Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

Nhân thân người phạm tội với việc quyết định hình phạt từ thực tiễn thành phố hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.59 MB, 108 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN BÍCH HUYỀN

NH¢N TH¢N NG¦êI PH¹M TéI VíI VIÖC
QUYÕT §ÞNH H×NH PH¹T Tõ THùC TIÔN THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG QUANG PHƢƠNG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực.
Người cam đoan

Nguyễn Bích Huyền


MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa


Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1: MÔT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƢỜI
PHẠM TỘI VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT .........................................6
1.1.

Một số vấn đề lý luận về nhân thân ngƣời phạm tội ................................6

1.1.1.

Khái niệm nhân thân người phạm tội ............................................................6

1.1.2.

Đặc điểm nhân thân người phạm tội ...........................................................10

1.2.

Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt ......................................18

1.2.1.

Khái niệm quyết định hình phạt ..................................................................19

1.2.2.

Các nguyên tắc quyết định hình phạt ..........................................................28


1.2.3.

Các căn cứ quyết định hình phạt .................................................................30

1.3.

Nhân thân ngƣời phạm tội là một trong các căn cứ quyết định
hình phạt ....................................................................................................34

Chƣơng 2: QUY ĐỊNH VỀ NHÂN THÂN NGƢỜI PHẠM TỘI VỚI
VIỆC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ HIỆN HÀNH .......................................................................................38
2.1.

Quy định về nhân thân ngƣời phạm tội với việc miễn hình phạt .........38

2.2.

Quy định về nhân thân ngƣời phạm tội với việc quyết định hình
phạt nhẹ hơn ..............................................................................................41

2.3.

Quy định về nhân thân ngƣời phạm tội với việc quyết định hình
phạt nặng hơn ............................................................................................52

2.3.1.

Các tình tiết thuộc nhân thân người phạm tội với tư cách là yếu tố cấu

thành tăng nặng khung hình phạt: ...............................................................52

2.3.2.

Các tình tiết thuộc nhân thân người phạm tội là yếu tố quyết định hình
phạt nặng hơn trong một khung hình phạt ..................................................55


Chƣơng 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ NHÂN THÂN
NGƢỜI PHẠM TỘI TRONG VIỆC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ CÁC GIẢI PHÁP
BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG ..................................................................69
3.1.

Thực tiễn áp dụng quy định về nhân thân ngƣời phạm tội trong
việc quyết định hình phạt trên địa bàn thành phố Hà Nội ....................69

3.1.1.

Kết quả đạt được .........................................................................................69

3.1.2.

Những vi phạm, sai lầm ..............................................................................73

3.2.

Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng nhân thân ngƣời phạm tội
trong việc quyết định hình phạt ...............................................................78


3.2.1.

Hoàn thiện về pháp luật hình sự và tố tụng hình sự ....................................79

3.2.2.

Xây dựng án lệ ............................................................................................86

3.2.3.

Tăng cường công tác hướng dẫn thi hành pháp luật và tổng kết công
tác xét xử trên địa bàn thành phố Hà Nội ....................................................88

3.2.4.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám đốc việc xét xử của hai cấp Tòa
án thành phố Hà Nội....................................................................................89

3.2.5.

Nâng cao năng lực và ý thức pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân, Kiểm sát viên và luật sư trên địa bàn thành phố Hà Nội .....................90

KẾT LUẬN ..............................................................................................................95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................98


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:


Bộ luật hình sự

HĐXX:

Hội đồng xét xử

NTNPT:

Nhân thân người phạm tội

QĐHP:

Quyết định hình phạt

TAND:

Tòa án nhân dân

TNHS:

Trách nhiệm hình sự


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang


Bảng 3.1: Kết quả xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm của hai cấp
TAND thành phố Hà Nội từ năm 2010 – 2014

70

Bảng 3.2: Số liệu quyết định hình phạt trong xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự trên địa bản thành phố Hà Nội

72


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
QĐHP là một hoạt động rất quan trọng, không thể thiếu của giai đoạn xét xử
một vụ án hình sự. Việc Toà án tuyên một hình phạt đảm bảo tính công lý có ý
nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý hết sức to lớn. QĐHP đúng, đảm bảo tính nghiêm
minh, công bằng của pháp luật hình sự, tương xứng với tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chính là để bảo vệ pháp chế và chế độ Xã hội
chủ nghĩa, là cơ sở pháp lý đầu tiên để đạt được các mục đích của hình phạt. Quyết
định một hình phạt đúng pháp luật sẽ là cơ sở quan trọng để có thể nâng cao hiệu
quả của hình phạt. Hình phạt đã tuyên, một mặt phải thể hiện được sự trừng trị cần
thiết của Nhà nước đối với người phạm tội, để có thể răn đe được người phạm tội và
những người khác, ngăn ngừa họ thực hiện hành vi phạm tội; giáo dục, động viên
quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Mặt khác, hình phạt đã tuyên cũng phải bảo đảm được tính chất là một phương tiện
giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội, giáo dục
người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Để đảm bảo tính khách quan, đúng pháp luật của hoạt động QĐHP, pháp luật
hình sự nước ta đã chính thức ghi nhận các căn cứ QĐHP trong BLHS để Toà án dựa

vào khi QĐHP. Trong các căn cứ đó, ngoài các quy định của BLHS, cân nhắc tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là những căn cứ quan
trọng bước đầu, thì NTNPT và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách hình sự
thuộc NTNPT là những căn cứ tiếp theo không kém phần quan trọng, bảo đảm cho
Tòa án quyết định được loại hình phạt, mức hình phạt đúng. Đây là một trong những
biểu hiện nhân đạo, công bằng và cá thể hóa hình phạt được thể hiện rõ trong luật
hình sự nước ta, được thực tiễn xét xử khẳng định và ghi nhận. Việc áp dụng đúng
NTNPT trong QĐHP có ý nghĩa cải tạo, giáo dục và phòng ngừa rất lớn.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu thực tiễn áp dụng các căn cứ QĐHP từ khi BLHS
năm 1999 có hiệu lực đến nay trên địa bàn Hà Nội đã cho thấy vẫn còn nhiều Toà

