Tải bản đầy đủ (.pdf) (96 trang)

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.74 MB, 96 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN

HÀ NỘI – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ NHUNG

HÀ NỘI - 2015



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
không sao chép từ công trình nghiên cứu hay tài liệu của bất cứ tác giả nào. Mọi
nguồn tài liệu tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể…
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực trong luận văn của
mình./.
Hà nội, ngày

tháng

năm 2015

Người cam đoan

Nguyễn Thị Bích Vân


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến tất cả thầy, cô đã giảng dạy
trong chương trình Cao học Luật kinh tế Khóa 2013 - 2015 - Viện Đại học mở Hà
Nội, những người đã truyền đạt cho tôi kiến thức hữu ích về Luật kinh tế làm cơ sở
cho tôi thực hiện tốt luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thị Nhung đã tận tình hướng dẫn cho
tôi trong thời gian thực hiện luận văn. Mặc dù trong quá trình thực hiện luận văn có
giai đoạn không được thuận lợi nhưng những gì TS Nguyễn Thị Nhung đã hướng
dẫn, chỉ bảo cho tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài. Tôi cũng
xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy, cô tại Khoa Sau đại học của Viện Đại học
mở Hà Nội đã tận tình giúp đỡ trong việc hoàn thành mọi thủ tục khi làm luận văn
và cảm ơn Thư viện Viện Đại học mở Hà Nội, Thư viện Trường Đại học Luật Hà

Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu và thông tin của luận văn. Đồng
thời tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi
trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên
luận văn không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết, rất mong nhận được sự
thông cảm và những ý kiến đóng góp của các thầy, cô và các anh chị học viên.
Xin trân trọng cám ơn.


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG ......................................................................................... 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng ............................................................................................................. 8
1.1.1. Khái niệm thiệt hại............................................................................... 8
1.1.2. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ....................................... 12
1.1.3. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 15
1.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng .. 16
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ...................................................................................... 18
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG VÀ THỰC TIỄN BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DOVI PHẠM HỢP ĐỒNG ............................................................ 19
2.1. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng ........................................................................................................... 19
2.1.1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp

đồng ................................................................................................................ 19
2.1.2. Quyền được bồi thường thiệt hại của người bị vi phạm hợp đồng ......... 32
2.1.3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vi phạm hợp đồng ............ 33
2.1.4. Cách xác định thiệt hại của người bị vi phạm về tài sản, tính mạng, sức
khoẻ, danh dự và nhân phẩm do người vi phạm hợp đồng gây ra .................... 35
2.2 Trình tự tố tụng .......................................................................................... 41
2.3Những vấn đề lý luận và thực tiễn giải quyết về bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng ................................................................................................. 42
2.3.1. Những vấn đề lý luận giải quyết về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng ................................................................................................................ 42


2.3.2 Thực tiễn giải quyết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng ................................................................................................................ 44
2.3.3. Những nguyên nhân cơ bản vi phạm hợp đồng dẫn đến các thiệt hại của
người bị vi phạm ............................................................................................. 51
2.3.4. Một số bài học kinh nghiệm trong công tác giải quyết về trách nhiệm bồi
thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng ............................................................. 56
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 63
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH
NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DOVI PHẠM HỢP ĐỒNG ................... 64
3.1 Sự cần thiết trong việc hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng ......................................................................... 64
3.2 Định hướng hoàn thiện............................................................................... 65
3.2.1. Hoàn thiện về thủ tục khởi kiện ............................................................. 65
3.2.2. Nâng cao trách nhiệm bồi thường thiệt hại như áp dụng các biện pháp
bảo đảm bằng tài sản thông qua một cơ quan trung gian trước khi tham gia ký
kết hợp đồng ................................................................................................... 73
3.2.3. Xây dựng hành lang pháp lý đủ mạnh, có tính răn đe để phòng ngừa việc
vi phạm hợp đồng cũng như quy định rõ buộc bên gây thiệt hại phải bồi thường

các chi phí đi lại, thời gian theo kiện ............................................................... 74
3.2.4. Xây dựng hệ thống cơ quan giám định tại các địa phương đủ năng lực
giám định các thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra ........................... 75
3.2.5. Củng cố năng lực phát hiện và xử lý vi phạm của các tổ chức, cơ quan
nhà nước có thẩm quyền để nâng cao hiệu quả răn đe, phòng ngừa đối với các
bên có hành vi vi phạm. .................................................................................. 80
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 ...................................................................................... 83
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 86


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
1

KÝ HIỆU, CHỮ
VIẾT TẮT
BLDS 2005

DIỄN GIẢI
Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 được Quốc hội
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI,
kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005

2

LTM 2005

Luật Thương mại số 36/2005/QH 11 được Quốc hội
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI,

kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005;

3

4

5

BLTTDS 2004

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004

(SĐ,BS)

