lành mạnh. Hiệu trưởng là “đội ngũ sĩ quan của ngành, nếu
được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên sẽ tăng thêm sức chiến đấu cho
ngành” (Nguyễn Thị Bình).

3


Với những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Giải pháp quản lí hoạt động
bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng
trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc" nhằm tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này.

2. Mục đích nghiên cứu
Tìm ra một số giải pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm
chất và năng lực lãnh đạo của hiệu trưởng trên cơ sở tìm hiểu thực tế tại
Trường nhằm nâng cao chất lượng toàn diện trong nhà Trường Tiểu Học
Nguyễn Bá Ngọc, Tỉnh Quảng Trị.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng phẩm chất và năng lực lãnh đạo của hiệu trưởng
trường Tiểu Học Nguyễn Bá Ngọc.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng
lực lãnh đạo của hiệu trưởng Tiểu Học Nguyễn Bá Ngọc.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và
năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.
- Thực trạng về công tác quản lí hoaatj động bồi dưỡng nâng cao
phẩm chất và năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn
Bá Ngọc.
- Giải pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng
lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc giai đoạn
hiện nay.
5. Giả thuyết khoa học
Triển khai thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp quản lý công
tác bồi dưỡng nêu trong đề tài, sẽ nâng cao nâng cao phẩm chất và năng
lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4


Việc nghiên cứu trên nếu áp dụng vào công tác đánh giá thi đua của cá

nhân hiệu trưởng thì sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Hiệu
trưởng trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc giai đoạn hiện nay.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
+ Thu thập những thông tin lý luận của vai trò của người hiệu trưởng
trong công tác nâng cao phẩm chất và năng lực lãnh đạo, các bài tham luận
trên Internet.
- Phương pháp điều tra
+ Trò chuyện, trao đổi với các GV, HS, hội cha mẹ học sinh(CMHS),
bạn bè và đồng nghiệp.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
+ Tham khảo những bản báo cáo , tổng kết hàng năm của nhà trường.
+ Tham khảo kinh nghiệm của các trường bạn.
+ Tham khảo những kinh nghiệm của các hiệu trưởng khác trong cùng
cấp học.
- Phương pháp thử nghiệm
+Thử áp dụng “Giải pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm
chất và năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Bá
Ngọc”
8. Phạm vi nghiên cứu
Công tác quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực
lãnh đạo của Hiệu trưởng là một vấn đề rất rộng. Do điều kiện thời gian và
năng lực tôi có hạn nên đề tài chỉ tìm hiểu hoạt động bồi dưỡng cụ thể ở
trường Tiểu Học Nguyễn Bá Ngọc.
9. Cấu trúc nội dung đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục.
Luận văn được trình bày trong 3 chương.

5



Chương I. Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao
phẩm chất và năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học
Chương II. Thực trạng về công tác quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng
cao phẩm chất và năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học
Nguyễn Bá Ngọc
Chương III. Giải pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao phẩm
chất và năng lực lãnh đạo của Hiệu trưởng trường Tiểu học Nguyễn Bá
Ngọc giai đoạn hiện nay

6


CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI
DƯỠNG NÂNG CAO PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO
CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC NGUYỄN BÁ NGỌC
1.1.Cơ sở pháp lý
Căn cứ Thông tư số: 41/2010/TT – BGDĐT ngày 30/12/2010 Thông
tư ban hành điều lệ trường tiểu học của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT;
Quán triệt tốt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về lĩnh
vực giáo dục và đào tạo, chỉ thi 40/ CT/TW “Về việc xây dựng chất lượng
nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD” và “cuộc vân động
nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.
Tiếp tục triển khai thực hiện chỉ thị số: 40/2008/CT – BGDĐT ngày 22
tháng 7 năm 2008 “V/v phát động phong trào thi đua xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” với chủ đề năm học 2014-2015 được xác
định là tiếp tục thực hiện: “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất
lượng giáo dục”.
Tiếp tục triển khai thực hiện quyết định số: 16/2008/CT – BGDĐT
ngày 16 tháng 4 năm 2008 “ V/v ban hành qui định đạo đức nhà giáo”.

Quán triệt thực hiện tốt điều lệ trường tiểu học và nội qui lề lối làm
việc trong cơ quan trường học.
Tổ chức sắp xếp hợp lý các bộ phận trong nhà trường, sắp xếp nơi ăn
ở cho cán bộ giáo viên khu nội trú sinh hoạt văn minh lành mạnh có văn
hóa.
Quản lý tốt cơ sở vật chất và các trang thiết bị đồ dùng dạy học và
đồng thời tham mưu với Nhà nước cấp trên, ngành Giáo dục về việc xây
dựng cơ sở vật chất trong nhà trường.
7


Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục
và khai thác ứng dụng có hiệu quả các phương tiện hổ trợ công tác quản lý
cán bộ bằng phần mền PMIS, quản lý tài chính FMIS, quản lí GD EMIS,
phần mền đổi mới quản lý giáo dục SREM…
Thực hiện tốt quy chế đánh giá xếp loại chuẩn nghề nghiệp giáo viên
TH theo QĐ 14 của Bộ GD&ĐT.
Lập kỉ cương đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong nhà trường tăng
cường công tác kiểm tra xử lý nghiêm những vi phạm về chuyên môn,
nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.
1.2. Cơ sở lý luận
Hiệu trưởng là người có vai trò quyết định trong việc định hướng, xây
dựng và phát triển nhà trường nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục đề ra.
Vì vậy, Hiệu trưởng phải thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng để nâng
cao phẩm chất và năng lực lãnh đạo, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới căn
bản và toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay.
1.3. Cơ sở thực tiễn
Hiệu quả của công tác bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực lãnh
đạo của Hiệu trưởng ở trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.
1.4. Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.4.1. Quản lý, quản lý giáo dục
1.4.1.1. Quản lý
Quản lý là “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích
của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý”.
1.4.1.2. Quản lý giáo dục
QLGD là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý tới
khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt
tới kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất. QLGD được hiểu một
cách cụ thể là QL một hệ thống GD, một trường học, một cơ sở giáo dục
8


hay một trung tâm dạy nghề,…Trường học là một tổ chức GD cơ sở, trực
tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ và các lực lượng lao động.
1.4.2. Năng lực, năng lực quản lý
1.4.2.1. Năng lực
Năng lực là một trong những vấn đề của tâm lý học có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn to lớn trong chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân
lực của Đảng ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước hiện nay.
Vậy năng lực là gì?
Theo A.G Kôvaliốp: “ Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những
thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và
đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”. [1]
Theo Thái Duy Tuyên: “Năng lực là những đặc điểm tâm lý của
nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt
động nhất định. Năng lực có liên quan với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
Năng lực thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng
của kết quả hoạt động, ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt
động”. [34]
Theo Đỗ Hoàng Toàn: “Năng lực là những thuộc tính tâm lý của cá

nhân giúp cho việc con người lĩnh hội một lĩnh vực kiến thức hoặc hoạt
động nào đấy được dễ dàng và nếu họ tiến hành hoạt động trong lĩnh vực
đó thì sẽ có kết quả cao.
Năng lực được hình thành, thể hiện và hoàn thiện trong hoạt động.
Ngay cả những năng lực rất yếu cũng có thể được phát triển, nâng cao bằng
con đường kiên trì luyện tập một cách có hệ thống. Con người không phải
ngay từ khi sinh ra đã có những năng lực đối với một hoạt động nhất định.
Năng lực chỉ có thể được phát hiện và nâng cao trong những hoàn cảnh
thuận lợi”. [15]
9


1.4.2.2. Năng lực quản lý
Xuất phát từ khái niệm năng lực nói chung, năng lực quản lý có thể
hiểu là những thuộc tính tâm lý cá nhân của người quản lý đáp ứng được
yêu cầu của việc giải quyết những nhiệm vụ của hoạt động quản lý. Năng
lực quản lý giúp nhà quản lý có được những tiền đề tâm lý cần thiết để thực
hiện có hiệu quả các chức năng quản lý.
Năng lực quản lý được thể hiện một cách tập trung trong toàn bộ chu
trình quản lý, từ việc hoạch định (ra quyết định) đến việc tổ chức, chỉ đạo
thực hiện và kiểm tra, giám sát các hoạt động để uốn nắn, điều chỉnh, bổ
sung cho những quyết định mới phù hợp hơn. Năng lực quản lý liên quan
chặt chẽ với những phẩm chất nhân cách của người quản lý như: trình độ,
tầm nhìn, khả năng thiết kế, óc thực tế, sáng tạo, khả năng tổ chức điều
khiển, khả năng giao tiếp cảm hoá thuyết phục con người…
Năng lực quản lý được hình thành trong chính hoạt động quản lý.
Trong quá trình này, nảy sinh những thuộc tính mới cần thiết cho sự thực
hiện thành công mọi hoạt động quản lý, đồng thời làm xuất hiện những
phẩm chất thay thế cho những thuộc tính tự nhiên chưa hoàn thiện ở chủ
thể quản lý. Hay nói cách khác, thông qua hoạt động quản lý, hình thành

những cơ chế bù trừ làm chủ thể quản lý hoàn thiện hơn.
Năng lực quản lý còn gọi là chất sám quản lý, trong xã hội hiện đại
nó được đánh giá rất cao - Là một trong năm yếu tố để phát triển một quốc
gia giàu mạnh, đó là: Lao động, công nghệ, tài nguyên, tiền vốn và chất
sám quản lý. Trong đó yếu tố chất sám quản lý (Năng lực quản lý) được
xem là yếu tố quan trọng hàng đầu.

