Tải bản đầy đủ (.docx) (48 trang)

báo cáo tốt nghiệp “ pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần vinalines logistic việt nam”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (290.05 KB, 48 trang )

MỤC LỤC

1

1


LỜI CẢM ƠN
Để hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu, em đã có cơ hội thực tập tai: Công ty
cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam . Em xin gửi lời cám ơn tới các cán bộ, nhân
viên trong công ty đã tạo điều kiện để em thực tập, hoàn thành tốt nhất có thể khóa
luận tốt nghiệp của mình.
Em cũng xin gửi lời cám ơn tới các Thầy, Cô giáo Khoa Kinh tế- Luật, Khoa
và Nhà trường đã tạo điều kiện để em có cơ hội thực tập, nghiên cứu chuyên sâu.
Đặc biệt, em xin gửi lời cám ơn tới cô giáo Nguyễn Kim Thanh đã định hướng, giúp
đỡ, hỗ trợ em rất tận tình trong suốt quá trình thực hiện và cho đến khi hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Tuy vậy, do thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm, kiến thức còn hạn chế
nên khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong
nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô giáo để em có cơ hội bổ
sung, hoàn thiện kiến thức của mình nhằm phục vụ tốt cho công việc thực tế.
Em xin chân thành cảm ơn!

2

2


LỜI MỞ ĐẦU
1.


Tính cấp thiết của đề tài khóa luận

Ngày nay, cùng với sự vươn mình trỗi dậy của mình trên con đường hội nhập
nền kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đã gặt hái được những bước tiến đáng
mừng kể từ sau khi trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại quốc tế
WTO. Sự hội nhập này đã, đang và sẽ tạo ra cho các doanh nghiệp Việt Nam những
cơ hội to lớn để phát triển kinh doanh, mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu.
Song đứng trước thời cơ, vận hội này cũng đặt ra không ít những thách thức cho các
doanh nghiệp bởi họ đang phải cạnh tranh gay gắt với nhau và với các doanh nghiệp
nước ngoài. Với mỗi doanh nghiệp để tồn tại và phát triển thì ngoài việc phải luôn
tìm cách nghiên cứu phát triển và cải tiến sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thay đổi
nhanh chóng trên thị trường, còn phải có những sách lược, chiến lược tiếp cận,
tuyên truyền tới khách hàng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Hơn nữa, đối
với các doanh nghiệp, để làm tốt những điều đó cần phải luôn thực hiện đúng quy
định của pháp luật đối với các doanh nghiệp đã được ban hành. Vấn đề pháp lý trở
thành mối quan tâm hàng đầu, luôn là một trong những vấn đề cốt lõi, tồn tại và gắn
liền với doanh nghiệp kể từ khi thành lập, trong quá trình hoạt động cho đến khi
doanh nghiệp đó phá sản hoặc giải thể.
Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ mua bán hàng
hóa ngày càng phát triển. Cùng với sự phát triển đó, một nền kinh tế mở ra dựa trên
sự thiết lập nền tảng pháp lý là quyền tự do kinh doanh trong quan hệ thương mại
với phương thức hình thành chủ yếu là hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng mua bán
hàng hóa. Mặc dù hoạt động mua bán hàng hóa nằm trong hoạt động thương mại
nhưng nó vẫn mang nét riêng thể hiện sự khác biệt của hoạt động mua bán hàng hóa
với hoạt động khác. Theo đó, hợp đồng mua bán hàng hóa cũng mang những nét
đặc trưng riêng để phân biệt với các loại hợp đồng khác. Các quan hệ trong hợp
đồng mua bán hàng hóa trở nên đa dạng hơn, phức tạp hơn. Theo pháp luật Việt
Nam trước đây, hợp đồng mua bán chịu sự điều chỉnh của pháp lệnh kinh tế. Hiện
nay, pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa là Luật Thương mại 2005, Bộ
luật Dân sự 2005 và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Pháp luật về hợp đồng

mua bán hàng hóa với sứ mệnh là nền tảng pháp lý của mọi sự thỏa thuận tự nguyện
3

3


luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập quan hệ hợp đồng mua bán hàng
hóa bình đẳng, an toàn, cùng có lợi cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng với mục
đích đạt được lợi nhuận tối đa; đã trở thành động lực trực tiếp của các bên tham gia
quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Trong điều kiện như vậy, pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hóa có tầm quan trọng lớn về nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác
nhau. Pháp luật Việt Nam đang sửa đổi bổ sung và ngày càng hoàn thiện hơn pháp
luật về hợp đồng mua bán hàng hóa để phù hợp với sự phát triển của thế giới, nhất
là khi cánh cửa tự do thương mại của Việt Nam đang ngày càng được mở rộng.
Thiếu sót lớn nhất của pháp luật hợp đồng ở Việt Nam là có sự trùng lặp, thiếu nhất
quán và không đồng bộ. Ở nước ta hiện nay, những quy định về hợp đồng được quy
định ở rất nhiều văn bản. Ngoài văn bản quy định chung như Bộ luật Dân sự, thì
trong từng lĩnh vực cụ thể, việc ký kết và thực hiện hợp đồng còn chịu sự chi phối
của các văn bản mang tính chuyên ngành dưới những hình thức khác nhau như:
Luật Thương mại, Luật thuế, Luật đầu tư,…
Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiên, những tài liệu
về hợp đồng được xuất bản ở nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề pháp lý
về hợp đồng mua bán hàng hóa vẫn là một vấn đề gây nhiều ý kiến trái chiều. Bên
cạnh đó, hợp đồng mua bán hàng hóa lại là công cụ đắc lực cho các công ty trong
quá trình kinh doanh của chính bản thân họ. Hợp đồng mua bán hàng hóa có ý
nghĩa rất lớn không chỉ với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại, mà còn
là điều kiện không thể thiếu được của một xã hội văn minh, công bằng và nhân đạo.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về hợp đồng mua bán
hàng hóa là hết sức cần thiết, trên cơ sở đó đưa ra định hướng, giải pháp cụ thể
nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật nhằm giúp cho các doanh nghiệp dễ dàng hơn

