Tải bản đầy đủ (.doc) (81 trang)

Luận văn một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh nhập khẩu ở công ty XNK hàng không AIRIMEX

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (393.24 KB, 81 trang )

Chơng I
Những vấn đề lí luận cơ bản về
hiệu quả kinh tế của hoạt động
kinh doanh nhập khẩu
1.Sự cần thiết và các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của hoạt động
kinh doanh nhập khẩu
1.1

Khái niệm và các đặc trng cơ bản của hoạt động nhập khẩu

Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế. Nó
không phải là những hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ
mua bán trong một nền thơng mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài.
Nhập khẩu là việc mua hàng hóa của nớc ngoài đa vào một quốc gia nhất
định nhằm phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống trong nớc.Nhng hoạt động
nhập khẩu ở đây có sự khác biệt so với buôn bán trong nớc ở chỗ:Chủ thể thực hiện
hành vi mua bán trong hoạt động nhập khẩu có quốc tịch khác nhau,và đối tợng
mua bán cũng đợc di chuyển từ quốc gia này đến quốc gia khác. Thị trờng nhập
khẩu rộng lớn, phức tạp, khó kiểm soát,mua bán qua trung gian chiếm tỷ lệ lớn,
đồng tên thanh toán là ngoại tệ mạnh,hàng hóa phải vận chuyển qua biên giới, cửa
khẩu... Các quốc gia khác nhau phải tuân theo những tập quán ,thông lệ quốc tế
cũng nh các quy định ở địa phơng nơi đa hàng hóa đến.
Nhập khẩu hàng hóa nằm trong khâu phân phối và lu thông hàng hóa của
quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích nối liền sản xuất với tiêu dùng giữa
các quốc gia với nhau.
Nhờ có nhập khẩu khả năng lựa chọn của ngời tiêu dùng đợc tăng lên và có
điều kiện để đợc hởng mức giá thấp. Việc nhập khẩu t liệu sản xuất không tạo ra lợi
ích trực tiếp mà thông qua ảnh hởng của nó đến nền sản xuất trong nớc. Trên thực
tế, việc nhập khẩu này tác động theo hai hớng:
-Việc nhập khẩu sản phẩm công nghiệp dẫn đến sự tiết kiệm trong tiêu
dùng cho sản xuất tức là tạo khả năng giảm chi phí sản xuất trong nớc nhiều hơn


nếu ngời tiêu dùng chỉ mua hàng hóa của ngời sản xuất trong nớc. Hơn nữa việc
nhập khẩu sản phẩm công nghiệp còn tạo điều kiện tận dụng đợc nguồn nguyên
liệu trong nớc.
1


-Việc nhập khẩu hàng công nghiệp tạo khả năng sản xuất hàng hóa theo
những nhu cầu riêng biệt mà điều kiện trong nớc không cho phép.
Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân ,nhập khẩu làm thay đổi cơ cấu tiêu
dùng theo hớng hợp lý nhất, tạo khả năng áp dụng những thành tựu khoa học kỹ
thuật và thay đổi cơ cấu thu nhập quốc dân.Nó cũng góp phần hình thành nên môi
trờng cạnh tranh trong nớc và buộc các nhà sản xuất trong nớc phải xác định cơ cấu
sản xuất hợp lý và có hiệu quả nhất.
1.2 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp.
Trong cơ chế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc hiện nay, để thực hiện
tốt chế độ hạch toán kinh tế, bảo đảm lấy thu bù chi và có lãi trong hoạt động sản
xuất kinh doanh hàng hoá và dịch vụ, là cơ sở để tồn tại và phát triển của mỗi thành
phần kinh tế trong điều kiện cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần tham gia vào
hoạt động kinh tế thế giới nói chung và trong mỗi quốc gia nói riêng. Điều này đòi
hỏi mỗi thành phần kinh tế phải hoạt động có hiệu quả. Đó là mối quan tâm hàng
đầu của tất cả các thành phần kinh tế nói chung và của doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu nói riêng.
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm
hữu nô lệ đến xã hội chủ nghĩa hiện nay. Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình độ sử
dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo một
mục đích nhất định.
Với những hình thái xã hội khác nhau với các quan hệ sản xuất khác nhau
thì bản chất của phạm trù hiệu quả và các yếu tố hợp thành phạm trù này cũng vận
động theo những khuynh hớng khác nhau.
Trong xã hội t bản thì gia cấp t bản nắm quyền sở hữu về t liệu sản xuất, do

vậy mọi hiệu quả, quyền lợi thu đợc từ sản xuất kinh doanh, và các quyền lợi khác
đều thuộc về các nhà t bản, mọi hiệu quả, quyền lợi và phúc lợi dành cho ngời lao
động đều là rất nhỏ so với nhà t bản. Điều này có thể giải thích đợc việc phấn đấu
để có hiệu quả trong kinh doanh của nhà t bản để đem về nhiều lợi nhuận, quyền
lợi cho nhà t bản chứ không phải đem nhiều lợi ích về cho ngời lao động và toàn xã
hội. Việc tăng chất lợng sản phẩm hàng hoá của nhà t bản không phải là yếu tố
phục vụ cho nhu cầu của toàn xã hội mà là mục đích thu hút đợc nhiều khách hàng
hơn, từ đó có nhiều cơ hội thu hút lợi nhuận cho mình hơn thông qua việc bán đợc
nhiều hàng hoá hơn. ở đây nhà t bản không cần quan tâm đến các hiệu quả xã hội
2