1


án mắc phải những sai sót nhất định khi thực hiện hoạt động QĐHP, nhất là trong
việc áp dụng NTNPT với QĐHP. Mặt khác, xuất phát từ việc nhận thức rõ hậu quả
tiêu cực cho xã hội do hoạt động QĐHP không đúng gây ra, chúng tôi cho rằng việc
nghiên cứu một cách căn bản, có hệ thống về “NTNPT với việc QĐHP” dưới góc
độ lý luận và thực tiễn là hết sức cần thiết và có giá trị nhằm nâng cao nhận thức và
khắc phục những vướng mắc, thiếu sót trong thực tiễn hoạt động QĐHP của Toà án.
Ngoài ra, nghiên cứu nâng cao hiệu quả việc áp dụng NTNPT trong QĐHP cũng là
một nhiệm vụ cấp thiết để xây dựng pháp luật hình sự công bằng, nhân đạo, dân chủ
và công minh trong nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, vấn đề NTNPT và QĐHP không chỉ được đề cập đến trong giáo
trình Luật hình sự của các trường đại học như Đại học Luật Hà Nội, khoa Luật
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội... để đào tạo cử nhân luật học, cán bộ tư pháp tương
lai, mà còn là mối quan tâm của các cán bộ làm công tác xét xử, là trọng tâm nghiên
cứu của các nhà khoa học pháp lý hình sự như:
GS. TSKH. Đào Trí Úc, Nghiên cứu và phòng ngừa tội phạm của những

người chưa thành niên ở Việt Nam (Phần 1), Luận án Phó tiến sỹ (tiến sỹ), M.1981;
ThS. Phạm Thanh Bình: Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự trong luật hình sự Việt Nam - Tạp chí Tòa án nhân dân số 8/1995;
ThS. Nguyễn Mai Bộ: Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng - Tạp chí Tòa án
nhân dân số 1/1999;
ThS. Đinh Văn Quế: Một số điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 1999 về hình
phạt và QĐHP - Tạp chí Tòa án nhân dân số 3/2000;
Đặng Xuân Đào: “Một số nội dung mới của các quy định về các tình tiết
giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm
1999” - Tạp chí Tòa án nhân dân số 8/2000;
GS. TSKH. Lê Cảm: Về bản chất pháp lý của quy phạm “Nguyên tắc QĐHP”
tại Điều 37 Bộ luật hình sự Việt Nam - Tạp chí Tòa án nhân dân số 1+2/1989; Nhân
thân người phạm tội - Tạp chí Tòa án nhân dân số 10/2001;

2


GS. TSKH. Lê Cảm và TS. Trịnh Tiến Việt: Nhân thân người phạm tội: Một
số vấn đề lý luận cơ bản - Tạp chí Tòa án nhân dân số 1/2002;
TS. Trịnh Tiến Việt: Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình
sự trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và một số kiến nghị - Tạp chí Tòa án nhân dân
số 13/2004;
TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy: Nhân thân người phạm tội trong luật Hình sự
Việt Nam – Luận án tiến sĩ, 2005.
Nhìn chung, các công trình, chuyên khảo đề cập đến vấn đề NTNPT và
QĐHP mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái quát nội dung của vấn đề, xem xét
NTNPT (ở các cấp độ khác nhau) trong tội phạm học và trong luật hình sự nói
chung hoặc về các khía cạnh khác nhau trong một nhóm chủ thể nhất định như
người chưa thành niên phạm tội, người phạm tội là phụ nữ. Có thể nói, vấn đề
NTNPT trong thực tiễn QĐHP chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng,

chưa được ưu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu về NTNPT và QĐHP, chúng tôi nhận thấy
cần có sự nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về vấn đề áp dụng NTNPT trong việc
QĐHP, phân tích thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội để từ đó có
những kiến nghị sửa đổi bổ sung hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về
NTNPT và QĐHP. Cũng qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
QĐHP của Toà án để đạt được mục đích cuối cùng của hình phạt là giáo dục, cải
tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề chung về NTNPT và QĐHP, cụ thể là: khái
niệm, các đặc điểm của NTNPT; khái niệm, đặc điểm, các nguyên tắc và các căn cứ
QĐHP cũng như nhấn mạnh NTNPT là một trong các căn cứ QĐHP.
Thứ hai, làm rõ sự ảnh hưởng của các tình tiết NTNPT trong việc QĐHP ở
các phương diện: miễn hình phạt, QĐHP nhẹ hơn và QĐHP nặng hơn.

3


Thứ ba, chỉ ra được những sai sót trong thực tiễn áp dụng các quy định về
NTNPT trong QĐHP trên địa bàn thành phố Hà Nội và đưa ra những giải pháp
nhằm đảm bảo áp dụng đúng các quy định này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn xác định tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về NTNPT và
QĐHP, cùng với các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về NTNPT với
việc QĐHP và thực tiễn áp dụng các quy định này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

Thứ nhất, về quy định pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của
BLHS năm 1999 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành về NTNPT và QĐHP.
Thứ hai, về địa bàn nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn xét xử tại
các Tòa án trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2014.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ
nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt
Nam về hình sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu của
khoa học luật hình sự như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phương pháp
so sánh, đối chiếu; khảo sát thực tiễn xét xử qua các vụ án điển hình… Ngoài ra, tác
giả có chọn lọc kết quả của các bài viết, công trình nghiên cứu đã công bố, các đánh
giá, tổng kết của các cơ quan chuyên môn về những vấn đề có liên quan đến việc
nghiên cứu.
6. Ý nghĩa của luận văn
NTNPT và QĐHP là những vấn đề được khá nhiều tác giả nghiên cứu dưới
những góc độ khác nhau. Thực tế đó đã tạo ra những thuận lợi nhất định cho việc
nghiên cứu đề tài nhưng cũng chính là khó khăn lớn đối với tác giả vì sẽ không

4


tránh khỏi sự trùng lặp về những kiến thức pháp luật hình sự cơ bản đã được thừa
nhận rộng rãi trong khoa học pháp lý. Mặc dù vậy, dựa trên những nghiên cứu lý
luận về NTNPT và QĐHP, tìm hiểu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và kết
quả đánh giá thực tiễn áp dụng NTNPT với việc QĐHP trong hoạt động xét xử các
vụ án hình sự của các Toà án trên địa bàn thành phố Hà Nội có thể thấy ý nghĩa của
luận văn là:

Thứ nhất, góp phần đảm bảo sự nhận thức thống nhất những vấn đề chung về
NTNPT và QĐHP.
Thứ hai, chỉ ra những sai sót trong thực tiễn vận dụng và nguyên nhân của
việc áp dụng chưa đúng những quy định về NTNPT trong QĐHP.
Thứ ba, đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm việc áp dụng đúng NTNPT
trong QĐHP trong thực tiễn xét xử, bao gồm: Giải pháp nhằm hoàn thiện quy định
của pháp luật hình sự về NTNPT; Kiến nghị áp dụng căn cứ thực tiễn (án lệ) của
hoạt động QĐHP; Nâng cao ý thức pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
Kiểm sát viên và luật sư trong việc áp dụng NTNPT với QĐHP.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, phụ lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội và quyết định
hình phạt
Chương 2: Quy định về nhân thân người phạm tội với việc quyết định hình
phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định về nhân thân người phạm tội trong
việc quyết định hình phạt trên địa bàn thành phố Hà Nội và các
biện pháp bảo đảm áp dụng đúng

5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƢỜI PHẠM TỘI
VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
1.1. Một số vấn đề lý luận về nhân thân ngƣời phạm tội
1.1.1. Khái niệm nhân thân người phạm tội
Tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi một con người cụ thể mà khi
nghiên cứu về tình trạng phạm tội nói chung và tội phạm cụ thể nói riêng, cần thiết

phải nêu được những đặc điểm liên quan đến bản thân người phạm tội. Xuất phát từ
quan điểm người phạm tội là một con người chứa đựng những đặc điểm vốn có nhất
định. Ngoài ra, người phạm tội còn có những đặc điểm khác mà một người bình
thường không thể có được cho nên, để nêu được khái niệm NTNPT thì chúng ta
phải biết được, phải hiểu được nhân thân của một con người.
Theo khái niệm chung của xã hội học Mác – Lênin về nhân thân con người
thì nhân thân – đó là bản chất xã hội của con người được thể hiện thông qua vị trí
của con người trong hệ thống quan hệ xã hội. Nhân thân là một phạm trù mang tính
xã hội – lịch sử. Nhân thân sẽ không thể được làm sáng tỏ nếu xem xét nó với tư
cách là một hiện tượng tách biệt và khép kín, tách rời nó với hiện thực xã hội và các
điều kiện lịch sử cụ thể đặc trưng cho hiện thực đó. Với tư cách là chủ thể của các
mối quan hệ xã hội, được đặc trưng bởi những đặc tính và phẩm chất cá nhân đa
dạng, mỗi cá nhân cụ thể có một nhân thân tương ứng. “Khái niệm nhân thân đồng
thời cũng bao hàm cả con người với tư cách là một thành viên của xã hội, là một
công dân, là đại diện của các giai cấp, các nhóm xã hội nhất định v.v…, là người
mang trong mình một số các đặc điểm xã hội điển hình” [44, tr.96].
Một dấu hiệu rất quan trọng của nhân thân con người đó là ý thức, là toàn bộ
thế giới tinh thần nội tại của nó. Khi được thiết định bởi các điều kiện xã hội bên
ngoài, bản thân thế giới tinh thần này trở thành một yếu tố cấu thành tích cực của
nhân thân, nó trung gian hóa sự tác động của mọi biểu hiện trong xã hội đến con
người sao cho phù hợp với nội dung riêng của nó; đồng thời trong mỗi trường hợp

6


cụ thể, nó xác định việc con người sẽ lựa chọn lập trường xã hội nào, lựa chọn cách
xử sự này hay cách xử sự khác. Các hiện tượng tâm lý đan xen một cách hữu cơ với
cuộc sống toàn vẹn của cá nhân, vì chức năng hoạt động cơ bản của mọi hiện tượng
và quá trình tâm lý là điều tiết hoạt động của con người.
Khi nói đến nhân thân con người là chúng ta muốn nói đến sự tổng hợp các

đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con người tham gia vào các mối quan hệ
xã hội. Đó là các đặc điểm, dấu hiệu sinh học, nhân khẩu học các đặc điểm về xã
hội học, đạo đức – tâm lý. Cần phải quan tâm đến các giá trị xã hội và phương diện
của hiện thực xã hội, những người xung quanh, gia đình, bố, mẹ, vợ, chồng, con cái,
anh em, tài sản, lao động, các nghĩa vụ công dân v.v… Nội dung của các mối quan
hệ đó đặc trương cho định hướng của nhân thân. Đối với nhân thân, quan trọng hơn
cả là có được các mối quan hệ sâu sắc và ổn định, vì xuất phát từ đó mà hình thành
nên quan điểm, lý tưởng, lập trường, quan niệm đạo đức của con người. “Cách xử
sự của con người trong xã hội – mà nhân thân thể hiện ra bên ngoài, cũng gắn liền
với lĩnh vực trí tuệ, cảm xúc và ý chí của nhân thân” [44, tr.99]
Bản chất của nhân thân thể hiện ở chỗ nó không bị quy về các đặc thù tâm lý
cá nhân của con người, mà là sự thống nhất giữa cái chung, cái đặc thù và cái riêng
trong sự phát triển và hình thành. Cho nên nhân thân kế thừa và phản ánh kinh
nghiệm xã hội của mọi thế hệ trước, tiếp xúc ở một chừng mực nào đó với các thành
tựu văn hóa, lao động, sáng tạo, ứng xử xã hội mang tính nhân loại chung của các
dân tộc khác nhau và đồng thời nắm bắt lấy chúng. Ngoài ra, nhân thân bao giờ
cũng thể hiện các đặc điểm của một chế độ xã hội nhất định trong ý thức giai cấp,
trong thế giới quan chung và lý tưởng chính trị của mình v.v… Cuối cùng, nhân
thân con người là sự thể hiện các đặc điểm cá nhân không lặp lại, trong đó phản ánh
con đường sinh sống cá thể của con người, sự tồn tại cá nhân của nó – đó là sự tồn
tại được quy định bởi một nội dung cụ thể của các mối quan hệ gia đình, sản xuất,
sinh hoạt v.v… “Đó cũng chính là môi trường vi mô mà trong đó con người sống,
hoạt động và hình thành với tư cách là một nhân thân” [44, tr.100]
Từ sự phân tích trên, cho phép chúng ta đưa ra khái niệm nhân thân con