trong quá trình hợp tác với bạn hàng trong giai đoạn hiện nay.
Sau quá trình thực tập tại công ty cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam, em
nhận thấy hoạt động mua bán hàng hóa là một trong những lĩnh vực hoạt động phát
triển nhất tại công ty và cũng là lĩnh vực có những vấn đề pháp lý trong giao kết các
hợp đồng kinh doanh thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói
riêng. Việc áp dụng pháp luật về hợp đồng đối với hợp đồng mua bán hang hóa
chưa thật sự đầy đủ, chặt chẽ và đúng đắn dẫn đến các tranh chấp phát sinh như
4

4


hàng hóa bị giao không đúng với hàng hóa ký kết trong hợp đồng, khách hàng
không chịu thanh toán, công ty thanh toán nhưng không nhận được hàng, ….Đây là
minh chứng chứng minh cho các điều khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên chưa
thật sự chặt chẽ, không quy định chế tài xử lý vi phạm khi một trong các bên vi
phạm hợp đồng nên khi xảy ra tranh chấp công ty còn khá bị động trong việc giải
quyết tranh chấp. Điều này khiến cho công ty phải chịu tổn thất về vật chất, tiền
cũng như uy tín đối với những đối tác khác.
Qua những tranh chấp phát sinh trong quan hệ mua bán hàng hóa trên thị trường nói
chung và công ty cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam nói riêng, em nhận thấy
rằng những quy phạm pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa là một công cụ
không thể thiếu. Nội dung các quy định pháp luật giúp cho các bên nắm được quyền
lợi và nghĩa vụ của mình khi tham gia ký kết hợp đồng. Các quy phạm pháp luật
giúp cho các điều khoản trong hợp đồng chặt chẽ, chính xác và mang tính pháp lý
cao. Hợp đồng mua bán hàng hóa lúc này chính là sự thống nhất và ràng buộc các
chủ thể chặt chẽ nhất, giúp cho các bên thuận lợi trong quá trình hợp tác kinh doanh
hay có bất cứ tranh chấp nào xảy ra giữa các bên. Buộc các bên tham gia hoạt động
mua bán hàng hóa phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
Trước những vấn đề đặt ra như vậy, em quyết định lựa chọn vấn đề “ Pháp

luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty Cổ
phần Vinalines Logistic Việt Nam” để nghiên cứu. Hi vọng rằng với những nghiên
cứu này sẽ góp phần hoàn thiện những vấn đề bất cập về giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa tại công ty.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đối với các công trình nghiên cứu về pháp luật mua bán hàng hóa nói chung
và pháp luật về việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa từ trước đến nay đã được
đào sâu, nghiên cứu khá kỹ. Trong lĩnh vực này, có các công trình nghiên cứu như:
-

Tháng 1/2012, Bộ Công thương phối hợp với Trung tâm WTO - VCCI đã hoàn
thành việc nghiên cứu khả năng Việt Nam tham gia Công ước Viên 1980 từ góc độ
của Nhà nước. Theo quy trình quy định, Bộ Công thương tiến hành công khai kết
quả nghiên cứu và lấy ý kiến cộng đồng doanh nghiệp về việc này. Kết quả nghiên
cứu được tổng hợp trong “ Báo cáo nghiên cứu khả năng gia nhập công ước viên
5

5


1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa” . Bài nghiên cứu đã đưa ra những cái nhìn
tổng quan, dựa trên việc phân tích và so sánh vấn đề nội dung của công ước viên
1980 và pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam để từ đó
đưa ra những ý kiến về lợi ích cũng như những lưu ý của Việt Nam khi tham gia
công ước viên này. Công ước Viên đóng vai trò là một khung pháp lý hiện đại, công
bằng và an toàn để giúp doanh nghiệp thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế và giải quyết tranh chấp phát sinh, từ đó có điều kiện cạnh tranh công bằng hơn
trên trường quốc tế.
-


“Thống nhất pháp luật hợp đồng ở Việt Nam”, tác giả Đinh Mai Hương, đã được
Nhà xuất bản Tư pháp Hà nội xuất bản thành sách năm 2005 trong việc tìm hiểu về
vấn đề thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam,

-

“Pháp luật về hợp đồng trong thương mại” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung, nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia, năm 2009 đã nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về
pháp luật về các loại hợp đồng trong thương mại, trong đó có hợp đồng mua bán
hàng hóa.

-

“ Hướng dẫn pháp luật hợp đồng thương mại” của tác giả Đặng Văn Được, Nhà
xuất bản lao động – xã hội 2006 đã phân tích, hướng dẫn chi tiết về việc áp dụng
pháp luật trong hợp đồng thương mại.
Các nghiên cứu nói trên đã tập trung tìm hiểu về vấn đề pháp luật giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa và những bất cập trong việc giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa đang gặp phải, đưa ra định hướng cho sự phát triển của các doanh
nghiệp nói riêng và của nền kinh tế Việt Nam nói chung. Nhằm góp phần hạn chế
những thiếu sót này, khóa luận sẽ nghiên cứu một cách cụ thể về pháp luật giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa và liên hệ với thực tiễn thi hành vấn đề này tại công ty
Cổ phần Vinalines Logictics Việt Nam để từ đó giúp công ty tìm ra những nguyên
nhân, giải pháp khắc phục những tồn đọng, góp phần làm cho công ty hoạt động
hiệu quả hơn, trở thành đơn vị thực hiện tốt trong vấn đề này.
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
- Phân tích khái niệm, đặc trưng và phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa.

