Tải bản đầy đủ (.doc) (109 trang)

luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường đại học văn hóa hà nội hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (449.19 KB, 109 trang )

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ KINH DOANH XUẤT BẢN PHẨM
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XUẤT BẢN

Hà Nội – 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai cơng bố trong
bất kì cơng trình nào khác. Nếu sai, tơi xin chịu hồn tồn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày

tháng
Tác giả

năm 2014



1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
M. Gorki từng nói rằng mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà
khi bước lên, ông tách khỏi con thú và đến tới gần con người, tới gần quan
niệm về cuộc sống tốt đẹp nhất và về sự thèm khát cuộc sống.
Trải qua hàng nghìn thập kỷ, sách mn đời vẫn là một người bạn thân


thiết của con người, thậm chí ngay cả khi khoa học kỹ thuật đang lên ngôi
cộng với sự bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay đã cho ra đời loại
hình xuất bản phẩm mới là sách điện tử. Song, khơng gì có thể thay thế
được vai trò của sách in trong đời sống xã hội. Sách là món ăn tinh thần
khơng thể thiếu của con người trên tồn thế giới. Sách góp phần mở mang
tri thức, bồi đắp tâm hồn cho con người, giúp lưu giữ kiến thức, kinh nghiệm
từ đời này sang đời khác và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Từ vai trò to lớn của sách đối với đời sống đã đặt ra yêu cầu cần phải
có một ngành công nghiệp chuyên sản xuất ra sách và hoạt động xuất bản
đã ra đời để đáp ứng yêu cầu đó. Trong cuốn giáo trình Lý luận nghiệp vụ
xuất bản, PGS,TS. Trần Văn Hải có nêu định nghĩa về xuất bản như sau:
“Xuất bản là hoạt động gia công biên tập đối với các tác phẩm, làm cho nó
phù hợp với nhu cầu của độc giả. Là hoạt động nhân bản hàng loạt các tác
phẩm đã được gia công, làm cho nó có một hình thức vật phẩm xác định
(vỏ vật chất) để cung cấp cho độc giả sử dụng… Xuất bản là hoạt động
truyền bá rộng rãi các sản phẩm xuất bản đã hồn thành sau q trình sản
xuất, nhân bản” [18, tr.23].
Hoạt động xuất bản bao gồm 3 lĩnh vực: biên tập xuất bản, in và phát
hành. Trong đó, phát hành là khâu nghiệp vụ cuối cùng, góp phần truyền bá
các xuất bản phẩm đến tay người đọc. Có thể nói đây là một khâu vơ cùng


2

quan trọng bởi nếu sách được biên tập kĩ càng cả nội dung và hình thức,
được in, sao chép nhưng lại chỉ để lưu trong kho thì mục tiêu khi tạo ra
cuốn sách sẽ thất bại. Cuốn sách sẽ không được người ta biết đến và những
thông điệp của tác giả cũng không tới được bạn đọc. Như vậy, khả năng
truyền thông, trao đổi kinh nghiệm của cuốn sách sẽ bị mất đi, cuốn sách sẽ
khơng có giá trị. Nếu như “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, “Mãi mãi tuổi 20”

không được phát hành, người ta sẽ khơng biết đến nó, giới trẻ sẽ không thể
biết, hiểu, và cảm nhận được có một thời điểm như vậy trong lịch sử với
những con người cũng trẻ tuổi như mình nhưng cách sống và cách nghĩ lại
khác hẳn.
Như vậy có thể thấy được rằng, một cuốn sách muốn lơi cuốn người
đọc thì ngồi nội dung và hình thức ra thì khâu phát hành để quảng bá là
khâu vô cùng quan trọng.
Từ thực tiễn ấy, địi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ phát hành sách nói
riêng và phát hành xuất bản phâm nói chung giỏi kỹ năng nghiệp vụ. Do
đó, nảy sinh yêu cầu phải có cơ sở đào tạo ra loại hình cán bộ này. Bởi vậy,
khoa Xuất bản - Phát hành (tiền thân là khoa Phát hành sách), trường Đại
học Văn hóa Hà Nội đã mở ngành đào tạo phát hành xuất bản phẩm để đáp
ứng thực tiễn yêu cầu ấy.
Tuy nhiên, dưới sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường cùng với
những yêu cầu đổi mới của xã hội, năm 2010, ngành phát hành xuất bản
phẩm được đổi tên thành ngành kinh doanh xuất bản phẩm. Do đó, người
làm công tác kinh doanh xuất bản phẩm được yêu cầu phải có những năng
lực đặc biệt, được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp. Nhưng, trong thực tế
không phải lúc nào các tiêu chí này cũng được đáp ứng, vẫn cịn một bộ
phận người làm cơng tác kinh doanh xuất bản phẩm chưa đáp ứng được
những yêu cầu trên. Bởi vậy, tác giả chọn đề tài “Nâng cao chất lượng


3

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học
Văn hóa Hà Nội hiện nay” nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể để nâng cao
hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡng ấy. Hy vọng rằng, kết quả nghiên
cứu sẽ góp phần làm luận chứng cơ sở khoa học cho các chủ trương và
quyết định quản lý đúng đắn của các cấp lãnh đạo trong công tác đào tạo

cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm hiện nay.
2.