7


người – đó là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu, mối quan hệ xã hội của mỗi con
người cụ thể, bao gồm: các đặc điểm, dấu hiệu về xã hội – nhân khẩu học như giới

tính, tuổi, trình độ văn hóa, địa vị xã hội, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, nơi sinh
sống, hoàn cảnh kinh tế; các đặc điểm, dấu hiệu về tâm lý như quan điểm, nhu cầu,
sở thích, thói quen, lý trí, ý chí, cảm xúc, tình cảm… và các đặc điểm, dấu hiệu, mối
quan hệ xã hội khác.
Theo khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội, bị luật hình sự cấm, do con người cụ thể (có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu
TNHS) thực hiện một cách có lỗi, xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự
bảo vệ. Như vậy, nói đến NTNPT trong lĩnh vực luật hình sự là nói đến nhân thân
của chính con người cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội. Như đã phân tích ở trên,
nhân thân con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, là sự thống nhất giữa mặt
sinh học và mặt xã hội. Theo đó, NTNPT bao gồm trong nó tổng hợp các đặc điểm
của cá nhân về mặt sinh học, mặt xã hội, nói lên tính chất của con người đã thực
hiện tội phạm. Con người khi được sinh ra không sẵn chứa trong mình khả năng trở
thành tội phạm mà khả năng đó chỉ trở thành hiện thực dưới tác động tiêu cực của
nhiều yếu tố trong quá trình con người tự hoàn thiện về mặt sinh học, tâm lý, nhân
sinh quan... Quá trình đó cho thấy NTNPT là phạm trù có tính lịch sử vì “những
đặc điểm về nhân cách của người phạm tội không phải được tiềm ẩn ở con người đó
ngay từ khi mới sinh ra, mà chúng được hình thành dưới sự ảnh hưởng, tác động
của môi trường không thuận lợi bên ngoài” [43, tr.50] trong quá trình trưởng thành
của con người. Điều này hoàn toàn phù hợp với kết luận của Mác về bản chất của
con người: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối
quan hệ xã hội” [8, tr.257].
Trong khoa học pháp lý hình sự, dựa trên kết luận của Mác đã có nhiều công
trình nghiên cứu về NTNPT dưới các góc độ khác nhau. Trong đó, các nhà khoa
học luật gia nước ta đã có một số quan điểm về NTNPT như sau:
- GS. TSKH. Lê Cảm: “NTNPT theo luật hình sự đó là hệ thống các thuộc

8



tính có ý nghĩa xã hội của người đã thực hiện tội phạm, phản ánh khả năng cải tạo
người đó bằng các biện pháp và pháp lý hình sự” [10].
- Theo GS. TS Đỗ Ngọc Quang: “NTNPT là tổng hợp những đặc điểm,
những dấu hiệu, mối quan hệ xã hội về một con chứa đựng phẩm chất cá nhân tiêu
cực trong nhân cách dẫn đến hành vi phạm tội” [27, tr.132]
- Theo tác giả Lý Văn Quyền “ khái niệm NTNPT được hiểu là nhân thân
người có lỗi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự
cấm đoán và trừng phạt” [45, tr.131]
- Theo TS Nguyễn Mạnh Kháng “NTNPT là tổng hợp các đặc tính, các dấu hiệu
thể hiện bản chất của con người mà trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định và dưới
tác động của chính các điều kiện, hoàn cảnh đó động cơ phạm tội nảy sinh” [26].
- Theo ThS Võ Khánh Vinh: “NTNPT tức là người có lỗi trong việc thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm được hiểu là tổng thể
các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với các điều kiện và
hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó” [53].
- Theo GS.TS Kiều Đình Thụ:” NTNPT là tổng hợp tất cả những khía cạnh
xã hội đặc trưng của người phạm tội tạo thành cá nhân, có ý nghĩa giải quyết đúng
đắn vấn đề TNHS” [11, tr.169]
Theo quan điểm của chúng tôi, NTNPT – đó là nhân thân của người có lỗi
trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm đoán và
trừng trị. Như vậy, chỉ có việc thực hiện hành vi phạm tội mới cho phép phân biệt
nhân thân của người phạm tội với nhân thân của con người nói chung. Ngoài ra, dù
con người có chứa đựng các đặc điểm tiêu cực giống với các đặc điểm đặc trưng cho
người phạm tội đến đâu đi nữa thì cũng không được phép coi người đó là người phạm
tội nếu họ không thực hiện hành vi phạm tội, cũng như không được phép xuất phát từ
tính tất yếu cho rằng cá nhân này hay cá nhân khác phải là tội phạm. NTNPT, dù cho
tự nó có những biểu hiện này hay biểu hiện khác, kể cả việc thực hiện tội phạm
nghiêm trọng đến đâu chăng nữa, thì để đánh giá đúng về nó và hơn nữa là về nhân
thân nói chung cũng chỉ có được trên cơ sở xem xét mọi đặc tính xã hội quan trọng và


9


mọi biểu hiện của nhân thân; nội dung và mối tương quan giữa chúng, cụ thể là “tỷ
lệ” giữa các dấu hiệu và biểu hiện xã hội tích cực với các dấu hiệu và biểu hiện tiêu
cực của nhân thân trong mối liên hệ qua lại giữa chúng. Chính do tổng thể các đặc
tính và dấu hiệu xã hội, cấu trúc và mối tương quan giữa chúng như vậy đã đem lại
cho chúng ta một quan niệm đầy đủ về người phạm tội và cho phép hiểu được cách
xử sự phạm tội của người đó, nguyên nhân và động cơ phạm tội, và từ kết quả của
cách đánh giá như vậy mới có cơ sở đảm bảo cho việc đấu tranh chống và phòng
ngừa tội phạm, đảm bảo cho chính sách hình sự và cho việc chọn lựa các biện pháp
cần thiết, thích hợp nhằm giáo dục, cải tạo đối với từng trường hợp cụ thể.
Tổng hợp những quan điểm về khái niệm NTNPT và những vấn đề đã trình
bày trên đây, dưới góc độ luật hình sự ta có thể hiểu khái niệm NTNPT như sau:
NTNPT là tổng hợp các đặc điểm về xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh học, nói
lên tính chất của con người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong Bộ luật hình sự là tội phạm. Các đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng
trong việc giải quyết vấn đề TNHS của người phạm tội một cách công minh, có căn
cứ và đúng pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm nhân thân người phạm tội
Các đặc điểm NTNPT có thể phân chia thành ba nhóm tương ứng với một số
lĩnh vực sau:
Một là, các đặc điểm về mặt pháp lý hình sự.
Hai là, các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu học.
Ba là, các đặc điểm về mặt đạo đức, tâm lý học.
Để thấy rõ vai trò, vị trí và mức độ ảnh hưởng cụ thể của các đặc điểm nêu
trên đối với quá trình hình thành nhân cách người phạm tội như thế nào, dưới đây
chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng nhóm đặc điểm đó.
1.1.2.1. Các đặc điểm về mặt pháp lý hình sự của nhân thân người phạm tội