(được sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Nghị định

Nghị định 17-HĐBT ngày 16/1/1990 quy định

17/1990/NĐ -CP

chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế;

Thông tư số 173/

Thông tư số 173/ TT-UBTP ngày 23/3/1972 của

TT-UBTP


Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn về xét xử bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau gần 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước đi vững
chắc và từng bước có sự phát triển đột phá. Các doanh nghiệp kinh doanh trên thị
trường được chủ động sản xuất, kinh doanh và tự do cạnh tranh. Để trao đổi các sản
phẩm hàng hoá, phát triển các hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải có sự thoả thuận
và thống nhất ý chí của những người có sản phẩm hàng hoá về việc trao đổi sản
phẩm hàng hoá đó. Đó là mối quan hệ ý chí, phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa
những người có hàng hoá và được củng cố thêm bằng pháp luật. Như vậy quan hệ
trao đổi sản phẩm hàng hoá là mối quan hệ kinh tế giữa những người có hàng hoá
được thiết lập trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên mà hình thức thể hiện của nó
là bản giao kèo, bản giao kèo này chính là hợp đồng. Quan hệ trao đổi sản phẩm
hàng hoá trở thành quan hệ pháp luật khi được pháp luật điều chỉnh và hợp đồng trở
thành hình thức pháp lý của nó.
Trước yêu cầu đổi mới trong bối cảnh hội nhập, ngày 14/6/2005 Quốc hội đã
thông qua Bộ luật dân sự và Luật Thương mại. Bộ luật dân sự năm 2005(BLDS
2005) và Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) ra đời đã đánh dấu bước phát triển
của pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam. Các loại hợp đồng được điều chỉnh bởi pháp
luật chuyên ngành có những điểm riêng nhất định, thông thường mỗi loại hợp đồng
cụ thể ngoài việc phải tuân thủ những quy định chung về hợp đồng trong Bộ luật
dân sự và Luật Thương mại còn chịu sự điều chỉnh của các Luật chuyên ngành .
Khi một hợp đồng được xác lập có hiệu lực pháp luật, các bên có nghĩa vụ
phải thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận, đã cam kết nhưng trên thực tế có rất
nhiều tình trạng vi phạm các cam kết đã thoả thuận, đã giao kết trong hợp đồng.
Việc vi phạm các nghĩa vụ theo hợp đồng (không thực hiện, thực hiện không đúng,
không đầy đủ nghĩa vụ) sẽ dẫn đến bên vi phạm phải chịu những chế tài do pháp

luật quy định. Tuy nhiên, nếu sự vi phạm này chưa gây thiệt hại thì người vi phạm

1


chỉ có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ, mặt khác nếu việc vi phạm nghĩa vụ đã
gây ra thiệt hại cho người bị vi phạm thì người vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại, vì vậy tuỳ thuộc vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm mà trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng sẽ là trách nhiệm buộc phải thực hiện nghĩa vụ trong
hợp đồng. Nếu việc vi phạm gây thiệt hại thì bên vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại đã gây ra tương ứng với mức độ lỗi của mình, và có thể là trách
nhiệm phạt vi phạm nếu các bên có thoả thuận.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng nói chung, nhằm ngăn chặn, xử lý các
hành vi vi phạm hợp đồng, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật đối với các chủ thể
tham gia giao kết hợp đồng, củng cố quan hệ hợp đồng, nâng cao kỷ luật hợp đồng
cũng như khôi phục lợi ích của bên bị vi phạm thì hệ thống pháp luật các quốc gia
và quốc tế đều có quy định các hình thức chế tài, mỗi hình thức chế tài mang lại
những hậu quả bất lợi khác nhau đối với bên vi phạm hợp đồng.
Tuy nhiên hiện nay theo quy định của BLDS 2005và LTM 2005 thì trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu
tố: Có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân
quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra. Cả hai luật này đều không
giới hạn mức bồi thường thiệt hại mà căn cứ vào lỗi của các bên và mức thiệt hai
thực tế xảy ra. Đây là một trong những khó khăn, bất cập để giải quyết về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng vì cả hai bộ luật này đều chưa bám
sát thực tiễn.
Ngoài ra, trên thực tế đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại bên bị vi phạm đưa
ra yêu cầu thường gặp khó khăn trong việc xác định thiệt hại thực tế xảy ra để có
thể đưa ra mức yêu cầu bồi thường hợp lý. Nếu hai bên không thoả thuận được cách
bồi thường và mức bồi thường thì bên bị vi phạm có quyền khởi kiện ra cơ quan có

thẩm quyền, mà khi đó chế tài bồi thường thiệt hại rất ít khi được Toà án và trọng
tài chấp nhận khi bên bị vi phạm yêu cầu bồi thường do những khó khăn trong việc
xác định mức thiệt hại cụ thể cũng như căn cứ chứng minh cho các thiệt hại. Hơn

