Tải bản đầy đủ (.pdf) (77 trang)

Đánh giá thực trạng canh tác nương rẫy và định hướng sử dụng đất nương rẫy tại xã Cổ Linh Pác Nặm Bắc Kạn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.53 MB, 77 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯỜNG THỊ NỰ

Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CANH TÁC NƯƠNG RẪY VÀ
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NƯƠNG RẪY TẠI XÃ CỔ LINH PÁC NẶM - BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học

: Chính quy
: Lâm nghiệp
: Lâm nghiệp
: 2011 - 2015

Thái nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯỜNG THỊ NỰ

Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CANH TÁC NƯƠNG RẪY VÀ


ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NƯƠNG RẪY TẠI XÃ CỔ LINH PÁC NẶM - BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Lâm nghiệp
Khoa
: Lâm nghiệp
Lớp
: 43 - LN - N02
Khóa học
: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Thu Hoàn

Thái nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƯỜNG THỊ NỰ

Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CANH TÁC NƯƠNG RẪY VÀ
ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT NƯƠNG RẪY TẠI XÃ CỔ LINH PÁC NẶM - BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Lâm nghiệp
Khoa
: Lâm nghiệp
Lớp
: 43 - LN - N02
Khóa học
: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Thu Hoàn

Thái nguyên, năm 2015


i
LỜI CẢM ƠN
Thực tập có vai trò rất quan trọng đối với môi sinh viên sau khi thực
hiện một khóa học. Đây là thời gian để sinh viên làm quen cọ xát với những
công việc thực tế mà sau này mình ra trường sẽ tiếp xúc, đồng thời giúp cho
sinh viên hệ thống lại những kiến thức đã học để áp dụng vào quá trình
nghiên cứu làm đề tài, giúp nâng cao phát huy khả năng tri thức sáng tạo của
bản thân nhằm phục vụ tốt hơn cho công việc.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của khoa Lâm
Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Tôi thực tập tại xã Cổ Linh Pác Nặm - Bắc Kạn với đề tài “Đánh giá thực trạng canh tác nương rẫy và
định hướng sử dụng đất nương rẫy tại xã Cổ Linh - Pác Nặm - Bắc Kạn”.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi
còn nhận được nhiều sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường và sự tận tình
giảng dạy của các thầy cô giáo suốt 4 năm học vừa qua.
Với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, ban chủ nhiệm

khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo, cảm ơn cô giáo ThS. Nguyễn Thị Thu
Hoàn người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện chuyên đề.
Tôi cũng chân thành cảm ơn các cô, chú tại Ủy ban nhân dân xã Cổ
Linh đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại xã.
Do thời gian có hạn, kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên chuyên
đề khó tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được những ý kiến đóng
góp bổ sung của các thầy cô cùng các bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện và
đầy đủ hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, Ngày….tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Lường Thị Nự


ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Diện tích đất nương rẫy ở Việt Nam .............................................. 14
Bảng 2.2. Yếu tố khí tượng năm 2013 của xã Cổ Linh .................................. 17
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất sản xuất tại xã Cổ Linh năm 2014 ............ 28
Bảng 4.2: Các dạng mô hình CTNR tại xã Cổ Linh ....................................... 32
Bảng 4.3: Hiệu quả kinh tế của các hộ từ mô hình ......................................... 35
Bảng 4.4: Phân bố hệ thông CTNR theo diện tích .......................................... 36
Bảng 4.5: Phân bố hệ thống CTNR theo mức thu - chi/ha ............................. 37
Bảng 4.6: Cơ cấu sử dụng đất của hộ gia đình................................................ 38
Bảng 4.7: Cơ cấu sử dụng đất của hộ gia đình................................................ 40
Bảng 4.8: Các vị trí ảnh hưởng đến năng suất của CTNR .............................. 43
Bảng 4.9: Các hình thức canh tác ảnh hưởng đến năng suất của CTNR ........ 44
Bảng 4.10: Kết quả phỏng vấn về tính chất đất sau CTNR ............................ 48
Bảng 4.11: Năng suất cây trồng giảm do xói mòn và thoái hóa đất ............... 48



iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Cơ cấu sử dụng đất canh tác nương rẫy cố định ............................. 29
Hình 4.2: Cơ cấu sử dụng đất canh tác nương rẫy không cố định .................. 30
Hình 4.3: Sơ đồ lát cắt mô hình NRCĐ .......................................................... 39
Hình.4.4: Sơ đồ lát cắt mô hình NRKCĐ ....................................................... 41


iv
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT

AFB

: Chiến lược toàn cầu

CTNR

: Canh tác nương rẫy

ICRDF

: Trung tâm quốc tế về nghiên cứu Nông lâm kết hợp

NLKH

: Nông lâm kết hợp

NRCĐ


: Nương rẫy cố định

NRKCĐ

: Nương rẫy không cố định

NRBCĐ

: Nương rẫy bán cố định

PRA

: Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia


v
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ..................................................................... ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT ...................................................... iv
MỤC LỤC ......................................................................................................... v
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học ...................................... 3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất ............................................................. 3

PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................ 4
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ...................................................... 4
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới ................................................................. 5
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam .................................................................. 8
2.4. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu ............................ 15
2.4.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 15
2.4.2. Điều kiện kinh tế xã hội ........................................................................ 19
2.4.3. Thuận lợi, khó khăn của xã Cổ Linh ..................................................... 21
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 24
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 24
3.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 24
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 24
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 24
3.4.1. Phương pháp kế thừa các tài liệu thứ cấp ............................................. 24


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản
thân. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa
hoàn toàn trung thực và khách quan, nếu có gì sai xót tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Xác nhận của GVHD

Người viết cam đoan

Đồng ý cho bảo vệ kết quả

(Ký, ghi rõ họ và tên)


Trước hội đồng khoa học!
(Ký, ghi rõ họ và tên)

ThS. Nguyễn Thị Thu Hoàn

Lường Thị Nự

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viêm chấm phản biện xác nhận sinh viên
Đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư
liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố của các khu dân cư xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hóa xã hội, an ninh quốc gia. Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn
tại của bất kỳ ngành sản xuất nào. Đối với sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai
là một tư liệu sản xuất quan trọng vá không thể thay thế được. Có thể nói sự
phát triển của con người luôn gắn liền với đất. Đối với môi trường, đất được
coi là nhân tố không thể thiếu được trong việc làm sạch môi trường với tất cả
các chất thải thông qua hoạt động sống của sinh vật nói chung và con người
chúng ta nói riêng.
Nhưng hiện nay, tài nguyên đất trên thế giới nói chung và Việt Nam nói

riêng đang bị suy thoái nghiêm trọng do bị xói mòn, rửa trôi, bạc màu, nhiễm
mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu. Do dân số ngày càng tăng
nhanh và nhu cầu của con người ngày càng cao về mọi mặt nên con người đã
tác động quá mức vào tài nguyên thiên nhiên tạo nên sức ép đối với đất đai và
các tài nguyên khác. Hậu quả của các hoạt trên đã làm cho quỹ đất nông lâm
nghiệp có nguy cơ suy giảm về diện tích và thoái hóa
Nước ta có tổng diện tích tự nhiên là 33.091.093 ha,trong đó là đất dốc,
hơn nứa Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa lớn
tập trung theo mùa nên đất dốc chiếm vị trí rất quan trọng trong phát triển
nông nghiệp cả nước, đặc biệt với người dân sống gần rừng và phụ thuộc vào
rừng. Nhìn chung đời sống của dân vùng này còn gặp nhiều khó khăn do hiệu
quả sản xuất và thu nhập thấp.


2

Đứng trước thực trạng này Nhà nước và nhân dân ta đã có nhiều cố
gắng trong việc cải tiến tới sản xuất nông lâm nghiệp lâu bền trên đất dốc qua
việc tổ chức các hình thức nghiên cứu và áp dụng theo khoa học hỹ thuật cho
phú hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và môi trường của tùng vùng
nhằm phát huy mọi tiềm năng.Trong bối cảnh đó hình thức quản lý và sử
dụng hài hòa giữa các lợi ích kinh tế, bảo tồn tài nguyên môi trường được
hình thành và phát triển.
Canh tác nương rẫy (CTNR) là một hình thức canh tác lạc hậu của
người dân vùng cao với trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác còn hạn chế
lạc hậu nên hiệu quả kinh tế còn thấp, tính bền vững chưa cao, chưa đáp ứng
được yêu cầu về mặt kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng.
Cổ Linh là một xã miền núi khó khăn của huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc
Kạn là xã có địa hình chủ yếu là đồi núi với độ dốc cao, kỹ thuật canh tác của
người dân chủ yếu là canh tác nương rẫy. Các hình thức canh tác nương rẫy

như nương rẫy cố định; nương rẫy không cố định; nương rẫy bán cố định….
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban Chủ Nhiệm khoa
Lâm Nghiệp và giáo viên hướng dấn. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá thực trạng canh tác nương rẫy và định hướng sử dụng đất nương rẫy
tại xã Cổ Linh - Pác Nặm - Bắc Kạn”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nhằm đánh giá được hiệu quả của một số hệ thống canh tác nương rẫy
của xã Cổ Linh, phân tích nhưng thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng sử dụng đất canh tác nương rẫy tại địa
bàn xã.
- Biết được các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất như địa hình,
kỹ thuật canh tác...


3

1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp cho sinh viên củng cố lại kiến thức đã học, làm quen với thực tế
địa phương, biết áp dụng lý thuyết và thực tế, tích lũy được nhiều kiến thức và
kinh nghiệm trong thực tế.
- Các kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu
tiếp theo về đánh giá hiệu quả canh tác nương rẫy tại địa phương.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Đề xuất các biện pháp kỹ thuật mang lại hiệu quả cao trong canh tác, phù
hợp với địa hình của xã và các giải pháp cho việc canh tác giống cây trồng.