Các đặc điểm pháp lý hình sự của NTNPT là những dấu hiệu quan trọng nhất để
khẳng định về nhân thân người đã có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và là tiêu chí nói
lên tính nguy hiển cho xã hội của người này. Đó là những dấu hiệu cơ bản sau:

10


Thứ nhất, tính chất của tội phạm được thực hiện.
Thứ hai, cơ chế thực hiện tội phạm: đơn nhất phức tạp hay là đa tội phạm, nếu
là đa tội phạm thì đó là dạng nào: phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội, tái phạm nguy
hiểm.
Thứ ba, động cơ và mục đích nhằm đạt được của người phạm tội khi thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm.
Thứ tư, hình thức phạm tội: đơn lẻ hay là đồng phạm và nếu là đồng phạm
thì đó là đồng phạm đơn giản, đồng phạm phức tạp hay đồng phạm có tổ chức. Vai
trò của người phạm tội là gì: người thực hành, người xúi giục, người giúp sức hay
người tổ chức.
Thứ năm, người phạm tội là người có tiền án hay tái phạm. Nếu là tái phạm thì
là dạng nào: tái phạm chung, tái phạm nguy hiểm hay tái phạm đặc biệt nguy hiểm.
Ngoài ra, còn một loạt các đặc điểm khác về mặt pháp lý hình sự là những
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS liên quan đến NTNPT được ghi nhận trong
luật, cụ thể là khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 BLHS 1999. Vì nhà làm luật yêu
cầu Tòa án khi QĐHP phải coi NTNPT là một trong các căn cứ cần phải cân nhắc
(Điều 45 BLHS 1999).
Chẳng hạn, tính nguy hiểm cho xã hội của NTNPT được thể hiện
rõ qua chỉ số tái phạm như sau: theo số liệu thống kê trong 10 năm
(1989-1999) của Công an thành phố Hà Nội, thì trong 307180 người
phạm tội cướp tài sản có 2149 người có đa tiền án chiếm tỷ lệ 69% và
trong số còn lại có 60% người có từ hai tiền án trở lên [10].
1.1.2.2. Các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu học của nhân thân người

phạm tội
Các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu học của NTNPT là những dấu hiệu
cho phép khẳng định thông tin về NTNPT dưới góc độ tội phạm học và là tiêu chí
có vai trò quan trọng trong việc xây dựng định hướng, đưa ra các biện pháp tác
động mang tính chất giáo dục - cải tạo lao động đối với những người bị kết án, cũng
như soạn thảo các biện pháp đấu tranh phòng, chống tình trạng phạm tội.
Khi nghiên cứu các đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu học của NTNPT cần

11


lưu ý những dấu hiệu cơ bản như độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, vị trí, vai trò xã
hội, dạng nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động, địa điểm thường trú, hoàn cảnh gia đình,
tình trạng vật chất (tài sản, nhà ở),.. mà những dấu hiệu này tự bản thân chúng đã là đặc
trưng cho cá nhân mỗi một con người, tất cả mọi người chứ không thể căn cứ vào
chúng mà khẳng định cá nhân một người nào đó là người phạm tội. Nhưng những dấu
hiệu này có sự tác động tương hỗ qua quá trình hình thành nhân cách đạo đức, nhân
sinh quan lối sống của một người, cũng như các quan hệ giao tiếp của người đó với các
thành viên trong gia đình, trong nhà trường, trong cơ quan, ngoài xã hội. Và do vậy,
dưới góc độ tội phạm học những dấu hiệu này cung cấp cho các cơ quan tư pháp hình
sự những thông tin để hiểu rõ hơn về hoàn cảnh, những điều kiện cụ thể đã ảnh hưởng
đến quá trình hình thành nhân cách đạo đức, các nhu cầu vì lợi ích, giá trị xã hội, về sự
định hướng có tính lệch lạc (không phù hợp với lợi ích chung của gia đình, tập thể hoặc
xã hội) của người phạm tội. Chúng ta có thể chỉ ra một số nét chủ yếu của những dấu
hiệu thường thấy khi nghiên cứu NTNPT như sau:
- Dấu hiệu về giới tính:
Dấu hiệu về giới tính cho phép xác định người phạm tội là nam giới họặc nữ
giới. Qua nghiên cứu tỷ lệ giữa nam giới và nữ giới trong việc phạm tội thì tỷ lệ
nam giới phạm tội bao giờ cũng nhiều hơn nữ giới và mang tính chât ốn định hơn.
Từ đó cho thấy có thể xác định đuợc đặc trưng của nam giới là dễ bị ảnh hưởng của

môi trường và điều kiện sống để hình thành những đặc điểm tâm lý tiêu cực hoặc dễ
bị nhiễm các thói hư, tật xấu trong xã hội nhiều hơn nữ giới. Tuy nhiên, không nên
giải thích các đặc điểm cùa hành vi phạm tội cùa nam giới và nữ giới bằng sự khác
biệt sinh lý (mặc dù chúng ở một chừng mực nào đó có thể có ảnh hưởng đến các
đặc điểm cùa hành vi thực hiện các loại tội phạm bằng vũ lực).
Theo kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ nữ giới phạm tội chỉ chiếm 5 - 10% trong
tổng số những người phạm tội và là không đáng kể so với tỷ lệ của họ trong thành
phần dân số. Các tội phạm do nữ giới thực hiện thường xảy ra phổ biến ở lĩnh vực
thương nghiệp và tài chính, ngân hàng, y tế, xây dựng, nông nghiệp, chủ yếu là
cướp giật tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đầu cơ, buôn bán hàng cấm, sản xuất,

