Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

Bảo vệ quyền lợi phụ nữ theo luật hôn nhân và gia đình việt nam năm 2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.22 MB, 124 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ KHÁNH LINH

BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015

i


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ KHÁNH LINH

BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM
NĂM 2014
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số

: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ

HÀ NỘI - 2015

ii


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và trích dẫn trong Luận văn là chính xác và trung thực. Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
khác.
Hà Nội, ngày 25 tháng 1 năm 2016
Tác giả luận văn

Hoàng Thị Khánh Linh

iii


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
1


MỞ ĐẦU

Chương 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ

8

THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

1.1.

Khái niệm quyền phụ nữ

8

1.1.1. Khái niệm quyền con người

8

1.1.2. Khái niệm quyền phụ nữ

11

1.2.

Khái niệm bảo vệ quyền của phụ nữ bằng pháp luật

11


1.3.

Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền của phụ nữ bằng pháp luật

13

1.4.

Pháp luật quốc tế với vấn đề bảo vệ quyền lợi của phụ nữ

15

trong quan hệ hôn nhân và gia đình
1.5.

Sơ lược pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ

17

trong pháp luật từ năm 1945 đến nay
1.5.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975

17

1.5.2. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay

19

Chương 2: NỘI DUNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ THEO LUẬT


21

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2014

2.1.

Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ việt nam trong quan hệ nhân thân

2.1.1. Khái quát về quyền nhân thân của cá nhân và quan hệ nhân

21
21

thân của người phụ nữ trong hệ hôn nhân và gia đình
2.1.2. Nội dung bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ nhân thân

24

2.2.

50

Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ tài sản

2.2.1. Bảo vệ quyền của phụ nữ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử

iv

51



dụng, định đoạt tài sản chung
2.2.2. Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ khi vợ chồng lựa

60

chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận
2.2.3. Bảo vệ quyền xác lập, chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản

64

riêng của người phụ nữ
2.2.4. Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ khi chia tài sản

67

chung trong thời kỳ hôn nhân
2.2.5. Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của người vợ khi li hôn

70

2.2.6. Bảo vệ quyền có chỗ ở của người vợ sau khi ly hôn

78

2.2.7. Bảo vệ quyền được cấp dưỡng của người vợ khi li hôn

82

Chương 3:


THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI

84

PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ
TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

3.1.

Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong pháp

84

luật hôn nhân và gia đình hiện hành
3.1.1. Đánh giá chung

84

3.1.2. Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong một số vấn đề cụ thể

86

3.2.

100

Nguyên nhân của bất cập, hạn chế trong việc bảo vệ quyền lợi
phụ nữ ở nước ta hiện nay


3.2.1. Nguyên nhân khách quan

101

3.2.2. Nguyên nhân chủ quan

102

3.3.

104

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn
nhân và gia đình

3.3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

104

3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt

108

Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình
KẾT LUẬN

113


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

114

v


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS

: Bộ luật dân sự

HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình

vi


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Trang

Người đứng tên giấy tờ sở hữu/ quyền sử dụng một số tài

87

bảng

3.1

sản phân theo thành thị - nông thôn

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu

Tên biểu đồ

Trang

biểu đồ
3.1

Tỷ lệ chưa ĐKKH theo dân tộc của các cặp vợ chồng

88

3.2

Phân biệt tài sản chung của hộ gia đình với tài sản riêng

95

thành viên

vii


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quyền con người và quyền công dân là yếu tố quan trọng trong mục
tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, nó được khẳng định
là chế định cơ bản nhất của mọi bản Hiến pháp. Sự phát triển của lịch sử loài
người đã chứng minh sức mạnh to lớn của nhu cầu về quyền tự do. Quyền
được xem xét dưới góc độ là nhu cầu độc lập, đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho
con người, đặc biệt là ở lĩnh vực chống áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội công
bằng, dân chủ, tự do. Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa những tiền đề, điều
kiện giải phóng con người gắn liền với sự thay đổi về quan hệ sở hữu tư liệu
sản xuất, đặc biệt là việc thiết lập chế độ chính trị với bản chất "tất cả quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân".
Quyền con người là khái niệm rộng, bao gồm các quyền của cá nhân,
tập thể, của nhóm người, cộng đồng người trong xã hội. Trong đó, với những
đặc trưng về giới tính, phụ nữ là một trong những nhóm người dễ bị tổn
thương nhất, cần phải được quan tâm, bảo vệ một cách đặc biệt. Tuy nhiên, ở
hầu hết các xã hội trên thế giới, phụ nữ thường không nhận được sự quan tâm,
bảo vệ thích đáng của xã hội, thậm chí bị phân biệt đối xử, bị ngược đã. Từ
đầu thế kỉ XX đến nay, Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác đã ban
hành nhiều điều ước quốc tế nhằm bảo vệ quyền của phụ nữ. Trong đó, nổi
bật nhất là Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ
nữ năm 1979 (viết tắt là CEDAW).
Mục đích của CEDAW là nhằm trao cho phụ nữ những quyền con
người đã được pháp luật quốc tế thừa nhận nhưng họ không được hưởng trên
thực tế bởi sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Công ước giải quyết vấn đề bất
bình đẳng giới theo hướng: không chỉ đưa ra những quy phạm chung áp dụng
cho cả nam và nữ mà còn xây dựng những quy phạm riêng có tính chất ưu