4


PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Miền núi chiếm 75% diện tích đất liền Việt Nam và 21% dân số cả
nước. Trong phạm vi miền Bắc Việt Nam, sự chênh lệch về mức độ phát triển
kinh tế giữa các vùng lãnh thổ và vùng miền núi sẽ có thể tăng từ trong thập
kỷ tới (Lê Trọng Cúc, 1995) [2].
Nét đặc thù của cộng đồng các dân tộc ít người ở miền núi là sống gần
rừng và dựa vào rừng. Vì vậy, họ có hệ thống kiến thức và kinh nghiệm sản
xuất rất phong phú trong việc bảo vệ, phát triển và sử dụng tài nguyên rừng.
Tuy nhiên, đặc trưng của kiến thức bản địa là phạm vi sử dụng hẹp. Nó phù
hợp với điều kiện văn hóa, phong tục tập quán, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã
hội của địa phương nhất định nhưng có khi lại không phù hợp với địa phương
khác, dân tộc khác. Kiến thức bản địa luôn được hình thành và liên tục biến
đổi qua các thế hệ trong mối cộng đồng; kiến thức bản địa có khả năng thích
ứng cao với môi trường và điều kiện của từng địa phương nơi kiến thức bản
địa hình thành và phát triển (Đỗ Đình Sâm và cộng sự) [4]. Chính vì vậy, hệ
thống kiến thức bản địa trong quản lý bảo vệ rừng cũng rất khác nhau giữa
các địa phương, giữa các dân tộc. Do đó, để quản lý tài nguyên rừng một cách
bền vững cũng như duy trì và bảo tồn hệ thống kiến thức bản địa trong quản
lý tài nguyên thiên nhiên, chúng ta cần coi trọng, tìm hiểu và nghiên cứu về
hệ thống kiến thức bản địa của từng địa phương, của từng dân tộc. Trên cơ sở
đó, chúng ta cần coi trọng, tìm hiểu nghiên cứu về hệ thống kiến thức bản địa
của từng địa phương, của từng dân tộc. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể kế
thừa, sử dụng và phát huy những ưu điểm của hệ thống kiến thức bản địa
trong quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng một cách bền vững.


5


Canh tác nương rẫy là canh tác nông lâm nghiệp bền vững trên đất
nương rẫy theo hướng bền vững. Thực hiện CTNR theo hình thức NLKH, sử
dụng có hiệu quả các loài cây trồng cạn chịu hạn, có năng suất cao, các loài
cây họ đậu, cây có củ, cây ăn quả, cây dược liệu, kết hợp với cây trồng nông
nghiệp với cây lâm nghiệp, cây trồng cao với cây trồng thấp, cây ngắn ngày
với cây dài ngày, trồng trọt với chăn nuôi gia súc, gia cầm, đào áo thả cá.
Bằng cách đó sẽ tạo ra sự cân bằng sinh thái cục bộ, có khả năng giữ được độ
ẩm, cản dòng chảy, chống xói mòn đất, làm cho độ phì của đất luôn luôn được
bổ sung trong quá trình canh tác và từ nguồn phân hủy tự nhiên của lớp thảm
thực vật… Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở nhiều nơi cho thấy,
CTNR theo phương thức NLKH sẽ đưa lại hiệu quả kinh tế khả quan, thu
nhập tăng lên, đời sống được cải thiện, góp phần đáng kể vào chương trình
xóa đói giảm nghèo ở miền núi, rừng được bảo vệ tốt hơn bao gồm phát triển
bền vững cả mặt kinh tế xã hội và môi trường, cụ thể:
Bền vững kinh tế: Nghĩa là lấy năng suất, chất lượng, hiệu quả làm
trọng tâm thông qua việc trồng các loại cây cho năng suất cao và ổn định
được thị trường chấp nhận và đem lại lợi ích kinh tế cho người dân.
Bền vững xã hội: Giải quyết được việc làm cho người dân trong mùa vụ
thu hoạch trong vùng dự án. Đông thời thu mua, tiêu thụ được số lượng sản
phẩm từ mô hình của nhân dân trong vùng dự án, giúp cho nhân dân tiêu thụ
được sản phẩm có lợi nhuận.
Bền vững về môi trường: Duy trì được hệ thống sản xuất nông lâm
nghiệp vừa đem lại sản lượng đồng thời có vốn để đầu tư nâng cao chất lượng
hệ thống đem lại lợi ích về mặt môi trường.
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới
CTNR đã được các nhà nước nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ việc
phân tích kiến thức cổ truyền của người dân địa phương đến những ảnh
hưởng trực tiếp của CTNR đối với môi trường.