Tình hình nghiên cứu

Cơng tác đào tạo, bồi dưỡng là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm và đã có nhiều cơng trình nghiên cứu khoa học, bài viết được
công bố liên quan đến đề tài. Cụ thể là:
- Đề tài: "Tổng kết phương thức đào tạo cán bộ lãnh đạo chính trị chủ
chốt (hệ cử nhân chính trị) của Trung tâm Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh từ năm 1993 đến nay" do TS. Nguyễn Hữu Cát - Vụ Quản lý đào
tạo - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, thực hiện
năm 2001 - 2002, được nghiệm thu năm 2003. Trong nghiên cứu này,
nhóm tác giả đã tập trung đánh giá thực trạng công tác đào tạo hệ cử nhân
chính trị tại Trung tâm Học viện trên các mặt nội dung, chương trình,
phương thức, và cơng tác quản lý... Đề tài cũng đã đưa ra một số kiến nghị
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo hệ cử nhân chính trị tại Trung tâm Học
viện bao gồm các vấn đề như cơng tác tuyển sinh; về giáo trình; về đội ngũ
cán bộ giảng dạy về công tác quản lý, công tác phục vụ đào tạo... trong thời
gian tới.
- Ban Tổ chức Trung ương đã có 02 đề tài nghiên cứu về vấn đề đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ:
+ Đề tài KH-BĐ (1999)-18: "Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp
tỉnh, thành phố trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay", thực hiện năm
2001 do KS. Lê Quang Thưởng - Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương làm
chủ nhiệm. Đề tài tập trung phân tích thực trạng trình độ cán bộ, nhu cầu


4


đào tạo và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, thành phố
hiện nay; đồng thời đưa ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp và kiến nghị
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh,
thành phố giai đoạn 2001 - 2010.
+ Đề tài KH-BĐ(2001)-14: "Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống trường chính trị,
trường đồn thể ở Trung ương hiện nay", thực hiện năm 2003 do đồng chí
Phạm Văn Thọ - ủy viên Trung ương Đảng – Phó trưởng Ban thường trực
Ban Tổ chức Trung ương là chủ nhiệm. Đề tài này đề cập đến vấn đề nâng
cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính Quốc gia và ở các
trường đào tạo cán bộ của các đoàn thể ở Trung ương trong thời kỳ từ Đại
hội Đảng VII đến Đại hội Đảng IX, chủ yếu từ năm 1996 đến năm 2002.
Ngồi ra cịn có một số đề tài như:
- “Đổi mới phương thức quản lý đào tạo giảng viên lý luận Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở Học viện Báo chí và Tun truyền” do TS.
Đồn Phúc Thanh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền làm chủ nhiệm đề tài.
- "Nâng cao hơn nữa chất lượng các hệ đào tạo của Học viện" của
PGS.TS Tô Huy Rứa, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 9 năm 1999.
- "Chủ tịch Hồ Chí Minh với cơng tác đào tạo huấn luyện cán bộ" của
TS. Nguyễn Văn Sáu, Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 11 năm 1999.
- "Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới" của
PGS.TS Vũ Nhật Khải, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số tháng 9 năm 1999.
- "Hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản
lý - những bước tiến, vấn đề cần khắc phục và kiến nghị" của ThS. Tống
Trần Sinh, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số tháng 9 năm 1999.


5


- "Về quy mơ và hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộp lãnh đạo quản
lý ở Học viện" của ThS. Phí Ngọc Tiếp, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số
tháng 9 năm 1999.
- "Đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý nói chung (hệ cử nhân
nói riêng) ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh hiện nay", TS. Hà
Lan, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số tháng 7 năm 2002.
- Năm 2000, Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai đề tài:
"Đổi mới phương thức đào tạo đại học chính trị ở Phân viện Thành phố
Hồ Chí Minh" do TS. Võ Thành Khối làm chủ nhiệm đề tài.
- Năm 2000, Phân viện Đà Nẵng đã triển khai đề tài: "Phương thức
đào tạo hệ cử nhân chính trị ở Phân viện Đà Nẵng thời kỳ đổi mới" do
PGS.TS Nguyễn Văn Chỉnh làm chủ nhiệm đề tài.
Ngành kinh doanh xuất bản phẩm mới được đổi tên theo Thông tư số
14/2010/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 4 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo. Do đó, đến thời điểm hiện tại các cơng trình xoay quanh đề tài này
cũng khơng nhiều.
- Trong cuốn giáo trình “Đại cương kinh doanh xuất bản phẩm”
của trường Đại học Văn hóa Hà Nội do PGS.TS Phạm Thị Thanh
Tâm và Ths. Nguyễn Văn Minh biên soạn, nội dung chủ yếu tập trung
phân tích về thị trường xuất bản phẩm, chiến lược của các doanh
nghiệp kinh doanh xuất bản phẩm.
Năm 2009 kỷ niệm 50 năm thành lập, trường Đại học Văn hóa
Hà Nội có tổ chức Hội thảo cấp trường về “ Thực trạng và giải pháp
nâng cao chất lượng đào tạo”, khoa Xuất bản – Phát hành cũng tổ
chức Hội thảo cấp khoa về “Đào tạo cán bộ xuất bản, phát hành
trước yêu cầu của thực tiễn”. Hai hội thảo đã thu hút được rất nhiều
người quan tâm, tham gia viết bài, có thể kể đến như các tham luận



