Tải bản đầy đủ (.doc) (114 trang)

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (492.18 KB, 114 trang )

Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B
Phần I
MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009, 70% dân số nước ta đang sống
trong khu vực nông thôn, lao động nông thôn chiếm 75% tổng lực lượng lao động cả
nước và chủ yếu tập trung sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp (Phương Lan, 2009).
Tuy nhiên lao động nông thôn phần lớn làm việc bằng kinh nghiệm không qua đào tạo
bài bản, thiếu tổ chức, thiếu quy hoạch; việc tiếp cận và làm chủ khoa học, công nghệ
tiên tiến của nông dân còn nhiều hạn chế dẫn đến năng suất lao động và hiệu quả sản
xuất thấp. Theo số liệu thống kê năm 2009, lao động nông thôn có việc làm và kỹ năng
chuyên môn chỉ chiếm 16,8%, còn lại 83,2% là chưa qua đào tạo, chưa có trình độ kỹ
thuật chuyên môn (Phương Lan, 2009). Trong khi đó, quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn của nước ta ngày càng đòi hỏi cần phải có một lực
lượng lao động đông đảo, có chất lượng, có tay nghề, chuyên môn và tính kỷ luật cao
nhằm nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân, góp phần thực hiện hiệu quả
chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo, đồng thời góp phần đảm bảo an
sinh xã hội. Do đó, đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông
thôn là một yêu cầu cấp thiết trong quản lý nhà nước về lao động hiện nay. Theo
PGS.TS Cao Văn Sâm – Phó Tổng cục trưởng – Tổng cục Dạy nghề cho biết: số lao
động nông thôn được học nghề ngắn hạn và nghề sơ cấp bằng chính sách hỗ trợ theo
Quyết định 81/2005/QĐ-TTg giai đoạn 2006-2008 là 990.000 người và sẽ còn tiếp tục
tăng trong những năm tới. Riêng các cơ sở dạy nghề thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn tổng 3 năm từ 2006-2008 đã tuyển sinh được 120.322 người, trong đó
quy mô tuyển sinh đến năm 2008 là 48.000 học sinh, lao động nông thôn chiếm trên
85% (Phương Lan, 2009).
Thanh Liêm là một huyện nằm phía Nam của tỉnh Hà Nam, có đường Quốc lộ
1A chạy qua, có nguồn nhân lực khá dồi dào, có kinh nghiệm lâu năm trong sản xuất


nông nghiệp. Đây là một lợi thế cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa… của cả

1


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

huyện. Trong những năm qua công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn của Thanh
Liêm đã có nhiều chuyển biến và bước đầu thu được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy
nhiên để thực hiện chủ trương phát triển kinh tế theo hướng chuyển dịch từ nền sản
xuất thuần nông sang phát triển sản xuất đa ngành nghề và đẩy mạnh phát triển công
nghiệp dịch vụ của Đảng và Nhà nước, thì công tác đào tạo nghề và nâng cao chất
lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn của huyện ngày càng phải được đầu tư chú
trọng hơn nữa.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Thực trạng và
giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở huyện Thanh
Liêm, tỉnh Hà Nam” .
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn và chất
lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam trong
những năm gần đây; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề
cho lao động nông thôn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
• Góp phần hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo nghề, các
hình thức đào tạo nghề và việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
• Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề và chất lượng đào tạo nghề lao
động nông thôn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam trong những năm gần đây.

• Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề lao
động nông thôn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý luận về đào tạo nghề, các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông
thôn và các vấn đề liên quan đến nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông
thôn.

2


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Nội dung nghiên cứu
Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.3.2.2 Phạm vi không gian
Huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
1.3.2.3 Phạm vi thời gian
Đề tài đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề và đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Thanh Liêm,
tỉnh Hà Nam trong những năm gần đây.
Thời gian thực hiện đề tài từ 22/01/2010 – 22/05/2010

3


Khóa luận tốt nghiệp


Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn
2.1.1 Những vấn đề chung về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
2.1.1.1 Khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực, nguồn lao động
Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động – Thương binh và xã
hội, “Nguồn nhân lực và tiềm năng về lao động trong một thời kỳ nhất định của một
quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một
vùng. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội” (Bộ Lao động –
Thương binh và xã hội, 1999).
Nguồn nhân lực là tài nguyên quý báu quốc gia, góp phần quan trọng trong sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh nguồn nhân lực có quy mô lớn, đa
dạng ở các ngành nghề, với số lượng đông đảo thì chất lượng của nguồn nhân lực cũng
là một vấn đề được quan tâm và cần được đầu tư tích cực để đào tạo nguồn nhân lực có
chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, đáp ứng được sự nghiệp
CNH – HĐH của đất nước. Do vậy, chúng ta cần phải tạo nên những “con người phát
triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo
đức, là động lực của sự nghiệp xây dựng” (Vấn đề con người trong sự nghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, 1996).
Nguồn lao động hay lực lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi quy
định, có tham gia lao động (đang có việc làm) và những người không có việc làm
nhưng đang tích cực tìm việc làm.
Nguồn lao động có vai trò rất quan trọng trong sản xuất nói chung và trong sản
xuất nông nghiệp nói riêng. “ Nguồn lao động trong nông nghiệp là tổng thể sức lao
động tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm những người trong độ tuổi và
những người trên độ tuổi, dưới độ tuổi có thể tham gia hoạt động trong nông nghiệp”
(Hội khoa học kinh tế nông lâm nghiệp, 1995).


4


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

Có thể nói trong mọi hình thái kinh tế xã hội, nguồn lao động luôn là nhân tố
trung tâm giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của sản xuất. Thực tế cho thấy, sự
hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia, một lãnh thổ phụ thuộc rất lớn vào chất
lượng nguồn nhân lực. Như vậy nguồn lao động và nguồn nhân lực có vai trò quyết
định trong sự phát triển kinh tế xã hội ở mọi thời đại. Nhận thức đúng đắn vấn đề trên
đây không chỉ giúp chúng ta thấy rõ ý nghĩa tầm quan trọng của nó mà còn có cơ sở lý
luận để xem xét việc phát triển nguồn nhân lực sao cho hiệu quả nhất.
2.1.1.2 Một số vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực
Như trên đã khẳng định, một quốc gia, một lãnh thổ muốn phát triển kinh tế xã
hội thì không thể thiếu đi nguồn nhân lực, do đó việc phát triển nguồn nhân lực là một
việc làm hết sức cần thiết và cấp bách, đặc biệt là với một quốc gia đang trong quá
trình CNH – HĐH như Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng. Nguồn nhân
lực biểu hiện qua các mặt cơ cấu, kiến thức và tinh thần cần thiết cho công việc. Nhờ
vậy mà phát triển được năng lực, ổn định được công ăn việc làm và đóng góp cho sự
phát triển của xã hội (Bùi Sỹ Lợi, 2002).
Hiện nay, nói đến phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam chủ yếu là nói đến nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực bao gồm phẩm chất đạo đức
và năng lực hoạt động (năng lực tác nghiệp). Trong hai tiêu chí trên, tiêu chí thứ hai
(năng lực hoạt động) dù vất vả mới đạt được nhưng dễ đánh giá và dễ hiệu chỉnh hơn.
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 đã đề ra các quan điểm lớn về chính
sách phát triển nguồn nhân lực, tập trung vào những điểm cơ bản sau:

• Phát triển nguồn nhân lực thực chất là phát triển nguồn vốn con người về các
mặt trí lực, tâm lực, thể lực, các phẩm chất đạo đức, nhân cách công dân, trình độ học
vấn, chuyên môn và văn hóa,…
• Phát triển nguồn nhân lực phải gắn với nhu cầu lao động kỹ thuật ngoài xã hội của
thị trường lao động cả nước, quốc tế cũng như của từng ngành, từng vùng địa lý kinh tế.