-


Nghiên cứu về thực trạng giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần
Vinalines Logistics Việt Nam để rút ra bài học kinh nghiệm.
6

6


-

Đánh giá thực trạng giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần
Vinalines Logistics Việt Nam.
- Đưa ra các quan điểm hoàn thiện pháp luật đối với việc thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa tại công ty
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện cũng như nâng cao tính
khả thi của pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu đề tài:
Pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại
công ty Cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn
thiện vấn đề pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, giúp công ty hoạt động
hiệu quả hơn trong quá trình kinh doanh của mình.
* Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài:
Xuất phát từ những vấn đề bất cập cũng như những thiếu sót của các doanh
nghiệp trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, đề tài nhằm đưa ra
những đánh giá khách quan để từ đó tìm ra nguyên nhân cũng như đưa ra những
kiến nghị nhằm hạn chế những thiếu sót đó, góp phần xây dựng hệ thống pháp lý tại
công ty nói chung và vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng.
* Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Về thời gian: Khóa luận sẽ nghiên cứu pháp luật về giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa tại Luật Thương mại 2005 kể từ khi được ban hành cho đến nay.

Về không gian: Khóa luận tập trung làm rõ thực trạng giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa tại công ty Cổ phần thương mại Ban Mai Xanh, từ đó đưa ra những
định hướng góp phần hoàn thiện vấn đề này đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Khóa luận nêu ra giới hạn phạm vi nghiên cứu các quy định của pháp luật về
hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của Luật thương mại 2005 và Công ước
viên 1980.
5. Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và các phương pháp chuyên ngành khoa học pháp lý để giải quyết những vấn
đề lý luận và pháp lý liên quan đến các qui định về pháp luật hợp đồng mua bán
7

7


hàng hóa. Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, như:
phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp so sánh luật học, phương pháp
logic….Dưới đây là các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên
cứu đề tài:
-

Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dựa trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được,
người viết phân tích đánh giá nội dung các quy định của pháp luật về hợp đồng mua
bán hàng hóa và thực trạng áp dụng chúng trong giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa tại Công ty cổ phần thương mại Ban Mai Xanh. Từ những kết quả đã phân tích,
tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn, tìm ra được bản chất, quy luật vận
động của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và đề xuất giải pháp hoàn thiện
pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa.


-

Phương pháp thống kê để thấy được số lượng hợp đồng mua bán hàng hóa Công ty
cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam được ký kết. Từ đó, dựa vào số liệu thống kê
được đánh giá tầm quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa tại các công ty ở
Việt Nam hiện nay.

-

Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn nhằm nắm bắt được những khó khăn,
vướng mắc của cơ quan quản lý trong quá trình thực tiễn áp dụng các quy định về
hợp đồng mua bán h àng hóa
6. Kết cấu khóa luận.

Trên cơ sở lí luận về hợp đồng mua bán hàng hóa và những kết quả thực tiễn
trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty, đề tài này xin đưa ra một số
ý kiến nhằm giúp công ty đạt được hiệu quả cao hơn trong giao kết loại hợp đồng
mua bán hàng hóa. Nội dung đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa tại công ty Cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp (kiến nghị) hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối
với việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần Vinalines
Logistics Việt Nam.
CHƯƠNG I

8

8



NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH GIAO KẾT
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TRONG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa và đặc điểm của hợp đồng mua
bán hàng hóa
1.1.1. Khái niệm
Hợp đồng hiểu theo nghĩa rộng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về
một vấn đề nhất định trong xã hội nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các
quyền hay nghĩa vụ của các bên đó. Bộ luật Dân sự 2005 đã đưa ra khái niệm về
hợp đồng dân sự một cách khái quát như sau: “ Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận
giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân
sự” (Điều 388, Bộ luật dân sự 2005)
Khoản 1 điều 3 Luật Thương mại 2005 có quy định: “ Hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ, đầu tư xúc tiến thương mại và các hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi
khác”. Các hoạt động thương mại này được điều chỉnh bởi các hợp đồng mua bán
hàng hóa và hợp đồng cung ứng dịch vụ…Hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt
động quan trọng nhất trong kinh doanh thương mại, cơ sở pháp lý để hoạt động mua
bán hàng hóa này được xác lập đó là hợp đồng mua bán hàng hóa.
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một loại hợp đồng cụ thể, mặt khác hợp đồng
mua bán hàng hóa là hình thức pháp lý của hoạt động mua bán hàng hóa. Theo quy
định của Luật thương mại năm 2005 tại khoản 8 điều 3 “Mua bán hàng hoá là hoạt
động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu
hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho
bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”
Căn cứ các điều khoản trên, có thể kết luận rằng: “Hợp đồng mua bán hàng
hóa là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán, theo đó người bán có nghĩa vụ
giao hàng hóa cho người mua và nhận tiền thanh toán, còn người mua có nghĩa vụ
nhận hàng hóa và thanh toán tiền hàng cho người bán”