6

“Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong Trường Đại học Văn hóa Hà
Nội” của TS. Đỗ Thị Quyên, “Nâng cao khả năng thích ứng với thực tiễn
của sinh viên sau khi tốt nghiệp” của TS. Lê Thị Phương Nga, “Nâng
cao vị thế người làm xuất bản, phát hành thời kì hội nhập quốc tế ” của
PGS, TS. Đinh Văn Hường, “Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành xuất
bản hiện nay” của Ths. Trần Thị Thu... Các bài viết trên chủ yếu nêu
một số giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực cho ngành xuất bản hiện nay.
Có thể nói các cơng trình trên đã nêu về phương diện này hoặc phương
diện khác, đã có nhiều thể hiện liên quan đến đề tài. Tuy nhiên cho đến
nay, chưa có cơng trình nào thực sự đi sâu nghiên cứu một cách có hệ
thống về việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh
xuất bản phẩm.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học Văn hóa Hà
Nội, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất
lượng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá thực trạng công tác đào tạo cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm
ở Trường Đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay.
Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kinh
doanh xuất bản phẩm trong thời kỳ mới ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội.


7


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở Trường Đại học Văn hóa Hà
Nội hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội từ
2010 đến nay.
5. Cơ sở lí luận và Phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lí luận
Luận văn sử dụng cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; dựa vào những luận điểm, quan điểm, đường lối và chính sách
của Đảng và Nhà nước về công tác đào tạo cán bộ.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Phương pháp thống kê: Liệt kê các tư liệu, chương trình đào tạo, bồi
dưỡng và số liệu phục vụ cho các nội dung của luận văn.
Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng các bảng hỏi dành cho các
nhóm đối tượng: người sử dụng lao động, sinh viên đã tốt nghiệp và sinh
viên sắp tốt nghiệp để xác định chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ kinh doanh xuất bản phẩm tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các cơ sở dữ liệu thu thập được từ
phiếu điều tra xã hội học để phục vụ việc đánh giá chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
Phương pháp phân tích: Phân tích các dữ liệu thu thập từ bảng hỏi để
đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất
bản phẩm ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội.



8

Phương pháp so sánh: Đối chiếu dữ liệu thu thập được từ các bảng hỏi
để thấy sự khác biệt trong cách đánh giá về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
6. Đóng góp mới của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Luận văn đã tập trung khái quát hóa các thuật ngữ liên quan đến vấn
đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản
phẩm, xây dựng các tiêu chí đánh giá liên quan đến vấn đề này
6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn đã đánh giá đúng thực trạng và đề ra giải pháp góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm
ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần
phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm.
Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
kinh doanh xuất bản phẩm ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp cơ bản góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm ở
trường Đại học Văn hóa Hà Nội hiện nay.


9

Chương 1
NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
CÁN BỘ KINH DOANH XUẤT BẢN PHẨM
1.1.Khái niệm và vai trò của cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm
1.1.1. Khái niệm về cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm
Kinh doanh là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm mục đích đạt
được lợi nhận thơng qua các hoạt động như: quản trị, tiếp thị, tài chính, kế
toán, sản xuất.
Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại
nền kinh tế hàng hóa gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và
phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế
của mình trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác
nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất.
Theo Luật xuất bản năm 2012 thì “Xuất bản phẩm là tác phẩm, tài liệu
về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học, công
nghệ, văn học, nghệ thuật được xuất bản thông qua nhà xuất bản hoặc cơ
quan, tổ chức được cấp giấy phép xuất bản bằng các ngơn ngữ khác nhau,
bằng hình ảnh, âm thanh và được thể hiện dưới các hình thức sau đây:
- Sách in;
- Sách chữ nổi;
- Tranh, ảnh, bản đồ, áp-phích, tờ rời, tờ gấp;
- Các loại lịch;
- Bản ghi âm, ghi hình có nội dung thay sách hoặc minh họa cho sách.”
Khái niệm kinh doanh xuất bản phẩm bắt nguồn từ khái niệm phát
hành xuất bản phẩm. Trước khi đào tạo ngành kinh doanh xuất bản phẩm


10

thì các cơ sở đào tạo trong cả nước đều đào tạo theo mã ngành phát hành
xuất bản phẩm. Phát hành xuất bản phẩm là một quá trình bao gồm nhiều