10


Sơ đồ 4: Vị trí năng lực quản lý trong các yếu tố phát triển quốc
gia

Năng lực quản lý

Lao động

Công nghệ

Tài nguyên

Vốn

Trong lĩnh vực giáo dục, năng lực quản lý được thể hiện cụ thể bằng:
- Năng lực chuyên môn nghiệp vụ: Am hiểu quá trình GD-ĐT và tổ
chức điều khiển quá trình này đi đến mục tiêu đã xác định, trong phạm vi
chức trách và nhiệm vụ cụ thể của chủ thể quản lý.
- Năng lực tổ chức, hợp tác tập thể sư phạm, điều hành và kiểm tra
giám sát mọi hoạt động giáo dục.
- Năng lực giao tiếp ứng xử trước các tình huống sư phạm và các

tình huống xã hội nói chung.
Đối với hiệu trưởng trường tiểu học, một số nhà nghiên cứu về
QLGD cho rằng:
11


- Năng lực chuyên môn của người hiệu trưởng thể hiện ở trình độ
hiểu biết về chuyên môn; nắm vững nội dung chương trình, phương pháp
đặc trưng các môn học ở bậc tiểu học để quản lý chỉ đạo hoạt động chuyên
môn trong nhà trường. Hiệu trưởng tiểu học cần có khả năng tự học, tự bồi
dưỡng nhằm không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt; Phải nhạy bén và
tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu
phát triển của cấp học trong từng giai đoạn, từng thời kỳ; Phải có khả năng
bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho đội ngũ giáo viên, tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho cán bộ giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Năng lực quản lý của hiệu trưởng tiểu học thể hiện ở khả năng dự
báo, thiết kế và tổ chức thực hiện kế hoạch; năng lực quản lý hành chính,
tài chính; năng lực quản lý xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên trường tiểu
học đủ về số lượng, mạnh về chất lượng; năng lực ứng xử và giao tiếp để
thiết lập và duy trì các mối quan hệ trong và ngoài nhà trường, thực hiện
tốt công tác xã hội hoá giáo dục; năng lực làm việc khoa học; năng lực
kiểm tra giám sát các hoạt động giáo dục và các hoạt động khác trong nội
bộ trường tiểu học. Ngoài ra, hiệu trưởng trường tiểu học còn cần có năng
lực tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học giáo dục và viết các loại
văn bản; có trình độ tin học ở mức sử dụng thành thạo phần mềm soạn thảo
văn bản, lưu trữ một số phần mềm ứng dụng khác trên máy vi tính phục vụ
thiết thực cho công tác quản lý trường tiểu học.
1.4.3. Phẩm chất lãnh đạo của người hiệu trưởng
1.4.3.1. Phẩm chất
Phẩm chất là gì? Chất có nghĩa là cái vốn có; chất là tính quy định bên

trong một vật này khác với vật khác. Phẩm chất chỉ tính chất và đặc điểm
vốn có của sự vật. Khái niệm phẩm chất vừa có nghĩa hẹp vừa có nghĩa
rộng. Theo nghĩa hẹp, phẩm chất là khái niệm sinh lý học, chỉ đặc điểm sẵn
có của cơ thể như hệ thần kinh, các giác quan và cơ quan vận động. Đặc
12


điểm sẵn có là cơ sở tự nhiên để con người tiếp nhận những hiện tượng tâm
lý và thuộc tính tâm lý. Theo nghĩa rộng, phẩm chất chỉ các đặc điểm tâm
lý như: tính cách, ý chí, hứng thú, tính khí, phong cách của con người.
1.4.3.2. Phẩm chất lãnh đạo
Có thể hiểu phẩm chất của người lãnh đạo không chỉ là những đặc
trưng đơn giản có sẵn của sinh lý học mà là tổng hòa các yếu tố bên trong,
trên cơ sở các phẩm chất sinh lý, hình thành các phẩm chất tâm lý thông
qua hoạt động, quan hệ giao lưu trong thực tiễn đời sống và trong công tác
của người lãnh đạo.
1.4.4. Bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực của hiệu trưởng
1.4.4.1.Bồi dưỡng
Bồi dưỡng là “Làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Bồi
dưỡng thực chất là nhằm làm giàu vốn kiến thức, nâng cao hiệu quả lao
động từ việc bồi đắp những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ
sở “nuôi dưỡng”, “giữ gìn” những cái cũ còn phù hợp để mở mang có hệ
thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ.
1.4.4.2. Bồi dưỡng nâng cao phẩm chất và năng lực lãnh đạo
Một là, người lãnh đạo, quản lý không nhất thiết phải có kiến thức quá
sâu về các lĩnh vực (điều này đã có cán bộ, chuyên gia bổ khuyết), nhưng
cũng cần phải nắm được những kiến thức cơ bản trên các lĩnh vực; đặc biệt
phải kiến thức về chính trị, kinh tế, xã hội, kiến thức về cuộc sống thực tế.
Hai là, người lãnh đạo, quản lý phải có khả năng nhìn xa thấy rộng, nhạy
bén với cái mới, cũng như những chuyển biến thuận chiều, ngược chiều, có

khả năng dự báo, nhận định tình hình để có các giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo,
tạo sự ổn định vững chắc.
Ba là, người lãnh đạo, quản lý phải có khả năng thuyết phục, truyền
cảm cho người khác, biến ước vọng của cá nhân thành ước vọng của số
đông. Bản thân biết “chọn việc làm”, không sa vào công việc sự vụ, lặt vặt