5


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

• Phát triển các hình thức đào tạo kết hợp giữa các trường chuyên nghiệp với
các cơ sở sản xuất – dịch vụ, các doanh nghiệp.
• Giáo dục đại học cần tiếp tục phát triển cả về quy mô và nâng cao chất lượng
hiệu quả đào tạo song cần định rõ hai nhu cầu cơ bản: nhu cầu của xã hội về học vấn
đại học và nhu cầu của nhà nước, của các tổ chức kinh tế - xã hội về nhân lực lao động
kỹ thuật cao cấp.
• Phát triển nguồn nhân lực là chính sách quan trọng của nhà nước với việc đề
ra các chính sách quản lý nhà nước vĩ mô về nguồn nhân lực, xây dựng các chiến lược
và các kế hoạch phát triển nhân lực trong phạm vi cả nước cũng như ở các ngành và
các địa phương.
• Cơ cấu lại hệ thống đào tạo nhân lực theo hướng đa dạng hóa, phát triển các
loại hình đào tạo nhân lực chất lượng cao. Triển khai hệ thống kiểm định chất lượng
đào tạo nhân lực (Đặng Bá Lãm, 2002).
Như vậy phát triển nguồn nhân lực là một vấn đề được đặt lên hàng đầu và cần
được giải quyết một cách triệt để để có một nguồn nhân lực có chất lượng cao nhằm
đáp ứng kịp thời với sự phát triển của đất nước.
2.1.2 Những vấn đề cơ bản liên quan đến đào tạo nghề

2.1.2.1 Khái niệm
Giáo dục – đào tạo và dạy nghề là lĩnh vực quan trọng nhất trong sự nghiệp phát
triển tiềm năng con người, là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh
tế xã hội của một quốc gia. Kết quả của giáo dục đào tạo là làm tăng lực lượng lao
động có trình độ, làm tăng năng suất lao động; đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội,
thúc đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ…, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi nhận thấy có những khái niệm cơ
bản cần tập trung quan tâm:
• Mục tiêu dạy nghề: Nghị định 139/2006/NĐ – CP ngày 20/11/2006 ban hành
ghi rõ mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất và dịch
vụ, có năng lực thực hành nghề xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức nghề nghiệp, ý

6


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề
có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp
ứng yêu cầu của thị trường lao động.
• Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các
kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực hiện, tạo ra năng lực để thực hiện
thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết.
“ Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ
năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai” (Phạm
Xuân Điều, 2000).
Như vậy, đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho
người lao động để họ nắm vững được nghề nghiệp, chuyên môn, bao gồm đào tạo mới,

đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao tay nghề. Có thể nói, tay nghề là chìa khóa then chốt
giúp cho người lao động có nhiều cơ hội trong tìm kiếm việc làm, đồng thời đây chính
là yếu tố quyết định đến sự ổn định về việc làm và thu nhập của người lao động. Do đó,
đào tạo nghề cho người lao động được xác định là một nội dung quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia.
• Nghề là một hình thức phân công lao động, là một lĩnh vực hoạt động lao động
mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để
làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu
của xã hội.
• Lao động qua đào tạo nghề là lao động được đào tạo để thực hiện nhiệm vụ
của một nghề hoặc một chuyên môn nào đó (Phạm Xuân Điều, 2000). Chúng ta cần
thấy rằng, lao động qua đào tạo nghề là một khái niệm rộng, bao gồm tất cả các lao
động qua đào tạo ở các cơ sở dạy nghề khác nhau đến các lớp học mở tại địa phương
nhằm nâng cao tay nghề và chuyên môn về một nghề nào đó.
2.1.2.2 Vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực
Với mục tiêu "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" nhằm
đáp ứng đòi hỏi sự phát triển kinh tế - xã hội; cùng với các hệ thống giáo dục, hệ thống

7


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

dạy nghề có chức năng chủ yếu thực hiện các mục tiêu giáo dục nói trên, đào tạo nghề
góp phần quan trọng vào mục tiêu đào tạo nhân lực.
Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH, công
tác đào tạo nghề cần phải được đẩy mạnh cả về số lượng và chất lượng theo hai hướng
đào tạo nghề dài hạn và ngắn hạn, trong đó đào tạo nghề dài hạn giữ vai trò chủ đạo.

Chính vì vậy giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng có tầm quan trọng
góp phần quyết định chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp đổi mới và hội
nhập của đất nước.
Vai trò của dạy nghề được thể hiện ở những mặt sau :
Một là, dạy nghề góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực về kiến thức và kỹ năng, đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động trong
nước, khu vực và trên thế giới.
Hai là, dạy nghề đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng CNH – HĐH đất nước.
Ba là, dạy nghề góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm và phát triển
ngành nghề mới ở nông thôn. Giải quyết việc làm cho người lao động là một trong
những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Tuy nhiên, trong điều
kiện hiện nay, vấn đề giải quyết việc làm còn gặp nhiều khó khăn, đa số lực lượng lao
động hiện nay có kiến thức và chuyên môn thấp, khó có thể tìm kiếm được việc làm.
Để tháo gỡ vấn đề này, phát triển công tác đào tạo nghề sẽ là một biện pháp hữu hiệu
nhằm đào tạo đội ngũ lao động giúp họ có thể tham gia thị trường lao động. Đối với bộ
phận lao động nông thôn, thông qua các lớp đào tạo nghề sẽ có thể bằng những nghề
mình học mà tạo lập nghề nghiệp ngay trên quê hương mình. Đây không chỉ là vấn đề
giải quyết lao động dư thừa tại chỗ mà còn là điều kiện để phát triển ngành nghề mới ở
nông thôn.
Bốn là, dạy nghề đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động. Ngoài việc nâng cao chất
lượng tay nghề, chuyên môn cho người lao động, đào tạo nghề còn góp phần nâng cao