2


nữa, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng từ phía các bên vi phạm
là rất hạn chế, phần lớn họ chây ì, nại ra những lý do không chính đáng nhằm kéo
dài thời gian khi phải bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm hợp đồng.
Vấn đề đặt ra trong điều kiện như vậyphải có các biện pháp hữu hiệu để bảo
vệ bên bị vi phạm, bị thiệt hại, mà biện pháp hữu hiệu nhất vẫn là pháp luật. Đây là
lý do tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng – Lý luận và thực tiễn” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Luật kinh tế tại Viện Đại học mở Hà Nội. Hy vọng với thành công của việc nghiên
cứu đề tài sẽ góp phần nhỏ vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ
người bị vi phạm hợp đồng, nhằm phòng ngừa các hành vi vi phạm hợp đồng, giáo
dục ý thức tôn trọng pháp luật đối với các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, củng
cố quan hệ hợp đồng, nâng cao kỷ luật hợp đồng cũng như khôi phục lợi ích của
bên bị vi phạm.
2. Tình hình nghiên cứu
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là một đề tài rộng
được nhiều ngành luật điều chỉnh như luật hình sự, dân sự, thương mại. Do vậy,
nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là vấn đề đã
và đang được nhiều nhà khoa học trong nước rất quan tâm, nghiên cứu trong giai
đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng dưới góc độ Luật hình sự được các nhà làm luật quan
tâm tới hành vi vi phạm quyền lợi của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng gây
ra các hậu quả nghiêm trọng cho xã hội thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Mặt khác,
dưới góc độ Luật Dân sự thì các nhà làm luật quan tâm tới trách nhiệm dân sự của

nhà sản xuất, kinh doanh đối với bên bị thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự. Có
thể thấy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng như:
Luận văn thạc sỹ luật học năm 2009 của Trần Thùy Linh với đề tài nghiên
cứu: “Bồi thường thiệt hại do hàng hoá không phù hợp với hợp đồng theo quy định

3


của công ước Viên 1980 - So sánh với pháp luật Việt Nam” ; Luận văn thạc sỹ luật
học năm 2009 của Đinh Hồng Ngân với đề tài nghiên cứu “Trách nhiệm dân sự
trong hợp đồng” …Các công trình nghiên cứu này hoặc có phạm vi nghiên cứu
rộng, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong vấn đề bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng, hoặc chỉ giải quyết một khía cạnh nhỏ trong chế tài bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự .
Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo:Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam
( Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2010). Giáo trình Luật
thương mại Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân,
2010). Hướng dẫn pháp luật hợp đồng dân sự (Đặng Văn Được, Nxb Lao động - Xã
hội, 2009). Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư (Nguyễn Thị Dung –
chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia). Trong các sách trên chế tài bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng thường được phân tích một cách chung chung, có tính chất
tổng quát, chứ không phân tích một cách chuyên sâu và cụ thể.
Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo đề cập đến trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng như: Bài viết của Ths. Nguyễn
Minh Oanh – Khoa Pháp luật Dân sự, Đại học Luật Hà Nội viết về “Khái niệm
chung về Trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phân loại trách nhiệm bồi thường
thiệt hại.” Bài viết của Nguyễn Viết Tý, tạp chí Luật học. Trường đại học luật hà
nội số 11/2010, tr 19-23 viết về “Vấn đề áp dụng Bộ luật dân sự trong điều chỉnh
quan hệ hợp đồng dân sự” Bài viết của ThsKiều Dương, tạp chí nghiên cứu Nhà

nước và pháp luật, Số 2/2011, tr 49-54 viết về “Thời hạn khiếu nại và thời hiệu khởi
kiện trong quan hệ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dân sự” và bài “Bàn về thời
hiệu khởi kiện theo pháp Luật thương mại Việt Nam” (Th.s Kiều Dương, tạp chí
Dân chủ và pháp luật, Số 10/2014, tr 20-23)
Các bài viết này thường phân tích một cách rất sâu một vấn đề nằm trong chế
tài bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, nhưng do tính chất của các bài viết
nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặc một trường hợp cụ thể

4


liên quan đến bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mà không thể phân tích
toàn diện các khía cạnh của chế định này.
Và còn có rất nhiều những công trình nghiên cứu, những bài viết khác có giá
trị viết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mà trong luận văn
này tôi chưa thống kê hết được. Trên đây là những công trình nghiên cứu có giá trị,
đã đóng góp cho nhiều cho sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
ở Việt Nam. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng chỉ đề cập đến các vấn đề mang tính chung trên phạm
vi cả nước còn vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được
hoàn thiện về mặt lý luận bám sát thực tiễn thì chưa được nghiên cứu đề cập. Do
vậy, học viên lựa chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng – Lý luận và thực tiễn ” để nghiên cứuvới mục đích nghiên cứu tổng quát các
khó khăn, bất cập trong thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng và để tránh không bị trùng lắp với các đề tài đã từng đề cập trước đây.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng, luận văn sẽ làm sáng tỏ một số nội dung như: khái niệm
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng; Cơ sở để bên bị vi phạm