1



tiên, chỉ áp dụng cho phụ nữ, nhằm đạt được mục tiêu bình đẳng về quyền và
cơ hội giữa nam và nữ. Đồng thời, Công ước nêu rõ những lĩnh vực chính cần
tập trung xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Đó là: Giáo dục - đào tạo;
quan hệ hôn nhân - gia đình; hoạt động chính trị - xã hội; hoạt động kinh tế,
văn hóa, xã hội; giao dịch dân sự; tư cách cá nhân trước pháp luật; chăm sóc
sức khỏe; quốc tịch (của bản thân và con cái).
Trong xã hội Việt Nam từ xưa đến nay người phụ nữ luôn đóng vai trò
quan trọng trong cuộc sống, công cuộc dựng nước và giữ nước. Từ truyền
thống anh hùng bất khuất trong các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm; ở
xã hội nào thì cũng không thể thiếu vắng người phụ nữ với tư cách là người
mẹ, người vợ thực hiện thiên chức cao quý của mình đối với các thành viên
trong gia đình bằng sự tần tảo và đức hi sinh cao quý. Tuy nhiên ở mỗi chế độ
xã hội khác nhau thì cách nhìn nhận và đánh giá vai trò cũng như vị trí của
người phụ nữ là khác nhau. Sự ghi nhận và đánh giá này được thể hiện rất rõ
trong các quy định của pháp luật qua các thời kỳ lịch sử.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Nói đến phụ nữ là nói
phần nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa
loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ
một nửa. Thấm nhuần quan điểm đó, Đảng và nhà nước ta luôn dành cho phụ
nữ sự quan tâm đặc biệt. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Nhà
nước ta đã ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ. Từ đó, nguyên tắc nam nữ
bình đẳng trở thành nguyên tắc hiến định được thể hiện nhất quán trong tất
cả các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013. Trên
cơ sở đó, nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước đã cụ thể hóa quyền bình
đẳng nam nữ nhằm thực hiện triệt để việc bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ.
Trong số các ngành luật, Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) giữ một vị
trí quan trọng. Nguyên tắc nam nữ bình đẳng đã trở thành tư tưởng chỉ đạo
xâu chuỗi mọi quy định của Luật HN&GĐ Việt Nam, từ những văn bản luật

2



đầu tiên của Nhà nước ta cho đến Luật HN&GĐ năm 2014. Nhờ đó, quyền lợi
của người phụ nữ được bảo vệ, vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã
hội ngày càng được khẳng định. Luật HN&GĐ năm 2014 là cơ sở pháp lý quan
trọng để đảm bảo tố các quyền HN&GĐ cho người phụ nữ trên cơ sở nguyên
tắc nam nữ bình đẳng, đó chính là thực hiện nhiệm vụ giải phóng phụ nữ.
Việc quan tâm và nghiên cứu về đời sống của người phụ nữ trong
quan hệ HN&GĐ cần được nhìn nhận, xem xét một cách cụ thể và rõ ràng
hơn thông qua các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 cũng như thực tiễn
đời sống hôn nhân trong xã hội hiện nay. Do vậy, đề tài "Bảo vệ quyền lợi
phụ nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014" được lựa
chọn để tìm hiểu và nghiên cứu nhằm góp phần bảo vệ quyền lợi, kiến nghị
hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc quan tâm và nghiên cứu về đời sống của người phụ nữ trong thời
kỳ hôn nhân và sau khi li hôn đã được đề cập đến rất nhiều trên khía cạnh về
mặt đời sống của xã hội. Về mặt quy định của pháp luật, việc bảo vệ quyền
lợi của người phụ nữ trong quá trình hôn nhân cũng được đề cập thông qua
quy định pháp luật trong Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014
và các văn bản hướng dẫn các luật này. Tuy nhiên, những quy định của pháp
luật về bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong Luật HN&GĐ chưa được
đem ra nghiên cứu một cách có hệ thống và cụ thể. Đối với việc bảo vệ quyền
lợi của người phụ nữ Việt Nam trong Luật HN&GĐ thì đã có một số công
trình ở nhiều cấp độ khác nhau đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề này:
Nhóm giáo trình, sách bình luận: Đinh Mai Phương (2006), Bình luận
khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường (2002), Một số vấn đề lí luận và
thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà


3


Nội; Nguyễn Ngọc Điện (2002), Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh; Tưởng Duy Lượng (2001),
Bình luận một số án dân sự và hôn nhân và gia đình, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội; Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2008...
Các tài liệu nêu trên hầu hết mới chỉ đưa ra phân tích, bình luận các
quy định liên quan đến vấn đề tài sản trong quá trình hôn nhân, nghĩa vụ của
vợ chồng trong hôn nhân, các quy định về li hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng nói
chung giữa vợ chồng sau khi li hôn… mà chưa đi sâu nghiên cứu có tính hệ
thống về bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong Luật HN&GĐ.
Nhóm luận văn, luận án, đề tài khoa học: Bùi Thị Mừng (2004), Bảo
vệ quyền phụ nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luận văn thạc sĩ
Luật học; Bài viết: "Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với việc bảo vệ
người phụ nữ" của PGS.TS Trần Thị Huệ trên Đặc san của Tạp chí Luật học
2004; Bài viết: "Quyền của phụ nữ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam" của ThS. Nguyễn Thị Lan, Tạp chí Luật học, số 3, năm 2004;
TS. Nguyễn Văn Cừ (2004), Chế độ tài sản của vợ, chồng theo Luật Hôn
nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội; Phạm Thị Ngọc Lan (2000), Giải quyết tranh chấp tài sản
của vợ, chồng khi li hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Đỗ Thị Kiều Ngân
(2012), Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân có yếu
tố nước ngoài; Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội…
Như vậy, mặc dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về việc
bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam nhưng chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách có hệ thống liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của phụ

nữ Việt Nam trong Luật HN&GĐ năm 2014. Do vậy, việc lựa chọn nghiên
cứu đề tài "Bảo vệ quyền lợi phụ nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

4


năm 2014" sẽ góp phần làm rõ nội hàm của vấn đề trên cũng như đóng góp
được những kiến nghị cụ thể, có giá trị đối với việc hoàn thiện quy định của
pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi
của phụ nữ Việt Nam.
- Tìm hiểu một cách có hệ thống và hoàn chỉnh những quy định của
pháp luật hiện hành về việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật có liên quan đến việc bảo vệ
quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ HN&GĐ.
- Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực trạng thực thi pháp
luật như trên, tác giả mạnh dạn nêu lên những kiến nghị góp phần hoàn thiện
những quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của
pháp luật về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ.
4. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Vấn đề bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam là vấn đề tương đối
phức tạp vì vấn đề này không chỉ liên quan đến các quy định của pháp luật
HN&GĐ mà còn liên quan đến các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật
đất đai, nhà ở… Tuy nhiên, dưới góc độ phạm vi nghiên cứu của một luận văn
thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản liên
quan đến bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và các quy định của pháp luật hiện
hành liên quan đến vấn đề này, đặc biệt là các quy định của Luật HN&GĐ
năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này. Bên cạnh đó, tác giả
cũng khảo cứu thêm về thực tiễn thực thi các quy định của pháp luật có liên

quan đến việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ
thông qua những số liệu thống kê cụ thể. Đề tài không bao gồm những vấn đề
bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong trong mối quan hệ HN&GĐ có
yếu tố nước ngoài.

5


5. Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu, làm rõ vấn đề lý luận về việc bảo vệ quyền
lợi của người phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ; quy định của Luật HN&GĐ năm
2014 về việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ; nêu và phân tích các hạn chế
của pháp luật; nghiên cứu thực tiễn các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ quyền
lợi của người phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ. Từ đó, tác giả nêu lên những đề
xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả
trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ HN&GĐ.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về
HN&GĐ. Luận văn được thực hiện thông qua các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích: được sử dụng để làm rõ những vấn đề thuộc
phạm vi nghiên cứu;
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để khái quát hóa nội dung cần
nghiên cứu, đưa ra hướng nghiên cứu một cách có lôgíc để làm sáng tỏ vấn đề
cần nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để nghiên cứu, xem xét pháp
luật Việt Nam qua các thời kỳ về việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ
trong quan hệ HN&GĐ; đồng thời nghiên cứu so sánh pháp luật Việt Nam và
pháp luật một số nước trên thế giới về vấn đề trên;
- Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu có liên quan đến vấn đề

cần nghiên cứu; từ đó, phân tích và tổng hợp số liệu để rút ra các nhận định
phù hợp để làm cơ sở thực tiễn cho việc đưa ra các kiến nghị về việc hoàn
thiện pháp luật.
7. Điểm mới của luận văn
Tiếp cận một cách khoa học các vấn đề lí luận về việc bảo vệ quyền
lợi của phụ nữ Việt Nam trong quan hệ HN&GĐ. Xây dựng khái niệm bảo vệ
quyền lợi của phụ nữ bằng pháp luật.
6


Đánh giá khách quan các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến
việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và thực tiễn thi hành các quy định này.
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện cac quy định của
pháp luật và tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong
quan hệ HN&GĐ.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan
hệ hôn nhân và gia đình.
Chương 2: Nội dung bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong quan hệ
hôn nhân và gia đình.