13


mà bỏ việc chính, phải biết sắp xếp, tổ chức công việc của tập thể thật sự
khoa học.
Bốn là, người lãnh đạo, quản lý phải có khả năng dùng người, đây là
tố chất quan trọng bậc nhất; phải biết điều khiển người khác thực hiện mục
tiêu, nhiệm vụ; nếu không biết dùng người thì không thể làm tròn chức
trách, nhiệm vụ của mình. Đây là điều khó khăn nhất, vì liên quan đến con
người, là một thực thể luôn thiên hình, vạn trạng.
Năm là, người lãnh đạo, quản lý phải khả năng tổ chức, biết sắp xếp
bộ máy hợp lý với sự vận hành trơn tru, biết phân bổ và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực (nhân lực, tài lực, thời gian) biết hướng dẫn giúp cấp
dưới, biết dàn xếp quan hệ trong, ngoài một cách khoa học.
Sáu là, sự công tâm gương mẫu là một yêu cầu cơ bản đối với bất kỳ
người lãnh đạo nào; bởi một người lãnh đạo thiên vị, tư lợi, gò ép người
khác phải theo ý mình, hoặc chê bai cán bộ, đẩy cán bộ vào vách tường, rồi
định kiến thì không bao giờ có thể lôi cuốn người khác đi theo mình một
cách tự giác, bền vững.
Bảy là, điều quan trọng nhất của người lãnh đạo, quản lý là đức tính
biết lắng nghe người khác, biết tôn trọng mọi người, vì người lãnh đạo có
tài ba đến đâu cũng không thể biết hết mọi thứ, do đó phải biết lắng nghe
người khác để khai thác ở họ những điều mình chưa biết, hoặc biết chưa
sâu. Người lãnh đạo, quản lý phải có đức tính thực sự cầu thị, vì họ không

thể lúc nào cũng đúng, nếu không cầu thị, không nhận biết sai sót, khuyết
điểm của mình thì dễ dẫn đến hỏng việc và vi phạm
Tám là, người lãnh đạo, quản lý phải có tâm đức, trung thành, chân
thật; theo triết lý phương Đông thì cái gốc là “Đức”, người không có đức
giữ vai trò lãnh đạo có thể phá hoại sự nghiệp, mất điều khiển, do vậy,
người lãnh đạo, quản lý trước hết phải trung thành tuyệt đối với Đảng, với
nhân dân, trung thực phản ánh với cấp trên những việc thực tế, không nói
thêm, không cường điệu, truyền đạt với cấp dưới phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ
14


làm, để mọi người tổ chức thực hiện có hiệu quả, tránh sự sợ hãi cấp trên
rồi làm dối, nói dối, dẫn đến vi phạm pháp luật.
Chín là, người lãnh đạo, quản lý phải nhiệt huyết và biết truyền nhiệt
huyết cho cấp dưới, để mọi người thực sự hăng hái, vui vẻ làm việc, cái
nhiệt huyết đó được thể hiện vì sự nghiệp chung, không vì một động cơ
nào khác; người lãnh đạo, quản lý nói hay nhưng hành động khác thì mọi
người sẽ biết ngay, không thể che lấp được, khi đó không ai dám nói nhưng
rồi đến một lúc nào đó sẽ bị phơi bày những tư tưởng cá nhân, khi đó sẽ
nguy hại cho bản thân. Đồng thời người lãnh, quản lý phải biết mình, biết
mọi người, đừng vì mình quá mà xem thường người khác, hoặc việc của
mình thì cho là quan trọng, việc người khác thì xem thường, bỏ qua, dẫn
đến sai lầm của người lãnh đạo, quản lý.
Mười là, người lãnh đạo, quản lý phải luôn giữ vững nguyên tắc lãnh
đạo, thực hiện nghiêm túc các quy định của tập thể, không được tùy tiện
thay đổi, làm khác khi không được tập thể đồng thuận; phải rất kiêng kỵ,
tránh xa điều này.
Mười một là, người lãnh đạo, quản lý phải hiểu biết cán bộ, cân nhắc
cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ. “Muốn hiểu biết cán bộ, trước
hết phải biết mình, nếu mình tự cao, tự đại, ưa nịnh, lấy lòng yêu ghét, chủ

quan để xét đoán, hẹp hòi, thì không thể đối đãi tử tế với người khác”.
Nhìn người phải theo phép biện chứng, vì con người có thể biến hóa từ xấu
thành tốt và ngược lại, không thể xem xét bên ngoài mà đánh giá bản chất
bên trong, mà phải thông qua thử thách trong công việc, trong lối sống. Về
yêu cầu này, khéo dùng cần 5 điều:
+ Tinh thần độ lượng, tránh thành kiến, phải chịu khó kiên trì giúp đỡ
cấp dưới tiến bộ.
+ Sáng suốt, tỉnh táo, không để bọn cơ hội bủa vây, xa lánh người tốt;
+ Gần gũi, quan tâm, giúp đỡ mọi người chân tình, trách nhiệm;