nh việc làm cho ngời lao động, tình trạng môi trờng...
Trong XHCN, phạm trù hiệu quả vấn tồn tại nhng nó đợc phát triển lên là
hiệu quả của toàn xã hội. Nói về mục đích của nền sản xuất XHCN cũng khác so
với mục đích của nền sản xuất TBCN. Mục đích của nền sản xuất XHCN là ngày
càng đáp ứng đầy đủ, đợc tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong
xã hội. Một doanh nghiệp không thể đa vào sử dụng một công nghệ mới với năng
suất cao mà để hàng loạt công nhân trở nên thất nghiệp, một nhà máy không thể
chỉ quan tâm kết quả sản xuất mà không quan tâm đến chất thải ô nhiễm môi trờng... nh vậy đó là một bớc phát triển của phạm trù hiệu quả từ xã hội t bản lên
CNXH.
Hiệu quả kinh tế có rất nhiều cách hiểu và có rất nhiều định nghĩa khác
nhau tuỳ thuộc vào mục đích kinh doanh của từng doanh nghiệp. Theo nghĩa rộng,
hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt đợc từ các hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Cụ thể, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các yếu tố của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp để đạt đợc kết quả cao nhất
trong hoạt động kinh doanh với chi phí ít nhất.
Quan điểm thứ nhất : Nhà kinh tế học ngời Anh Adam Smith cho rằng hiệu
quả là kết quả đạt đợc trong hoạt động kinh tế là doanh thu tiêu thụ hàng hoá. Nhà

kinh tế học ngời Pháp Ogiephri cũng quan niệm nh vậy, ở đây hiệu quả đợc đồng
nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Rõ ràng quan
điểm này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể dùng cho chi phí mở
rộng sử dụng các nguồn sản xuất, nếu cùng một mức kết quả với hai mức chi phí
khác nhau thì quan điểm này chúng có cùng hiệu quả.
Quan điểm thứ hai : Hiệu quả kinh tế là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm
của kết quả và phần tăng thêm của chi phí. Quan điểm này đã biểu hiện đợc quan
hệ so sánh tơng đối giữa kết quả đạt đợc và chi phí tiêu hao. Sản xuất kinh doanh là
một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố
sẵn có. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất thay đổi. ở
quan điểm này tính hiệu quả kinh doanh chỉ đợc xét tới phần kết quả bổ sung và
chi phí bổ sung, nh vậy là không phù hợp với tính biện chứng thống nhất của hiện
tợng theo quan điểm triết học của Mác -Lênin "Sự vật và hiện tợng đều có mối
quan hệ ràng buộc hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một cách
3


riêng rẽ ". Nh vậy, quan điểm này cũng cha hợp lý, kết quả sản xuất tăng thêm
không chỉ do tăng thêm chi phí mà còn do việc mở rộng sử dụng các nguồn dự trữ.
Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh tế đợc đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt
đợc và chi phí bỏ ra để đạt đợc kết quả đó. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh
đợc mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế. Nó đã gắn đợc hiệu quả với toàn
bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ảnh trình độ sử dụng các chi phí.
Tuy nhiên, nó vẫn cha biểu hiện đợc tơng quan về lợng và chất giữa kết quả và chi
phí, cha phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối quan hệ này. Để phản ánh đợc tình
hình sử dụng các nguồn nhân lực chúng ta phải cố định một trong hai yếu tố hoặc
kết quả đạt đợc, hoặc chi phí bỏ ra, nhng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác
-Lênin thì các yếu tố này không ở trạng thái tĩnh mà luôn luôn biến đổi, vận động.
Động lực chủ yếu quyết định sự biến đổi và vận động nằm ngay trong lòng sự vật,
hiện tợng. Vì vậy, khi xem xét hiệu quả của một quá trình hoạt động kinh tế nào

đó, phải xem xét trong trạng thái động.
Quan điểm 4: Do nhà kinh tế học Mác- Lênin cho rằng: Hiệu quả kinh tế là
mức độ thoả mãn yêu cầu của qui luật kinh tế cơ bản XHCN cho rằng quĩ tiêu dùng
với tính cách là chi tiêu đại diện cho mức sống của mọi ngời trong doanh nghiệp, là
chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này có u điểm là đã bám sát
mục tiêu của nền sản xuất XHCN là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân. Song khó khăn ở đây là phơng tiện đo lờng thể hiện t tởng
định hớng đó. Khái niệm quĩ tiêu dùng đợc đề cập ở đây là một bộ phận của thu
nhập quốc dân, bộ phận còn lại là tích luỹ. Chọn quĩ tiêu dùng để phản ánh hiệu
quả cha thấy rõ đầy đủ vai trò của quĩ tích luỹ nhằm phát triển sản xuất để có quĩ
tiêu dùng nhiều hơn trong tơng lai không thể đa quĩ tiêu dùng lên tối đa mà laị
không tuân theo một tỉ lệ thích hợp giữa quí tích luỹ và quĩ tiêu dùng, phải kết hợp
một cách tốt nhất giữa lợi ích trớc mắt và lợi ích lâu dài.
Từ các quan điểm trên ta thấy rằng để xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh
và chính xác về hiệu quả kinh tế trớc hết cần phải xem xét tới tính biện chứng của
các yếu tố kết quả đạt đợc và các chi phí nguồn lực bỏ ra, sau đó là mức độ phản
ánh mối liên hệ giữa các hiện tợng của quan niệm đợc xây dựng. Để làm sáng tỏ
bản chất về hiệu quả của kinh tế hoàn chỉnh theo định hớng trên chúng ta phải xuất
phát từ những luận điểm của triết học Mác - Lê nin.
Bất kỳ một hoạt động nào của con ngời, cầu một tổ chức, của toàn xã hội
nói chung đều đi đến một mục tiêu nhất định. Mọi hoạt động đều hớng tới mục tiêu
4