1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa.
9

9


Trong nền kinh tế thị trường, hợp đồng mua bán hàng hoá có vai trò rất quan
trọng, điều tiết, điều chỉnh quá trình lưu thông hàng hóa, tiền tệ. Hợp đồng mua bán
hàng hóa nhìn chung cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản
trong dân sự như:
+ Là hợp đồng ưng thuận: nó được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa
thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ
thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành
động của bên bán nhắm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực.
+ Có tính đền bù: Bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì
sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận
dưới dạng khoản tiền thanh toán.
+ Là hợp đồng song vụ: Mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng
buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên
kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai
nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của
bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh
toán cho bên bán.
Bên cạnh đó, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm nhất định, xuất
phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa:
- Thứ nhất, chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa: Theo quy định của
luật thương mại 2005, ít nhất một trong các bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng
hóa là thương nhân. Thương nhân bao gồm các tổ chức kinh tế được thành lập hợp
pháp, cá nhân hoạt động thương mại độc lập thường xuyên và có đăng kí kinh

doanh.Thương nhân có thể mang quốc tịch Việt Nam hoặc mang quốc tịch nước
ngoài. Bên cạnh đó, chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa còn là các tổ chức, cá
nhân khác có các hoạt động liên quan đến thương mại hoặc chủ thể không phải là
thương nhân tham gia hợp đồng mua bán không nhằm mục đích lợi nhuận. Trong
đó, thương nhân là chủ thể thường xuyên của hợp đồng mua bán hàng hóa
- Thứ hai, về hình thức của hợp đồng thì hợp đồng mua bán hàng hóa có thể giao
kết bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Điều này được quy định cụ thể
tại điều 401 Bộ luật Dân sự 2005. Cũng tại điều 24 Luật thương mại 2005 quy định
10

10


về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa thì hợp đồng mua bán hàng hoá được
thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với
các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành
văn bản thì phải tuân theo các quy định đó. Chủ yếu các hợp đồng trong hoạt động
thương mại, hợp đồng mua bán hàng hóa được thành lập bằng văn bản, bởi việc
giao kết hợp đồng bằng văn bản mang tính đảm bảo cao hơn so với các hình thức
khác.
- Thứ ba, đối tượng của hợp đồng là hàng hóa. Theo Luật thương mại 2005,
hàng hóa được định nghĩa “bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình
thành trong tương lai; các vật gắn liền với đất đai” (khoản 2 điều 3 Luật thương
mại 2005). Hàng hóa là đối tượng mua bán phải không thuộc danh mục hàng hóa
cấm kinh doanh theo quy định của Nhà nước (Nghị định 59/2006/NĐ- CP ngày
12/06/2006). Nếu hàng hóa đó thuộc danh mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh
doanh có điều kiện thì phải tuân theo đầy đủ các quy định của pháp luật về mua bán
các loại hàng đó.
- Thứ tư, hợp đồng mua bán hàng hoá thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên
trong quan hệ mua bán. Bên bán thì có nghĩa vụ giao hàng và nhận tiền còn bên

mua thì có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền. Những điều khoản cơ bản của một hợp
đồng mua bán hàng hóa bao gồm: tên hàng, số lượng, chất lượng, giá cả, phương
thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao nhận hàng.
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.1. Cơ sở ban hành
Với đặc trưng của nền kinh tế thị trường, mua - bán là phương thức chủ yếu
của quá trình lưu thông từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng. Người trao đổi hàng
hóa có quyền tự do lựa chọn trên thị trường ở ba mặt: tự do lựa chọn nội dung trao
đổi, mua bán; tự do lựa chọn đối tác và tự do lựa chọn giá cả theo phương hướng
thuận mua vừa bán. Hoạt động mua bán hàng hóa được thực hiện thường xuyên,
liên tục và rộng khắp trên cơ sở một kết cấu hạ tầng cần thiết để hoạt động mua bán
hàng hóa diễn ra được thuận lợi, an toàn với một hệ thống thị trường ngày càng phát
triển đa dạng, mạnh mẽ: Các đối tác hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều theo
11

11


đuổi lợi ích của mình; lợi ích cá nhân trở thành động lực trực tiếp cho sự phát triển
kinh tế và tự do cạnh tranh là thuộc tính của nền kinh tế thị trường, đồng thời là
động lực thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế - xã hôi. Trong nền kinh tế hiện nay, hầu hết
những giao dịch nhằm thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ,
nghiên cứu... đều liên quan đến việc thiết lập quan hệ hợp đồng – một thoả thuận
ràng buộc về mặt pháp lý thì có thể khẳng định rằng, những điều kiện ra đời của nền
sản xuất hàng hoá cũng chính là những điều kiện ra đời của hợp đồng.
Thêm vào đó, ở nước ta, kể từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện công cuộc
đổi mới nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với nhiều thành phần sở hữu
phát triển bình đẳng có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình, các đơn vị kinh tế thuộc mọi

thành phần kinh tế đều phải dựa vào các quan hệ hợp đồng. Để thực hiện chức năng
của mình, Nhà nước luôn chú ý đến việc điều chỉnh vấn đề pháp lý các hoạt động
kinh tế của các đơn vị kinh tế, trong đó việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng mua
bán hàng hóa là một nội dung hết sức quan trọng.
Trước sự vận hành của nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường thì việc
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là cần thiết và hợp lý. Vì thế, Nhà nước đã ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật về hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng
hóa nói riêng nhằm mục đưa hoạt động mua bán hàng hóa đi đúng hướng; các chủ
thể trong quan hệ mua bán được tự do nhưng trong khuôn khổ pháp luật, thúc đẩy
kinh tế; đồng thời tạo điều kiện để Nhà nước dễ dạng quản lý hoạt động mua bán
hàng hóa của các chủ thể trong nền kinh tế.
Cơ sở ban hành các pháp luật hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng
hóa nói riêng cũng chính là cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa.