6

Katherine Warner (1975) [14] đã tổng kết một số vấn đề du canh tại
vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh. Theo tác giả, du canh thể
hiện phản ứng của con người khi gặp khó khăn trong việc xây dựng một số hệ
thống nông nghiệp sinh thái ở trong rừng nhiệt đới. Hệ sinh thái rừng nhiệt
đới có đặc trưng chung là đất dễ bị thoái hóa nhưng đa dạng về hệ động thực
vật cực kỳ phong phú cung cấp ít dinh dưỡng nhưng lại có hàng loạt các loại
cây có khả năng cạnh tranh đối với cây lương thực, thực phẩm. Qua cách phát
đốt thảm thực vật rừng người dân du canh đã tìm cách loại trừ các loại cây
cạnh tranh, tập trung chất dinh dưỡng để thâm canh các loại cây lương thực.
Đó là một tác động tích cực vào rừng để đạt tới quá trình diễn thế mới có ích
cho người dân. Tuy nhiên, đối với người nông dân du canh tổng hợp, đó chỉ là
sự can thiệp tạm thời vào hệ sinh thái rừng. Diễn thế bắt đầu tái diễn trong
nhiều trường hợp các phương thức du canh lại tích cực góp sức vào quá trình
tái tạo vào rừng. Dạng du canh tổng hợp không phá rừng mãi mãi, nó thay thế
rừng bằng một loại diễn thế cây tái sinh mà đối với người du canh lại sinh lợi
nhiều hơn là rừng tự nhiên ban đầu.
Jordan (1980) [13] đã nghiên cứu sự rửa trôi của các chất Kali, Magie
và Nitơ trong năm đầu trồng hoa màu như khoai mì, dứa, điều và cây khoai
mỡ. Các chất dinh dưỡng trong đất CTNR giảm dần do hoa màu được thu
hoạch mang đi qua hệ thống, chất hữu cơ bị ô xi hóa mất đi, do bị rửa trôi hay
bị xói mòn lôi cuốn theo dòng chảy trên bề mặt. khi các chất dinh dưỡng giảm
đến mức mà năng suất hoa màu quá thấp không thỏa mãn nhu cầu của người
canh tác thì đất nương rẫy sẽ bị bỏ hóa và một mảnh đất quay trở lại để phát
đốt canh tác thì dinh dưỡng trong đất lại cạn kiệt dần và năng suất của hoa
màu càng thấp dần, thời gian canh tác trên đất nương rẫy càng ngắn dần lại.
Viện quốc tế và môi trường Anh quốc (1991) [8] cũng rất chú ý đến
việc nghiên cứu về nông nghiệp du canh. Do vậy, Viện đã chủ quản và điều



7

hành một dự án về đánh giá thực trạng du canh của 3 nước Lào, Việt Nam,
Thái Lan vời nguồn tại trợ kinh phí bởi Bộ ngoại giao Hà Lan. Ở Thái Lan đã
tiến hành nghiên cứu nương rẫy du canh ở miền bắc Thái Lan, các kiểu sử
dụng đất thay thế du canh (cây ăn quả, rau cải bắp, lâm sản ngoài gỗ...). Các
kết quả nghiên cứu đề cập tới các vấn đề có liên quan tới tính bền vững các
kiểu sử dụng đất thay thế như chính sách, quyền sở hữu đất, quản lý cộng
đồng, chuyển giao kỹ thuật phù hợp, quản lý sâu bệnh, độ phì đất và sử dụng
nguồn lâm sản ngoài gỗ.
Tổ chức nghiên cứu nông lâm kết hợp ICRAF (1999) [12] cũng quan
tâm nghiên cứu nông nghiệp du canh thực hiên chương trình: “Thay thế nông
nghiệp du canh: chiến lược toàn cầu (AFB)”. Cốt lõi chương trình là áp dụng
các phương thức NLKH trong sử dụng đất và thực hiện thí điểm tại một số
nước (Thái Lan) để phát triển cho các nước lân cận. Ngoài ra trong thời gian
gần đây ICRAF cũng quan tâm nghiên cứu nông nghiệp du canh dưới góc độ
sử dụng đất bỏ hóa trong các điều kiện khác nhau. Những ý kiến thảo luân của
các nước đều cho rằng nông nghiệp du canh trong giai đoạn hiện nay là không
bền vững gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và là một trong những nguyên
nhân gây nên mất rừng ở nhiều nước. Các vấn đề được quan tâm phân tích là
làm sao có thể nâng cao được lợi ích của ngươi du canh, giảm bớt sức ép tới
rừng. Các giải phát tập trung đề nghị là:
- Giao quyền sở hữu rừng tới dân du canh địa phương.
- Chính phủ tạo điều kiện giúp đỡ cộng đồng về kỹ thuật và vốn để phát
triển hệ thống nông lâm kết hợp và thị trường.
- Thực hiện các chính sách đất đai phù hợp và xây dựng kế hoạch sử
dụng đất, đảm bảo giảm sức ép tới rừng và di dân tới các vùng còn rừng.
- Khuyến khích phát triển các xí nghiệp địa phương quy mô nhỏ để thu

hút và tao công ăn việc làm cho người dân địa phương.