nhng không phải lúc nào cũng đạt đợc mà kết quả có thể là thấp hơn hoặc cao hơn,
tuỳ thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan tác động vào. Từ đó ta thấy rằng
hiệu quả không phải tự nhiên mà có đợc, nó không phải là tồn tại khách quan ngoài
ý muốn của con ngời mà nó phụ thuộc vào con ngời có chấp nhận nó là có ích hay
không và họ sử dụng nó nh thế nào.
Hiệu quả luôn đi liền với mọi hoạt động của con ngời, hiệu quả phụ thuộc

vào hoạt động của con ngời, hiệu quả không phải là kết quả cuối cùng.Để so sánh
hiệu quả của các hoạt động với nhau phải so sánh các yếu tố đầu vào để tạo ra kết
quả cuối cùng, từ đó có thể nhận xét, một cách chính xác hiệu quả hoạt động kinh
doanh.
Bản chất của hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả của lao động xã hội, đợc
xác định bằng cách so sánh giữa chất lợng kết quả hữu ích cuối cùng thu đợc với lợng hao phí lao động xã hội. Do vậy thớc đo hiệu quả là sự tiết kiệm hao phí lao
động xã hội ( lao động sống và lao động vật hoá ) và tiêu chuẩn của hiệu quả là
việc tối đa hóa kết quả và tối thiểu hoá chi phí dựa trên những điều kiện sẵn có.
1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế.
Có nhiều cách phân loại hiệu quả khác nhau tùy vào từng chỉ tiêu khác nhau:
Hiệu quả kinh tế tuyệt đối và hiệu quả kinh tế tơng đối.
Hiệu quả kinh tế tổng hợp và hiệu quả kinh tế bộ phận.
Hiệu quả kinh tế doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế ngành.
Hiệu quả kinh tế của một vùng và hiệu quả kinh tế của nền kinh tế quốc dân.
Hiệu quả kinh tế tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội .
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này ta chỉ quan tâm đến cách phân
loại cuối cùng:Hiệu quả có thể đợc chia thành hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội
.
Hiệu quả về mặt tài chính là những lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt đợc
sau khi đã bù đắp các khoản hao phí lao động xã hội.
5


Hiệu quả về mặt xã hội là những lợi ích mà doanh nghiệp tạo ra, đem lại
cho xã hội, bản thân doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình.
Tất cả mọi thành phần kinh tế khi tham gia vào nền sản xuất đều phải quan
tâm đến cả hai tiêu thức trên, tuỳ thuộc vào vào từng thành phần kinh tế mà tỷ
trọng hai tiêu thức này khác nhau. Với các doanh nghiệp t nhân, các công ty
TNHH, các công ty nớc ngoài thì tiêu thức hiệu quả kinh tế đợc quan tâm hơn so
với tiêu thức hiệu quả xã hội. Với các doanh nghiệp nhà nớc, các doanh nghiệp có

sự chỉ đạo góp vốn liên doanh của nhà nứơc thì tiêu thức hiệu quả xã hội đợc đề
cao hơn. Điều này phù hợp với các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là không ngừng
ngày càng nâng cao nhu cầu vật chất, tinh thần của toàn xã hội, không có sự mất
bình đẳng, phân biệt giữa các thành phần kinh tế, giữa nội bộ nhân dân trong toàn
xã hội.
Hiệu quả kinh tế đợc xác định thông qua việc so sánh giữa các chỉ tiêu phản
ánh kết quả kinh doanh và chi phí bỏ ra để đạt đợc kết quả đó.
Có thể diễn đạt khái niệm hiệu quả kinh tế nh sau :
Biểu hiện bằng số tơng đối.

Hiệu quả kinh tế :

K
H=
F

Trong đó : H là hiệu quả kinh tế
K là kết quả của hoạt động kinh doanh
F là chi phí cần thiết để thực hiện hoạt động kinh doanh
Đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu :
K là tổng doanh thu bán hàng hoá, là tổng lợi nhuận, là tổng giá trị gia tăng
sau một thơng vụ xuất nhập khẩu hoặc một khoảng thời gian nhất định nh tháng,
quí, năm.
F là toàn bộ chi phí có đợc hàng hoá bán cho ngời mua.
Bao gồm : Giá mua vào sản phẩm + chi phí cần thiết khác nh chi phí hoàn
6


thiện chế biến sản phẩm, chi phí hành chính khác,...
Biểu hiện bằng số tuyệt đối


H=K-F

Qua hai cách trên ta có thể tính toán đợc hiệu quả kinh tế. Đối với hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu do đặc điểm của tiền tệ thanh toán là đồng tiền
mạnh, chứ không phải là đồng tiền bản tệ do đó để tính đúng đợc hiệu quả kinh tế
ta cần phải qui đổi về cùng một đơn vị tiền tệ, lấy tỷ giá hối đoái tại thời điểm thực
hiện hợp đồng và tỷ giá hối đoái khi tính hiệu quả, nếu có chênh lệch phải cộng
hoặc trừ vào kết quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
Một khó khăn cho việc xác định kết quả hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu nói riêng là để tạo ra đợc một kết quả chúng ta phải cần nhiều chi phí, có
những chi phí có thể xác định đợc nhng cũng có những chi phí không thể xác định
đợc (chi phí vô hình ) nh bằng phát minh sáng chế, uy tín kinh doanh của công
ty ... Điều này chứng tỏ việc xác định chi phí cha hẳn lúc nào cũng chính xác. Mặt
khác một số chi phí bỏ ra không phải chỉ tạo ra một kết quả mà có khi có nhiều kết
quả khác nhau.
Tuy nhiên, nếu sử dụng thống nhất đơn vị tính thì kết quả vẫn cho biết tình
hình khái quát hoạt động của công ty trong thừi gian tới.
Tính toán , xác định hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là biện
pháp so sánh giữa chi phí và kết quả. Chi phí và kết quả có quan hệ biện chứng lẫn
nhau, phụ thuộc lẫn nhau đây là mối quan hệ "nhân quả ". Muốn có kết quả thì
phải có chi phí, nếu không có nhân tố khách quan tác động thì sẽ thu đợc một kết
quả có thể tính toán đợc đó là hiệu quả tài chính.
Để hiệu quả kinh tế là một số dơng, chi phí bỏ ra phải nhỏ hơn kết quả thu
đợc. Trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là một hình thức kinh doanh quốc
tế, phạm vi buôn bán vợc ra khỏi biên giới quốc gia do đó nó chứa đựng rất nhiều
rủi ro, do đó để đạt đợc hiệu quả kinh tế trong xuất nhập khẩu là rất khó khăn...
Đối với các doanh nghiệp nhà nớc, nói đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
là phải nói đến hiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội. Dựa vào những mục tiêu,
những chiến lợc của nghành đó, của đất nớc trong thời kỳ đó, mặc dù có ít, không