15


+ Khuyến khích cán bộ dưới quyền dám nói, dám chịu trách nhiệm và
biết lắng nghe họ;
+ Mạnh dạn cân nhắc những người trung thực, đức độ, tài năng.
- Người lãnh đạo, quản lý phải rất gần gũi với cấp dưới, tôn trọng, khuyến
khích, động viên, thương yêu cán bộ, khen nhiều hơn chê, khơi dậy được
trí tuệ, sức mạnh và lòng nhiệt huyết của nhiều người. Vì là người ai cũng
muốn được khen, do đó khi phê bình cán bộ phải có phươnp pháp, cẩn
trọng, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, tình cảm, tính thuyết phục cao, đừng để
người bị phê bình ấm ức, buồn chán mà phải có niềm tin để tiếp thu, khắc
phục, phấn khởi, đó là cái tâm, cái đức của người cán bộ lãnh đạo, quản lý.
1.4.4.3.Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí
Đây là giải pháp nhằm khắc phục mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực
trong mỗi con người, bù đắp những thiếu hụt, khiếm khuyết của mỗi cá
nhân trong quá trình hoạt động. Quá trình đào tạo, bồi dưỡng là quá trình
tạo ra chất mới và sự phát triển toàn diện trong mỗi con người. Phẩm chất,
trình độ, năng lực của cán bộ quản lí không chỉ được rèn luyện trong thực
tiễn mà còn kết hợp với việc thường xuyên được cung cấp, bồi dưỡng tri

thức và phương pháp làm việc, phương pháp quản lí.
Đối với cán bộ đương chức thì việc đào tạo, bồi dưỡng là yêu cầu tất
yếu. Phải kết hợp vừa bồi dưỡng tập trung theo kế hoạch và tự bồi dưỡng,
trong đó coi trọng việc tự bồi dưỡng là điều kiện tốt nhất để nâng cao phẩm
chất, năng lực. Có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, định kì theo hình
thức tập trung, tại chức, tự bồi dưỡng, trao đổi kinh nghiệm. Đa dạng hoá
hình thức bồi dưỡng và tự bồi dưỡng.
Đối với CBQL trong quy hoạch thì công tác đào tạo, bồi dưỡng trước
và sau quy hoạch đều có ý nghĩa quan trọng. Trước quy hoạch, việc đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ để tạo nguồn đưa vào quy hoạch. Trình độ cán bộ
được đào tạo càng cao thì nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch càng phong
phú và có chất lượng. Không có nguồn cán bộ đã được đào tạo sẽ phải quy
16


hoạch gượng ép hoặc làm một cách hình thức. Sau quy hoạch, việc đào tạo,
bồi dưỡng có vai trò quyết định kết quả thực hiện quy hoạch. Xây dựng
xong quy hoạch mới là bước khởi đầu, sau đó sẽ là một quá trình phải đào
tạo, bồi dưỡng, thử thách, rèn luyện đối với cán bộ trong quy hoạch. Vì
vậy, khi tiến hành quy hoạch cán bộ hàng năm, cần lựa chọn những giáo
viên có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, tâm huyết với nghề
nghiệp, thời gian công tác trong ngành ít nhất 5 năm trở lên, có tinh thần
cống hiến, có uy tín trong cán bộ, giáo viên. Việc đào tạo bồi dưỡng phải
gắn với bố trí, sử dụng cán bộ sau đào tạo bồi dưỡng.
1.4.4.4.Tính tất yếu phải tăng cường bồi dưỡng năng lực quản lý cho
đội ngũ hiệu trưởng các trường tiểu học trong giai đoạn hiện nay
Loài người đang bước vào kỷ nguyên mới với đặc trưng nổi bật nhất
của cuộc cách mạng công nghệ so với cuộc cách mạng công nghiệp trước
đây là vấn đề đưa yếu tố thông tin và tri thức là yếu tố quan trọng nhất,
đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế xã hội.

Trong thời đại ngày nay, con người với các kỹ năng và kiến thức của
mình cũng là một trong những dạng tài sản dự trữ, là thế mạnh của mỗi
quốc gia. Bởi vậy trong xã hội hiện đại, đầu tư chủ yếu trong xã hội là sự
“nâng cấp” con người về mọi mặt, đặc biệt là kỹ năng và tri thức. Có tri
thức và kỹ năng, con người sẽ phát triển được năng lực, tham gia vào mọi
hoạt động lao động tạo ra của cải vật chất với sức lao động vừa ít vừa tiết
kiệm thời gian, sức lực, góp phần thúc đẩy sự phát triển và sự tiến bộ xã
hội, hội nhập với thế giới bên ngoài.
Để Việt Nam hoà nhập với các nước trong khu vực và xu thế toàn
cầu hoá, đòi hỏi ngành Giáo dục phải kiên trì đường lối chỉ đạo đã được
vạch ra; điều quan trọng hơn cả là phải tìm ra biện pháp cụ thể để phát triển
giáo dục tiểu học như: Xây dựng mục tiêu giáo dục cho phù hợp với yêu
17


cầu giai đoạn mới; Xây dựng hệ thống trường tiểu học theo tiêu chuẩn
Quốc gia (cho từng giai đoạn); Xây dựng chương trình dạy học, nội dung
và kế hoạch dạy học; Đổi mới phương pháp dạy học ... và một vấn đề quan
trọng nữa là phải cải tiến quản lý, phải xây dựng một đội ngũ cán bộ quản
lý, đặc biệt là đội ngũ hiệu trưởng trường tiểu học đủ mạnh, sẵn sàng đáp
ứng mọi yêu cầu, nhiệm vụ.
1.5. Một số vấn đề chung về trường Tiểu học
1.5.1. Vị trí trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trường tiểu học do nhà nước đặt ra và xây dựng nhằm thực hiện mục
tiêu giáo dục tiểu học. Do đó trường tiểu học có vị trí, chức năng và nhiệm
vụ đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp “ trồng người”.
Trong điều 2 của điều lệ trường tiểu học xác định rõ: “Trường tiểu học
là cơ sở giáo dục của bậc tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục
quốc dân”.Trường tiểu học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng.
Trong cuốn chuyên khảo “ Công tác quản lí hành chính và sư phạm