buộc bên vi phạm bồi thường thiệt hại (Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng); Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc
hoàn thiện các quy định của pháp luật, các căn cứ pháp lý để phòng ngừa các hành
vi vi phạm hợp đồng, nhằm giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật đối với các chủ thể
tham gia giao kết hợp đồng, củng cố quan hệ hợp đồng, nâng cao kỷ luật hợp đồng
cũng như khôi phục lợi ích của bên bị vi phạm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích và đánh giá hiện trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do vi phạm hợp đồng trong giai đoạn hiện nay.
5


- Học viên đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng quyền lợi của
người bị vi phạm hợp đồng và phương hướng cụ thể để hoàn thiện các quy định của
pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong
hệ thống pháp luật hiện hành và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng;
Quyền được bồi thường thiệt hại và khởi kiện khi quyền và lợi ích của bên bị vi
phạm hợp đồng bị xâm hại; Trách nhiệm của bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường
thiệt hại cho bên bị vi phạm khi vi phạm hợp đồng; Trình tự thủ tục thực hiện khiếu
nại, tố cáo khi xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng.
- Phạm vi về thời gian: Phần phân tích, đánh giá thực trạng: từ năm 2005 đến
năm 2015; Phần đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa MácLênin. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng và kết hợp một cách hợp lý các phương pháp

nghiên cứu khoa học như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, diễn giải,
phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống… để chứng minh cho những luận
điểm được đưa ra trong luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Về mặt lý luận đề tài nghiên cứu là công trình nghiên cứu một cách có hệ
thống các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng, góp phần xây dựng các luận cứ khoa học cho việc bảo vệ bên bị vi phạm

6


hợp đồng theo pháp luật hiện hành. Ngoài ra còn phục vụ trực tiếp cho quá trình
hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vi
phạm hợp đồng, hoàn thiện các quy định của pháp luật, các căn cứ pháp lý để phòng
ngừa các hành vi vi phạm hợp đồng, nhằm giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật đối
với các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, củng cố quan hệ hợp đồng, nâng cao kỷ
luật hợp đồng cũng như khôi phục lợi ích của bên bị vi phạm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, từ viết tắt, các
bảng biểu, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1:Lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng và thực tiễn bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng

7


Chương 1

LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng
1.1.1. Khái niệm thiệt hại
Sự ra đời của hợp đồng là đòi hỏi khách quan của nền kinh tế sản xuất hàng
hoá, đã có sản xuất hàng hoá tất yếu phải có hợp đồng để trao đổi sản phẩm hàng
hoá. Bản chất của hợp đồng nói chung là sự thoả thuận và thống nhất ý chí giữa các
chủ thể trong xã hội, thông qua đó xác lập, thay đổi chấm dứt các quyền và nghĩa vụ
pháp lý. Hợp đồng là căn cứ pháp lý phổ biến làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể trong xã hội.
Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể. Dù
được hình thành trong lĩnh vực quan hệ xã hội nào thì hợp đồng luôn có những
điểm chung sau đây:
- Thứ nhất, trong các hợp đồng yếu tố cơ bản nhất là sự thỏa hiệp giữa các ý
chí, tức là có sự ưng thuận giữa các bên với nhau. Người ta thường gọi nguyên tắc
này là nguyên tắc hiệp ý. Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng:
khi giao kết hợp đồng các bên được tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác
định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên. Đương nhiên tự do hợp đồng không
phải là tự do tuyệt đối. Nhà nước buộc các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng
đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng. Trong những trường hợp thật cần thiết,
nhân danh tổ chức quyền lực công, nhà nước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp
đồng và do đó giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng. Tuy nhiên sự can thiệp này
phải là sự can thiệp hợp lý và được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh sự lạm
dụng, vi phạm quyền tự do hợp đồng.