có hoặc thua thiệt về hiệu quả kinh tế nhng bù lại là hiệu quả xã hội đạt đợc thì
vẫn đợc coi là có hiệu quả trong hoạt động kinh doanh.

7


Nh vậy, hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng đợc xem xét trên tổng thể hai mặt kinh tế và
xã hội và đợc tính theo công thức:
Hq = Hkt + Hxh
Trong đó :

Hq:là hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hkt:là hiệu quả kinh tế
Hxh:là hiệu quả xã hội

Đây chính là công thức cuối cùng để xác định đợc, so sánh đợc hiệu quả
giữa các doanh nghiệp kinh doanh và giữa các thời kỳ khác nhau. Nó phản ánh lợi
ích cuối cùng đem lại, phục vụ cho toàn xã hội.
Việc xác định hiệu quả kinh tế một cách chính xác đòi hỏi tốn nhiều công
sức thống kê kết quả của toàn bộ nền kinh tế liên quan đến hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu. Thông thờng ngời ta có thể tính toán đợc hiệu quả xã hội trong nội
bộ doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh của hoạt động xuất nhập khẩu đợc đánh giá
thông qua việc thực hiện các chủ trơng chính sách của nhà nớc trong thời kỳ nhất
định.
Kết quả của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đợc xác định bằng các
chỉ tiêu thể hiện mục tiêu kinh doanh cần đạt đợc nh doanh số bán ra, lợi nhuận thu
về ... Các chỉ tiêu chi phí đợc xác định bằng các chỉ tiêu khác nhau tuỳ thuộc vào
mục đích, yêu cầu của đối tợng phân tích bao gồm chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu
đặc thù.

Để đánh giá đợc hiệu quả kinh doanh nhập khẩu cần phải xem xét một cách
toàn diện cả về thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhất là trong giai đoạn hiện nay với đờng lối chính
sách mở cửa của nớc ta, tạo đà cho nền công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng đất
nớc, hoạt động nhập khẩu thực sự là vấn đề cần thiết, đáng quan tâm vì đây là điều
kiện cần, điều kiện số một, để thực hiện nhiệm vụ, chủ trơng xây dựng đất nớc mà
Đảng đã đề ra.
Về mặt thời gian, hiệu quả mà doanh nghiệp đạt đợc trong từng giai đoạn,
từng thời kì không đợc làm giảm sút hiệu quả của các giai đoạn, các thời kì, các kì
kinh doanh tiếp theo. Tức là doanh nghiệp phải quan tâm đến lợi ích lâu dài, không
vì lợi ích trớc mắt mà làm tổn hại đến lợi ích lâu dài. Trong thực tế điều này rất dễ
xảy ra vì con ngời thờng khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và cả nguồn lao
8


động không có kế hoạch. Không thể coi việc giảm chi tăng thu là có hiệu quả đợc
khi giảm một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc nh: giảm chi phí đào tạo nhân lực, đổi
mới kỹ thuật... cũng không thể coi là có hiệu quả lâu dài đợc nếu nh xoá bỏ hợp
đồng với một bạn hàng truyền thống, lâu dài, tín nhiệm để chạy theo một khách
hàng khác mang lại nhiều lợi nhuận trong thời gian ngắn nhng không ổn định, chắc
chắn.
Về mặt không gian, hiệu quả kinh doanh nhập khẩu đợc coi là có hiệu quả
khi nó không làm ảnh hởng đến các hoạt động kinh doanh khác trong nội bộ ngành
và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả của hoạt động nhập khẩu phải phù
hợp với chủ trơng của đất nớc, với kim chỉ nam XHCN mà Đảng ta đã lựa trọn.
Tóm lại, đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả mà doanh nghiệp
đạt đợc phải gắn chặt với hiệu quả của toàn xã hội. Đạt đợc hiệu quả cao là cha đủ
mà còn phải mang lại hiệu quả cho xã hội về cả hai mặt kinh tế và xã hội. Trong
điều kiện kinh tế hiện nay của nớc ta, hiệu quả của hoạt động nhập khẩu là vô cùng
quan trọng đối với nền kinh tế đất nớc, nhập khẩu tạo đà quan trọng cho tiến trình

công nghiệp hoá, hiện đại hoá với điều kiện công nghệ máy móc trong nớc nghèo
nàn, lạc hậu. Đánh giá, xem xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục
đích nhận thức đúng đắn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp để thấy đợc trình
độ, năng lực và chất lợng kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó tìm ra những tồn tại,
những nguyên nhân ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh để đề ra phơng hớng, biện
pháp khắc phục nhằm ngày càng đa ra nhiều phơng án kinh doanh có hiệu quả nhất
cho doanh nghiệp.
1.4. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh .

Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh, không chỉ là mối quan tâm
hàng đầu của bất kì xã hội nào mà còn là mối quan tâm của tất cả ngời nào khi làm
một công việc nào đó.
Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu nói chung và bối cảnh nền kinh tế nớc
ta nói riêng hiện nay, không chỉ tồn tại một doanh nghiệp làm ăn không có hiệu
quả. Đây là vấn đề thể hiện về mặt chất lợng của toàn bộ công tác quản lý và đảm
bảo tạo ra kết quả cao nhất của hoạt động kinh doanh. Tất cả những công cuộc đổi
mới, cải tiến về nội dung, phơng pháp ứng dụng trong hoạt động quản lý, kinh
doanh chỉ thực sự mang lại ý nghĩa khi và chỉ khi làm tăng đợc kết quả kinh doanh
mà qua đó làm tăng đợc hiêụ quả kinh doanh.
9


Đối với doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu nói chung, hiệu quả không
những là thớc đo chất lợng phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh là vấn đề
sống còn của doanh nghiệp. Hàng hoá nhập khẩu thờng là có giá trị lớn, đối tợng
quản lý vợt ra ngoài biên giới quốc gia, do vậy chỉ cần một sai sót nhỏ trong hoạt
động nhập khẩu có thể ảnh hởng đến sự sống còn của doanh nghiệp, đến đất nớc.
Hiệu quả còn có vai trò quan trọng trong việc mở mang, phát triển nền
kinh tế, tái đầu t mua máy móc thiết bị, phơng tiện kinh doanh, áp dụng các tiến bộ
kĩ thuật, qui trình công nghệ mới...

Đối với nền kinh tế quốc dân, đạt đợc hiệu quả cao trong kinh doanh nhập khẩu
chính là tiết kiệm các nguồn lực, nguồn nguyên nhiên vật liệu cho xã hội. Tạo điều
kiện cho nền kinh tế trong nớc nắm bắt đợc những thành tựu khoa học kĩ thuật tiên
tiến trên thế giới, từ đó nâng cao đời sông nhân dân và sự phồn vinh cho đất nớc.
Đối với bản thân doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế xem xét về mặt tuyệt đối chính
là lợi nhuận thu đợc, nó là cơ sở của tái sản xuất mở rộng, làm tăng tích luỹ cho
nhà nớc, tăng uy tín và thế lực cho doanh nghiệp trên thơng trờng Quốc tế.
Đối với cá nhân ngời lao động thì hiệu quả lao động (lơng và phúc lợi xã hội ) là
động cơ thúc đẩy, kích thích ngời lao động, làm cho ngời lao động hăng hái, yên
tâm làm việc và quan tâm ngày càng nhiều hơn đến hiệu quả, trách nhiệm của mình
đối với công ty và có thể ngày càng đóng góp những công sức đáng kể cho sự phát
triển của công ty.
Nh vậy, hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty có vai trò vô
cùng quan trọng đối với công ty và đối với đất nớc. Để đạt đợc hiệu quả cao, công
ty phải hoàn thành mục tiêu đề ra trong từng thời kì phù hợp với công ty và phù
hợp với bối cảnh của đất nớc.
2. hệ thống chỉ tiêu đo lờng hiệu quả kinh tế của hoạt động
kinh doanh nhập khẩu.

2.1 Cách xác định hiệu quả kinh doanh hàng nhập khẩu.
Để hoạt động kinh doanh nhập khẩu có hiệu quả thì mỗi một thơng vụ nhập
khẩu đều phải thành công, lập phơng án nhập khẩu là một bớc quan trọng trong
kinh doanh nhập khẩu.
Về mặt hàng nhập khẩu: Đó phải là một mặt hàng( có thể là hàng t liệu sản
10


xuất, có thể là hàng t liệu tiêu dùng ) phù hợp với nhu cầu trong nớc mà nền sản
xuất trong nớc cha sản xuất ra đợc hoặc sản xuất cha đủ về chất lợng và số lợng...
nếu là hàng đã sản xuất đợc trong nớc thì phải nhập loại có u thế hơn so với sản

xuất trong nớc. Tuy nhiên cần nghiên cứu, phân tích xem có nên nhập những hàng
này không, sự xuất hiện của mặt hàng này tạo nên môi trờng cạnh tranh có lựi hay
không có lựi đối với nhà sản xuất trong nớc.
2.1.1 Hiệu quả phơng án nhập khẩu trực tiếp
* Hàng nhập khẩu trả tiền ngay.
- Dự kiến doanh thu bán hàng nhập khẩu
DNK = khối lợng hàng nhập khẩu * đơn giá bán buôn.
ở bớc dự kiến doanh thu bán hàng nhập khẩu này cũng chính là các định
loại hàng nào nên nhập khẩu, khối lợng bao nhiêu và giá mua nào là có thể chấp
nhận đợc.
Do vậy, bớc dự kiến doanh thu bán hàng nhập khẩu cần phải đợc nghiên
cứu, xem xét ở một thị trờng rộng lớn từ đó có thể đánh giá đợc nhu cầu của ngời
tiêu dùng và xem xét khả năng bán hàng của các cửa hàng, đại lí. Điều quan trọng
là phải xem xét mặt hàng này hiện có trên thị trờng, xác định xem hàng hoá đang
ở giai đoạn nào trong vòng đời sống của nó, với hàng hoá là máy móc công nghệ
thì đòi hỏi phải có chuyên gia am hiểu về kĩ thuật để giám định đúng chất l ợng từ
đó đa ra đợc quyết định đúng đắn giá mua và có lợi cho ta nhất trong các cuộc hỏi
giá với bên bán. Tuy khối lợng thu thập thông tin của bớc này là rất rộng lớn và tốn
nhiều thời gian, nhng với yêu cầu đòi hỏi cạnh tranh, do đó phải cố gắng tiến hành
càng nhanh càng tốt để thực hiện các bớc tiếp theo của hợp đồng.
- Dự kiến doanh thu thuần: Căn cứ vào biểu thuế của nhà nớc đối với hàng
nhập khẩu để tính doanh thu thuần theo công thức:
Doanh thu thuần = DNN - T dt
T dt : Thuế doanh thu
-Dự kiến cho chi phí thơng vụ nhập khẩu, bao gồm các khoản chi phí sau :
+Trị giá mua hàng nhập khẩu và thuê tàu : Nếu mua hàng theo giá FCA,
11