8


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B


ý thức, tăng tính tổ chức kỷ luật. Đây là một điều kiện thuận lợi cho bộ phận nhân lực
đã qua đào tạo khi ra nước ngoài lao động. Vì vậy, phát triển dạy nghề gắn với nhu cầu
thị trường lao động, hòa nhập thị trường lao động quốc tế là góp phần quan trọng trong
việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động khu vực nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo,
từng bước đưa kinh tế nước nhà lên một tầm cao mới.
Năm là, dạy nghề góp phần thay đổi nhận thức, tư duy về vấn đề nghề nghiệp,
lao động và việc làm cho một bộ phận lớn thanh niên và xã hội. Khi thực hiện tốt xã
hội hóa đào tạo nghề sẽ tạo ra một phong trào đào tạo nghề sâu rộng, lôi kéo toàn bộ xã
hội vào quá trình học tập, nâng cao trình độ, đào tạo gắn với việc làm, từ đó thay đổi
nhận thức, tư duy về vấn đề nghề nghiệp, lao động và việc làm cho một bộ phận lớn
thanh niên và xã hội (Ngô Chí Thành, 2004).
Sáu là, đào tạo nghề cho lực lượng lao động nông thôn còn góp phần vào việc
đảm bảo an sinh xã hội. Trình độ dân trí thấp, cùng với việc sản xuất nông nghiệp có
tính thời vụ sẽ dẫn đến một bộ phận lao động nông thôn dễ sa ngã vào các tệ nạn xã
hội : ma túy, cờ bạc, rượu chè... ảnh hưởng đến xã hội nói chung và gia đình, bản thân
họ nói riêng. Vì vậy, nếu lao động nông thôn được qua đào tạo nghề một cách bài bản
và khoa học sẽ giúp họ nâng cao tầm nhận thức của mình và mở ra cho họ cơ hội tìm
kiếm việc làm mới nhằm nâng cao thu nhập, từ đó giúp cho đời sống kinh tế của họ
được ổn định và phát triển hơn.
2.1.3 Những vấn đề cơ bản liên quan đến chất lượng đào tạo nghề
2.1.3.1 Khái niệm
Chất lượng là khái niệm trừu tượng, phức tạp và là khái niệm đa chiều, nhưng
chung nhất đó là khái niệm phản ánh bản chất của sự vật và dùng để so sánh sự vật này
với sự vật khác, hay nói ngắn gọn, chất lượng là để chỉ sự hoàn hảo, phù hợp, tốt đẹp.
Khái niệm chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng các công nhân kỹ thuật
được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục tiêu và chương trình đào
tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp
nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động, của xã hội đối với kết quả đào tạo.


9


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

Chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh kết quả đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề, của
cả hệ thống đào tạo nghề. Chất lượng đào tạo nghề biến đổi theo thời gian và theo
không gian dưới tác động của các yếu tố.
Khi xã hội ngày càng phát triển, cùng với những yêu cầu ngày càng khắt khe về
chất lượng các sản phẩm của người tiêu dùng thì chất lượng đào tạo nghề cho nguồn
nhân lực nói chung và chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn nói riêng cũng
cần được quan tâm một cách kịp thời và cần được đầu tư một cách hiệu quả nhằm khai
thác triệt để năng lực của bộ phận lao động quan trọng này.
2.1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề
Khi nói đến chất lượng là chúng ta nói đến bản chất bên trong của một sự vật, sự
việc nào đó. Chất lượng đào tạo nghề là một khái niệm trừu tượng, do đó việc đo lường
chất lượng đào tạo nghề cũng chỉ mang tính chất tương đối. Để đánh giá chất lượng sau
một quá trình đào tạo, chúng ta thường tập trung vào hai khối đối tượng chính: bản
thân người học và cơ sở đào tạo nghề (chất lượng cơ sở đào tạo).
Quá trình đào tạo nghề có một số đặc trưng khác với giáo dục phổ thông và giáo
dục đại học. Đó là quá trính đào tạo trên cơ sở tiếp thu kết quả giáo dục phổ thông để
đào tạo về nghề nghiệp cho học sinh học nghề. Việc đào tạo để hình thành năng lực
nghề nghiệp giữ vai trò then chốt, chủ đạo. Quá trình đào tạo chú trọng đến một hệ
thống các kỹ năng thông qua thực hành, luyện tập. Đó chính là những yêu cầu, vị trí
công tác, hoạt động nghề nghiệp của người công nhân kỹ thuật.
Muốn đào tạo nghề thực sự mang lại hiệu quả và chất lượng tốt nhất phụ thuộc
vào các yếu tố:
• Chất lượng đầu vào (bản thân người học nghề): Trình độ văn hóa, sở trường

nguyện vọng, sức khỏe, tình trạng kinh tế … của người học nghề.
• Quá trình đào tạo (hoạt động đào tạo nghề của cơ sở đào tạo nghề):
- Mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo: phù hợp với nhu cầu của xã hội,
chương trình đào tạo hợp lý và có tính thực tiễn cao trong thực tế,…

10


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

- Đội ngũ giáo viên: Giáo viên giảng dạy là những người trực tiếp hướng dẫn,
giảng dạy lý thuyết và thực hành cho người học. Chất lượng giáo viên đòi hỏi phải đạt
chuẩn theo quy định của pháp luật. Đội ngũ giáo viên chính là nhân tố quyết định đến
chất lượng đào tạo nghề. Việc thực hiện tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên kết hợp với
không ngừng nâng cao trình độ giáo viên cả về chuyên môn, ngoại ngữ để những kiến
thức chuyên môn của thầy truyền tải cho người học phù hợp với nhu cầu thực tế, học
sinh ra trường có thể thực hiện ngay được công việc theo ngành nghề đào tạo.
- Cơ sở vật chất: Đây là nhân tố quan trọng không thể thiếu được trong công tác
đào tạo nghề. Ở các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở vật chất bao gồm phòng học lý thuyết,
phòng thực hành, thư viện, nhà ở cho học sinh, khu làm việc cho cán bộ, giáo viên dạy
nghề, với các lớp đào tạo nghề tại địa phương, cơ sở vật chất bao gồm phòng học cho
các học viên, chỗ ăn, ở phục vụ giáo viên… Cơ sở vật chất đạt chuẩn quy định tạo điều
kiện làm việc và học tập thuận lợi, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
đào tạo.
- Thiết bị và phương tiện dạy học: Trong quá trình đào tạo, thiết bị và phương
tiện dạy và học có tính chất quyết định đến kỹ năng, tay nghề của học sinh. Trong
chương trình dạy nghề, thời gian thực hành, thực tập chiếm 60% - 70% thời gian đào
tạo toàn khóa. Vì vậy, việc đáp ứng đủ thiết bị và phương tiện dạy nghề là rất cần thiết.