12


buôn bán hàng giả, chứa mại dâm. Trong mỗi nhóm phụ nữ khác nhau (khác nhau
về nơi ở, về nghề nghiệp, địa vị xã hội v.v...) thì tỷ lệ phạm tội và hình thức phạm
tội cũng khác nhau. Ví dụ, đối với phụ nữ nông thôn thường phạm tội trộm cắp tài
sản (chiếm 43,5% trong tổng số phụ nữ phạm tội trộm cắp tài sàn), đối vói phụ nữ
là công nhân viên chức hoặc tiểu thương thường phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản (chiếm 19,6% trong tổng số phụ nữ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) v.v...
Lý do phụ nữ phạm tội giết người thường là ghen tuông tình ái, mâu thuẫn gia đình.
Họ thường phạm tội riêng lẻ, nếu tham gia trong tổ chức phạm tội thì chỉ giữ vai trò
thứ yếu. Số liệu thống kê trong những năm gần đây cho thấy số lượng phụ nữ phạm
tội có chiều hướng gia tăng. Các loại tôi phạm do nữ giới thực hiện ngày càng đa
dạng và có những hình thức phạm tôi nguy hiểm hơn như mua bán, đánh tráo hoặc
chiếm đoạt trẻ em, mua bán phụ nữ. Điều đó chỉ ra rằng cơ cấu phạm tội xét theo
giới tính hiện nay đã có sự thay đổi lớn.
- Dấu hiệu về độ tuổi:
Các nhà tội phạm phân độ tuổi thành người chưa thành niên (từ 14 đến 18
tuổi), thanh niên (từ 18 đến 30 tuổi), trung niên (từ 30 đến 50 tuổi) và người già (từ

50 tuổi trở lên). Cùng với sự biến đổi của độ tuổi là quá trình diễn ra sư thay đổi của
bản thân nhân thân. Độ tuổi có ảnh hường rất lớn đến tính chất mức độ của tội
phạm, đến việc thực hiện các loại tội phạm khác nhau ở những người có độ tuổi
khác nhau. Thực tế cho thấy, nếu xem xét mối tương quan giữa các nhóm người
phạm tội có độ tuổi khác nhau trong tổng thể những người phạm tội thì nhóm người
phạm tội ờ độ tuổi từ 18 - 30 tuổi chiếm tỷ lê cao nhất, sau đó là nhóm người phạm
tội ờ độ tuổi từ 30 đến dưới 50 và nhóm người phạm tội chưa thành niên (từ 14-18
tuổi); cuối cùng là những người từ 50 tuổi trở lên, họ phạm tội ít hơn. Sự phân
nhóm người phạm tội theo dấu hiệu độ tuổi này là phù hợp với những điều kiện sinh
hoạt xã hội, với tính chất tâm lý xã hội của họ, từ đó cho phép nghiên cứu nâng cao
tính cụ thể và hiệu quả của công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Có
thể chỉ ra tỷ lệ cụ thể về độ tuổi của những người phạm tội như sau:
Trên địa bàn toàn quốc, những người ở độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi chiếm 64%,

13


riêng tội cướp tài sản thì những người ở độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi chiếm đến 75%, trên 30
tuổi chiếm 20%, từ 14 đến 18 tuổi chiếm 5% [10].
Trên địa bàn Hà Nội, theo thống kê trong thời gian 10 năm (1989 - 1999), chỉ tính
trong số 48.637 người phạm tội thì những người ở độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi chiếm 62%
(nếu chỉ tính trong số 3071 người phạm tội cướp tài sản, thì những người ở độ tuổi từ 18
đến 30 tuổi chiếm hết 2246 (tỷ lệ 73%), trên 30 tuổi chiếm 11% và từ 14 đến 18 tuổi
chiếm 12%) [10].
Mức độ phạm tội phổ biến chiếm tỷ lệ cao nhất ờ nhóm người phạm tội có
độ tuổi từ 18 - 30 tuổi đã phản ánh một sự thật, là ở độ tuổi đó đang diễn ra quá
trình hình thành nhân thân và quá trình lựa chọn một môi trường vi mô ổn định.
Những người ở độ tuổi này chưa có nhiều kinh nghiệm sống, trong khi đây lại là
giai đoạn mà họ phải giải quyết nhiều vấn đề sinh hoạt phức tạp và phải đụng độ với
nhiều tình huống hơn cả, điều đó có thể thúc đẩy việc xảy ra các xung đột với

những người xung quanh và hình thành các chuyển biến tâm lý xấu ờ họ. Theo
thống kê tội phạm, những người ở độ tuổi này thường phạm các loại tội có sử dụng
bạo lực như cố ý gây thương tích, hiếp dâm, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài
sản...; và thường chiếm tỷ lệ cao trong tổng số người phạm tội bị đưa ra xét xử.
Ở độ tuổi 30 trở lên, con người thường đã tích lũy được kinh nghiệm sống
phong phú, những người ở độ tuổi này thường hay phạm các loại tội về chức vụ và
kinh tế, như tham ô, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn...
Ở độ tuổi từ 14 - 18 tuổi (chưa thành niên) con người có rất ít kinh nghiệm
sống, tính tình rất dễ bị kích thích bởi tình cảm, không biết kiềm chế, không có thói
quen giải quyết ngay cả những tình huống không phức tạp lắm; vì vậy, nhiều khi tạo
điều kiện dẫn đến các quyết định và hành vi sai trái mà trong các trường hợp đó
người lớn tuổi sẽ không phạm phải. Phần lớn người chưa thành niên thường phạm
các loại tội xâm phạm sờ hữu mà theo thống kê tội phạm, thì chù yếu là tội trộm cắp
tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản.
Những người ờ độ tuổi từ 50 trở lên, do đã tích lũy được các ưu điểm của lối
sống xã hội đúng đắn, khả năng tự kiềm chế cao, có vị trí tương đối ổn định trong
xã hội..., vì vậy, mức độ phạm tội ít hơn.