8

- Cải thiện, mở mang cơ sở hạ tầng.
- Giúp đỡ tích cực chương trình khuyến nông khuyến lâm.
Ở Indonexia từ những năm 1970 chính phủ nước này đã thực hiện các
chương trình định canh để hạn chế nông nghiệp du canh. Mục tiêu là trong 5
năm sẽ định cư 500.000 hộ gia đình, nhưng trong thực tiến sau 18 năm mới
định canh 123.000 hộ.
Ở Trung Quốc nhà nước cũng rất quan tâm tới công tác định canh, định
cư và đã đạt đước những thành tựu đáng kể mà Việt Nam có thể học tập được
kinh nghiệm như: ở Vân Nam, Quảng Tây đã tiến hành 600.000 ha cao su
chịu lạnh để thay thế canh tác du canh, thu hút người dân du canh và các hoạt
động sản xuất này hoặc phát triển cây trồng, thu hoạch tam thất chiếm sản
lượng lớn cung cấp cho thị trường trong nước và ngoài nước.
Ở Lào, Myanma, Ấn Độ, Malayxia… cũng đã thực hiện các chương
trình dự án hạn chế và thay thế nông nghiệp du canh trong nhiều năm nhưng
kết quả thu được còn hạn chế.
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Khái niệm về đất dốc ở đây để chỉ vùng trung du và miền núi, ở nước ta
chúng liên kết thành một dải liên tục từ Đông Bắc (Quảng Ninh) qua Tây Bắc
(Lai Châu) rồi vươn dài theo dãy Trường Sơn vào tận miền Đông Nam Bộ.
Theo Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên, (1990) [7], Việt Nam có 121 huyện
vùng cao gồm 2061 xã 87 huyện miền núi gồm 1763 xã. Miền núi và vùng
cao phân bố ở 39 trong 61 tỉnh toàn quốc, là địa bàn sinh sống của 54 dân tộc
anh em, mối dân tộc có một nền văn hóa đặc sắc, tập quán sử dụng đất và
canh tác nông lâm nghiệp cũng có những nét riêng. Tổng diện tích miền núi
và vùng cao cả nước là 20.509.100 ha, chiếm 63 % diện tích toàn quốc, trong

đó Tây Nguyên có 5.509.000 ha.


9

Theo Trần Đức Viện (1996) [6], khó khăn lớn nhất cho việc phát triển
trên vùng đất dốc là địa hình chia cắt mạnh, có nhiều núi cao, suối sâu, đèo
dốc hiểm trở, độ dốc lớn, tạo ra nhiều vùng sinh thái khác biệt. Độ dốc lớn,
mưa tập trung, tỷ lệ che phủ rừng thấp làm cho đất đai bị xói mòn nghiêm
trọng, rất nhanh chóng mất sức sản xuất, diện tích đất xói mòn trơ sỏi đá
không ngừng mở rộng. Xói mòn không chỉ tước mất cơ hội kiếm ăn của
người dân trên đất dốc mà còn đe dọa người dân dưới vùng hạ lưu. Quản lý
tốt đất, nước và dinh dưỡng sẽ tăng năng xuất cây trồng, lương thực và cải
thiện môi trường. Vì vậy, khái niệm về tính bền vững của một hệ thống quản
lý sử dụng đất đã được Nguyễn Xuân Quát (1994) [3] đưa ra bao gồm 3
phương diện: Bền vững về kinh tế, được sự chấp nhận của xã hội và bền vững
về môi trường, quản lý bền vững về đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ,
chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội với các
quan tâm môi trường để đồng thời duy trì nâng cao sản lượng; giảm rủi ro sản
xuất; bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hóa đất và
nước; có hiệu quả lâu dài và được xã hôi chấp nhận.
Việt nam là một trong những quốc gia có quá trình nương rẫy du canh
lâu đời và phổ biến ở vùng đồi núi với cả 3 hình thức: quay vòng, tiến triển,
hỗ trợ. Nông nghiệp nương rẫy là nguyên nhân chính dấn đến việc mất đi một
diện tích lớn rừng nhiệt đới. Những dải đồi trọc phân bố rộng lớn, nhất là
Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam, chính là hậu quả của quá trình nương rẫy từ
xa xưa…Tính cho đến 6-7 thập niên gần đây năm 1913 độ che phủ của rừng
toàn quốc là 40,7%, năm 1975 giảm xuống còn 28,6% đến sau 1995 mới tăng
dần lên đến nay khoảng 37%. Tuy nhiên, trong đó ngoài một số rừng tự nhiên
tăng lên là do giảm tiêu chuẩn của rừng từ độ tàn che tối thiểu là 0,3 xuống

còn 0,1. Rừng mất đi nhanh chóng có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân
chủ yếu là nương rẫy khai hoang không hợp lý.


i
LỜI CẢM ƠN
Thực tập có vai trò rất quan trọng đối với môi sinh viên sau khi thực
hiện một khóa học. Đây là thời gian để sinh viên làm quen cọ xát với những
công việc thực tế mà sau này mình ra trường sẽ tiếp xúc, đồng thời giúp cho
sinh viên hệ thống lại những kiến thức đã học để áp dụng vào quá trình
nghiên cứu làm đề tài, giúp nâng cao phát huy khả năng tri thức sáng tạo của
bản thân nhằm phục vụ tốt hơn cho công việc.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự đồng ý của khoa Lâm
Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Tôi thực tập tại xã Cổ Linh Pác Nặm - Bắc Kạn với đề tài “Đánh giá thực trạng canh tác nương rẫy và
định hướng sử dụng đất nương rẫy tại xã Cổ Linh - Pác Nặm - Bắc Kạn”.
Trong quá trình thực hiện chuyên đề, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi
còn nhận được nhiều sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường và sự tận tình
giảng dạy của các thầy cô giáo suốt 4 năm học vừa qua.
Với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, ban chủ nhiệm
khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo, cảm ơn cô giáo ThS. Nguyễn Thị Thu
Hoàn người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện chuyên đề.
Tôi cũng chân thành cảm ơn các cô, chú tại Ủy ban nhân dân xã Cổ
Linh đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại xã.
Do thời gian có hạn, kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên chuyên
đề khó tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong nhận được những ý kiến đóng
góp bổ sung của các thầy cô cùng các bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện và
đầy đủ hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, Ngày….tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Lường Thị Nự