8



Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp
đồng được đề cao, tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận. Tuy nhiên không thể
suy luận ngược lại: Mọi sự thỏa thuận của các bên đều là hợp đồng. Chỉ được coi là
hợp đồng những thỏa thuận thực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng
thuận đích thực giữa các bên. Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng
thuận ở đây phải là sự ưng thuận hợp lẽ công bằng, không vi phạm điều cấm của
pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Các hợp đồng được giao kết dưới tác động của
sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự ưng thuận đích thực. Những
trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự ưng thuận cũng không
được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng. Như vậy, một sự thỏa
thuận không thể hiện ý chí đích thực của các bên thì không phát sinh các quyền và
nghĩa vụ pháp lý của các bên.
- Thứ hai, ý chí chỉ phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý khi người giao
kết có đầy đủ năng lực hành vi để xác lập hợp đồng.
- Yếu tố thứ ba không thể thiếu của hợp đồng chính là đối tượng. Sự thống
nhất ý chí của các bên phải nhằm vào một đối tượng cụ thể. Mọi hợp đồng phải có
đối tượng xác định. Đối tượng của hợp đồng phải được xác định rõ rệt và không bị
cấm đưa vào các giao dịch dân sự – kinh tế. Chẳng hạn, đối tượng của hợp đồng
mua bán phải là những thứ không bị cấm. Nếu đối tượng của hợp đồng là bất hợp
pháp thì hợp đồng bị coi là vô hiệu.
Một khi hợp đồng được hình thành một cách hợp pháp thì nó có hiệu lực
như pháp luật đối với các bên giao kết. Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật
hợp đồng. Sau khi hợp đồng được xác lập với đầy đủ các yếu tố thì hợp đồng đó
có hiệu lực ràng buộc như pháp luật, các bên buộc phải thực hiện cam kết trong
hợp đồng, mọi sự vi phạm sẽ dẫn đến trách nhiệm tài sản mà bên vi phạm sẽ phải
gánh chịu. Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng, xử lý vi phạm hợp đồng, tòa án
hoặc trọng tài phải căn cứ vào các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp
đồng để ra bản án hoặc quyết định công bằng, đúng đắn. Khi các mối quan hệ về

9



tài sản, các mối quan hệ về nhân thân càng ngày càng phát triển trong xã hội dân
sự, một sự nhu cầu về trao đổi tài sản, hàng hóa cũng như vấn đề thuê nhân lực để
phục vụ cho việc phát triển tài sản của mình cũng ngày càng phát triển theo. Khi ý
chí của các bên trong việc trao đổi đó gặp nhau ở một số điểm nhất định, họ muốn
tiến tới thực hiện ý chí của nhau ở những điểm trùng lặp đó. Nhưng việc đơn
thuần để tiến hành những điểm chung đó là chưa đủ, cần có một cơ chế để giúp
việc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau khi họ thực hiện ý chí của
mình, và từ đó hợp đồng ra đời.
Việc thực hiện đúng các cam kết, thỏa thuận luôn là mong muốn của các nhà
thi hành luật pháp cũng như mong muốn của xã hội. Tuy nhiên, bất cứ hành vi vi
phạm hợp đồng nào cũng có nguy cơ gây thiệt hại cho bên bị vi phạm. Vậy thiệt hại
do vi phạm hợp đồng là gì ?
Ngay từ thời La Mã cổ đại khái niệm về thiệt hại đã được các luật gia La Mã
đề cập tới và cho rằng khái niệm này được cấu thành bởi hai thành phần: Thành
phần thứ nhất là Damnumemrgens – sự thiệt hại, sự mất mát của một bộ phận tài
sản cụ thể. Thành phần thứ hai là Lurcum cesans – bỏ mất lợi tức, sự mất mát tài
sản có thể có nếu hoàn cảnh diễn ra bình thường. Như vậy về cơ bản thì Luật La Mã
[7] xác định thiệt hại là những tổn thất mất mát về tài sản đang có và sẽ có trong
tương lai – thiệt hại mang tính tài sản. Chẳng hạn theo luật gia Gaius [6] ông đã đưa
ra một ví dụ: Một nô lệ thuộc một nhóm nhạc công nếu nô lệ này bị giết, thì khi xét
bồi thường thiệt hại phải lưu ý tới tình trạng cả nhóm nhạc công nô lệ bị giảm giá trị
do người nô lệ đó bị giết. Qua ví dụ trên ta thấy việc bồi thường thiệt hại do hành vi
trái pháp luật giết người nô lệ là một nhạc công trong một nhóm nhạc thì không
những phải bồi thường thiệt hại cho những mất mát trực tiếp của chủ nô lệ đó mà
còn phải bồi thường thiệt hại cho cả những mất mát gián tiếp, sự giảm sút giá trị của
nhóm nô lệ nhạc công do nô lệ kia bị giết, những lợi ích sẽ có của người chủ nô lệ
này nếu không có sự kiện đó xảy ra. Ngoài ra ta còn thấy chế định về thiệt hại của
Luật La Mã chủ yếu đề cập đến thiệt hại về vật chất – thiệt hại mang tính tài sản,

bởi bản chất của các quan hệ pháp luật dân sự là những quan hệ mang tính tài sản.
10