14


- Dấu hiệu về trình độ học vấn:
Theo tội phạm học phân chia trình độ học vấn thành người mù chữ, người có
trình độ văn hoá cấp I, người có trình độ văn hoá cấp II, người có trình độ văn hoá
cấp III và đại học.
Trình độ học vấn của con người không chỉ ảnh hưởng đến sự nhận biết thế
giới xung quanh, sự phát triển lý trí và hình thành nhân cách, mà còn tạo cho con
người còn có thể lựa chọn được cách ứng xử đúng trong các mối quan hệ xã hội. Vì
vậy, trình độ văn hóa của con người có ảnh hưởng đến hành vi phạm tội.
Nghiên cứu về NTNPT cho thấy, đa số những người phạm tội là những

người có trình độ văn hóa thấp hơn so với các thành viên khác trong xã hội. Trình
độ văn hóa thấp thường làm biến dạng sự nhận thức về các quy tắc xã hội, các quy
tắc đạo đức, ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý. Những người trình độ văn hóa thấp
thường phạm những tội có tính chất bạo lực hoặc các tội xâm phạm sở hữu có tính
chất chiếm đoạt. Những người có trình độ văn hóa cao hơn thường phạm các tội liên
quan đến chức vụ, các tội phạm về kinh tế.
Chẳng hạn, theo thống kê của Bộ Công an, nếu so sánh theo trình độ học vấn
của những người phạm tội thì:
Trên địa bàn toàn quốc, trong thời gian từ năm 1993 đến 1998 trong tất cả
văn hóa cấp I chiếm 23%, văn hóa cấp II chiếm 50%, văn hóa cấp III chiếm 9%.
Riêng những người phạm tội cướp tài sản thì trong 5380 người phạm tội thì những
người mù chữ có 817 người (chiếm tỷ lệ 15%), văn hóa cấp I là 1264 người (chiếm
23,4%), văn hóa cấp II có 2546 người (chiếm gần 47,3%), văn hóa cấp III chiếm tỷ
lệ 14,7% và chỉ có 3 người có trình độ đại học. Trên địa bàn Hà Nội, trong 3071
người phạm tội cướp tài sản thì những người mù chữ chiếm 33,5%, văn hóa cấp I
chiếm 43%, văn hóa cấp II chiếm 21%, cấp III và đại học chiếm tỷ lệ có 2,5% [10].
- Dấu hiệu về địa vị xã hội và nghề nghiệp:
Các dấu hiệu vể địa vị xã hội và nghề nghiệp của người phạm tội cũng
có một vị trí quan trọng. Các dấu hiệu đó cho thấy được tội phạm này hay tội
phạm khác thường phổ biến hơn cả ở các tầng lớp và các nhóm xã hội nào, trong

15


các lĩnh vực nào cùa đời sống xã hội và sản xuất, đồng thời chúng cũng định
hướng cho việc tìm hiểu và chi ra các yếu tố phát sinh tội phạm vốn đặc trưng
cho các nhóm nghề nghiệp khác nhau của dân cư, cho các ngành kinh tế, các
hình thức sản xuất khác nhau v.v...
Địa vị xã hội và nghề nghiệp phụ thuộc nhiéu vào trình độ văn hóa. Thông
thường người phạm tội có trình độ văn hóa thấp cũng thường không có nghề nghiệp

hoặc không có việc làm, và do đó họ cùng thường khỏng có địa vị xã hội. Thống kê
địa vị xã hội và nghề nghiệp của những người phạm tội là công nhân, viên chức,
nông dân, học sinh, những người có khả năng lao động mà không chịu lao động và
học tập, người về hưu, nội trợ, người không có khả năng lao động phải sống dựa
vào những người khác đã chỉ ra, đa số những người phạm tội là thuộc loại có khả
năng, nhưng lười lao động, học tập, chỉ muốn ăn bám hoặc kiếm được tiền một cách
nhanh nhất mà không phải vất vả. Đa số họ cũng chính là những người không có
nghề nghiệp ổn định vả không có địa vị xã hội, đặc biệt là những người phạm tội
thuộc loại tái phạm hay tái phạm nguy hiểm. Trong số những người có nghề nghiệp
mà phạm tội thì phần lớn rơi vào trường hợp lao động chân tay nặng nhọc và lao
động giản đơn như nông dân, công nhân xây dựng, giao thông vận tải, nông, lâm
nghiệp, còn viên chức và người về hưu phạm tội ít hơn.
Nghiên cứu dấu hiệu địa vị xã hội và nghề nghiệp của những người phạm
tộĩ cho thấy, cần phải gắn liền và giải quyết vấn đề tội phạm trong xã hội với vấn đề
giáo dục và đào tạo nghề nghiệp cho người lao động, tạo cho họ có khả năng lao
động để thỏa mãn các nhu cầu của bản thân. Mặt khác trong công tác phòng ngừa
và chống tội phạm cần tập trung vào những loại nghề nghiệp nhất định, vào từng
loại người nhất định để có các biện pháp thích hợp.
- Dấu hiệu về nơi cư trú:
Địa vị xã hội của người phạm tội có liên quan mật thiết với nơi cư trú của họ
(thành phố hay nông thôn...). Chúng ta đều biết lối sông thành thị là khác biệt so với
lối sống ờ nông thôn. Thành phố là nơi tập trung các cơ sở văn hóa và giáo dục, các
điều kiện lao động và sinh hoạt, mọi vấn đề vể nếp sống cá nhân với trật tự xã hội

16


và mọi tác động có ý nghĩa xã hội đến từng cá nhân đều mạnh hơn, căng thẳng hơn
so với các điểu kiện sống ờ nông thôn. Đối với một số cá nhân thì điều kiện sống ờ
thành phố còn tạo khả năng cho cách xử sự buông thả của họ. Ở nông thôn, mọi

người đểu biết nhau và điều này tự nó đã là một yếu tố giám sát xã hội, buộc cá
nhân phải tính đến thái độ và xử sự của mình; còn ở thành phố, việc giám sát dựa
vào quan hệ sinh hoạt xã hội tại nơi cư trú là rất hạn chế.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong thành phẩn những người phạm tội thì
những người hay thay đổi nơi cư trú, nơi sinh sống chiếm tỷ lệ khá caó. Trong số
những người di chuyển nơi cư trú chiếm phần lớn lại là những người trẻ tuổi chưa
có gia đình, hoặc chuyển chỗ một mình không kèm gia đình, một phần khác là do
không thích nghi về mặt xã hội với nơi ở trước.
- Dấu hiệu về hoàn cảnh gia đình:
Tình trạng gia đình, hoàn cảnh kinh tế gia đình có ảnh hưởng đến việc thực
hiện tội phạm. Nghiên cứu về tội phạm đã chỉ ra, những người đã lập gia đình (đã
kết hôn) thường phạm tội ít hơn so với những người chưa lập gia đình. Người sống
độc thân phạm tội nhiều hơn. Chính yếu tố gia đình trong đa số trường hợp đã kích
thích hành vi của những thành viên trong gia đình, hạn chế đến mức tối đa các hiện
tượng tiêu cực phát sinh trong môi con người. Giữa lối sống độc thân và hoàn cảnh
gia đình cũng có mối quan hệ chặt chẽ: một mặt, việc sống độc thân và không có
các nghĩa vụ gia đình thúc đẩy lối sống phi đạo đức dễ dẫn tới việc phạm tội. Mặt
khác, lối sống phi đạo đức cản trở việc họ lập gia đình.
Hoàn cảnh gia đình và sự thay đổi của nó có tác động nhất định đến nhân
cách của con người, ảnh hưởng đến khuynh hướng và sự kiên định trong việc thực
hiện tội phạm. Những người phạm tội, nhìn chung thường xuất phát từ những gia
đình có tình trạng không bình thường (không hòa thuận, không có trách nhiệm với
nhau, có các thành viên trong gia đình có quan điểm, quan niệm xử sự trái đạo đức,
trái pháp luật, có trình độ văn hóa thấp trong xử sự và trong quan hệ với người
khác...), từ những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt (bố hoặc mẹ chết, ly hôn) hoặc có
hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