hình thức như: mua, bán, phân phát, tặng, cho, cho thuê, cho mượn, triển
lãm, hội chợ, xuất khẩu, nhập khẩu xuất bản phẩm và đưa xuất bản phẩm
lên mạng internet để phổ biến đến người sử dụng.
Phát hành xuất bản phẩm là một khâu nghiệp vụ vô cùng quan trọng
trong hoạt động xuất bản và trở thành một ngành học trong nhiều trường
Cao đẳng, Đại học trong cả nước, cái nơi đào tạo đầu tiên là trường Đại học
Văn hóa Hà Nội. Tuy nhiên, nhằm thống nhất giữa tên ngành và nội dung
đào tạo trong các trường Đại học và Cao đẳng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã ban hành Danh mục giáo dục, đào tạo cấp IV trình độ cao đẳng,
đại học theo Thơng tư số 14/2010/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 4 năm 2010
và có hiệu lực kể từ ngày 12 tháng 6 năm 2010. Do đó, ngành Phát hành xuất
bản phẩm được đổi tên thành kinh doanh xuất bản phẩm với mã ngành đào
tạo 51320402 (trình độ Cao đẳng) và 52320402 (trình độ Đại học). kinh
doanh xuất bản phẩm về bản chất cũng chính là phát hành xuất bản phẩm.
Với những khái niệm trên, chúng ta có thể phần nào hình dung được
về chân dung người cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm. Người cán bộ kinh
doanh xuất bản phẩm về cơ bản cũng chính là người cán bộ phát hành xuất
bản phẩm (trước đây là cán bộ Phát hành sách) là người góp phần truyền bá
xuất bản phẩm đến với người tiêu dùng, là cầu nối giữa tác giả và độc giả.
Trải qua quá trình đào tạo, người cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm phải
đạt được yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng công việc cũng như
thái độ nghề nghiệp cao để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động.
Tuy nhiên, có một số người cho rằng cán bộ kinh doanh xuất bản
phẩm thực chất chỉ là người bán sách. Quan niệm này chỉ đúng một phần
bởi vì người bán sách chỉ làm một khâu nghiệp vụ là bán sản phẩm ra thị


11

trường còn người cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm phải hoạch định một kế

hoạch, một chiến lược dài hạn từ khâu Tổ chức khai thác xuất bản phẩm
cho tới Nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, Tuyên truyền quảng cáo xuất
bản phẩm và cuối cùng là Tổ chức tiêu thụ xuất bản phẩm sao cho có hiệu
quả.
1.1.2. Vai trị của cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm
Trong Luật xuất bản sửa đổi và bổ sung năm 2012, hoạt động xuất bản
được định nghĩa: “Hoạt động xuất bản thuộc lĩnh vực văn hóa, tư tưởng
nhằm phổ biến, giới thiệu tri thức thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội,
giá trị văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, đáp ứng nhu cầu đời
sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, xây dựng đạo đức và lối
sống tốt đẹp của người Việt Nam, mở rộng giao lưu văn hóa với các nước,
phát triển kinh tế - xã hội, đấu tranh chống mọi tư tưởng và hành vi làm
tổn hại lợi ích quốc gia, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [37, tr.1]
Như vậy có thể thấy hoạt động xuất bản có vai trị vơ cùng to lớn đối với
đời sống tinh thần của xã hội. Trong hoạt động xuất bản, kinh doanh xuất bản
phẩm là khâu cuối cùng góp phần đưa xuất bản phẩm đến tay bạn đọc. Nếu
như khơng có khâu nghiệp vụ này thì xuất bản phẩm dù có hay, đẹp đến đâu
đi chăng nữa, nếu chỉ nằm trong kho thì giá trị của nó sẽ khơng được người ta
biết đến cũng như thông điệp của người viết không thể truyền tải tới bạn đọc.
Từ đó đặt ra vai trị đối với người cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm. Đặc biệt,
trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, người ta coi xuất bản phẩm là một
loại hàng hóa đặc thù, một loại sản phẩm văn hóa và hoạt động kinh doanh
xuất bản phẩm cũng là một hoạt động kinh doanh đặc thù - kinh doanh văn
hóa. Do đó, yêu cầu trách nhiệm của người cán bộ kinh doanh xuất bản
phẩm rất lớn, phải làm sao để lựa chọn được những xuất bản phẩm có chất


12


lượng để đưa đến cho khách hàng và giúp họ loại bỏ những xuất bản phẩm
kém chất lượng, trôi nổi trên thị trường.
Là một tế bào của xã hội, người cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm
ngày càng thể hiện được vị trí cũng như vai trị của mình đối với sự phát
triển kinh tế đất nước.
1.2. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh
xuất bản phẩm
1.2.1. Khái niệm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
kinh doanh xuất bản phẩm
“Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực, có khả năng làm việc
theo những tiêu chuẩn nhất định" [32, tr.379]. Như vậy, có thể thấy đào tạo là
một q trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành hệ thống các
tri thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề
cho họ có thể vào đời hành nghề, có năng suất và hiệu quả cao.
Đối với giáo dục đại học thì đào tạo có thể được hiểu là một q trình nhằm
trang bị cho người học những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về một ngành, lĩnh
vực đào tạo nhất định cũng như các kiến thức cơ bản về xã hội để người học có
tri thức khoa học về ngành, lĩnh vực đó; đồng thời dạy người học những kỹ năng
hành nghề để sau khi ra trường, người học có khả năng làm việc trong lĩnh vực
đã chọn. Bên cạnh đó, nhà trường cịn định hướng cho người học có thái độ đúng
đắn trong học tập và sinh hoạt, trong ứng xử, giao tiếp xã hội, giúp người học
hoàn thiện nhân cách cho bản thân.
Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa thì “Bồi dưỡng là làm tăng thêm
trình độ, năng lực hoặc phẩm chất” [32, tr.118]. Bồi dưỡng cũng là một
quá trình nhưng khác với đào tạo là cung cấp những cái mà cá nhân chưa
có, bồi dưỡng là cung cấp những cái mà cá nhân đã có rồi nhưng ở mức độ
cao hơn. Bồi dưỡng chính là bước phát triển tiếp theo của đào tạo.