- Tài chính (kinh phí định mức đào tạo, vật tư thực hành, chi phí quản lý, thù lao
giáo viên …): Tài chính cho các cơ sở dạy nghề có vị trí hết sức quan trọng, có tính
chất quyết định sự tồn tại phát triển của các cơ sở dạy nghề. Tài chính bao gồm các
khoản chi cho việc đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, chi phí công tác quản
lý, tiền lương và các hoạt động khác của trường. Có thể nói đào tạo nghề là hình thức
đào tạo tốn kém nên rất cần sự đầu tư đúng mức của chính phủ và được sự hỗ trợ kinh
phí từ các nguồn khác.
- Dịch vụ đào tạo (cư xá, tư vấn việc làm, thông tin thị trường lao động …): Đây
là những dịch vụ cần thiết và hữu ích đối với học sinh, là cơ sở giúp cho học sinh sau
khi tốt nghiệp các lớp đào tạo nghề có thể tìm được việc làm phù hợp với ngành nghề

11


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

được đào tạo, tạo điều kiện cho họ có thể phát huy được khả năng của mình trong quá
trình làm việc, từ đó giúp cho thu nhập của họ tăng lên và ổn định hơn.
• Học sinh tốt nghiệp: Năng lực và phẩm chất đạt được sau khi đào tạo theo mục
tiêu đào tạo; Sức khỏe đáp ứng nghề nghiệp; Kỹ năng sống (giao tiếp, hoạt động xã
hội). Đây là kết quả của quá trình đào tạo, thể hiện chất lượng của việc đào tạo nghề
cho mỗi học viên.
• Tham gia thị trường lao động (từ 6 đến 12 tháng kể từ khi ra trường): Trình độ
chuyên môn đáp ứng yêu cầu làm việc (năng suất, tổ chức hoạt động); Mức độ hoàn
thành nhiệm vụ công nhân kỹ thuật; Tính sáng tạo và thích nghi trong công việc.
Việc đánh giá kết quả giáo dục cần phản ánh được chất lượng nhân cách có phù
hợp hay không với yêu cầu đề ra. Cần phải xem xét chất lượng đầu vào (tuyển sinh học
sinh học nghề), chất lượng của quá trình đào tạo và chất lượng đầu ra (tốt nghiệp và

tham gia vào cuộc sống). Đánh giá chất lượng đào tạo không chỉ là nhiệm vụ của các
đơn vị đào tạo nghề mà còn là của xã hội, đặc biệt là sự đánh giá trực tiếp của những
người sử dụng sản phẩm đào tạo (các doanh nghiệp, các nhà sản xuất …). Qua sự đánh
giá từ nhiều phía, chúng ta có thể đo lường được chất lượng đào tạo nghề cho lao động,
từ đó tìm được những hướng đi hợp lý nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
nghề.
2.1.3.3 Yêu cầu đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong sự nghiệp công
nghiệp hóa – hiện đại hóa
Kinh tế Việt Nam đang dần hội nhập với nền kinh tế thế giới. Hơn bao giờ hết,
Việt Nam cần phải khẳng định vị thế của mình trên thế giới, cũng như hoàn thành sự
nghiệp CNH – HĐH; do đó, Việt Nam cần phải có những chiến lược cùng với những
hướng đi phù hợp với điều kiện kinh tế của mình, đồng thời phải nắm bắt kịp thời tình
hình kinh tế trên thế giới. Một trong những vấn đề cần được quan tâm và giải quyết một
cách nhanh chóng, kịp thời và đúng đắn chính là phát triển nguồn nhân lực, tức là chúng ta
cần phải quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động hiện nay.
Không thể phủ nhận những kết quả có được ngày hôm nay nhờ vào nguồn nhân lực dồi

12


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

dào là thế mạnh của chúng ta. Tuy nhiên, với tình hình phát triển hiện nay của nước ta
cũng như trên thế giới thì chất lượng nguồn nhân lực cần được quan tâm hơn nữa.
CNH - HĐH đòi hỏi chất lượng lao động phải cao không những để đáp ứng nhu
cầu lao động trong nước mà còn để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động, mở rộng
quan hệ hợp tác quốc tế. Xuất khẩu lao động là chiến lược lâu dài, thường xuyên của
các quốc gia phát triển. Đối với nước ta, xuất khẩu lao động không những vừa giải

quyết việc làm cho lao động, tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho
bản thân gia đình người lao động, mà còn tiếp thu học tập chuyên môn kỹ thuật hiện
đại của các nước có nền công nghiệp phát triển.
Lựa chọn con đường CNH - HĐH nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn nhận định
Nông nghiệp là một ngành quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, do đó
chất lượng lao động nông thôn cũng được các cấp lãnh đạo hết sức quan tâm. Trong
những năm qua, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn được Đảng và Nhà nước ta
triển khai một cách tích cực và thường xuyên, tạo nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nhờ đó
làm tăng thu nhập cho họ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn gặp phải những hạn
chế nhất định mà chúng ta cần phải tìm cách giải quyết một cách nhanh chóng, hợp lý.
Vấn đề cấp bách hiện nay là phải khẩn trương bồi dưỡng về mọi mặt cho số
công nhân, số lao động chưa qua đào tạo đầy đủ, tăng nhanh về qui mô với chất lượng
cao. Muốn vậy phải nâng cao chất lượng dạy nghề, bởi những năm qua cùng với sự suy
giảm về số lượng, chất lượng dạy nghề cũng đã có những giảm sút nghiêm trọng.
Nguyên nhân của sự giảm sút đó là:
- Trang thiết bị hiện nay ở các cơ sở dạy nghề thiếu thốn, lạc hậu.
- Đội ngũ giáo viên dạy nghề chưa đồng đều. Trình độ ít được nâng cao cho phù
hợp với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ. Trình độ sư phạm và
quản lý nhiều năm qua ít được chú ý, bổ sung, bồi dưỡng, đào tạo lại.
- Chương trình nội dung đào tạo, hệ thống giáo trình vẫn trong tình trạng lạc
hậu, thiếu thống nhất, vì vậy chưa theo kịp sự tiến bộ của khoa học – công nghệ mới.

13


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

- Đối với lao động nông thôn, mặc dù chiếm phần lớn tổng lực lượng lao động

trong cả nước nhưng năng suất lao động của lực lượng này thấp do họ làm việc chỉ dựa
vào kinh nghiệm chứ không qua trường lớp đào tạo nào dẫn đến chất lượng sản phẩm
làm ra thấp, ít có tính cạnh tranh trên thị trường thế giới
Những nguyên nhân trên đã trực tiếp làm cho chất lượng đào tạo đặc biệt là đào
tạo kỹ năng nghề của người học nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao
động, nên rất khó tìm việc làm; không đáp ứng được yêu cầu của CNH – HĐH. Có thể
nói rằng, lựa chọn sự nghiệp CNH – HĐH đất nước là chúng ta bắt đầu quá trình phát
triển theo chiều sâu, trong đó chất lượng lao động có ý nghĩa quyết định. Cùng với việc
mở rộng qui mô đào tạo, nâng cao chất lượng dạy nghề là một đòi hỏi khách quan, cấp
bách nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển công tác đào tạo nghề ở Việt Nam
Giáo dục – đào tạo và dạy nghề là nhiệm vụ quan trọng của việc phát triển
nguồn nhân lực của nước ta hiện nay. Trong những năm qua, công tác đào tạo và dạy
nghề không ngừng phát triển và đổi mới, đóng góp vào chiến lược đào tạo nguồn nhân
lực của đất nước trong thời kỳ mới một cách đáng kể.
Trong những năm qua, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã được
Đảng và Nhà nước ta quan tâm và thu được nhiều kết quả quan trọng. Số lao động qua
đào tạo ngày càng tăng đã góp phần giải quyết việc làm, góp phần đảm bảo an sinh xã
hội; đồng thời cơ cấu lao động được chuyển dịch theo hướng giảm lao động nông
nghiệp, tăng lao động ngành nghề phi nông nghiệp và góp phần vào việc đẩy mạnh hợp
tác quốc tế về lao động.
Đánh giá về tình trạng dạy nghề cho lao động nông thôn, PGS.TS Cao Văn Sâm
– Phó Tổng cục trưởng – Tổng cục dạy nghề cho biết: “Quy mô đào tạo dạy nghề trong
những năm qua tăng nhanh, chỉ tiêu đào tạo bình quân hàng năm tăng 20%. Quy mô
tuyển sinh dạy nghề trong 3 năm - từ năm 2006 đến 2008 là 4,3 triệu người (năm 2008
là 1,54 triệu người), trong đó lao động nông thôn chiếm 52%. Tuy nhiên, các ngành