của trường tiểu học” Jean Valerien có ghi ý kiến của UNESCO như sau:
“Tiểu học không cần phải bàn cải gì nữa, là cấp đào tạo chính để cung
cấp nền giáo dục cơ bản mà mọi trẻ em có quyền được hưởng”.
Giáo sư Phạm Tất Dong đã từng khẳng định “ Giáo dục tiểu học là
một bộ phận nền tảng để trên đó chúng ta xây dựng tòa nhà học vấn cho
toàn dân”.
Đây là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14 tuổi, thực hiện
trong 5 năm học từ lớp 1 đến lớp 5. Bậc học này nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo
đức, trí tuệ, thể chất thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học
THCS.
Đối với mỗi con người trong qúa trình trưởng thành, trường tiểu học là
nơi con người chính thức được tổ chức học tập, rèn luyện một cách “ chính
18


quy” nghiêm túc nhất. Trường tiểu học lần đầu tiên tác động đến trẻ em
bằng phương pháp nhà trường (bao gồm cả nội dung, phương pháp và tổ
chức giáo dục) nơi đầu tiên tổ chức một cách tự giác hoạt động học tập với
tư cách là một hoạt động chủ đạo cho trẻ em, nơi diễn ra cuộc sống thực
của trẻ em và là nơi tạo cho trẻ em có hạnh phúc đi học.
Như vậy, với tư cách là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc
dân, giáo dục tiểu học có vững chắc thì mới đảm bảo được nhiệm vụ xây
dựng toàn bộ nền móng không những chỉ đạo cho giáo dục phổ thông mà
còn cho cả sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Điều 3 – Luật Phổ cập giáo dục tiểu học quy định mục tiêu giáo dục
tiểu học là: “Giáo dục tiểu học phải đảm bảo cho học sinh nắm vững các kĩ
năng nói, đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết cần tiết về thiên nhiên, xã
hội, con người, có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh
chị em, kính trọng thầy cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi, giúp đỡ bạn bè,

em nhỏ; yêu lao động, có kỉ luật, có nếp sống văn hóa, yêu hòa bình”.
Trong điều 27 khoản 2 của luật giáo dục cũng đã ghi rõ: “Giáo dục
tiểu học nhằm giúp cho học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự
phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức trí tuệ , thể chất, thẩm mĩ và các
kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS”.
Mục tiêu chung của giáo dục tiểu học đã khẳng định:
+ Phát triển toàn diện con người là mục tiêu chung lâu dài của sự phát
triển giáo dục. Giáo dục tiểu học chỉ hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát
triển đó.
+ Con người phát triển toàn diện phải có đầy đủ các phẩm chất và
năng lực về đạo đức trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và phải có các khái niệm cơ
bản để tiếp tục học lên, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
+ Học xong bậc học tiểu học, nội dung giáo dục tiểu học phải “ bảo
đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con

19


người; có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, có hiểu biết ban đầu
về hát múa, âm nhạc, mĩ thuật.
1.5.2. Mục tiêu của giáo dục Tiểu học
(Điều 27– Luật giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005
của Quốc Hội). Đảm bảo mục tiêu chung của GD phổ thông là giúp HS
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng
cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành
nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm
công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao
động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời thực hiện mục tiêu
riêng của cấp Tiểu học là nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu
cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ

và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.
1.6. Người hiệu trưởng trong nhà trường tiểu học
1.6.1. Vai trò của người hiệu trưởng
Hiệu trưởng trườngTiểu học Hiệu trưởng trường Tiểu học là người
chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng GD của nhà
trường. Hiệu trưởng do Trưởng phòng GD&ĐT bổ nhiệm đối với trường
Tiểu học công lập, công nhận đối với trường Tiểu học tư thục theo quy
trình bổ nhiệm hoặc công nhận Hiệu trưởng của cấp có thẩm quyền.
Hiệu quả giáo dục, đào tạo của nhà trường nói chung phụ thuộc vào
các yếu tố chủ yếu sau đây:
+ Đội ngũ giáo viên, công nhân viên.
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học.
+Trình độ giáo dục ( đầu vào) của học sinh.
+ Tổ chức quản lí trường học đứng đầu là hiệu trưởng.
Khi xác định vai trò, vị trí của người hiệu trưởng – người được giao
quyền hạn và nhiệm vụ lớn lao đối với hoạt động quản lí nhà trường, luật
giáo dục ban hành năm 2005 ở điều 54 khoản I quy định “ HT là người
20


chịu trách nhiệm quản lí các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận”.
Nhà trường thực hiện được mục tiêu nhiệm vụ của mình hay không
một phần quyết định là phụ thuộc vào những phẩm chất và năng lực của
người hiệu trưởng. Trong những hoàn cảnh thực tiễn gần nhau, có trường
với hiệu trưởng giỏi đã trở thành trường tiên tiến, đạt nhiều thành tích về
dạy học và giáo dục; nhưng với hiệu trưởng kém thì trường không phát
triển, chất lượng dạy học và giáo dục thấp. Vai trò tổ chức, quản lí của
hiệu trưởng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mọi hoạt động của nhà
trường.