11

1 hoặc 2 vụ tùy thuộc vào khả năng cung cấp nước tự nhiên với năng suất
khoảng 1-2 tấn/ha/vụ, phân bố ở độ cao trên 700m và chủ yếu thuộc khu vực
quy hoạch rừng phòng hộ đầu nguồn. Còn lại khoảng 480 ngàn ha phân bố
phân tán với quy mô nhỏ ở độ cao 300-700m, điệu kiện tự nhiên và điệu kiện
thị trường thuận lợi hơn.
- 360 ngàn ha nương rẫy luân canh (trông cây nông nghiệp ngắn ngày
một thời gian sau đó để hoang hóa), trong đó: khoảng 240 ngành điều kiện
canh tác nông nghiệp khó khăn, năng suất cây trồng rất thấp, phương thức
canh tác chủ yếu là phá đốt thực bì trong mùa khô để gieo trồng cây nông
nghiệp ngắn ngày. Đây là khu vực phòng hộ đầu nguồn rất xung yếu với độ
cao trên 700m và độ dốc trên 25% là nơi sinh sống của trên 100 ngàn người
dân tộc H’Mông, Dao… còn lại khoảng 20 ngàn ha phân bố ở các khu vực núi
đá, độ dày tầng đất mỏng.
Viện khoa học Lâm Nghiệp (2001) [9] đã phân tích khá sâu sắc về tập
quán CTNR ở Tây Nguyên và chính sách, giải pháp sử dụng hợp lý đất trông.
Giới thiệu kết quả bước đầu khảo nghiệm 4 mô hình sử dụng hợp lý đất trồng.
Giới thiệu kết quả bước đầu khảo nghiệm 4 mô hình sử dụng cây họ đậu để
năng suất cây trồng nông nghiệp. Với mục đích cùng học hỏi và trao đổi kinh
nghiệm với các nhà nghiên cứu, các cộng tác viên và các nông dân đại diện
cho một số địa phương có kinh nghiệm về hiện trạng CTNR và quản lý đất bỏ
hóa và nhóm dự án đã trình bày tổng quan về tình hình CTNR qua các thời kỳ
phát triển của đất nước như sau:
Vào giai đoạn từ năm 1943 đến năm 1960, rừng Việt Nam còn nhiều
(có 14.324.000 ha, tỷ lệ che phủ là 43,8%) và chưa được quản lý, đây là giai
đoạn hưng thịnh nhất của nên nông nghiệp du canh thế kỷ XX. Người dân du

canh tự do phát nương làm rẫy, khai thác sản phẩm từ rừng nên đời sống của
đồng bào no đủ, ở giai đoạn này đã có những đồng bào định canh định cư lâu


12

đời và đến thời điểm này không chịu sự bóc lột của thực dân phong kiến nữa
nên đã có sự phát triển trong đời sống văn hóa tinh thần, nhất là một số tỉnh
miền núi phía Bắc như: Hòa Bình, Sơn La, Bắc Kạn, Thái Nguyên, đó là bản
làng của người Mường, Tày, Nùng… mặc dù canh tác du canh ở giai đoạn
này phát triển cực thịnh nhưng chưa ảnh hưởng nhiều đến rừng, mà vấn đảm
bảo phần nào tính bền vững của du canh truyền thống đối với cân bằng sinh
thái. Đặc điểm của CTNR ở giai đoạn này là thời gian bỏ hóa dài và rừng
quanh bản làng được quản lý tập thể theo hình thức cộng đồng với các hình
thức luận tục riêng. Mối bản làng có cách quản lý rừng như hình thức “Rừng
ma” hoặc “Rừng thiêng” nơi cấm khai thác, săn bắn, phát nương làm rẫy. Đây
cũng chính là những khu rừng đầu nguồn bảo vệ cuộc sống của họ. Canh tác
du canh vẫn được đảm bảo nghiêm ngặt những kỷ luật cổ truyền và đảm bảo
thời gian bỏ hóa tương đối dài.
Sang giai đoạn 1960 - 1980 là giai đoạn cải cách ruộng đất, đi vào làm
ăn tập thể. Ở thời kỳ này chính sách chung của Nhà nước là hạn chế phát
nương làm rẫy, tập trung khai thác ruộng nước nên đã hạn chế được việc du
canh. Năm 1967 thực hiện chính sách của Nhà nước về vận động đồng bào
dân tộc miền núi định cư, đồng bào miền xuôi đi xây dựng vùng kinh tế mới,
cùng với việc mở rộng diện tích ruộng bậc thang để trồng lúa nước đã làm
tăng sản lượng lúa nước và khuyến khích khai hoang trồng cây công nghiệp
và cây ăn quả lâu năm ở vùng núi, một loạt các nông trường và lâm nghiệp
quốc danh đã được thành lập. Tuy nhiên, dân số tăng nhanh, đời sống đồng
bào trở nên khó khăn, thiếu đói hơn giai đoạn trước. Thiếu đói lương thực
đồng bào quay trở lại phá rừng làm nương rẫy, thời gian này nạn phá rừng

diễn ra mạnh và bắt đầu gây mất cân bằng về sinh thái làm mất tính bền vững.
Năm 1976, nhà nước bắt đầu ra chính sách trồng rừng. Nhà nước cung cấp
cây giống, gạo cho dân để trồng và chăm sóc nhưng hiệu quả thấp, đồng thời