14



Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

nghề nông - lâm - ngư nghiệp chỉ chiếm 5% số học sinh”. Số lao động nông thôn được
học nghề ngắn hạn và sơ cấp nghề bằng chính sách hỗ trợ theo Quyết định
81/2005/QĐ-TTg giai đoạn 2006-2008 là 990.000 người. Nhiều địa phương đã khuyến
khích các thành phần kinh tế, các tổ chức đoàn thể dạy nghề cho lao động nông thôn,
nhất là lứa tuổi thanh niên nhằm phát triển các nghề truyền thống. Bình quân hàng
năm, các làng nghề đã đào tạo được thêm việc làm cho khoảng 250.000 lao động.
Riêng các cơ sở dạy nghề thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong 3 năm
từ năm 2006-2008 đã tuyển sinh được 120.322 người, trong đó quy mô tuyển sinh năm
2008 là 48.000 học sinh, lao động nông thôn chiếm trên 85% (Phương Lan, 2009).
Mạng lưới các cơ sở dạy nghề đã được mở rộng, bao gồm ở thành thị và nông
thôn. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho lao động nông thôn có nhu cầu học nghề.
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến hết tháng 8/2008, cả nước có gần
1.800 cơ sở đào tạo nghề. Theo đó, mỗi năm các cơ sở này phải đảm nhân việc đào tạo
nghề cho khoảng 1,1 triệu lao động nông thôn (Bộ NN&PTNT, 2009).
Theo báo cáo chưa đầy đủ của các bộ, ngành, địa phương, đến hết tháng
11/2009, các cơ sở dạy nghề đã tuyển sinh được 1.707.000 người, đạt 104% so với kế
hoạch, tăng 11,2% so với thực hiện năm 2008. Tuyển sinh trình độ cao đẳng nghề được
89.000 người, bình quân một trường tuyển sinh 600 sinh viên (Lan Phương, 2009). So
với năm 2008, số trường dạy nghề tăng 2,37 lần, trung tâm dạy nghề tăng 4,56 lần
(Theo TTXVN/VietNam+, 2009).
Bên cạnh sự tăng về quy mô, chất lượng đào tạo nghề cũng được nâng cao, đáp
ứng được yêu cầu của thị trường lao động về nhân lực. Người học nghề đã được trang
bị những kiến thức cơ bản, kỹ năng nghề nghiệp được cải thiện một cách đáng kể. Lao
động nông thôn sau khi được học đã tự tạo được việc làm góp phần nâng cao năng suất
lao động và thu nhập ổn định cho bản thân và gia đình.

Mặc dù đạt được những kết quả đáng khích lệ, song công tác đào tạo nghề vẫn
còn tồn tại những bất cập, vẫn là bài toán khó cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước, nhất là trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế thế giới.

15


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động, Thương binh & Xã hội, tỷ lệ lao động
nông thôn qua đào tạo nghề đến nay mới đạt 18,7%, còn rất thấp so với bình quân
chung của cả nước là 25%; lao động nông thôn qua đào tạo nghề có sự chênh lệch lớn
giữa các vùng kinh tế (vùng đồng bằng Sông Hồng 19,4%, đồng bằng Sông Cửu Long
17,9%; trong khi đó vùng Tây Bắc chỉ có 8,3%). Cùng với số lượng, chất lượng công
tác dạy nghề cũng chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Trình độ chuyên môn của người
học sau khóa học còn hạn chế, chưa hình thành được một đội ngũ lao động có kỹ năng
nghề đáp ứng với yêu cầu thị trường và hướng tới một nền nông nghiệp hiện
đại”(Phương Lan, 2009)..
Bên cạnh đó, năng lực hệ thống các trường đào tạo và dạy nghề còn nhiều hạn
chế. Mạng lưới cơ sở dạy nghề nói chung tuy đã phát triển nhưng lại tập trung chủ yếu
ở vùng đô thị. Ở khu vực nông thôn và miền núi, vùng sâu vùng xa, số lượng cơ sở dạy
nghề rất ít. Đến nay, cả nước còn 253 huyện chưa có trung tâm dạy nghề; 31% phòng
học và 20,7% số nhà xưởng thực hành của các cơ sở dạy nghề là nhà cấp 4, nhà tạm,
tập trung chủ yếu ở các cơ sở đào tạo do địa phương quản lý, các tỉnh khó khăn, huyện
nghèo. Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn còn thiếu về số lượng, cơ cấu
ngành nghề đào tạo chưa phù hợp, chất lượng còn hạn chế. Hiện nay, có 42 trung tâm
dạy nghề không có giáo viên cơ hữu; 39 trung tâm dạy nghề chỉ có 1 giáo viên cơ hữu;
100 trung tâm có từ 2-3 giáo viên cơ hữu. Ngoài ra, các cán bộ quản lý dạy nghề ở một

số cơ sở dạy nghề chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, thiếu kinh nghiệm quản lý
(Phương Lan, 2009).
Hiện nay, cả nước có khoảng 8.000 giáo viên dạy nghề. Với chiến lược phát triển
dạy nghề đến năm 2010, cả nước cần có khoảng 350 trường cao đẳng và trung cấp dạy
nghề. Mỗi quận, huyện có ít nhất 1 trung tâm đào tạo nghề để nâng tỷ lệ lao động đã qua
đào tạo nghề lên 26%, quy mô tuyển sinh đào tạo nghề đạt khoảng 1,5 triệu ngưòi, trong
đó hệ trung cấp và cao đẳng đạt 27% thì cần phải có khoảng 20.000 giáo viên dạy nghề.
Muốn đạt được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực, theo ông Ngô Văn Hai, Hiệu
trưởng Trường Trung học Công nghiệp TP.HCM, cần phải có một cuộc cải cách lớn