7


Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI PHỤ NỮ
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2014
1.1. KHÁI NIỆM QUYỀN PHỤ NỮ

Quyền con người là quyền thiêng liêng của mỗi cá nhân. Đó là các
quyền tất yếu mà con người phải được hưởng và các quốc gia đều phải tôn
trọng. Trong quyền con người, quyền phụ nữ là một trong những nội dung cơ
bản. Bởi vậy, để đưa ra được khái niệm quyền phụ nữ, trước hết cần tiếp cận
và làm sáng tỏ khái niệm quyền con người.
1.1.1. Khái niệm quyền con ngƣời
Quyền con người là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng khá phổ
biến. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc
gia chưa có một định nghĩa chính thức về quyền con người mà chỉ dừng lại ở
việc liệt kê các quyền con người. Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu về nhân
quyền và luật học đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đưa ra định nghĩa về
quyền con người. Theo một tài liệu thống kê của Liên hợp quốc, có đến gần 50
định nghĩa về quyền con người đã được công bố, tuy nhiên chưa một định
nghĩa nào bao hàm được tất cả thuộc tính của quyền con người.
Được biết đến nhiều nhất là khái niệm quyền con người của Văn
phòng cao ủy Liêp hợp quốc. Theo khái niệm này:
Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu
(universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các
nhóm chống lại hành động (action) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà
làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và
tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [17, tr. 42].
Ngoài ra, có một khái niệm khác hay được các nhà nghiên cứu đề cập
đến: "…quyền con người là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành

8



viên của cộng đồng nhân loại không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo,
địa vị xã hội..., đều có ngay từ khi sinh ra" [17, tr. 42]. Định nghĩa này phù
hợp với cách hiểu thông thường về quyền con người.
Ở Việt Nam, một số chuyên gia và cơ quan nghiên cứu cũng đã đưa ra
nhiều cách hiểu về quyền con người: Trung tâm nghiên cứu quyền con người
của Viện Nghiên cứu khoa học xã hội đã tiếp cận khái niệm quyền con người
dưới góc độ pháp lý: Quyền con người là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của
con người được pháp luật công nhận, điều chỉnh, do cá nhân con người nắm giữ
trong mối liên hệ với những cá nhân con người khác; Trong Từ điển Luật học,
quyền con người là "Quyền của thành viên trong xã hội loài người, quyền của tất
cả mọi người, đó là nhân phẩm, nhu cầu lợi ích và năng lực của con người thể
chế hóa trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia" [54, tr. 648]; v.v… Các
định nghĩa trên không hoàn toàn giống nhau nhưng xét chung lại, quyền con
người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách
quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các
thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Quyền con người luôn có mối liên hệ gần gũi với pháp luật bởi hầu
hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người không thể được đảm bảo
đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật mà thông qua đó, nghĩa vụ
tôn trọng và thực thi các quyền trở thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu
lực bắt buộc và thống nhất với tất cả mọi chủ thể trong xã hội chứ không phải
chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức.
Như vậy, nhìn ở góc độ nào, quyền con người cũng được xác định là
những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Đó là
những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong xã hội và mọi giai
đoạn lịch sử. Quyền con người được biết đến với những đặc tính cơ bản sau:
- Tính phổ quát: Thể hiện ở chỗ, quyền con người là quyền bẩm sinh,
vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên


9


trong xã hội, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì. Tuy nhiên, liên
quan đến tính chất này, cần lưu ý là bản chất của sự bình đẳng về quyền con
người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền mà là bình
đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người.
- Tính đặc thù: Quyền con người mang những đặc trưng và bản sắc
riêng tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống, văn hóa,
lịch sử ở từng khu vực, từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ.
- Tính giai cấp: C.Mác cho rằng con người vừa là sản phẩm của tự
nhiên, vừa làm sản phẩm của xã hội, vì vậy khi xem xét vấn đề quyền con
người cần phải đặt vào những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Ph.Ăngghen cũng đã
khẳng định quyền con người không phải là tự nhiên mà có, đó là thành quả
của sự phát triển lịch sử, của các cuộc cách mạng xã hội. Với tư cách là chế
định pháp lý, quyền con người gắn liền với Nhà nước và pháp luật - những
hiện tượng mang tính giai cấp sâu sắc.
- Tính không chuyển nhượng (inalienable): Các quyền con người
không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào
kể cả cơ quan nhà nước có thẩm quyền trừ trường hợp đặc biệt (ví dụ: Người
phạm tội có thể bị tước quyền tự do hoặc quyền sống).
Tùy theo từng hướng tiếp cận, quyền con người được phân thành
nhiều nhóm khác nhau, trong đó, phổ biến là theo hai căn cứ sau:
- Theo chủ thể quyền, quyền con người gồm có quyền cá nhân, quyền
của nhóm người (quyền phụ nữ, quyền trẻ em, quyền của người tàn tật,….) và
quyền quốc gia (quyền của quốc gia, dân tộc thiểu số, quyền phát triển,…).
- Theo nội dung quyền gồm có: Các quyền tự do dân chủ về chính trị
(quyền bình đẳng nam nữ, quyền bầu cử ứng cử, quyền tự do ngôn luận,…),
các quyền dân sự (quyền tự do đi lại, cư trú; quyền bất khả xâm phạm về thân
thể; quyền được an toàn, bí mật về thư tín, điện thoại;…) và các quyền về kinh

tế - xã hội (quyền lao động, quyền học tập, quyền được bảo vệ sức khỏe,…).