Ngày nay những tư tưởng pháp lý này của các luật gia La Mã đã được các
nhà lập pháp kế thừa. Chẳng hạn theo điều 1149 của Bộ luật dân sự nước Cộng hoà
Pháp quy định “Những thiệt hại phải bồi thường cho người cho quyền gồm những
khoản mà họ mất và mức lợi mà họ không được hưởng”. Ngoài ra các nhà lập pháp
ngày nay còn phát triển và xác định thêm thiệt hại bao gồm cả thiệt hại phi vật chất,
thiệt hại về tinh thần. Bộ luật dân sự Nhật bản quy định tại điều 707 thì một người
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cả những thiệt hại phi vật chất bất kể thiệt hại
như vậy xảy ra đối với quyền lợi, uy tín hay tài sản của người khác. Hay Bộ luật
dân sự của Cộng Hoà Liên Bang Đức [8]có quy định:
“1. Đối với trường hợp do vi phạm của hoạt động tố tụng thì có quy định: trong
trường hợp gây thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ cũng như trong trường hợp bị
phạt tù giam thì người bị thiệt hại cũng có quyền yêu cầu bồi thường bằng tiền đối
với những tài sản không mang tính tài sản.
2. Người phụ nữ cũng có quyền yêu cầu tương tự nếu người này bị thiệt hại trong các
trường hợp vi phạm đạo đức nghiêm trọng hoặc bị cưỡng bức quan hệ tình dục ngoài
hôn nhân bằng âm mưu thâm độc, bị đe doạ hoặc lạm dụng mối quan hệ phụ thuộc.”
Về mặt thuật ngữ: “Thiệt hại là những mất mát hư hỏng nặng nề về người, và của”
Theo quan điểm pháp lý của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam thì “Thiệt
hại là tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân tổ chức
được pháp luật bảo vệ”
Ở Việt Nam trước khi có Bộ luật dân sự chính thức quy định về vấn đề này
thì tồn tại hai quan điểm trái ngược về xác định thiệt hại phi tài sản - thiệt hại về
tinh thần… Quan điểm thứ nhất cho rằng thiệt hại tinh thần không thể bồi thường vì
tính mạng, tình cảm của con người là vô giá. Do đó, không có căn cứ để xác định
mức thiệt hại. Quan điểm thứ hai cho rằng thiệt hại cả về vật chất và tinh thần đều
phải bồi thường vì mọi tính toán chỉ mang tính tương đối, mà bản chất của bồi

thường thiệt hại đều là nhằm khắc phục hậu quả của thiệt hại đã xảy ra.

11


Quan điểm này đã được thừa nhận chính thức và được ghi nhận trong thông
tư của Tòa án nhân dân Tối cao số 173/TT-UBTP ngày 23/3/1972 hướng dẫn về xét
xửbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng chưa được áp dụng thống nhất trong
thời kỳ này.
Đến khi nước ta có Bộ luật Dân sự 1995 thì thiệt hại được chính thức xác
định bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần thông qua quy định về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Điều 310 như sau: “Điều 310. Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần.
2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật
chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm nghĩa vụ gây ra bao gồm tổn thất
về tài sản, chi phí ngăn chặn, hạn chế thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút.
3. Người gây ra thiệt hại tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của nguời khác thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi
phạm, xin lỗi cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền cho người bị
thiệt hại.”
Đến BLDS 2005 thì quy định này tiếp tục được kế thừa tại Điều 307.
Như vậy, ta có thể định nghĩa thiệt hại là tổn thất, mất mát về tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo
vệ. Thiệt hại trong vi phạm hợp đồng được hiểu là thiệt hại về vật chất. Thiệt hại do
hành vi vi phạm hợp đồng là sự biến đổi theo hướng xấu đi trong tài sản của một
người thể hiện ở tổn thất thực tế tính được thành tiền mà người đó phải gánh chịu.
1.1.2. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trước khi được hiểu là một loại trách nhiệm pháp lý chịu sự điều chỉnh của
Luật tư như hiện nay thì “trách nhiệm bồi thường thiệt hại” đã trải qua một quá trình

phát triển với nhiều giai đoạn thể hiện bản chất khác biệt. Có thể khái quát các giai
đoạn phát triển cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

12


Giai đoạn thứ nhất: Trong thời kỳ cổ đại, khi chính quyền trong xã hội còn
chưa được tổ chức một cách vững chãi, các cá nhân mỗi khi bị xâm phạm vào
quyền lợi được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương hoặc bắt đối phương làm nô lệ
hay lấy tài sản của họ.
Trong giai đoạn thứ hai: người gây ra sự tổn hại có thể nộp một số tiền chuộc
hay thục kim cho nạn nhân để tránh trả thù. Chế độ này còn được gọi là chế độ thục
kim. Chế độ thục kim đã trải qua hai giai đoạn phát triển:
(1) Khi chưa có sự can thiệp của pháp luật, các bên tự thoả thuận với nhau về
tiền chuộc, đó là chuộc lỗi tự nguyện; (2) Nhờ sự can thiệp của chính quyền, các
bên tranh chấp bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền
chuộc lỗi theo ngạch giá do pháp luật quy định, đó là chế độ thục kim bắt buộc.
Tiền thục kim này có thể coi như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất bồi thường
thiệt hại. Vào thời kỳ Luật 12 bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu chuyển từ chế độ tự
ý thục kim sang bắt buộc thục kim.
Giai đoạn thứ ba: chứng kiến sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự.
Chính quyền, trước hết can thiệp để trừng phạt những tội phạm chỉ liên quan đến
trật tự xã hội, không liên hệ đến cá nhân. Sự can thiệp này rất cần thiết, vì nếu
không có sự thanh trừng của xã hội, những vụ phạm pháp này không được chú ý tới
vì không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của tư nhân. Sự can thiệp của chính quyền
dần dần được nới rộng đến sự phạm pháp liên quan đến quyền lợi của các cá nhân
như các vụ ẩu đả, trộm cắp. Về phương diện hình sự, cá nhân mất hết quyền phục
thù và chỉ còn quyền xin bồi thường tổn hại của mình về dân sự. Tuy trong một số
trường hợp, Luật La Mã đã tiến tới sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự và dân sự,
nhưng nhà làm luật chưa quy định được hẳn một nguyên tắc trách nhiệm tổng quát,