FOB và EXW (thuê máy bay ). Tùy theo từng điều kiện giá cả mà ta có thể ớc tính

giá trị hàng nhập khẩu và thuê tàu.
+ Giá thuê tàu nhập khẩu : Đòi hỏi tra cứu chính xác, tránh nhầm lẫn nhóm
hàng, mã thuế ...
+Dự kiến chi phí lu thông: Chi phí vận chuyển, chi phí bốc xếp, chi phí giao
nhận, chi phí kho bãi hoặc các khoản lệ phí.
-Tiền lãi trả ngân hàng : Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ và từng ngân hàng cho
vay để biết đợc tỷ lệ phần trăm tiền lãi phải trả cho từng tháng. Tiền lãi phải trả ở
đây đợc tính kể từ khi vay tiền để thực hiện thợng vụ nhập khẩu cho đến khi giao
hàng cho bạn hàng hoặc bán đợc hàng nhập về và nhận đợc tiền thanh toán.
Chi phí mở L/C: Thờng là 1% trị giá của L/C
Phí thanh toán L/C: Khoảng 0,25% giá ttrị L/C
Phí khác ( công tác phí )
Phí quản lý ( 1% L/C )
Phí tu chỉnh L/C: 2USD/mỗi lần tu chỉnh
0,1% trị giá tu chỉnh tăng
Điện phí : Khoảng 16USD đến 21USD/lần tu chỉnh
Phí thanh toán L/C: Không quá 200USD/lần chuyển tiền.
Một thơng vụ nhập khẩu thờng mất rất nhiều chi phí hơn thơng vụ xuất khẩu
do vậy để nâng cao hiệu quả của thơng vụ này cần phải tiết kiệm tối đa các chi phí
cẩn thiết bằng cách thực hiện các điều khoản một cách chính xác và cần đợc ghi
rõ, chi tiết cụ thể trong hợp đồng , tránh hiểu lầm gây tổn thất cho cả hai bên.
-Đánh giá hiệu quả thơng vụ :
Lợi nhuận = doanh thu thuần - chi phí hàng nhập.
Để tăng lợi nhuận phải tăng doanh thu, giảm chi phí trong điều kiện cho phép.
*Với hàng nhập khẩu trả chậm.
12


- Dự tính doanh thu bán hàng nhập khẩu.
Theo công thức: DTT = giá bán hàng nhập khẩu * khối lợng hàng

nhập khẩu - thuế doanh thu.
Trờng hợp này tính đợc thuế doanh thu tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu trớc thời
hạn thanh toán L/C.
- Dự kiến chi phí : chi phí dự kiến giống nh chi phí đó với việc bán hàng nhập
khẩu trả ngay ở trên.
- Đánh giá kết quả thơng vụ:
2.1.2 Phơng án hiệu quả hàng đổi hàng.
Phơng án nhập khẩu hàng đổi hàng là phơng án nhập khẩu trong đó tiền tệ
thanh toán là hàng hoá. Trong nghiệp vụ này bao hàm cả nhập khẩu và xuất khẩu,
tỷ giá ngoại tệ ở đây nhằm mục đích là cơ sở để tính toán các khoản chi phí và qui
đổi giá trị hàng xuất, hàng nhập về cùng một đơn vị tiền tệ.
Để một nghiệp vụ nhập khẩu hàng đổi hàng có hiệu quả cao thì đòi phải có hiệu
quả cả về thơng vụ xuất khẩu và thơng vụ nhập khẩu.
Hiệu quả thơng vụ nhập khẩu tính nh trờng hợp trên.
Hiệu quả thơng vụ xuất khẩu :
Về số lợng và giá cả hàng xuất khẩu : xem xét về số hợng hàng hoá có thể
thu gom cung ứng hàng hoá mà phía ngời mua chấp nhập về số lợng về giá cả qua
thoả thuận hợp đồng. Từ tính doanh thu hàng xuất khẩu theo công thức:
DTxk=Q c*Pc*Kn
Trong đó
Pc
Kn

DTxk : Doanh thu ớc tính hàng xuất khẩu
Qc
: Khối lợng hàng hoá đợc ngời mua chấp nhận
: Giá cả đơn vị hàng hoá đợc ngời mua chấp nhận
: Tỷ giá ngoại tệ tại thời điểm thanh toán

Dự trù chi phí hàng xuất khẩu. Chi phí hàng xuất khẩu là toàn bộ chi phí giá

thành hàng hoá để xuất khẩu cha tính tiền lãi của thơng vụ kinh doanh chi phí
13


hàng xuất khẩu phải nhỏ hơn giá ngời mua chấp nhận đợc :
Chi phí này bao gồm : -Chi phí thu mua hàng xuất khẩu
-Chi phí đóng gói bao bì
-Chi phí lu thông nội địa : Chi phí thuê mớn kho bãi,

vận tải, hàng hoá

cảng...
-Chi phí thủ tục, giấy tờ giao nhận hàng, lệ phí xin giấy phép kiểm nghiệm,
kiểm hoá
-Lãi xuất tiền vay
-Thuế xuất khẩu
*Dự kiến hiệu quả kinh doanh thơng vụ xuất khẩu :
-Lợi nhuận của thơng vụ xuất khẩu :
P= DT xk-C

xk

Nếu P>0 thì thơng vụ xuất khẩu này có hiệu quả
2.1.3 Hiệu quả phơng án nhập khẩu uỷ thác
Một thơng vụ xuất khẩu uỷ thác khi nó mang lại hiệu quả cho cả bên nhận uỷ
thác và bên uỷ thác. Quyền lợi và nghĩa vụ của bên nhận uỷ thác và bên uỷ thác có
liên quan chặt chẽ với nhau và đợc qui định cụ thể trong hợp đồng uỷ thác.
2.2 Hệ thống chỉ tiêu đo l ờng hiệu quả kinh tế hoạt động kinh doanh nhập
khẩu .
2.2.1 Tỷ suất lợi nhuận của vốn sản xuất :