13


Trong q trình đào tạo thì ngồi việc cung cấp cho người học những
kiến thức, kỹ năng cơ bản về nghề nghiệp, cơ sở đào tạo còn phải thường
xuyên tổ chức các khóa học bồi dưỡng dài hạn, ngắn hạn ngồi các khóa
học chính quy để giúp người học nâng cao khả năng hiểu biết của bản thân
về lĩnh vực đó.
Theo tiêu chuẩn ISO (International Standards Organization - Tổ chức
tiêu chuẩn hóa quốc tế) định nghĩa thì chất lượng là “Tập hợp các đặc tính
của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa
mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn” [51, tr. 23].
Chất lượng khơng đồng nghĩa với sự hồn hảo, thay đổi theo thời gian,
không gian và điều kiện sử dụng. Bên cạnh đó, chất lượng gắn liền với sự
thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, vì vậy nên sản phẩm hay dịch vụ nào
không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng
cho dù trình độ cơng nghệ sản xuất ra có thể hiện đại đến đâu đi chăng nữa.
Với những khái niệm trên, có thế hiểu chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
là hiệu quả của quá trình cung ứng nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng,
phẩm chất đáp ứng đủ các tiêu chí mà thị trường lao động u cầu.
Có thể nói chất lượng đào tạo, bồi dưỡng là một yếu tố quan trọng
hàng đầu, nó khơng chỉ mang tính quyết định đối với sự phát triển của mỗi
nhà trường, của sự nghiệp giáo dục đào tạo, bồi dưỡng mà cao hơn nữa, nó
quyết định đến sự phát triển kinh tế một đất nước. Vì vậy, chú trọng đến
vấn đề chất lượng giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, bồi
dưỡng đã được coi là “quốc sách” hàng đầu, và bản thân mỗi nhà trường
đang là nơi trực tiếp thực hiện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cũng khơng
thể nằm ngồi quy luật đó: lấy chất lượng giáo dục làm mục tiêu và nhiệm
vụ trọng tâm trong công tác đào tạo, bồi dưỡng của mình. Hiện nay, có rất
nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cụ thể là:



14

Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng là kết quả của quá trình đào tạo, bồi
dưỡng được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá
trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với
mục tiêu, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo các ngành nghề cụ thể. Qua
đó có thể thấy rằng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng bao gồm 2 khía cạnh:
Thứ nhất: Sản phẩm đào tạo, bồi dưỡng phải đạt được mục tiêu
(chuẩn đầu ra) do nhà trường quy định (kiến thức, kĩ năng, thái độ). Ở khía
cạnh này, chất lượng được xem là "chất lượng bên trong".
Thứ hai: Sản phẩm đào tạo, bồi dưỡng phải đáp ứng được tốt nhất
những đòi hỏi của người sử dụng. Ở khía cạnh này, chất lượng được xem là
"chất lượng bên ngoài".
Như vậy, để hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đạt chất lượng cao, trước hết
phải đạt được chất lượng bên trong, đó sẽ là nền tảng để đạt được chất lượng
bên ngoài.
Trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng thì chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
với đặc trưng sản phẩm là "con người" và được thể hiện ở phẩm chất, giá trị
nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt
nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng của từng ngành đào tạo
trong hệ thống đào tạo. Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường
lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng trong nhà trường
không chỉ gắn những điều kiện đảm bảo nhất định từ bên trong như: cơ sở
vật chất, đội ngũ giảng viên, thư viện, phòng thực hành, thực nghiệm... mà
còn phải được kiểm chứng qua quá trình sử dụng thực tiễn sản phẩm đào tạo,
bồi dưỡng đáp ứng được yêu cầu của thị trường sức lao động.
Trong bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào thì hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng trong mỗi nhà trường cũng nên và cần thiết dựa trên nhu cầu thực tế
của thị trường sức lao động để từ đó xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
cụ thể cho đơn vị mình. Việc xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng bao gồm



15

việc xác định nhu cầu số lượng và nhu cầu chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.
Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng với đặc trưng sản
phẩm là con người, có thể hiểu là kết quả của tồn bộ q trình đào tạo, bồi
dưỡng và được thể hiện cụ thể ở phẩm chất, nhân cách, năng lực sống và
năng lực làm việc của người được đào tạo, bồi dưỡng, tương ứng với mục
tiêu đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường.
Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng không chỉ đơn thuần được đo bằng kết
quả học tập trong nhà trường mà còn được phản ánh ở cả mức độ đạt được
của mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng ở năng lực tư duy, tính sáng tạo và khả
năng thích ứng với nhu cầu của đời sống xã hội của người học.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa với nhiều mặt tiêu cực cũng như những luồng tư tưởng trái chiều
làm cho chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đi xuống. Bởi vậy, nâng
cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ luôn luôn là một yêu cầu
mang tính cấp thiết.
Nâng cao là “làm cho cao lên, làm cho ở mức tốt hơn” [32, tr.1175].
Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng là một hệ thống các giải pháp
để tăng hiệu quả về năng lực của cá nhân nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng thì trọng tâm là
nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, chất lượng giảng viên cả về “Tài”
và “Đức” như Hồ Chí Minh từng nói: “có tài mà khơng có đức là người vơ
dụng, có đức mà khơng có tài thì làm việc gì cũng khó”. “Tài ” được hiểu
là trình độ nghiệp vụ chun mơn, là những nội dung, kiến thức môn học
mà giảng viên phụ trách truyền đạt cho sinh viên. “Đức” ở đây được hiểu là
đạo đức, lối sống là “tâm” của ngưới giảng viên, thiếu một trong 2 mặt này đều
trở thành khập khiễng.