16


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

trong lĩnh vực dạy nghề mà mấu chốt là phải có sự liên kết, phối hợp giữa “3 nhà”: nhà
nước, nhà đào tạo và nhà tuyển dụng. Các cơ quan quản lý nhà nước cần nhanh chóng
xây dựng quy hoạch, nghiên cứu những ngành nghề là thế mạnh phù hợp với xu hướng
phát triển của đất nước.
Đối với các trường dạy nghề, cần phải tự đổi mới và nâng cấp mình, phải dự báo
được nhu cầu của xã hội, đào tạo đúng những gì mà các nhà doanh nghiệp cần đến. Các
doanh nghiệp cần chủ động tham gia vào công tác đào tạo nghề ở các trường dạy nghề
như hỗ trợ kinh phí, tham gia xây dựng nội dung chương trình đào tạo; tiếp nhận, tạo
điều kiện thuận lợi cho giáo viên, học viên đến tham quan, thực tập; liên kết tổ chức
đào tạo thực tiễn tạo cơ sở sản xuất…( Theo TTXVN, 2006).
2.2.2 Tình hình đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam
những năm gần đây
Đất nước ta đang phấn đấu trở thành nước CNH - HĐH vào năm 2020, trong

khi đó, đến thời điểm này, vẫn có tới 73% ngời dân là nông dân và 50% lao động nông
nghiệp. Điều này là bất hợp lý cần được xóa bỏ, chính vì vậy, công tác đào tạo nghề
lao động nông thôn cần được chú trọng quan tâm và phát triển hơn nữa nhằm đáp ứng
đòi hỏi của thị trường lao động hiện nay. Đồng thời, đào tạo nghề và tạo việc làm có
thu nhập ổn định cho người dân là góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Trong quá trình
CNH – HĐH, nhiều diện tích đất canh tác được chuyển đổi, nông dân không còn đất để
canh tác, do vậy, điều tất yếu là phải chuyển nghề mới. Đào tạo nghề cho lao động
nông thôn đã và đang trở thành vấn đề cấp bách.
Nhận thức được tầm quan trọng, nhiều địa phương trên cả nước đã triển khai
thực hiện đào tạo nghề cho lao đông nông thôn và đạt được nhiều thành tích đáng kể.
• Tại Hà Nội, trong 6 tháng đầu năm 2009, Sở Công thương Hà Nội cũng đã mở
61 lớp nghề cho 3.750 lao động nông thôn. Ngoài ra, còn có chương trình tập huấn
khởi sự doanh nghiệp, mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất mới, hỗ trợ các cơ sở sản
xuất nông nghiệp nông thôn đổi mới công nghệ, với tổng kinh phí gần 80 tỷ đồng, tạo
điều kiện cho hàng nghìn lượt lao động tại các huyện ngoại thành tiếp cận nghề mới.

17


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

Hội Nông dân thành phố cũng đã phối hợp với các ngành chức năng mở hàng chục lớp
dạy nghề và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho hơn 25.000 lượt hội viên nông dân.
• Huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình: Xác định công tác đào tạo nghề là một trong
những nội dung chủ yếu để tạo ra nguồn nhân lực, góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc
đẩy kinh tế - xã hội phát triển; trong những năm qua, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
đã thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo nghề, khai thác và phát huy tiềm năng,
nội lực, gắn dạy nghề với giải quyết việc làm, có chính sách khuyến khích người học…

nhằm từng bước nâng cao đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, đáp
ứng nhu cầu thị trường lao động.
Trong năm 2008, huyện đã tạo việc làm mới trong các ngành nghề cho hơn
2.000 lao động. Thực hiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, lao động
nghèo, năm 2009, huyện mở được gần chục lớp dạy nghề mây giang đan, chổi chít,
may công nghiệp, sửa chữa máy nông nghiệp thu hút hơn 300 người tham gia. Bên
cạnh đó, Trung tâm học tập cộng đồng các xã, thị trấn còn phối hợp với Trạm khuyến
nông – khuyến lâm, Trạm Bảo vệ thực vật, Trạm thú y huyện thường xuyên mở các lớp
dạy nghề phục vụ nông nghiệp chăn nuôi, thú y và trồng trọt.
• Đà Nẵng: Trong gần 12 năm qua, đào tạo nghề ở Đà Nẵng đã dần đi vào ổn
định và có bước phát triển. Từ 10 cơ sở dạy nghề năm 1998, đến nay đã có 49 cơ sở,
trong đó có 3 trường cao đẳng nghề, 1 phân hiệu của trường cao đẳng nghề, 8 trường
trung cấp, 15 trung tâm dạy nghề và 22 cơ sở khác có tham gia đào tạo nghề. Toàn
thành phố có 24 cơ sở dạy nghề công lập là những đơn vị nòng cốt trong đào tạo nghề.
Cơ sở dạy nghề ngoài công lập phát triển nhanh, đến nay đã có 25 cơ sở, chiếm
50,02%...
Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trong lực lượng lao động thành phố tăng từ
10,74% năm 1998 lên 33% năm 2008, góp phần hạ tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo từ
78,47% năm 1998 xuống còn 45% năm 2008... Các điều kiện bảo đảm nâng cao chất
lượng đào tạo nghề đã được cải thiện đáng kể: Đội ngũ giáo viên dạy nghề tăng về số
lượng và chất lượng; số lượng giáo viên dạy nghề năm 2008 là 1.300 người (gấp 8,7

18


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

lần năm 1998), trong đó giáo viên có trình độ tiến sỹ, thạc sĩ chiếm 11,34%, trình độ

cao đẳng, đại học chiếm 64,7%, còn lại 23,96% giáo viên có trình độ trung cấp, công
nhân kỹ thuật bậc cao và thợ lành nghề... Chất lượng và hiệu quả trong đào tạo nghề có
bước chuyển biến tích cực, khoảng 80% học sinh tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp,
ở một số nghề và một số cơ sở dạy nghề tỷ lệ này đạt trên 90%. Nhiều năm liền các thí
sinh ngành dạy nghề thành phố đạt các giải cao trong các hội thi tay nghề toàn quốc; tỷ
lệ thất nghiệp của lao động qua dạy nghề thấp hơn lao động có trình độ khác...
• Tỉnh Hà Nam: Công tác đào tạo nghề trong những năm qua đã có những
chuyển biến tích cực, nhất là từ khi có Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐND Hội đồng
nhân dân tỉnh về xã hội hóa các lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo, Y tế, Thể dục thể thao và
dạy nghề. Các cơ sở dạy nghề đã được mở rộng, nâng cấp, từng bước đáp ứng được
yêu cầu sản xuất nâng cao chất lượng lao động. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh đã có 37 cơ
sở dạy nghề ở 3 cấp độ đào tạo: cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề, góp
phần rất lớn vào công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lực lượng lao động,
đặc biệt lực lượng lao động nông thôn có cơ hội học tập tích lũy kiến thức để có tay
nghề và chuyên môn cao, có cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập ổn định. Năm 2009,
ở lĩnh vực đào tạo nghề cho các doanh nghiệp, các khu công nghiệp theo hướng văn
hóa nghề, đào tạo nghề theo địa chỉ, số lao động qua đào tạo là 4.500 người; ở lĩnh vực
đào tạo nghề theo hướng để tạo việc làm tại chỗ là 9.000 người; đào tạo nghề theo
hướng để xuất khẩu lao động đã đào tạo được 2.300 lao động. Như vậy tổng số lao
động qua đào tạo năm 2009 là 15.800 lao động. Dự tính năm 2010, số lao động được
qua đào tạo là 16.600 người.
2.3 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác đào tạo nghề
2.3.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về công tác đào tạo nghề
Đào tạo nghề và tạo việc làm có thu nhập ổn định cho người nông dân là góp
phần đảm bảo an sinh xã hội. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta không
ngừng quan tâm đến việc triển khai thực hiện công tác đào tạo nghề cho lực lượng lao
động có chất lượng phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Nghị quyết Đại hội X đã