1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa
12

12


1.2.2.1. Pháp luật điều chỉnh nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa
+ Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã
hội: BLDS quy định cho các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng nhằm tạo điều
kiện cho các chủ thể có thể thoả mãn nhu cầu vật chất cũng như nhu cầu tinh thần.
Dựa trên nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều kiện tư cách chủ
thể đều có thể tham gia giao kết bất kỳ một giao dịch, hợp đồng nào, nếu muốn. Tuy
nhiên, hợp đồng chỉ có hiệu lực pháp luật, được pháp luật công nhận và bảo vệ khi

ý chí của các bên giao kết hợp đồng phù hợp với ý chí của nhà nước. Hay nói cách
khác, sự tự do ý chí giao kết hợp đồng của các chủ thể phải nằm trong khuôn khổ,
giới hạn nhất định – giới hạn lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội
và trật tự công cộng. Nếu để các bên tự do vô hạn, thì hợp đồng dân sự sẽ trở thành
phương tiện để kể giàu bóc lột người nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích chung
của xã hội. Chính vì vậy, trong xã hội ta – xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích chung của
toàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo đức xã hội không cho phép bất cứ cá nhân, tổ
chức nào được lợi dụng ý chí tự do để biến những hợp đồng thành phương tiện bóc
lột. Bên cạnh việc bảo đảm lợi ích của mình, các chủ thể phải chú ý tới quyền, lợi
ích của người khác và của toàn xã hội. Tự do của mỗi chủ thể không được trái pháp
luật và đạo đức xã hội. Lợi ích của cộng đồng, của toàn xã hội được quy định bởi
pháp luật và đạo đức xã hội trở thành giới hạn cho sự tự do ý chí của các chủ thể khi
tham gia giao kết hợp đồng nói riêng, và trong mọi hành vi của chủ thể nói chung.
+ Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng:
Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong việc giao kết hợp đồng không
ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình, đồng thời thể hiện bản
chất của quan hệ pháp luật dân sự nói chung và quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng.
Quy luật giá trị đòi hỏi các bên chủ thể khi tham gia các quan hệ trao đổi phải bình
đẳng với nhau, không ai được viện lý do khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần
xã hội, dân tộc, giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ
dân sự. Hơn nữa, ý chí tự nguyện của các bên chủ thể tham gia hợp đồng mua bán
hàng hóa chỉ được bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phương diện.
Chính vì vậy, pháp luật không thừa nhận những hợp đồng mua bán hàng hóa được
13

13


giao kết khi thiếu sự bình đẳng và ý chí tự nguyện của một trong các bên chủ thể.
Tuy nhiên trên thực tế, việc đánh giá một hợp đồng có được giao kết bảo đảm ý chí

tự nguyện của các bên là một công việc hoàn toàn không đơn giản. Như đã biết, ý
chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí chủ quan bên trong và sự bày tỏ ý chí ra
bên ngoài của chủ thể. Chính vì vậy, sự thống nhất ý chí của chủ thể giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa với sự bày tỏ ý chí đó trong nội dung hợp đồng mua bán
hàng hóa đã giao kết chính là cơ sở quan trọng để xác định một hợp đồng mua bán
hàng hóa đã đảm bảo nguyên tắc tự nguyện. Nói cách khác, việc giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa chỉ được coi là tự nguyện khi hình thức của hợp đồng mua bán
hàng hóa phản ánh một cách khách quan, trung thực mong muốn, nguyện vọng của
các bên chủ thể tham gia hợp đồng. Do đó, theo quy định của pháp luật thì tất cả
những hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết do bị nhầm lẫn, lừa dối hay bị đe
doạ đều không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực,
ngay thẳng khi giao kết và do đó bị vô hiệu.
1.2.2.2. Pháp luật điều chỉnh chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, do đó điều kiện bắt
buộc phải có để thiết lập nên một hợp đồng mua bán hàng hóa đó là điều kiện chủ
thể.
Căn cứ theo các quy định của LTM 2005, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể
được giao kết giữa các bên: Thương nhân với thương nhân hay thương nhân với cá
nhân không phải là thương nhân. Như vậy, một bên chủ thể trong hợp đồng mua
bán hàng hóa bắt buộc phải là thương nhân, bên còn lại có thể là thương nhân hoặc
không là thương nhân.


Chủ thể là thương nhân
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 LTM 2005, thương nhân bao gồm tổ chức

kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,
thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Trong đó, các tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH một thành viên, công
ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty hợp danh và công ty cổ phần. Sau khi đăng

ký kinh doanh, các tổ chức kinh tế trở thành thương nhân và có quyền tham gia giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu lợi ích, nhu cầu kinh doanh.
14

14


Khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, mỗi bên phải cử ra một đại diện hợp pháp
của mình để tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Có thể chia thương nhân thành hai nhóm là thương nhân có tư cách pháp
nhân và thương nhân không có tư cách pháp nhân. Trong đó:


Thương nhân có tư cách pháp nhân bao gồm:
Công ty TNHH hai thành viên trở lên: người đại diện theo pháp luật của công
ty TNHH hai thành viên trở lên là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc
(Tổng giám đốc) theo quy định cụ thể tại Điều lệ công ty.
Công ty TNHH một thành viên: Người đại diện theo pháp luật của công ty
TNHH một thành viên là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc
Giám đốc (Tổng giám đốc) theo quy định tại Điều lệ công ty.
Công ty cổ phần: Người đại diện theo pháp luật là Chủ tịch Hội đồng quản trị
hoặc Giám đốc (Tổng giám đốc) theo quy định tại Điều lệ công ty.
Công ty hợp danh: Người đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh là các
thành viên hợp danh theo quy định tại Điều lệ công ty.



Thương nhân không có tư cách pháp nhân bao gồm:
Doanh nghiệp tư nhân: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư
nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân. Trong trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân thuê

người khác làm giám đốc thì giám đốc là đại diện cho doanh nghiệp theo hợp đồng
trách nhiệm giữa chủ doanh nghiệp với người được thuê làm giám đốc và theo quy
định của pháp luật.
Cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng
ký kinh doanh: Người đại diện theo pháp luật là người đứng tên trong Giấy đăng
ký kinh doanh.
Như vậy, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người đứng đầu
pháp nhân theo điều lệ của pháp nhân hay quyết định của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền (căn cứ theo khoản 4 Điều 141 BLDS 2005). Căn cứ để xác định người
đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có thể là Điều lệ công ty, Giấy chứng nhận
đầu tư hoặc Giấy đăng ký kinh doanh. Căn cứ để xác định đại diện theo pháp luật
của cá nhân là Giấy đăng ký kinh doanh.