16

1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh doanh xuất bản phẩm
Về lý thuyết, các nhà giáo dục học đưa ra rất nhiều nhân tố ảnh hưởng
đến chất lượng đào tạo, những nhân tố đó có thể chia thành những nhóm sau:
* Chất lượng hoạt động của nhà trường
- Chất lượng của q trình dạy học:
+ Mục đích, nội dung, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng
+ Hình thức tổ chức dạy học
+ Phương tiện, cơ sở vật chất cho dạy học
+ Công tác kiểm tra, đánh giá...
- Chất lượng của đội ngũ giáo viên/giảng viên
- Chất lượng của công tác quản lý
- Truyền thống và bầu khơng khí đạo đức trong nhà trường
- Mối quan hệ giữa gia đình - nhà trường và xã hội
* Chất lượng của tập thể học sinh về mặt sinh học và xã hội
* Môi trường xã hội: bao gồm môi trường kinh tế - xã hội, truyền
thống văn hóa của dân tộc, gia đình và cộng đồng...
Các nhân tố trên có thể có mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng. Nó có thể nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng nếu thật sự chúng ta hiểu rõ và biết vận dụng nó vào q trình dạy
học và ngược lại. Bên cạnh đó bản thân các nhân tố đó cũng có thể vừa đối
lập hoặc vừa cộng hưởng tác động lên chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.
1.2.3. Các tiêu chí đánh giá chất lượng dào tạo, bồi dưỡng cán bộ kinh
doanh xuất bản phẩm
Đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng là một khâu quan trọng trong
công tác quản lý giáo dục. Kết quả đánh giá sẽ tạo cơ sở để các nhà quản lý



17

giáo dục nhận dạng điểm mạnh, điểm yếu, tìm ra các biện pháp để phát huy
điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, xác định các mục tiêu ưu tiên, xây dựng
kế hoạch phát triển phân bổ nguồn lực và hoạch định chính sách đào tạo,
bồi dưỡng cho phù hợp với yêu câu thực tế khách quan trong từng thời kỳ.
Đánh giá trong giáo dục là một quá trình hoạt động được tiến hành có
hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản lý về mục
tiêu đã định, nó bao gồm sự mơ tả định tính và định lượng kết quả đạt được
thông qua những nhận xét, so sánh với những mục tiêu.
Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng là sự đáp ứng tốt mục tiêu đào tạo và
phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được đánh giá
bởi một hệ thống các tiêu chí xác định như sau:
Một là: Chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Chương trình đào tạo, bồi dưỡng là nội dung cơ bản nhất của một quá
trình đào tạo, bồi dưỡng. Nó có vai trị vơ cùng quan trọng trong việc xác
định được mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng mà xã hội và thị trường lao động
đang cần để tăng sự cạnh tranh và thu hút người học.
Theo như các tiêu chí đánh giá chất lượng trường đại học của Cục
khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục thì một chương trình đào tạo, bồi
dưỡng đạt chất lượng phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
Chương trình đào tạo, bồi dưỡng của bất kì trường Đại học nào cũng
phải được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào
tạo ban hành. Trên cơ sở đó, chương trình đào tạo, bồi dưỡng được xây
dựng với sự tham gia của các giảng viên, cán bộ quản lý, đại diện của các
tổ chức, hội nghề nghiệp và các nhà tuyển dụng lao động.
Trong quá trình xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng nhà trường
cần xác định rõ mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng cụ thể để người học sau khi ra

trường có khả năng đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ


18

với trình độ của chương trình đang đào tạo, bồi dưỡng Bên cạnh đó, nhà
trường cần phối hợp với các khoa chuyên ngành để xây dựng, thiết kế các
chương trình có cấu trúc hợp lý, sắp xếp có hệ thống giữa phần kiến thức giáo
dục đại cương và kiến thức giáo dục chuyên nghiệp, giữa kiến thức cơ sở ngành
với kiến thức chun ngành. Bên cạnh đó, khung chương trình giáo dục,
trong nội dung kiến thức chuyên ngành tự chọn, cần phải có những mơn
học cập nhật cho sinh viên kiến thức ngành đang đào tạo, bồi dưỡng.
Ngồi chương trình giáo dục chính quy, các chương trình giáo dục
thường xun cũng phải được thiết kế theo quy định, đảm bảo chất lượng
đào tạo, bồi dưỡng.
Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo thời gian sẽ bị lỗi thời vì
khơng đáp ứng kịp nhu cầu của thị trường lao động. Do đó, chương trình
đào tạo, bồi dưỡng muốn đạt chất lượng, thu hút được người học thì phải
được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên cơ sở tham khảo các chương
trình tiên tiến quốc tế, các ý kiến phản hồi từ các nhà tuyển dụng lao động,
người tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu
cầu nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương hoặc cả nước.
Nếu xây dựng một chương trình đào tạo, bồi dưỡng hẹp thì sinh viên ra
trường sẽ rất khó xin việc, bởi vậy một chương trình đào tạo, bồi dưỡng chất
lượng phải là một chương trình mở, có khả năng liên thơng với các chương
trình khác để người học có thêm nhiều cơ hội sau khi kết thúc khóa học.
Cuối cùng, chương trình đào tạo, bồi dưỡng muốn đạt chuẩn chất lượng
thì khơng thể thiếu sự đánh giá của các nhà tuyển dụng lao động, sinh viên đã
tốt nghiệp và chuẩn bị tốt nghiệp. Bởi họ là những người trực tiếp trải qua
quá trình đào tạo, bồi dưỡng tại trường, trực tiếp sử dụng sản phẩm được