19



Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

chỉ rõ: “Phát triển hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề, nhất là các nghề cho nông dân
trong lĩnh vực nông nghiệp; đa dạng hóa các loại hình dạy nghề, phát triển nhanh đào
tạo nghề dài hạn theo hướng hiện đại”.
Các chủ trương của Đảng về vấn đề dạy nghề đã được cụ thể hóa thành những
mục tiêu cụ thể. Nhằm đưa công tác đào tạo nghề đến với nông nghiệp, nông thôn; để
mạng lưới các cơ sở dạy nghề trải khắp trên địa bàn cả nước, ngày 11/4/2002 Thủ
tướng chính phủ đã ra quyết định số 48/2002/QĐ- TTg phê duyệt mạng lưới dạy nghề
giai đoạn 2002 – 2010. Mục tiêu của quy hoạch này nhằm xây dựng mạng lưới trường
dạy nghề và các cơ sở dạy nghề khác đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng
cố an ninh – quốc phòng, phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước; từng bước nâng
cao chất lượng dạy nghề, tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề, khắc phục những
bất hợp lý về cơ cấu nhân lực; tạo cơ hội cho đông đảo người lao động được trang bị
những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tiếp thu công nghệ mới để tự tạo việc
làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập nghiệp. Như vậy, với Nghị quyết này, người lao
động, đặc biệt là lao động nông thôn và lao động nghèo không có cơ hội đi học xa sẽ
được học tập và được hưởng các chế độ giáo dục. Đây sẽ là điều kiện thuận lợi giúp
cho lao động nông thôn tìm kiếm việc làm tốt và có thu nhập ổn định.
Công tác đào tạo nghề luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọng, ngày 02 tháng
10 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã ra quyết định số
07/2006/QĐ – BLĐTBXH về phê duyệt “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao
đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020”. Theo đó cần phải phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề rộng khắp cả
nước, đa dạng các hình thức dạy nghề, tạo điều kiện cho người lao động, thanh niên,
nông dân, người dân tộc thiểu số học nghề, lập nghiệp; Mở rộng quy mô, đồng thời
nâng cao chất lượng dạy nghề, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo

phù hợp với nhu cầu thị trường lao động và những tiến bộ về kỹ thuật, công nghệ; Đẩy
mạnh xã hội hóa dạy nghề, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư cho dạy nghề,

20


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

phát triển các cơ sở dạy nghề tư thục và cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư của nước ngoài,
mở rộng hội nhập quốc tế về dạy nghề.
Ngày 15/6/2004 Ban bí thư ra Chỉ thị 40 -CT/TW và ngày 11/01/2005 Thủ tướng
Chính phủ ra Quyết định số 09/2005/QĐ –TTg về xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010. Như vậy, song song với công
tác đào tạo nghề, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động cũng được Đảng
và Nhà nước quan tâm và tích cực triển khai sâu rộng trên địa bàn cả nước, nhằm tạo ra
được nguồn nhân lực dồi dào về quy mô đào tạo và có chất lượng tay nghề vững chắc.
2.3.2 Đề án “ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”
Với quan điểm, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng,
Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông
thôn, đáp ứng yêu cầu CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn; ngày 27 tháng 11 năm
2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Đào
tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Với bản đề án này, công tác đào tạo
nghề sẽ được đổi mới và phát triển theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo
và tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình
độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình.
Mục tiêu tổng quát của bản đề án: bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng
1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào tạo và bồi dưỡng 100.000 lượt cán bộ, công
chức xã; nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu

nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế,
phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Bản đề án chia làm ba giai đoạn với những mục tiêu cụ thể:
• Giai đoạn 2009 – 2010:
Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn theo mục tiêu của
Dự án “ Tăng cường năng lực dạy nghề” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giáo
dục – Đào tạo đến năm 2010; Thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn
với khoảng 18.000 người, 50 nghề đào tạo và đặt hàng dạy nghề cho khoảng 12.000

21


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu hồi đất
canh tác có khó khăn về kinh tế. Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề theo các mô hình
này tối thiểu đạt 80%.
• Giai đoạn 2011 – 2015:
Đào tạo nghề cho 5.200.000 lao động nông thôn, trong đó: khoảng 4.700.000
lao động nông thôn được học nghề (1.600.000 người học nghề nông nghiệp; 3.100.000
người học nghề phi nông nghiệp). Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn
này tối thiểu đạt 70%.
• Giai đoạn 2016 – 2020:
Đào tạo nghề cho khoảng 6.000.000 lao động nông thôn, trong đó: Khoảng
5.500.000 lao động nông thôn được học nghề (1.400.000 người học nghề nông nghiệp;
4.100.000 người học nghề phi nông nghiệp). Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong
giai đoạn này tối thiểu đạt 80%.
Với những mục tiêu rõ ràng và phân theo từng giai đoạn cụ thể; cùng với những

nỗ lực không ngừng nghỉ trong quá trình triển khai thực hiện của các cấp, các ngành,
đoàn thể; hy vọng công tác đào tạo nghề thực sự mang lại những kết quả khả quan, góp
phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước, đồng thời mang lại
cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người lao động, đặc biệt là bộ phận lao động nông
thôn – nguồn nhân lực quan trọng cho sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn
(Tuấn Minh, 2009).

22


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

Phần III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thanh Liêm là huyện đồng bằng chiêm trũng, bán sơn địa, nằm ở phía Tây Nam
tỉnh Hà Nam, trên tọa độ 200,27’ độ vĩ Bắc, 1050,75’ độ kinh Đông.
- Phía Bắc giáp thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
- Phía Đông giáp huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
- Phía Nam giáp huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
- Phía Tây giáp với huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.
Trung tâm huyện lỵ nằm cạnh trục đường Quốc lộ 1A, tiếp giáp với thành phố
Phủ Lý, cách thủ đô Hà Nội 60km về phía Tây Nam.
Với vị trí địa lý trên tạo điều kiện thuận lợi trong việc giao thông vận tải, giải
quyết vấn đề lao động việc làm, giao lưu hàng hóa,…
3.1.1.2 Đặc điểm về thời tiết khí hậu

Thanh Liêm nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nắng và mưa nhiều, nhiệt độ
trung bình 230C, độ ẩm tương đối là 88%. Tổng số giờ nắng trung bình trong năm
khoảng 1.000-1.200 giờ. Lượng bức xạ phong phú, nền nhiệt cao là điều kiện thuận lợi
giúp cây trồng phát triển, cây ăn quả và cây lương thực ngắn ngày quay vòng nhanh,
tạo nên tính đa dạng sinh học; các ngành khai thác chế biến nông – lâm sản phát triển
thuận lợi; các ngành du lịch và giao thông có thể hoạt động quanh năm. Tuy vậy,
Thanh Liêm cũng chịu không ít khó khăn do điều kiện thời tiết gây ra. Lượng mưa
nhiều nhưng phân bố không đều, tập trung tới 70% vào mùa hạ; mùa đông khô lạnh,
giá rét kéo dài, lượng mưa ít. Về mùa mưa, Thanh Liêm thường xuyên bị lũ lụt, lũ sông
Đáy nhiều năm dâng cao làm sạt lở, vỡ đê, gây ngập úng trên diện rộng.