15

15


Thương nhân có thể tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa thông qua
người đại diện theo pháp luật, đồng thời cũng có thể tham gia giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa thông qua người đại diện theo ủy quyền.
Căn cứ theo các quy định của BLDS 2005, nếu người đại diện theo pháp luật
không tham gia giao kết hợp đồng được có thể uỷ quyền cho người khác thay mình
giao kết hợp đồng. Người này được xác định hay còn được gọi là người đại diện
theo ủy quyền.
Căn cứ theo Điều 143 BLDS 2005 quy định: “1. Cá nhân, người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự. 2.Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là
người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự
phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập.”

Có hai hình thức ủy quyền:
- Ủy quyền thương xuyên: Là loại hình ủy quyền diễn ra trong một thời
gian dài nhằm ký kết nhiều giao dịch, nhiều hợp đồng. Việc ủy quyền thường xuyên
có thể được ghi nhận trong Điều lệ, quy chế hoặc quy định do thương nhân ban
hành.
- Ủy quyền vụ việc: Là loại hình ủy quyền diễn ra trong một thời gian ngắn
nhằm ký kết một hoặc một số hợp đồng cụ thể.
Người được uỷ quyền chỉ được phép hoạt động trong phạm vi được uỷ quyền
và không được uỷ quyền lại cho người khác.
Ngoài ra, chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thương nhân
Việt Nam hay có thể là thương nhân nước ngoài.


Chủ thể không phải là thương nhân
Căn cứ vào mục đích sinh lợi, trong rất nhiều trường hợp, tổ chức, cá nhân

không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa khi họ giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân.
Khác với bên là chủ thể là thương nhân, bên chủ thể không phải là thương
nhân có thể là mọi chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa. Đó có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân

16

16


hoặc không có tư cách pháp nhân hay cũng có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác,...
không hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và liên tục.
1.2.2.3. Pháp luật điều chỉnh trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng mua bán

hàng hóa
Trình tự giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là quá trình mà trong đó các
bên chủ thể bảy tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thoả thuận
trong việc cùng nhau làm xác lập những quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Thực chất,
đó là quá trình mà hai bên “mặc cả” với nhau về những điều khoản trong nội dung
của hợp đồng mua bán hàng hóa. Quá trình này diễn ra thông qua hai giai đoạn:
Thứ nhất: Bên đề nghị đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa.
Thứ hai: Bên được đề nghị chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa và đi đến giao kết hợp đồng.
1.2.2.4. Pháp luật điều chỉnh quá trình giao kết hợp đồng


Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Như đã biết, đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc thể hiện rõ

ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối
với bên đã được xác định cụ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa.
Thực chất, đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là việc một bên biểu
lộ ý chí của mình trước người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn
tham gia giao kết với người đó một hợp đồng mua bán hàng hóa.
Việc đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thực hiện
bằng nhiều cách thức khác nhau như:
Thứ nhất: Người đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể gặp
trực tiếp người được đề nghị trao đổi, thỏa thuận và trực tiếp đưa ra lời đề nghị giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Thứ hai: Người đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể gửi lời
đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tới người được đề nghị thông qua các
phương tiện điện tử như qua mạng internet, fax hay bằng việc chuyển, gửi công
văn, giấy tờ qua đường bưu điện,...



Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực:
17

17


Căn cứ theo Điều 391 BLDS 2005, thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có
hiệu lực được xác định là thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có
hiệu lực do bên đề nghị ấn định. Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết
hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó.
Các trường hợp được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng được
xác định như sau:
Thứ nhất: Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá
nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân.
Thứ hai: Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên
được đề nghị.
Thứ ba: Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua
các phương thức khác.


Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 392 BLDS 2005, bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay
đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc
rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị.
Thứ hai: Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp
bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó
phát sinh.

Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là
đề nghị mới.



Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 393 BLDS 2005, trong trường hợp bên đề nghị giao kết
hợp đồng thực hiện quyền huỷ bỏ đề nghị do đã nêu rõ quyền này trong đề nghị thì
phải thông báo cho bên được đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được
đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị
giao kết hợp đồng.



Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
18

18


Căn cứ theo Điều 394 Bộ luật dân sự 2005, đề nghị giao kết hợp đồng chấm
dứt trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận.
Thứ hai: Hết thời hạn trả lời chấp nhận.
Thứ ba: Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực.
Thứ tư: Khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực.
Thứ năm: Theo thoả thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong
thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời.



Sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa do bên được đề nghị đề
xuất:
Căn cứ theo Điều 395 BLDS 2005, khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao
kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã
đưa ra một lời đề nghị giao kết mới.


Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa thực chất là việc bên được

đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với bên đã đưa ra lời đề nghị giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa đó.


Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 397 BLDS 2005, khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời
thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó, nếu
bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp
nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do
khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông
báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời
ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.
Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện
thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp
nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thoả thuận về thời hạn trả lời.