17



Nghiên cứu những tội phạm được thực hiện bởi những người chưa thành
niên phạm tội thì có 32,3% sống trong hoàn cảnh gia đình nghèo đói; 27,7% các em
có bố mẹ ly hôn hoặc ly thân; 24,7% có bố hoặc mẹ đã chết; 9,2% các em có bố
hoặc mẹ ngoại tình, 70% các em sống trong gia đình đông con [27].
Như vây, tình trạng gia đình có ảnh hưởng đến những đặc điểm nhân thân
của người phạm tội.
Ngoài những dấu hiệu chính kể trên, những dấu hiệu khác thuộc nhóm các
đặc điểm xã hội - nhân khẩu học như vai trò trong tổ chức xã hội của người
phạm tội, điều kiện nhà ở của người phạm tội, phương tiện sinh hoạt trong gia
đình của người phạm tội,.. có ý nghĩa đến việc nghiên cứu NTNPT. Việc chia
càng nhỏ những dấu hiệu xã hội liên quan đến người phạm tội càng giúp cho
việc hiểu biết sâu sắc thêm về người phạm tội để có các biện pháp phòng ngừa
thích hợp, đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.2.3. Các đặc điểm về mặt đạo đức, tâm lý học của nhân thân người phạm tội
Có thể gọi các phẩm chất đạo đức và các đặc điểm tâm lý của người phạm tội
là đặc trưng tâm lý - xã hội, một phẩn không thể thiếu trong tập hợp các đặc điểm,
dấu hiệu của nhân thân, đặc trưng đó là sự tổng hợp các đặc điểm bên trong của
nhân thân và một số biểu hiện bên ngoài của nó. Con người có thể trở thành người
phạm tội do có những tác động xã hội bất lợi. Những tác động xã hội bất lợi đó
được tiếp nhận và đưa vào thế giới các quan niệm, các quan hệ, phương châm, các
định hưóng v.v... của họ, sau đó được họ thể hiện thông qua hành vi phạm tội.
Đương nhiên không nên đồng nhất các đặc điểm tâm lý - đạo đức của nhân thân vói
các hiện tượng xã hội (mà có thê được xem là nguyên nhân phạm tội). Nhưng mối
liên hệ qua lại giữa chúng là tất yếu, vì thực chất các đặc điểm tâm lý - đạo đức tiêu
cực đã được hình thành của nhân thân người phạm tội là khâu trung gian giữa các
nguyên nhân xã hội nêu trên với bản thân hành vi phạm tội.
Cơ cấu tâm lý của nhân thân trước hết bao gồm các đặc điểm được thiết định
về mặt xã hội. Các đặc điểm này được xác định bằng những đặc tính của quá trình
tâm lý cũng như kinh nghiệm tích lũy được. Thuộc về các đặc điểm đó là khuynh


18


hướng, là các phẩm chất đạo đức của nhân thân, là kiến thức, thói quen, trình độ văn
hóa cá nhân v.v...Ngoài ra, cơ cấu tâm lý của nhân thân còn bao gồm những đặc
điểm cá biệt của một số quá trình tâm lý riêng biệt (trí nhớ, tư duy, cảm xúc, ý
chí...) và tính cách nữa, thậm chí cả các biến đổi bệnh hoạn của tâm lý.
Thuộc về các đặc điểm tinh thần - chính trị, thế giới quan và đạo đức cùa con
người là: các quan điểm, đánh giá, nguyện vọng, định hướng giá trị v.v... Chúng có
ý nghĩa đặc biệt đối với nhân thân người phạm tội. Tất cả các phẩm chất đa dạng đó
của nhân thân thể hiện: thứ nhất, đó là thái độ đã định hình đối với các giá trị đạo
đức và giá trị xã hội khác nhau, đối với các mặt khác nhau của hiện thực, với nghĩa
vụ lao động, với tư cách là một thành vièn trong xã hội, với gia đình, con cái, với
chính bản thân mình và những người xung quanh. Thứ hai, đó là mức độ, tính chất
và giá trị xã hội của các nhu cầu, khát vọng mà con người tiếp nhận rồi lựa chọn các
phương tiện (hợp pháp, bất hợp pháp hoặc nguy hiểm) nhằm đáp ứng chúng.
Tiêu chuẩn và tiêu chí vể các phẩm chất đạo đức của nhân thân chính là cách
xừ sự và toàn bộ thực tiễn sinh hoạt xã hội của cá nhân con người đó. Điều đó có
nghĩa là cơ sở để phán xét về nhân thân người phạm tội không đơn giản là nhận xét
và đánh giá của những người được hỏi đến (người thân, đồng nghiệp, người quen),
mà là các bằng chứng cụ thể được xem xét một cách toàn diện về hành vi của chính
người phạm tội đó
1.2. Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt
1.2.1. Khái niệm quyết định hình phạt
Với vị trí là một chế định quan trọng của Luật hình sự, là một hoạt động cơ bản
của HĐXX trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, QĐHP được xác định là một khái
niệm pháp lý cụ thể. Tuy nhiên, điểm đáng nói là cả BLHS năm 1999 và Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành hai bộ luật trên đều
không đề cập đến khái niệm QĐHP. Khái niệm này chỉ tồn tại trong lý luận và được đề
cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học. Thực tế này đã phần nào làm

cho khái niệm QĐHP chưa đạt được sự thống nhất cao trong khoa học pháp lý hình sự.
Nhưng, có thể khẳng định rằng, về cơ bản các cách hiểu đều thể hiện sự đồng nhất về
nội dung (bản chất) của khái niệm QĐHP là việc Toà án lựa chọn loại và mức hình

19


×