23


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

3.1.1.3 Hệ thống giao thông – kết cấu hạ tầng
Thanh Liêm có điều kiện thuận lợi cả về đường bộ, đường thủy và đường sắt. Trên
địa bàn huyện có hai trục đường quốc lộ huyết mạch chạy qua: quốc lộ 1A dài 16,5km
chạy dọc giữa huyện từ Bắc xuống Nam, như sợi chỉ đỏ nối các xã trong huyện thành một
hệ thống liên hoàn trong phát triển kinh tế - xã hội, nối liền Thanh Liêm với thành phố Phủ
Lý và các huyện trong tỉnh, đồng thời tạo cho Thanh Liêm trở thành vị trí trung chuyển
trên tuyến đường trục Bắc – Nam của đất nước; Quốc lộ 21A chạy song song với đường
sắt Bắc –Nam, chéo ngang từ phía Đông Bắc của huyện nối liền thành phố Phủ Lý với tỉnh
Nam Định, tạo thuận lợi trong vận chuyển, trao đổi hàng hóa từ vùng đồng bằng phía
Đông – Nam châu thổ sông Hồng đến vùng rừng núi phía Tây của tỉnh Hà Nam, Hòa Bình
và ngược lại. Nhờ những nỗ lực xây dựng bền bỉ trong nhiều năm, hệ thống đường liên xã
của Thanh Liêm đến nay khá hoàn chỉnh với đường ô tô đã đến được trung tâm tất cả các

xã. Huyện có hệ thống giao thông đường thủy sớm phát triển. Từ sông Đáy có thể theo
sông Châu ra sông Hồng để lên Hà Nội và đi các tỉnh lân cận…
Chương trình điện khí hóa nông thôn đã được thực hiện với 100% số xã, thị trấn
của huyện được sử dụng điện lưới quốc gia đáp ứng nhu cầu điện phục vụ sản xuất và
sinh hoạt của nhân dân.
3.1.1.4 Hệ thống sông ngòi
Thanh Liêm có dòng sông Đáy – một nhánh của sông Hồng chạy dọc từ Bắc
xuống Nam huyện. Đây là một con sông lớn trên địa bàn tỉnh Hà Nam (chiều dài
47,6km; chiều dài lưu vực 35km, lưu lượng hàng năm khoảng 166,6 triệu m3 nước), chảy
qua hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm. Sông Đáy vừa cung cấp nước tưới cho đồng
ruộng, vừa có vai trò tiêu úng qua hệ thống cống lấy nước, hoặc các trạm bơm kết hợp
tưới tiêu như trạm bơm Nham Tràng, Kinh Thanh, Võ Giang. Sông Đáy còn có tác dụng
phân lũ cho sông Hồng khi mực nước vượt mức báo động số 3, đồng thời là tuyến đường
thủy quan trọng để vận chuyển hàng hóa và đi lại từ Thanh Liêm tới các huyện trong
tỉnh và từ tỉnh Hà Nam đi các tỉnh lân cận. Thanh Liêm còn được bao bọc bởi sông Châu

24


Khóa luận tốt nghiệp

Phạm Thị Khánh Quỳnh KT51B

Giang ở phía Đông Bắc. Ngoài sông Đáy và sông Châu Giang là sông tự nhiên, còn có
các con sông Biên Hòa, Đồng Nai, Kinh Thủy, Nguyệt Đức cùng với hệ thống kênh,
mương chạy quanh huyện do nhân dân Thanh Liêm đào đắp phục vụ tưới tiêu, góp phần
phát triển giao thông đường thủy. Bên cạnh đó, với đặc thù là huyện đồng bằng chiêm
trũng, Thanh Liêm có nhiều ao, hồ, đầm và các thùng đấu lớn, là một bộ phận quan trọng
trong hệ thống thủy văn, lưu giữ khối lượng nước khá lớn đáp ứng nhu cầu trong đời
sống và sản xuất. Đây cũng là thuận lợi để Thanh Liêm phát triển ngành thủy sản…

3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
Thanh Liêm có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, nhất là đá vôi với
những mỏ lớn ở xã Kiện Khê (trữ lượng 2,2 triệu tấn), xã Thanh Thủy (12,4 triệu tấn),
xã Thanh Tân (trữ lượng 3,5 triệu tấn), là nguyên liệu sản xuất xi măng, vôi, đá, vật
liệu xây dựng, làm đường, làm hóa chất. Ngoài ra còn có mỏ sét gạch ngói, sét xi măng
ở các xã Thanh Tân, Thanh Tâm, Liêm Sơn và Thanh Thủy, đặc biệt là đất sét trắng ở
xã Liêm Sơn. Thanh Liêm còn có các loại đá quý hiếm như đá vân hồng tím nhạt, đá
vân mây, đá da báo… xẻ làm đá tấm ốp lát. Với nguồn khoáng sản phong phú, trữ
lượng lớn, nhiều cơ sở công nghiệp quan trong của Trung ương, của tỉnh và của địa
phương đã và đang được xây dựng tại Thanh Liêm.
3.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam
3.1.2.1 Tình hình đất đai của huyện
 Về địa hình
Thanh Liêm có địa hình đa dạng bởi những cuộc vận động kiến tạo địa chất
phức tạp cách đây hàng chục triệu năm, với sự tương phản giữa địa hình đồng bằng và
đồi núi. Đất đai ở đây chia thành 2 vùng rõ rệt: phía Đông là miền đồng bằng ô trũng
(do phù sa sông Đáy và sông Châu bồi đắp), chiếm phần lớn diện tích của huyện, độ
cao trung bình 2 – 3m. Ở giữa vùng đồng bằng ô trũng nổi lên dãy núi đồi đất, kéo dài
hàng chục kilômét trải dài theo hướng Bắc – Nam, với nhiều điểm cao, trong đó điểm
cao nhất là 139,8m (núi Đụn). Phía Tây huyện là dãy núi đá vôi, như bức tường thành
làm ranh giới giữa huyện Thanh Liêm và huyện Lạc Thủy (Hòa Bình). Dãy núi gồm có

25


×