10


1.1.2. Khái niệm quyền phụ nữ
Là một nội dung cụ thể của quyền con người, quyền phụ nữ cần phải
được nghiên cứu trong mối quan hệ khăng khít với quyền con người. Do đó,
nếu hiểu theo nghĩa rộng, quyền phụ nữ là khái niệm dùng để chỉ quyền con
người của phụ nữ. Đó là những quyền tất yếu, không bị tước bỏ bởi bất cứ ai,
bất cứ chính thể nào.
Là quyền con người cụ thể, quyền phụ nữ cũng hàm chứa những đặc
tính cơ bản của quyền con người đó là tính phổ quát, tính đặc thù và tính giai
cấp. Tuy nhiên, người phụ nữ với những đặc điểm gắn liền với giới tính tự
nhiên thì ngoài quyền con người nói chung, họ còn có những quyền gắn liền
với thiên chức của mình như quyền làm mẹ, quyền được bảo vệ với tư cách là
nhóm người dễ bị tổn thương. Tiếp cận theo hướng này (nghĩa hẹp), quyền
phụ nữ còn có thể hiểu là những quyền tất yếu, gắn liền với đặc điểm giới tính
tự nhiên mà người phụ nữ phải được hưởng.
Dưới góc độ pháp lý, quyền phụ nữ còn được hiểu là: tập hợp những
khả năng pháp luật mỗi quốc gia công nhận cho người phụ nữ được hưởng,
được làm và được đòi hỏi.
1.2. KHÁI NIỆM BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ BẰNG PHÁP LUẬT

Chiếm hơn một nửa trong xã hội nhưng phụ nữ lại là nhóm đối tượng
dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi. Theo thống kê của Liên hợp quốc,
phụ nữ chiếm đa số trong những người nghèo khổ của thế giới, trong tình
trạng đó, phụ nữ luôn là người bị thiệt thòi nhiều nhất về ăn uống, sức khỏe,
giáo dục, đào tạo, cơ hội có việc làm và những nhu cầu khác; quyền được
sống, tự do và an ninh cá nhân, kể cả quyền sống mạnh khỏe của người phụ

nữ cũng thường xuyên bị vi phạm dưới nhiều hình thức khác nhau. Bởi vậy
song song với việc ghi nhận quyền phụ nữ, vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ cũng
là một nội dung cần được tiếp cận và làm rõ.
Trong khoa học pháp lý, khái niệm bảo vệ quyền phụ nữ chưa được
làm sáng tỏ một cách cụ thể mà được tiếp cận chủ yếu ở những cách thức và
11


phương pháp bảo vệ nhất định. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để làm rõ về
khái niệm này.
Theo Từ điển tiếng Việt, bảo vệ là sự chống lại mọi sự xâm phạm. Bởi
vậy, nếu theo cách cắt nghĩa từ ngữ nói trên, có thể hiểu bảo vệ quyền phụ nữ
là hành vi của một chủ thể nhất định nhằm chống lại mọi sự xâm phạm đến
các quyền con người của phụ nữ được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận.
Từ cách hiểu trên có thể nhận biết được một số đặc điểm về bảo vệ
quyền phụ nữ:
Thứ nhất: Chủ thể bảo vệ quyền phụ nữ.
Quyền phụ nữ xuất hiện trong hoàn cảnh lịch sử nhất định, đó là thành
quả của sự phát triển lịch sử, của cuộc cách mạng đấu tranh giải phóng phụ
nữ, chống lại sự phân biệt đối xử, đòi bình đẳng nam nữ trên toàn thế giới.
Bởi vậy, khi xã hội ý thức được quyền phụ nữ cũng là lúc vấn đề bảo vệ quyền
phụ nữ được đặt ra. Bảo vệ quyền phụ nữ là một hành động khách quan, có
thể do một cá nhân, một tổ chức, một quốc gia thực hiện. Tuy nhiên, trên bình
diện quốc tế, bảo vệ quyền phụ nữ không phải là hành động mang tính riêng
lẻ của một chủ thể nhất định mà đòi hỏi trách nhiệm của cả cộng đồng.
Thứ hai: Khách thể bảo vệ quyền phụ nữ.
Khách thể bảo vệ quyền phụ nữ chính là các quyền con người của phụ
nữ được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế và quốc gia. Vấn đề này
đã được trình bày ở các phần trên.
Thứ ba: Hành động bảo vệ quyền phụ nữ.