Rút lại thông báo trả lời chấp nhận:
19

19


Căn cứ theo Điều 400 BLDS 2005, bên được đề nghị giao kết hợp đồng có
thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo này đến trước
hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp
đồng.
1.2.2.5. Pháp luật điều chỉnh địa điểm giao kết hợp đồng
Căn cứ theo Điều 403 Bộ luật dân sự 2005, địa điểm giao kết hợp đồng dân
sự do các bên thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng
dân sự là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết
hợp đồng.
1.2.2.6. Pháp luật điều chỉnh thời gian giao kết hợp đồng
Giao kết hợp đồng là một vấn đề quan trọng trong pháp luật hợp đồng bởi nó
giúp ta xác định được khi nào hợp đồng được xác lập. Là một hợp đồng cụ thể trong
số các hợp đồng cơ bản của hợp đồng thương mại, do đó, hợp đồng mua bán hàng
hóa cũng tuân theo những quy định của BLDS 2005 về vấn đề thời điểm giao kết hợp
đồng.
Căn cứ theo Điều 404 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Hợp đồng dân sự được
giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết; hợp đồng
dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề
nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết; thời
điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung
của hợp đồng và thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau
cùng ký vào văn bản.
1.2.2.7. Pháp luật điều chỉnh hình thức giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa

Tự do thỏa thuận là một trong những nguyên tắc quan trọng trong giao kết
hợp đồng. Điều này có nghĩa, các bên được tự do lựa chọn hình thức phù hợp khi giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, tự do lựa chọn trong khuôn khổ pháp luật
cho phép.
Về nguyên tắc, hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải phù hợp
với hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa. LTM 2005 không quy định hình thức
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, song có thể dựa vào quy định của LTM 2005
20

20


về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa để xác định hình thức giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 24 LTM 2005 quy định, hình thức của hợp đồng
mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng
hành vi cụ thể. Do đó, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được xác lập
dưới ba hình thức: lời nói, văn bản hoặc hành vi.
Đối với giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập bằng hình thức lời
nói (hay còn gọi là hình thức miệng), các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng. Giao
kết hợp đồng dưới hình thức này rất thuận tiện, nhanh chóng và thường áp dụng cho
những trường hợp mà các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa đã
quen biết và có sự tin tưởng lẫn nhau hoặc đối với những hợp đồng mua bán hàng
hóa ngay sau khi giao kết sẽ thực hiện và chấm dứt ngay. Hình thức này có giá trị
pháp lý không dễ xảy ra tranh chấp khi thực hiện hợp đồng.
Đối với giao kết hợp đồng được xác lập bằng hình thức văn bản, các bên khi
tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ ghi nhận nội dung giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa bằng một văn bản chứa đựng đầy đủ các nội dung cơ bản
của hợp đồng và có chữ ký xác nhận của các bên. Hình thức này tạo ra chứng cứ

pháp lý chắc chắn hơn so với hình thức miệng. Thông thường theo hình thức này,
hợp đồng được lập thành nhiều bản mỗi bên giữ một bản làm bằng chứng chứng
minh quyền của mỗi bên. Căn cứ vào văn bản hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên
dễ dàng xác định được quyền và nghĩ vụ. Đặc biệt, các bên còn dễ dàng thực hiện
quyền yêu cầu của mình đối với bên kia. Hình thức này thường được áp dụng trong
các quan hệ mua bán hàng hóa mà việc thực hiện hợp đồng không cùng lúc với việc
giao kết, các giao dịch mua bán hàng hóa quan trọng, có giá trị lớn hay các hợp
đồng mua bán hàng hóa có độ nhạy cảm cao.
Ngoài hai hình thức nói trên, hợp đồng mua bán hàng hóa còn có thể được
giao kết bằng một hình thức khác đó là hình thức hành vi. Theo đó, hợp đồng mua
bán hàng hóa sẽ được giao kết miễn các hành vi đó chứa đựng những thông tin mà
các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa đó hiểu và thực hiện trên thực tế. Giống

21

21


với hình thức miệng, hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết bằng hình thức
hành vi có giá trị pháp lý không cao, dễ xảy ra tranh chấp.
1.2.2.8. Pháp luật điều chỉnh nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa
Nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa chính là nội dung hợp đồng
mua bán hàng hóa. Do đó, các quy định pháp luật về nội dung hợp đồng mua bán
hàng hóa cũng chính là các quy định pháp luật về nội dung giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa.
Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể
hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Do đó, nội dung của hợp đồng
mua bán hàng hóa có thể hiểu là tổng hợp các điều khoản do các bên thỏa thuận, các
điều khoản đó xác định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong hợp đồng

mua bán hàng hóa.
Căn cứ theo Điều 402 BLDS 2005 quy định nội dung của hợp đồng: “Tuỳ
theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:
1. Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc
không được làm.
2. Số lượng, chất lượng.
3. Giá, phương thức thanh toán.
4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng.
5. Quyền, nghĩa vụ của các bên.
6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
7. Phạt vi phạm hợp đồng.
8. Các nội dung khác.”
Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điều
khoản mà các bên thỏa thuận với nhau. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
trước hết là các điều khoản do các bên thỏa thuận. Đồng thời, trên cơ sở các quy
định của BLDS, LTM và tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, có thể
thấy những điều khoản quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: đối
tượng, số lượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời gian thanh toán,

22

22


thời hạn giao hàng, địa điểm giao hàng,... Tuy nhiên, với từng hợp đồng mua bán
hàng hóa cụ thể lại có sự khác nhau.
Các điều khoản trong nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể chia
ra thành ba loại:
Loại thứ nhất: Điều khoản cơ bản
Các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu và là những điều khoản