Lợi nhuận
P1=
Vốn sản xuất kinh doanh
Công thức này cho thấy một đồng vốn đầu t vào sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra
bao nhiêu đòng lợi nhuận. Nếu tỷ suất lợi nhuận của vốn sản xuất càng cao thì hiệu
quả kinh tế của công ty càng cao và ngợc lại. Để đạt đuợc điều này doanh nghiệp
phải làm sao để tăng đợc lợi nhuận và giảm đợc vốn sản xuất kinh doanh. Nhng
14


không có nghĩa là giảm vốn sản xuất kinh doanh thì có hiệu quả mà phải chọn một
mức vốn phù hợp để có thể có lợi nhuận cao nhất.
2.2.2 Tỷ trọng lợi nhuận trong tổng giá trị kinh doanh
Lợi nhuận
P2=
Doanh thu
Trong đó tổng giá trị kinh doanh chính là tổng doanh thu của doanh nghiệp
trong từng thời kỳ
Tuỳ từng mặt hàng kinh doanh mà tỷ trọng lợi nhuận khác nhau. Trong công
thức này nếu tỷ trọng lợi nhuận càng cao thì doanh nghiệp kinh doanh càng có hiệu
quả. Nhng ở đây chỉ so sánh trên mức độ tỷ trọng tong đối, nếu để so sánh với các
đơn vị khác, mặt hàng kinh doanh khác thì cha hẳn đã nói lên đợc kết qủa giữa hai
công ty, hai mặt hàng kinh doanh khác nhau. Bởi vì đôi với một số ngành, một số
mặt hàng kinh doanh có tỷ trọng lợi nhuận trong tổng giá trị kinh doanh là rất nhỏ
nhng giá trị tuyệt đối của nó rất lớn vì mặt hàng của công ty có giá trị cao và
doanh thu tơng đối lớn.
Muốn so sánh ta phải so sánh giá trị tuyệt đối giữa hai công ty, giữa hai mặt
hàng để có thể xác định kết quả so sánh một cách chính xác.
2.2.3 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí sản xuất kinh doanh .
Lợi nhuận

P3=
Tổng chi phí
Công thức này cho thấy doanh nghiệp bỏ ra một đồng chi phí thì có thể thu về
đợc bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Để tăng hiệu quả cho Công ty thì phải hạn hạn chế tối đa chi phí để thu về hiệu
quả cao nhất.
2.2.4 Tỷ suất giá trị gia tăng trên vốn sản xuất kinh doanh:
Giá trị gia tăng
H1 =
Tổng vốn kinh doanh
15


Giá trị gia tăng của doanh nghiệp trong từng thời kỳ (tính theo năm) là chỉ tiêu
phản ánh đầy đủ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở tầm hiệu quả
kinh tế xã hội. Nó phản ánh tổng hợp không chỉ ở khả năng hoàn vốn và sinh lợi
cho chủ sở hữu doanh nghiệp mà còn góp phần cho ngân sách nhà nớc dới dạng
thuế, tiền lơng, tiền thởng của ngời lao động và cả khấu hao dùng để khôi phục, đổi
mới và hoàn thiện hoá tài sản cố định để tiếp tục phát triển kinh doanh.
Giá trị gia tăng đợc tính nh sau;
GTGT= Tiền công,tiền lơng, tiền thởng của ngời lao động
+ thu nhập hỗn hợp
+ thuế sản xuất kinh doanh các loại
+ khấu hao tài sản cố định
+lợi nhuận sau thuế:
ở công thức tính (H1 ) để không ngừng tăng hiệu quả tức là phải tăng giá trị gia
tăng tức là phải tăng qui mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Chỉ
tiêu này cho phép ta biết hiệu qủa một cách tổng hợp hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
2.2.5 Tỷ suất giá trị gia tăng trên tổng doanh thu.

GTGT
H2 =
TDT
Trong đó:
GTGT: giá trị gia tăng.
TDT: Tổng doanh thu.
Công thức này cho ta thấy cứ một đồng giá trị kinh doanh của doanh nghiệp sẽ
đóng góp cho xã hội bao nhiêu đồng giá trị gia tăng. Giá trị gia tăng này là cơ sở để
tổng hợp lại thành tổng sản phẩm quốc nội(GDP) của quốc gia.
Qua công thức trên ta thấy khi giá trị gia tăng càng cao thì hiệu quả kinh tế
càng, xã hội của công ty trong hoạt động kinh doanh càng cao. Hiệu quả hoạt động
kinh doanh này đợc xem trên góc độ tổng thể của doanh nghiệp cả về chiều rộng
lẫn chiều sâu.
2.2.6 Tỷ suất giá trị gia tăng trên tổng chi phí sản xuất.