Hành động bảo vệ quyền phụ nữ là những cách thức được sử dụng để
chống lại các hành vi xâm phạm tới quyền phụ nữ. Đối với một cá nhân,
thông thường, có hai cách thức bảo vệ quyền phổ biến là: Tự mình bảo vệ và
yêu cầu sự bảo vệ của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Mỗi chủ thể khác
nhau sẽ lựa chọn những cách thức bảo vệ quyền phụ nữ khác nhau (ví dụ: Bản
thân người phụ nữ có thể bảo vệ quyền của mình bằng cách sử dụng cả hai

12


biện pháp trên). Tuy nhiên, với những chủ thể đặc biệt như cộng đồng quốc tế
hay một quốc gia, việc lựa chọn những cách thức phù hợp để bảo vệ quyền
phụ nữ có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, đảm bảo cho hành vi bảo vệ đạt
được hiệu quả.
Như vậy, có nhiều phương thức để bảo vệ quyền con người, song
phương thức quan trọng và không thể thiếu ấy chính là bảo vệ quyền con
người bằng pháp luật. Theo đó, bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ
quyền quyền của phụ nữ bằng pháp luật nói riêng trước hết phải hiểu được sự
ghi nhận các quyền con người bằng pháp luật và phải đảm bảo quyền đó được
thực hiện. Mặt khác, do phụ nữ là một nhóm xã hội đặc biệt, bởi vậy quyền
phụ nữ phải được xem xét và ghi nhận dựa trên cơ sở của vấn đề bình đẳng
giới. Chính vì vậy, bảo vệ quyền phụ nữ nói riêng và bảo vệ quyền con người
nói chung phải kể đến vai trò quan trọng của Nhà nước. Nhà nước ghi nhận
quyền con người, quyền phụ nữ và đảm bảo cho quyền này được thực hiện.
Pháp luật chính là phương thức mang lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ
quyền con người nói chung, quyền phụ nữ nói riêng. Bảo vệ quyền phụ nữ
bằng pháp luật được hiểu là sự ghi nhận các quyền con người của phụ nữ vào
các quy phạm pháp luật, đồng thời đảm bảo cho quyền đó được thực hiện trên
thực tế bằng các chế tài nhất định. Pháp luật được bảo đảm thực thi bằng
quyền lực nhà nước nên bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hiện nay là cách

thức hiệu quả nhất được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới.
1.3. Ý NGHĨA CỦA VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ BẰNG PHÁP LUẬT

Việc xác định quyền của phụ nữ trong các văn bản pháp luật có ý
nghĩa rất lớn trên phương diện lý luận và thực tiễn và có thể khái quát trong
những điểm sau đây:
Việc bảo vệ quyền phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ trước hết có một ý
nghĩa vô cùng quan trọng đối với bản thân người phụ nữ, đảm bảo cho người
phụ nữ được hưởng đầy đủ các quyền chính đáng mà pháp luật quốc tế và

13


pháp luật quốc gia ghi nhận. Nó hạn chế những hành vi xâm hại, làm tổn
thương tới danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ.
Sự quy định bằng pháp luật về quyền của phụ nữ vừa tạo ra sự bình
đẳng, vừa tạo cơ sở cho sự ưu tiên về mặt xã hội đối với phụ nữ. Pháp luật về
nữ quyền xác định vị thế của người phụ nữ trong gia đình, đời sống xã hội có
tác dụng cảnh báo những yêu cầu về sự bình đẳng giới như là sự tất yếu của
xã hội loài người. Bên cạnh đó, bởi những khía cạnh về giới và thực tiễn xã
hội, những quan điểm sai trái, cổ hủ của nhiều thế hệ ở Việt Nam về phụ nữ
dần được khắc phục. Không những thế, thông qua và bằng các quy định của
pháp luật, Nhà nước và xã hội còn xác định những ưu tiên đối với phụ nữ
nhằm động viên và phát huy vai trò của người phụ nữ trong mọi mặt của đời
sống xã hội.
Đóng vai trò quan trọng bảo vệ quyền phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ
chính là Nhà nước - cơ quan cao nhất đại diện cho quốc gia, dân tộc. Pháp
luật vừa là công cụ, vừa là cách thức chủ yếu để các quốc gia ghi nhận vấn đề
bảo vệ quyền phụ nữ. Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật không chỉ là việc
ghi nhận các quyền của người phụ nữ mà còn bảo đảm cho các quyền đó được

thực hiện bằng tính cưỡng chế tuyệt đối của pháp luật. Sử dụng hiệu quả công
cụ bảo vệ này chính là sự thể hiện trình độ quản lý của một quốc gia.
Hiện nay, quyền con người về HN&GĐ đã được công nhận rộng rãi
trên toàn thế giới. "Tôn trọng, thực thi và bảo vệ quyền con người về hôn
nhân và gia đình đã thực sự là tiêu chí để đánh giá tiến bộ xã hội không chỉ
mang tính quốc gia mà còn mang tính toàn cầu" [12, tr. 15]. Bảo vệ quyền
phụ nữ trong quan hệ HN&GĐ cũng chính là một trong những hành động cụ
thể của việc bảo vệ quyền phụ nữ nói riêng, quyền con người nói chung,
mang lại ý nghĩa sâu sắc về mặt thực tiễn, góp phần vào nỗ lực chung của
toàn nhân loại trong việc đấu tranh chống lại sự phân biệt đối xử giữa nam và
nữ, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ của toàn nhân loại.