bắt buộc người gây ra sự tổn thất phải bồi thường thiệt hại bất luận trường hợp nào.
Ở Việt Nam, cổ luật cũng không tách biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại là
một loại trách nhiệm thuộc luật tư và cũng chỉ giải quyết các vấn đề thuộc trật tự
công. Vì vậy, các điều luật trong bộ luật cổ như bộ Quốc triều Hình luật của nhà Lê

13


hay Hoàng Việt Luật lệ của Gia Long đều quy định các điều khoản trách nhiệm về
luật hình ví dụ: Điều 582 Quốc triều hình luật đã quy định “Nếu những súc vật và
chó đã húc, đá và cắn người mà cách làm hiệu và ràng buộc không đúng phép –
(theo đúng phép vật nào hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì phải buộc
hai chân, cắn người thì phải cắt hai tai)- hay là chó dại mà không giết thì người chủ
phải phạt 60 lượng. Nếu vì cớ trên, có người chết hay bị thương thì phải tội quá
thất. Nếu cố ý thả ra để làm cho người chết hay bị thương thì phải tội kém tội đánh
người bị thương hay đánh chết người một bậc. Người được thuê đến để chữa bệnh
cho súc vật, hay là người cố trêu trọc những vật kia, mà bị thương hay chết, thì
người chủ không phải tội”
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp đặc biệt, cổ luật Việt Nam cũng quy
định sự bồi thường. Đối với trường hợp đánh người bị thương, Điều 468 Quốc triều
hình luật đã quy định sự nuôi báo cô. Ví dụ: đánh bị thương bằng chân tay thì phải
nuôi 10 ngày, bằng vật khác thì phải nuôi 20 ngày, bằng thứ có mũi nhọn hay bằng
nước sôi, lửa, thì phải nuôi 40 ngày, đánh gãy xương thì phải nuôi 80 ngày….
Nhưng ngoài những trường hợp đặc biệt, cổ luật Việt Nam không phân biệt rõ rệt
hai trách nhiệm hình sự và dân sự và cũng không nêu lên một nguyên tắc tổng quát
nào về trách nhiệm dân sự.
Ở giai đoạn hiện nay, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định và điều
chỉnh bởi Luật tư và các nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm này đã được đặt ra ở
tất cả các nước. Ở Việt Nam, bồi thường thiệt hại hiện nay được hiểu là một loại
trách nhiệm dân sự theo đó người có hành vi gây ra thiệt hại cho người khác phải

bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm bồi thường
thiệt hại được Bộ luật dân sự 2005 quy định tại Điều 307 về trách nhiệm bồi thường
thiệt hại nói chung và chương XXI về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng. Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi
thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…

14


Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống
trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của
mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người
vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó
phải chịu hậu quả bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất
lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại.
Trách nhiệm pháp lý được nói đến trong luận văn này sẽ được nghiên cứu
theo hướng là hậu quả bất lợi phải gánh chịu do có hành vi vi phạm pháp luật. Do
đó, trách nhiệm pháp lý chỉ xuất hiện khi thực tế có xảy ra vi phạm pháp luật, nếu
không có vi phạm pháp luật thì không được truy cứu trách nhiệm pháp lý. Trách
nhiệm pháp lý cũng chỉ được áp dụng đối với những chủ thể vi phạm pháp luật và
những chủ thể này phải có năng lực trách nhiệm pháp lý. Trong đó, vi phạm pháp
luật được hiểu là “hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm
pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ”[48,tr
500].Hợp đồng là một quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nên hành vi vi phạm
các nghĩa vụ trong hợp đồng được xem là vi phạm pháp luật. Do vậy, chủ thể vi
phạm nghĩa vụ trong hợp đồng sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý.
1.1.3. Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
-Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự mà theo đó

thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác
phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
-Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là loại trách nhiệm
dân sự mà theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng gây ra thiệt hại
cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây
ra. Như vậy, cơ sở để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng bao gồm:

15


– Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng bao giờ cũng phải
dựa trên cơ sở một hợp đồng có trước tức là giữa người được hưởng bồi thường và
người gây ra thiệt hại trước đó phải có một quan hệ hợp đồng.
– Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng chỉ phát sinh khi có
hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tức là không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng hợp đồng gây ra. Nếu giữa các bên tồn tại quan hệ hợp đồng nhưng
hành vi gây thiệt hại không phải là do vi phạm hợp đồng thì trách nhiệm phát sinh
cũng không phải là trách nhiệm theo hợp đồng.
Ví dụ: A thuê B đến sơn lại nhà cho mình. Trong quá trình làm việc, B đã ăn
trộm chiếc điện thoại của A và đã bán cho người khác. Trong trường hợp này không
thể tìm lại chiếc điện thoại thì A chỉ có thể khởi kiện B yêu cầu bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng.
– Chủ thể gây thiệt hại và người bị thiệt hại chính là các bên trong quan hệ
hợp đồng đó. Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được áp dụng khi hành
vi gây thiệt hại là hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng. Hành vi vi phạm
nghĩa vụ theo hợp đồng chỉ có thể làm ảnh hưởng đến lợi ích của các bên tham
gia trong hợp đồng đó. Do đó, nếu người thứ ba có lỗi để gây ra thiệt hại cho
một bên trong hợp đồng hoặc một bên trong hợp đồng gây ra thiệt hại cho người

thứ ba thì trách nhiệm dân sự phát sinh chỉ có thể là trách nhiệm ngoài hợp đồng.
Trường hợp này không áp dụng đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba bởi
lẽ đây là trường hợp ngoại lệ vì người thứ ba cũng là người có quyền lợi liên
quan và được đề cập đến trong hợp đồng.
1.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra khi có hành vi vi phạm nghĩa
vụ dân sự và đã gây ra thiệt hại. Một người chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự khi
người đó có lỗi, do vậy việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
nghĩa vụ phải dựa trên các cơ sở sau:

16


Thứ nhất, có hành vi vi phạm hợp đồng: là một loại trách nhiệm pháp lý nên
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng chỉ được phát sinh khi có sự
vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng và áp dụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm đó.
Hành vi vi phạm hợp đồng có thể là hành động hoặc không hành động.
Thứ hai, yếu tố lỗi: lỗi trong trách nhiệm dân sự là trạng thái, tâm lý bên
trong của người gây thiệt hại thể hiện nhận thức và mong muốn của mình về hành
vi gây thiệt hại. Lỗi là điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
người gây thiệt hại. Nếu bên có nghĩa vụ hợp đồng không có lỗi, thì không phải
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có hành vi vi phạm.
Thứ ba, có thiệt hại thực tế xảy ra: thiệt hại được coi là yếu tố bắt buộc và
tiền đề để quyết định có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không. Thiệt
hại trong vi phạm hợp đồng được hiểu là thiệt hại về vật chất. Có thể là thiệt hại
trực tiếp hoặc gián tiếp và việc xác định thiệt hại là điều vô cùng quan trọng.
Thứ tư, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy
ra: giữa hai yếu tố này phải có mối liên hệ nội tại, tất yếu, trong đó hành vi vi phạm
trên thực tế phải là nguyên nhân gây ra hậu quả. Nếu hành vi vi phạm hợp đồng của
một bên gây ra mà do nguyên nhân khác thì sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi

thường thiệt hại.

17


TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là một trong các chế tài để khắc
phục thiệt hại do bên vi phạm gây ra đối với bên bị vi phạm. Thông qua các phân
tích những qui định được trích lọc từ những văn bản pháp luật từ cổ điển đến hiện
đại, tác giả đã khái quát được khái niệm của thiệt hại và trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó, tác giả cũng đã làm rõ được những căn
cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng Từ việc
phân tích dựa trên lý luận của pháp lý ta nhận thấy rằng, bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng là một chế tài khó có thể để xác định được mức thiệt hại và bồi
thường. Bởi lẽ, những yếu tố để cấu thành nên nó chưa thể xác định được một cách
rõ ràng. Do vậy việc nghiên cứu cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng, các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng, các yếu tố ảnh hưởng đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi
phạm hợp đồng, mối quan hệ giữa bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm hợp đồng sẽ
cung cấp cho bên vi phạm, bên bị vi phạm và các cơ quan có thẩm quyền những cơ
sở lý luận cơ bản, chính xác, tạo tiền đề cho việc áp dụng pháp luật một cách chính
xác trong lý luận cũng như khi áp dụng vào thực tiễn trong việc giải quyết các tranh
chấp dẫn đến trách nhiệm bồi thườngthiệt hại do vi phạm hợp đồng.

18


×