13

gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm. Do đó đời sống của đồng bào tiếp
tục gặp nhiều khó khăn cũng là tình trạng chung của nông dân cả nước.
Giai đoạn 1981 - 1987 đây là giai đoạn bắt đầu áp dụng chỉ thị khoán
100 của Trung Ương đó là giao khoán thẳng đến người dân, tuy nhiên chỉ thị
này chỉ phù hợp với nông dân ở đồng bằng còn với người nông dân ở miền núi
lại ít phù hợp. Do mức nộp sản nông nghiệp quá cao đã không động viên được
người dân đầu tư và quản lý sử dụng đất. Nhiều nơi ruộng lúa bỏ hoang, người
dân phát rừng làm nương rẫy hoặc khai thác gỗ lấy tiền. Đây là thời kỳ rừng bị
tàn phá nặng nề, thời gian bỏ hóa bị rút ngắn còn 6 - 7 năm. Do vậy dần mất
tính bền vững và ổn định, làm đời sống đồng bào tiếp tục khó khăn hơn nữa.
Từ năm 1988 đến sau này khi có chủ trương khoán 10, sau đó chính
sách giao đất nông nghiệp và lâm nghiệp với quyền sử dụng đất lâu dài cho
người dân, đã khuyến khích người dân đầu tư vào sản xuất, tự giác làm ăn,
học hỏi kinh nghiệm sản xuất của nhau, không ỉ lại trông chờ vào Nhà nước
vì thế người dân miền núi cũng phải bước vào vòng quay của cơ chế đổi mới
này. Những mô hình sản xuất NLKH ra đời dần dần thay thế cho CTNR
truyền thống đã bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế, đần dần cải thiện đời
sống của một bộ phận dân cư miền núi. Tuy nhiên với điều kiên đặc biệt khó
khăn như ở các vùng núi nước ta thì không phải mọi người đều có thể nhanh
chóng bắt kịp và chuyển đổi cách làm ăn. Nói chung nhiều đồng bào không có
điều kiện để đảm bảo cuộc sống họ vấn tiếp tục du canh, cho dù có thể họ vấn
biết rằng du canh không những không đảm bảo được cuộc sống của họ mà
còn làm suy thoái nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt, ngăn cản sự tái tạo lại

của rừng do thời gian bỏ hóa quá ngắn (chỉ 2-3 năm) và làm xuống cấp môi
trường nhưng họ vấn phải làm vì không còn lựa chọn nào khác.
Thực trạng đất dốc của chúng ta thật đáng lo ngại: chỉ có 9.4 triệu ha
đất có rừng còn 13,5 triệu ha là đất trống đồi núi trọc. Trong tổng số diện tích


14

đất nông nghiệp của cả nước là 7 triệu ha, vùng núi có 2,7 triệu ha, nhưng đây
là nơi sinh sống của 24 triệu người, hầu hết thuộc các dân tộc thiểu số vùng
cao. Trong số 2,7 triệu ha đất nông nghiệp ở vùng núi nước ta có tới 1,4 triệu
ha đang là nương rẫy, trong đó khu vực miền núi đã chiếm gần một nửa.
Bảng 2.1: Diện tích đất nương rẫy ở Việt Nam

Vùng

Miền núi phía Bắc

Diện tích đất

Diện tích đất

nông nghiệp

nương rẫy

(1000ha)

(1000ha)


% Diện tích
đất nương rẫy
so với đất nông
nhiệp

1.257,4

644,6

51,3

Duyên hải Bắc Trung Bộ

305,3

213,4

69,9

Duyên hải Nam Trung Bộ

195,1

176,0

90,2

Tây Nguyên

375,9


215,7

57,4

Đông Nam Bộ

548,9

178,0

32,4

2.682,6

1.427,7

301,2

Tổng số

(Nguồn: Viện Quy Hoạch và Thiết kế Nông Nghiệp Việt Nam 1993)
Theo Đỗ Đình Sâm và cộng sự (1994) [4], diện tích đất nương rẫy
(gồm cả diện tích bỏ hóa cho chu kỳ canh tác sau) chiếm khoảng 3,5 triệu ha
với số người CTNR là khoảng 3 triệu người trên cả nước, trong đó có khoảng
2,2 triệu người đã định cư còn lại là 0,8 triệu người vấn sống du canh, du cư,
chủ yếu là người H’Mông và người Dao với số hộ đói nghèo chiếm tới 20-30
%. Đặc điểm của nông nghiệp du canh của nước ta là tồn tại ở tất cả các vung
miền núi từ Bắc vào Nam, tỷ lệ gia tăng dân số ở vùng này cao (3- 3,5%), quy
mô gia đình lớn (7-9) người. Sự gia tăng dân số tự nhiên cao cùng với phong

trao di dân lên miền núi từ miền xuôi đã tạo sức ép to lớn lên tài nguyên miền
núi và làm cho tình hình khó khăn lại càng khó khăn hơn.