14


1.4. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỚI VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA
PHỤ NỮ TRONG QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Nhận thức của con người về vai trò của người phụ nữ đã xuất hiện từ
rất sớm nhưng vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ chỉ thực sự được coi như một
trách nhiệm, một yêu cầu cấp thiết khi Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ra
đời (1948). Tuyên ngôn đã nhấn mạnh: Bà mẹ và trẻ em được đảm bảo chăm
sóc và giúp đỡ đặc biệt. Đây là sự thừa nhận của xã hội đối với chức năng
làm mẹ của người phụ nữ, với chức năng này, người mẹ được coi là chủ thể
đặc biệt của xã hội, họ có quyền được ưu tiên chăm sóc, giúp đỡ, bảo vệ.
Sau Tuyên ngôn nhân quyền, sự quan tâm của nhân loại đối với người phụ
nữ và việc bảo vệ quyền lợi của họ đã được thể hiện ngày càng rõ hơn. Hiện
nay, vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ nói chung, bảo vệ quyền phụ nữ trong quan
hệ kết hôn với người nước ngoài nói riêng đã được công nhận rộng rãi trên
toàn thế giới. Tôn trọng, bảo vệ quyền phụ nữ đã thực sự là tiêu chí để

đánh giá tiến bộ xã hội. Trên thực tế, Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế
đã ban hành, ký kết và tham gia nhiều văn bản pháp lý công nhận, thực thi
và bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền phụ nữ như Hiến chương
Liên hợp quốc (1945), Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Công
ước về các quyền chính trị của phụ nữ (1952), Công ước về quốc tịch của
người phụ nữ lấy chồng (1957), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa (1966), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt, đối xử
đối với phụ nữ (1979),...
Trong số các văn kiện pháp lý về quyền con người, có thể khẳng định,
CEDAW là văn bản quan trọng nhất do Liên hợp quốc thông qua đề cập một
cách toàn diện, cụ thể các quyền con người cơ bản của người phụ nữ; là văn
bản pháp lý thể hiện sự đồng tâm của cộng đồng thế giới trong việc bảo vệ
quyền phụ nữ nói chung, quyền của người phụ nữ trong quan hệ kết hôn với
người nước ngoài nói riêng. Điều này đem lại sức mạnh pháp lý quốc tế cũng

15


như sự phổ cập rộng rãi của Công ước trong đời sống quốc tế. Theo Ủy ban
CEDAW, cho tới nay đã có 186 quốc gia trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kết
Công ước, chiếm hơn 90% thành viên của Liên hợp quốc.
Với cơ cấu gồm Lời nói đầu, 6 phần và 30 điều khoản,
Công ước đã điều chỉnh các quyền của phụ nữ trên tất cả các lĩnh
vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quan trọng hơn là quyền
bình đẳng của phụ nữ nhằm chống lại sự phân biệt đối xử trong các
lĩnh vực nói trên [Dẫn theo 17, tr. 5].
Tinh thần của Công ước được xây dựng trên cơ sở các mục tiêu của
Liên hợp quốc nhằm bảo đảm nhân cách, phẩm giá và các quyền cơ bản của
con người cũng như quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới. Công ước
không chỉ giải thích rõ ý nghĩa của bình đẳng mà còn chỉ ra phương thức

giành quyền bình đẳng đó. Điều 16, đề cập tới quan hệ HN&GĐ, khẳng định
quyền bình đẳng và nghĩa vụ của phụ nữ và nam giới trong việc lựa chọn bạn
đời, làm cha mẹ, quyền nhân thân và làm chủ mọi tài sản của mình;…
Là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia và phê
chuẩn Công ước CEDAW, cho đến nay, trải qua hơn 30 năm phát triển, với
vai trò là thành viên của Công ước, Việt Nam đã tích cực nội luật hóa các quy
định của CEDAW vào hệ thống pháp luật, ban hành nhiều văn bản quy phạm
pháp luật với nội dung bảo vệ quyền phụ nữ như: Bộ luật dân sự (BLDS) năm
1995, 2005; Luật HN&GĐ năm 2014, Luật phòng, chống bạo lực gia đình
năm 2007, Luật bình đẳng giới năm 2008, …
Như vậy, mặc dù chưa có nhiều quy định về bảo vệ quyền phụ nữ
trong quan hệ HN&GĐ nhưng các văn bản pháp luật quốc tế nói trên đã tạo
tiền đề để các quốc gia có cơ sở, nội luật hóa những quy định trên vào hệ
thống pháp luật quốc gia, góp phần bảo vệ cụ thể hơn quyền phụ nữ trong
quan hệ HN&GĐ.