Người hiệu trưởng trong nhà trường XHCN không phải chỉ cần biết tổ
chức việc dạy và học theo yêu cầu của xã hội mà điều quan trọng hơn là
biến nhà trường thành một “công cụ của chuyên chính vô sản” ( Lê nin –
Bàn về giáo dục). Vì vậy, người hiệu trưởng phải có sự giác ngộ sâu sắc về
chính trị, có những hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, về đường lối giáo dục XHCN, có tinh thần cách mạng cao,
có tinh thần đoàn kết.
Người HT tổ chức thực hiện những chủ trương chính sách, đường lối
giáo dục thông qua nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục
phù hợp.Người HT phải hiểu rõ mục tiêu giáo dục, am hiểu sâu sắc nội
dung giáo dục, nắm chắc các phương pháp giáo dục, các nguyên tắc tổ
chức giáo dục XHCN có kinh nghiệm, có năng lực, có uy tín về chuyên
môn, là con chim đầu đàn của tập thể giáo viên. Người HT có chức năng tổ
chức mọi hoạt động giáo dịch trong nhà trường, làm sao cho các chủ
trương, đường lối các nội dung, phương pháp giáo dục được thực hiện một
cách có hiệu quả. Do vậy, năng lực tổ chức thực tiễn, người hiệu trưởng
phải có tri thức cần thiết về khoa học tổ chức, đặc biệt phải biết quản lý
quản lý con người, có những kỹ năng cần thiết làm việc với con người.
Chính vì vậy, lao động quản lí của hiệu trưởng vừa mang tính khoa học
21


vừa mang tính nghệ thuật.
1.6.2.Chức năng của người hiệu trưởng
Công tác quản lí nhà trường trước hết phải nhằm thực hiện nghiêm túc
các nhiệm vụ theo luật quy định, nó thể hiện ở chức năng quản lí. Để thực
hiện tốt nhiệm vụ của chủ thể quản lí, hiệu trưởng phải làm tốt 4 chức năng
cơ bản trong mọi khâu của quá trình quản lí giáo dục. Đó là chức năng lập
kế hoạch, chức năng tổ chức thực hiện, chức năng chỉ đạo và chức năng
kiểm tra trong quá trình giáo dục.

1.6.2.1. Lập kế hoạch
Là tập hợp các MTGD có quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau bởi
MTGD chung và hệ thống các biện pháp thích hợp, được xây dựng trước
cho một giai đoạn nhất định, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục đã được
xác định, là chương trình hoạt động của tập thể sư phạm, được xây dựng
trên cơ sở những nhiệm vụ giáo dục đã được xác định, là chương trình hoạt
động của tập thể sư phạm, được xây dựng trên cơ sở những nhiệm vụ giáo
dục đã được xác định, là chương trình hành động của tập thể thể sư phạm,
được xây dựng trên cơ sở những nhiệm vụ chung của nhà trường, những
chỉ thị của Đảng, Nhà nước về Giáo dục – Đào tạo được vận dụng vào điều
kiện cụ thể, phù hợp với đặc điểm của nhà trường.
Điều quan trọng nhất trong lập kế hoạch là xác định đúng đắn các mục
tiêu , nhiệm vụ cụ thể của nhà trường trong năm học, trên cơ sở đó soạn
thảo ra các quyết định quản lí để các mục tiêu, nhiệm vụ đó từng bước
được thực hiện trong từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể.
Giai đoạn đầu của lập kế hoạch có ý nghĩa quan trọng và mất nhiều
thời gian, công sức vì phải tổng hợp, nghiên cứu tư liệu của năm học trước,
phải phân tích một cách khoa học các mặt thành công cũng như tìm ra
nguyên nhân của những mặt còn yếu kém. Trên cơ sở mục tiêu đã hoạch
định, nghiên cứu các văn bản hướng dẫn, thông tư, chỉ thị, kế hoạch của
22


cấp trên, đồng thời tiến hành xử lí một cách khoa học hệ thống các thông
tin về thực tế nhà trường , về đội ngũ giáo, học sinh, điều kiện CSVC, về
thực trạng kinh tế – xã hội của địa phương đưa ra thảo luận trong bộ máy
lãnh đạo nhà trường để có sự thống nhất cao trong thực hiện.
Giai đoạn 2 là lập kế hoạch về từng bộ phận công tác của nhà trường,
bao gồm các yếu tố chuyên môn, các bộ phận tham mưu, các tổ chức đoàn
thể (công đoàn, đoàn thanh niên, đội thiếu niên) trong trường. Hiệu trưởng