19

đào tạo, bồi dưỡng tại trường. Như vậy sẽ có cơ sở để đánh giá ưu, nhược
điểm của chương trình và có hướng sửa đổi, bổ sung, hồn thiện.
Hai là:Đội ngũ giảng viên
“Một người thầy tốt giống như ngọn nến - cháy hết mình để thắp sáng
đường đi cho những người khác” - Mustsfa Kemai Ataturk [52, tr18].
Để quá trình đào tạo đạt hiệu quả cao thì vai trị của người thầy là hết
sức quan trọng. Nếu xây dựng được một đội ngũ giảng viên giỏi thì chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng của trường cũng sẽ được nâng cao.
Đội ngũ giảng viên đầu tiên phải là những người giỏi về chuyên môn
nghiệp vụ. Tất cả những người làm công tác giảng dạy phải có bằng thạc sĩ
trở lên, để tránh tình trạng lấy đại học dạy đại học “cơm chấm cơm”. Ngồi
ra, giảng viên phải có kỹ năng sư phạm tốt để truyền đạt kiến thức cho sinh
viên bằng một phương pháp giảng dạy phù hợp, kích thích sự sáng tạo, say
mê học tập và tự nghiên cứu của sinh viên.
Trong quá trình lên lớp, giảng viên phải biết áp dụng và kết hợp nhiều
phương pháp giảng dạy một cách linh hoạt để thu hút người học và dạy học
một cách hiệu quả nhất. Đối với lối giảng dạy truyền thống, giảng viên đọc,
sinh viên ghi chép cần phải được hạn chế và dạy song song với các phương
pháp dạy học tích cực, giảng viên phải khơng ngừng tìm tịi, sáng tạo trong
việc đổi mới phương pháp giảng dạy, hướng người học phát triển năng lực
tự học, tự nghiên cứu và làm việc theo nhóm. Đặc biệt, sau khi kết thúc
môn học, giảng viên cấn phải tổ chức cho sinh viên đánh giá về phương
pháp giảng dạy của giảng viên, để từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Theo như xu hướng tồn cầu hóa, u cầu các trường đại học phải
chuyển hết quy trình đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ “lấy người
học làm trung tâm”, bởi phương thức đào tạo này khá linh hoạt và thích

hợp với điều kiện của người học trong thời đại mới. Song song với việc đào
tạo theo phương thức tín chỉ, nhà trường cần có hệ thống để lưu trữ kết quả


20

học tập của sinh viên, đồng thời phải tổ chức các buổi học tập, tập huấn cho
giảng viên và sinh viên để có thể truy câp vào hệ thống một cách dễ dàng.
Đồng thời, kết quả học tập của người học phải được thông báo kịp thời,
được lưu trữ đầy đủ, chính xác và an tồn. Văn bằng, chứng chỉ được cấp
theo quy định và được công bố trên trang thơng tin điện tử của nhà trường.
Hồ Chí Minh đã từng nói “có tài mà khơng có đức là người vơ dụng,
có đức mà khơng có tài thì làm việc gì cũng khó”. Chính vì vậy, ngồi
chun mơn nghiệp vụ giỏi thì giảng viên phải là người có đạo đức trong
sáng. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã từng đưa ra một quy định về đạo đức nhà
giáo, trong đó nhấn mạnh lòng tâm huyết với nghề nghiệp của người làm
công tác giảng dạy. Thầy, cô giáo phải đối xử cơng bằng, khách quan trong
q trình đánh giá học sinh, luôn luôn là tấm gương sáng mẫu mực để các
em noi theo.
Ngồi những nhiệm vụ trên thì người giảng viên ở trường đại học phải
có năng lực nghiên cứu khoa học, tìm tịi, phát hiện, sáng tạo ra những cái
mới có khả năng ứng dụng cao trong thực tiễn. Về năng lực này, đòi hỏi
giảng viên phải tự trau dồi để nâng cao khả năng nghiên cứu. Giảng viên
phải trang bị cho mình trình độ tin học và ngoại ngữ để không chỉ tham gia các
hội thảo trong nước mà cịn có thể tham gia các hội thảo tầm cỡ quốc tế.
Sau khi giảng viên kết thúc giảng dạy trên lớp, nhà trường cần tiến
hành khảo sát sinh viên về giảng viên với tất cả các lĩnh vực trên để kịp
thời thơng báo tới giảng viên để có những điều chỉnh phù hợp.
Ba là: Hệ thống giáo trình và tài liệu tham khảo
Giáo trình và tài liệu tham khảo là cơng cụ hữu ích để giáo viên truyền

tải các kiến thức và kỹ năng cho sinh viên. Với phương châm “lấy người
học làm trung tâm”, giảng viên không giảng dạy theo kiểu đọc - chép mà
hướng dẫn sinh viên tự đọc giáo trình, tự tham khảo tài liệu và tổng hợp