16


1.5. SƠ LƢỢC PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA
PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY

1.5.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm sống dưới chế độ phong
kiến, gần một trăm năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, phụ nữ Việt
Nam vừa bị áp bức về giai cấp vừa bị trói buộc bởi lễ giáo phong kiến hà
khắc. Từ năm 1954, với Hiệp định Gơnevơ, nước ta bị chia cắt thành hai miền
Nam - Bắc. Do đó, pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự nói chung, quan hệ
hôn nhân nói riêng ở mỗi miền có sự khác nhau.
- Pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo vệ quyền lợi phụ nữ trong quan

hệ hôn nhân và gia đình ở miền Bắc
Ở Miền Bắc, ngay sau khi giành được độc lập không lâu, ngày
9/11/1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã
được Quốc hội thông qua, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội. Tại
Điều 9, Hiến pháp quy định: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi
phương diện". Quy định này là cơ sở pháp lý về quyền bình đẳng giữa nam và
nữ trong quan hệ hôn nhân, là nguyên tắc giải quyết các quan hệ hôn nhân
trong chế độ mới. Tuy nhiên, vào thời điểm này, chúng ta chưa xây dựng
được văn bản Luật HN&GĐ hoàn chỉnh thể chế hóa một cách toàn diện nội
dung về bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ. Để đáp ứng việc giải quyết các
vấn đề về HN&GĐ trong tình hình mới, Nhà nước tạm thời ban hành hai Sắc
lệnh: Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề li hôn, Sắc lệnh
số 97-SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật
để thay thế việc áp dụng ba BLDS dưới thời thực dân phong kiến.
Các Sắc lệnh này cũng đã cụ thể hóa quyền bình đẳng của người phụ
nữ trong gia đình; xóa bỏ quyền gia trưởng của người đàn ông: "Chồng và vợ
có địa vị bình đẳng trong gia đình" (Điều 5, Sắc lệnh số 97-SL); bảo đảm
quyền bình đẳng, tự do kết hôn của các bên nam, nữ; quyền xin ly hôn của vợ,
chồng: "Người phụ nữ sau khi ly dị chồng có thể lấy chồng khác nếu chứng
17


minh là mình không có thai" (Điều 4, 5 Sắc lệnh số 97-SL);… mở ra một
quan niệm hoàn toàn mới về quyền phụ nữ.
Sau một thời gian khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định tình hình
đất nước, Hiến pháp năm 1959 được ban hành thay thế Hiến pháp năm 1946,
tiếp tục ghi nhận quyền bình đẳng nam nữ: "Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình" (Đoạn 1 Điều 24) và khẳng định vai trò
của Nhà nước đối với quan hệ HN&GĐ: "Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia

đình" (Đoạn 4 Điều 24). Ngay sau đó, Luật HN&GĐ năm 1959 được ban
hành, đánh dấu cho việc tách quan hệ HN&GĐ ra khỏi ngành luật dân sự, trở
thành ngành luật độc lập. Luật HN&GĐ năm 1959 là văn bản Luật HN&GĐ
đầu tiên của Nhà nước ta thể hiện khá đầy đủ quyền HN&GĐ của người phụ
nữ theo tiêu chí bình đẳng, là cơ sở pháp lý quan trọng để chúng ta bảo vệ các
quyền HN&GĐ cho người phụ nữ.
- Pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ trong quan hệ
HN&GĐ ở Miền Nam
Sau Hiệp định Gơnevơ năm 1954, Mỹ từng bước thay thế Pháp ở
miền Nam Việt Nam. Giai đoạn đầu, các quan hệ dân sự nói chung, quan hệ
hôn nhân nói riêng vẫn chịu sự điều chỉnh của các quy định trong Bộ dân luật
giản yếu Nam Kỳ năm 1883.
Với mục đích biến Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, Mỹ đã lập nên
ở miền Nam chính phủ Việt Nam cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm tổng
thống. Để củng cố và duy trì địa vị thống trị của mình, chính quyền Sài Gòn
đã xây dựng một hệ thống pháp luật riêng. Cũng bắt đầu từ thời kỳ này, ở
miền Nam Việt Nam đã có những văn bản pháp luật riêng biệt điều chỉnh
quan hệ HN&GĐ như: Luật Gia đình năm 1959 dưới thời Ngô Đình Diệm;
Sắc luật số 15/64 năm 1964 dưới thời Nguyễn Khánh; sang thời Nguyễn Văn
Thiệu, các quy định về HN&GĐ được nhập chung vào Bộ dân luật năm 1972.
So với các văn bản pháp luật trước đó, các văn bản pháp luật này đều chủ
18


×