không thể thiếu của hợp đồng mua bán hàng hóa. Nếu không thỏa thuận được các
điều khoản này thì hợp đồng mua bán hàng hóa không thể giao kết được. Điều
khoản cơ bản có thể do tính chất của từng hợp đồng quyết định hoặc do pháp luật
quy định. Tùy theo từng loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản có thể là đối tượng,
giá cả, địa điểm... Có những điều khoản đương nhiên là điều khoản cơ bản, vì
không thoả thuận tới nó sẽ không thể hình thành hợp đồng. Bên cạnh đó cũng có
những điều khoản vốn dĩ không phải là điều khoản cơ bản nhưng các bên thấy cần
phải thoả thuận được điều khoản đó mới giao kết hợp đồng thì những điều khoản
này cũng là điều khoản cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ giao kết
Loại thứ hai: Điều khoản thông thường
Điều khoản thông thường là những điều khoản được pháp luật quy định
trước. Nếu khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên không thoả thuận
những điều khoản này thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thoả thuận và được
thực hiện như pháp luật đã quy định. Khác với điều khoản cơ bản, các điều khoản
thông thường không làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợp đồng. Để giảm bớt
những công việc không cần thiết trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các
bên có thể không cần thoả thuận và không cần ghi vào văn bản hợp đồng những
điều khoản mà pháp luật đã quy định nhưng các bên vẫn phải thực hiện những điều
khoản đó. Vì vậy, nếu có tranh chấp về những nội dung này thì quy định của pháp
luật sẽ là căn cứ để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng1.
Loại thứ ba: Điều khoản tùy nghi
Ngoài những điều khoản phải thoả thuận vì tính chất của hợp đồng và những
điều khoản mà pháp luật đã quy định trước, khi giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa các bên còn có thể thoả thuận để xác định thêm một số điều khoản khác nhằm
làm cho nội dung của hợp đồng mua bán hàng háo được cụ thể hoặc tạo điều kiện
23

23



thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng. Các điều khoản này được
gọi là điều khoản tùy nghi2.
Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp
đồng tự ý lựa chọn và thoả thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự
của các bên. Thông qua điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựa chọn
một trong những cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận lợi mà
vẫn bảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia 3. Dựa vào tính chất các điều khoản
tùy nghi có thể chia ra làm hai loại là điều khoản tùy nghi ngoài pháp luật và điều
khoản tùy nghi khác pháp luật4.
Như vậy, tùy từng hợp đồng cụ thể, một điều khoản trong nội dung của hợp đồng
mua bán hàng hóa có thể là điều khoản cơ bản, có thể là điều khoản thông thường
hay cũng có thể là điều khoản tùy nghi.
1.3. Yêu cầu pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa
1.3.1. Yêu cầu tự do kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh tồn tại như một nhu cầu tất yếu của sự phát triển
kinh tế, xã hội. Quyền tự do kinh doanh là một phần hợp thành đóng vai trò quan
trọng trong hệ thống các quyền tự do của con người. Giá trị của quyền tự do kinh
doanh được thể hiện ở chỗ, mọi chủ thể trong nền kinh tế đều được tự do hoạt động
kinh doanh của mình theo khuôn khổ của pháp luật.
Dưới góc độ chủ thể, quyền tự do kinh doanh là khả năng hành động có ý
thức của các chủ thể trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong quá trình
tồn tại và phát triển. Quyền tự do kinh doanh bao gồm các khả năng mà cá nhân,
pháp nhân có thể xử sự như: Tự do đầu tư vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa
chọn mô hình tổ chức kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập quan hệ kinh
doanh, tự do cạnh tranh, tự do lựa chọn giải quyết phương thức tranh chấp trong
kinh doanh,...
Dưới góc độ là một chế định pháp luật, quyền tự do kinh doanh là một chế
định pháp luật bao gồm hệ thống các quy định pháp luật và những bảo đảm pháp lý
do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền tự do

kinh doanh.
24

24


Như vậy, quyền tự do kinh doanh một mặt bao gồm những quyền mà các chủ
thể kinh doanh được hưởng, mặt khác là trách nhiệm của Nhà nước khi thực hiện
chức năng quản lý của mình. Việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là một trong
các hoạt động kinh doanh. Do đó được hưởng các quyền cũng như chịu trách nhiệm
quản lý của Nhà nước theo nguyên tắc tự do kinh doanh.
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật hay còn gọi là nguyên tắc bính đẳng về
quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Các bên tham gia quan hệ hợp đồng nói chung và quan hệ hợp đồng mua bán
hàng hóa nói riêng hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền và nghía vụ. Quyền và
nghĩa vụ của mỗi chủ thể bao giờ cũng tương xứng với nhau, quyền của bên này là
nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Điều này thể hiện ở chỗ khi đàm phán để ký kết
hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên đều có quyền đưa ra những yêu cầu của mình
và đều có quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của bên kia. Không bên
nào có quyền ép buộc bên nào. Quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ hình thành
khi các bên thống nhất ý chí với nhau về các điều khoản hợp đồng mua bán hàng
hóa.
1.3.3. Yêu cầu tôn trọng quyền sở hữu
Quyền sở hữu bao gồm ba quyền đó là: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và
quyền định đoạt (căn cứ theo quy định tại Điều 164 BLDS 2005 về quyền sở hữu).
Các quyền này mang tính chất tuyệt đối và không bị hạn chế về thời gian. Trong đó:
Quyền chiếm hữu: Chủ sở hữu được quyền thực hiện các hành vi theo ý chí
của mình để nắm giữ quản lý tài sản nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã
hội. Việc chiếm hữu không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian trừ khi chủ sở hữu
chuyển giao cho người khác hay bị pháp luật có quy định khác.

Quyền sử dụng: Là quyền chủ sở hữu khai thác công dụng hưởng hoa lợi, lợi
tức tài sản theo ý chí của mình nhưng không gây thiệt hại, ảnh hưởng đến lợi ích
công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Quyền đinh đoạt: Là quyền quan trọng nhất của chủ sở hữu và chỉ có chủ sở
hữu mới được hưởng quyền này. Chủ sở hữu được thực hiện quyền định đoạt thông
qua việc chuyển giao quyền sở hữu cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó.
Chủ sở hữu có thể tự mình tặng cho, cho vay hay thực hiện các hoạt động mua bán
đối với tài sản mà mình sở hữu.
25

25


×