21

thông tin cần thiết cho môn học. Như vậy, đối với phương thức học tập của
thời đại mới, đòi hỏi mỗi một mơn học nói riêng và chun ngành đào tạo
nói chung phải có đầy đủ giáo trình và tài liệu tham khảo đáp ứng nhu cầu
học tập, nghiên cứu của sinh viên.
Nhà trường cần phải có thư viện với đầy đủ giáo trình và tài liệu tham
khảo, là nơi để sinh viên có thể lên học tâp và nghiên cứu. Ngoài tài liệu
trong nước, thư viện cần bổ sung thêm nguồn tài liệu (sách, báo, tạp chí…)
bằng tiếng nước ngoài để sinh viên trau dồi khả năng ngoại ngữ và linh
hoạt trong việc chọn lọc tài liệu.
Không chỉ đáp ứng tiêu chí đủ về số lượng mà giáo trình và tài liệu
tham khảo còn phải chuẩn về chất lượng “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Đối
với mỗi một chuyên ngành đào tạo thì sẽ nảy sinh những vấn đề khác nhau
tùy theo thời gian. Do đó, giáo trình có đạt chuẩn chất lượng hay khơng thì
có thể xem ở cách thức mà người giảng viên có thường xuyên cập nhật,
nắm bắt tình hình thực tiễn để đưa vào nội dung giáo trình, biên soạn bài
giảng và phổ biến đến sinh viên hay không.
Hiện nay, trên thị trường đang xuất hiện một loại hình xuất bản phẩm
mới - đó là sách điện tử. Việc đưa loại hình này trở thành một dạng tài liệu
tham khảo cho sinh viên là rất cần thiết.
Bốn là: Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng
Song song với tầm quan trọng của giáo trình và tài liệu tham khảo thì
việc cải tiến chất lượng, xây dựng thư viện điện tử là việc làm khơng thể
thiếu trong lộ trình phát triển của bất kì trường đại học nào trên thế giới. Đó

khơng chỉ là nơi chứa đựng tri thức mà còn là nơi để sinh viên nghiên cứu
và học tập. Như vậy, việc đầu tư cho thư viện là việc làm góp phần đẩy
mạnh sự phát triển của chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.


22

Phịng học đầy đủ, thống mát, sạch sẽ là một trong những điều kiện
cần để tạo môi trường học tập thân thiện cho sinh viên. Đối với phương
thức đào tạo tín chỉ thì u cầu về phịng học là u cầu bắt buộc đối với
các cơ sở đào tạo. Phòng học phải rộng rãi đáp ứng số lượng lớn sinh viên
đăng kí mơn học. Bên cạnh đó, phịng học cần phải được trang bị đầy đủ hệ
thống đèn điện chiếu sáng, quạt, hệ thống âm thanh (loa, mic), hệ thống
máy chiếu để thuận lợi cho quá trình giảng dạy. Bởi vậy, trường đại học
cần đáp ứng đủ các tiêu chí về giảng đường để tránh tình trạng sinh viên
phải đi học vào ngày nghỉ.
Để sinh viên có thể phát triển một cách tồn diện, trường đại học cần
phải có các địa điểm cho sinh viên sinh hoạt văn nghệ và các cơng tác Đồn,
Hội, có khơng gian rộng để vui chơi và học tập rèn luyện thể dục, thể thao.
Bên cạnh đó, trường đại học cần phải có kí túc xá để đáp ứng nhu
cầu ăn ở của những sinh viên ở xa, sinh viên thuộc diện khó khăn, gia đình
chính sách xã hội. Kí túc xá của trường cần phải sạch sẽ, đầy đủ những tiện
nghi đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con người.
Năm là: Tổ chức quản lý đào tạo, bồi dưỡng
Để quá trình đào tạo, bồi dưỡng đạt hiệu quả, đạt chất lượng cao thì
khơng thể buông lỏng quản lý. Quản lý đào tạo, bồi dưỡng là việc làm vơ cùng
phức tạp và khó khăn. Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần phải có phịng chức
năng chuyên biệt về công việc này.
Ngay từ khâu đầu vào với công tác tuyển sinh, mỗi trường đại học
đều phải có các quy định cụ thể từ việc đón tiếp sinh viên, nhập dữ liệu vào

hệ thống để quản lý cho tới khâu đầu ra với các hình thức thi tốt nghiệp,
bảo vệ khóa luận, cơng nhận tốt nghiệp, cấp, phát và trao bằng cho sinh
viên. Tất cả phải theo một quy trình và lộ trình được vạch sẵn từ đầu năm
học. Trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng, nhà trường cần có biện pháp quản


×