cần có biện pháp chỉ đạo sao cho kế hoạch của các bộ phận đảm bảo tính
đồng bộ, có khả năng phối hợp cao, cùng hướng vào thực hiện mục tiêu và
các nhiệm vụ công tác kế hoạch chung. Từng bộ phận cần tổ chức xây
dựng kế hoạch một cách nghiêm túc, chi tiết, cụ thể, hợp lí, sát với điều
kiện phù hợp với mỗi thành viên trong tập thể phát huy được điểm mạnh
của họ trong HĐSP.
1.6.2.2.Tổ chức thực hiện kế hoạch
Đây là chức năng có ý nghĩa quyết định trong việc biến kế hoạch
thành hiện thực. Trong tác phẩm “V.I. Lê nin, toàn tập” Lê nin nói rằng:
“Mọi kế hoạch tốt nhất cũng đều có thể bị phá vỡ tan tành do việc thực
hiện vụng về và đần độn”.
Hiệu trưởng cụ thể hóa kế hoạch chung thành chương trình hành động,
từ chỉ tiêu chung của toàn trường thành chỉ tiêu bộ phận, từ kế hoạch nhà
trường thành kế hoạch tổ, nhóm, để những kế hoạch chi tiết đó có tính thực
tiễn và khả thi, hiệu trưởng cần chú ý tới tính chủ động, sáng tạo của giáo
viên tạo điều kiện cho họ được áp dụng những biện pháp thích hợp trong
từng trường hợp cụ thể.
Hiệu trưởng tổ chức tốt hoạt động của bộ máy nhà trường, tức là làm
công tác tổ chức cán bộ. Hiệu trưởng phải nắm vững đội ngũ CBCNV
trong trường mình, không những về năng lực chuyên môn mà còn cần phải
hiểu được tâm tư, hoàn cảnh riêng của từng người để từ đó có sự phân công

23


hợp lý, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát huy tối đa năng lực bản thân,
tạo thành sức mạnh to lớn của đơn vị.
- Chỉ đạo
Bên cạnh tổ chức, hiệu trưởng phải thường xuyên nắm chắc vai trò chỉ
đạo toàn diện của mình. Người lãnh đạo giỏi là người tạo ra được sự đồng

bộ về mọi phương diện, chủ động và sáng tạo trong tập hợp, xử lý các
nguồn thông tin một cách chính xác, kịp thời, để điều chỉnh trong quá trình
quản lí, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.
Trong quản lý trường học, rất nhiều tình huống có thể xảy ra từ nhiều
nguyên nhân đòi hỏi sự chỉ đạo, lãnh đạo đúng đắn, nhạy bén, sâu sắc, kịp
thời của người hiệu trưởng.
- Kiểm tra.
Chức năng cơ bản của hiệu trưởng trường tiểu học là kiểm tra toàn
diện các hoạt động sư phạm diễn ra trong trường do mình phụ trách, phải
lấy các mục tiêu trong kế hoạch, mục đích cuối cùng của giáo dục làm tiêu
chí để đánh giá các khâu hoạt động. Hiệu trưởng căn cứ vào kết quả kiểm
tra cụ thể mà đánh giá từng khâu cho tới toàn bộ hoạt động giáo dục trong
nhà trường, kịp thời phát hiện những điểm sai lệch cần điều chỉnh để có
biện pháp phù hợp, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Phương pháp tiến
hành kiểm tra cần thiết thực, phù hợp và hiệu quả.
Các chức năng quản lý của hiệu trưởng có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau, phối hợp với nhau, bổ sung cho nhau cùng thực hiện một chức năng
chung là quản lý tốt hoạt động của nhà trường.
1.6.3.Nhiệm vụ của người hiệu trưởng
Điều 18 của Điều lệ trường Tiểu học xác định rõ: Hiệu trưởng trường
tiểu học có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch năm học.

24


- Tổ chức bộ máy của trường: Thành lập và căn cứ các tổ trưởng chuyên
môn, tổ hành chính – quản trị, thành lập và cử chủ tịch các hội đồng trong
nhà trường.
- Phân công, quản lý, kiểm tra công tác của giáo viên, nhân viên; đề nghị

với trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo về quyết định tuyển dụng, thuyên
chuyển, đề bạt giáo viên, nhân viên chạy theo quy định của nhà nước
- Quản lý hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường
- Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường
- Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức;
nhận học sinh vào học, giới thiệu học sinh chuyển trường
- Quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh, xét duyệt kết quả đánh giá, xếp
loại học sinh, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp, danh sách học sinh
được dự thi tốt nghiệp tiểu học
- Được dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ quản
lý trường học, được hưởng các quyền lợi của hiệu trưởng theo quy định.
Tóm lại: Hiệu trưởng là người có trách nhiệm chủ yếu, có tính quyết
định đến kết quả phấn đấu của nhà trường, là nhân tố cơ bản quyết định sự
thành bại của nhà trường.
1.7. Yêu cầu về năng lực đổi với hiệu trưởng trường tiểu học
Chuẩn Hiệu trưởng trường tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số
14/2011/TT-BGDĐT ngày 08 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo quy định: Hiệu trưởng trường TH trong giai đoạn hiện nay
phải có 4 tiêu chuẩn hàm chứa 18 tiêu chí, 56 yêu cầu. Trong đó có tới 3
tiêu chuẩn về năng lưc là:
- Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm. Bao gồm 2 tiêu chuẩn:
Trình độ chuyên môn; Nghiệp vụ sư phạm.
- Năng lực quản lý trường Tiểu học. Bao gồm 9 tiêu chí:
+ Hiểu biết nghiệp vụ quản lý
+ Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển
nhà trường
+ Quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường;
25



×