15

Ở nước ta, tài liệu nghiên cứu về CTNR còn rất ít, một số tài liệu đề cập
đến hoạt động nương rẫy ở các góc độ khác nhau, có thể tổng hợp như sau:
Đỗ Đình Sâm (1996) [5] đã tổng kết 3 kiểu du canh ở Việt Nam là: du
canh tiến triển, du canh quay vòng và du canh bổ sung. Theo tác giả, cần phải
phân tích, nhìn nhận nông nghiệp du canh trong trạng thái động liên quan đến
các yếu tố môi trường, xã hội trong quá khứ và hiện tại. Có như vậy mới có
cái nhìn đúng đắn về nông nghiệp du canh và tìm ra những giải pháp phù hợp.
Tác giả nhận định: ở tất cả các nước vùng nhiệt đới cũng như ở Việt Nam các
điều kiện môi trường, xã hội đảm bảo cho nông nghiệp du canh là: dân số
giảm sút mạnh do nhiều nguyên nhân tác động; diện tích đất bỏ hóa thường
được chuyển đổi mục đính sử dụng khác; súc ép kinh tế thị trường.
Tất cả nguyên nhân đó dấn đến nông nghiệp du canh truyền thống thay
đổi về bản chất, không còn bền vững và mang nhiều đặc điểm của nhiều kiểu
du canh tiến triển.
- Thời gian sử dụng đất canh tác dài hơn, thời gian bỏ hóa ngắn lại.
- Xác lập quyền sở hữu đất bỏ hóa và chuyển nhượng lại cho người khác.
- Tranh thủ làm nương rẫy ở nơi khác ngoại phạm vi đã định canh của
bản làng, ý thức du canh quay vòng không còn như trước đây.
- Di dân tự do tới nơi còn rừng để tiếp tục làm nương rẫy.
2.4. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
2.4.1. Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý: Xã Cổ Linh nằm ở phía Nam của huyện Pác Nặm.
Phía Bắc giáp xã Bộc Bố, xã Công Bằng, huyện Pác Nặm.
Phía Nam giáp xã Cao Tân, huyện Pác Nặm.

Phía Đông giáp xã Xuân La, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm.
Phía Tây giáp xã Hồng Thái, huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang.


16

Xã có diện tích tự nhiên là 3.968.32ha trong đó diện tích đất lâm nghiệp
là 1102.33 ha, đất sản xuất nông lâm nghiệp là 303.54 ha, đất phi nông nghiệp
là 162.73 ha, đất chưa sử dụng là 2394.94 ha.
Về hệ thống giao thông của xã Cổ Linh đã có đường nhựa liên xã, là
một điều kiện thuận lợi cho giao thông đi lại và trao đổi hàng hóa. Còn hệ
thống giao thông liên thôn chủ yếu là đương đất, về mùa mưa đường lầy lội
gây khó khăn cho việc đi lại.
* Đặc điểm địa hình: Độ cao tuyệt đối là 100m đến 600m, độ cao tương
đối là 50m đến 500m. Vùng sản xuất nương rẫy cao từ 50m đến 500m, với độ
dốc tương đối lớn, hiểm trở, thảm thực vật chủ yếu là rừng tự nhiên tái sinh,
giao thông đi lại khó khăn, chủ yếu là đường mòn.
* Đặc điểm khí hậu: Xã nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với hai mùa
rõ rệt trong năm. Mùa đông lạnh trùng với mùa khô kéo dài từ tháng 10 năm
trước đến tháng 4 năm sau. Mùa hè nóng trùng với mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 9 trong năm nhiệt độ trung bình trong năm là 220C đến 280C. Nhiệt độ
cao nhất từ 350C đến 370C. Nóng nhất vào tháng 5 đến tháng 7. Tổng lượng
mưa bình quân là 1346mm/năm, mưa tập trung vào các tháng 4 5 6 7 với
lượng mưa chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm. Độ ẩm trung bình là 84 - 85%
gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông lâm nghiệp.
Lượng mưa trung bình của năm 2013 ở xã Cổ Linh trong khoảng
138,38 mm. Cũng như chế độ nhiệt, mưa ở đây chia thành 2 mùa rõ rệt mùa
mưa trùng với mùa nắng trong năm kéo dài tù tháng 5 đến tháng 7 với 80% 90% lượng mưa cả năm. Thời gian còn lại ít mưa. Trong mùa mưa có những
tháng có thể mưa tới 10 - 15 ngày, thuộc vùng mưa ít của tỉnh, có khi gần như
cả tháng không có mưa hoặc chỉ là mưa phùn, mưa mù.

Mùa khô thường xảy ra từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau. Do
ảnh hưởng khí hậu vùng núi cao nên về mùa khô thường xảy ra rét đậm, rét


×