16


GTGT
H3 =
CF
Công thức này cho biết doanh nghiệp bỏ ra một đồng chi phí trong hoạt động
kinh doanh thì sẽ thu về (hay đóng góp cho xã hội ) bao nhiêu đồng giá trị gia tăng.
Hệ số này càng cao cho phép ta đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của công
ty ngày càng càng có hiệu quả.
2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố kinh doanh của
doanh nghiệp .
2.3.1 Hiệu quả sử dụng lao động.
Số lợng và chất lợng lao động là yếu tố cơ bản của sản xuất, góp phần quan
trọng trong năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng lao động hoặc

hiệu suất tiền lơng. Năng suất lao động đợc xác định bằng cách chia kết quả kinh
doanh trong kỳ cho số lợng lao động bình quân trong kỳ. Do kết quả sản xuất kinh
doanh đợc phản ánh bằng 3 chỉ tiêu:
Tổng giá trị kinh doanh; Giá trị gia tăng và lợi nhuận do đó có 3 cách biểu hiện
của năng suất lao động bình quân cho một ngời lao động bình quân trong kỳ (thờng
tính theo năm)
Ta có :
Kết quả kinh doanh
Năng suất lao động =
Lao động
Cụ thể :
Năng suất lao động tính theo doanh thu :

DT
NSLĐ =

Năng suất lao động tính theo giá trị gia tăng :
NSLĐ=


GTGT

LN

Năng suất lao động tính theo lợi nhuận :

NSLĐ=


17



Trong đó:

DT:

Doanh thu

LĐ:

Số lao động

GTGT :Giá trị gia tăng
LN:

Lợi nhuận

Năng suất lao động tính theo năm chịu ảnh hởng rất lớn của việc sử dụng thời
gian. Cụ thể vào ngày tính bình quân làm việc trong năm, số giờ bình quân làm
việc mỗi ngày của lao động trong doanh nghiệp và năng suất lao động bình quân
mỗi giờ. Điều này thể hiện trong công thức:
NSLĐ = n*g*NS g
Trong đó:

n : Số ngày bình quân làm việc trong năm

g : Số giờ bình quân làm việc mỗi ngày.
NSg: Năng suất lao động bình quân mỗi giờ

kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

NSLĐ =
n*g*lao động

Trong đó kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tính theo 3 tiêu thức : Doanh
thu, giá trị gia tăng hoặc lợi nhuận.
Chỉ tiêu hiệu suất tiền lơng đợc xác định bằng cách so sánh kết quả kinh doanh
với tổng tiền lơng và các khoản tiền thởng có tính chất trong kỳ ( ký hiệu là tiền lơng).
Ta có :
Kết quả hoạt động kinh doanh
Hiệu suất tiền lơng Hn=
Tiền lơng
Điều này có nghĩa là hiệu suất tiền lơng trong kỳ cho biết một đồng tiền l18


ơng tơng ứng với bao nhiêu đồng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu suất
tiền lơng tăng nên khi năng suất lao động tăng với nhịp độ tăng cao hơn với nhịp độ
tăng tiền lơng. Chẳng hạn, trong kỳ nghiên cứu năng suất lao động tăng 10%, tiền
lơng tăng khoảng 6%.
2.3.2 Hiệu quả sử dụng tài sản cố định
- Tài sản cố định là bộ phận lớn nhất, chủ yếu nhất trong t liệu lao động và
quyết định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định bình quân, tính theo nguyên giá hoặc theo giá
trị khôi phục trong kỳ đợc xét thờng gọi là hiệu suất tài sẩn cố định.

Kết quả
Chỉ tiêu hiệu suất tài sản cố định

HTSCĐ=
Tài sản cố định


Chỉ tiêu hiệu suất tài sản cố định biểu hiện một đồng tài sẩn cố định trong kỳ
sản xuất ra bình quân bao nhiêu đồng của chỉ tiêu kết quả kinh doanh tơng ứng( lợi
nhuận, giá trị tăng gia hoặc tổng giá trị kinh doanh ).
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định có thể hiểu theo cách ngợc lại, tức là lấy
nghịch đảo của công thức trên, gọi là suất tài sản cố định.
TSCĐ
S TSCĐ =
Kết quả
Nó cho biết một đồng kết quả kinh doanh cần phải có bao nhiêu đồng tài sản cố
định.
2.3.3 Hiệu quả sử dụng vốn lu động
Vốn lu động là vốn đầu t vào tài sản lu động của xí nghiệp. Nó là số tiền ứng trớc nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đặc điểm của loại vốn này là luân chuyển không ngừng, luôn thay đổi hình thái
19


biểu hiện, luân chuyển giá trị toàn bộ ngay một lần và hoàn thành một vòng tuần
hoàn trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Vốn lu động thờng bao gồm vốn dự
trữ sản xuất (Nguyên vật liệu chính, bán thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên
liệu, phụ tùng thay thế, công cụ lao động thuộc tài sản lu động ) vốn trong quá
trình lu động(vốn thành phẩm, vốn thanh toán ). hiệu quả sử dụng vốn lu
động(HVLĐ) cũng đợc xác định bằng cách lấy kết quả kinh doanh (KQ) chia cho
vốn lu động bình quân trong năm (VLĐ).
KQ
HVLĐ=
VLĐ
Nếu kết quả kinh doanh tính bằng lợi nhuận.
LN
HVLĐ=
VLĐ

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lu động làm ra mấy đồng lợi nhuận trong
kỳ.
Hiệu quả sử dụng vốn lu động còn đợc phản ánh gián tiếp thông qua chỉ tiêu số
vòng luân chuyển vốn lu động trong năm, số ngày bình quân một vòng luân chuyển
vốn lu động trong năm .
TGT
Vl/c

=

VLĐ
Vl/c :Số vòng luân chuyển
TGT: Là tổng giá trị kinh doanh trong năm.
365
365*VLĐ
Nl/c =
=
Vl/c
TGT
Nl/c:Số ngày luân chuyển
Điều này có thể thấy rằng, chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lu động(HVLĐ) tính
theo lợi nhuận sẽ bằng tích của tỷ suất lợi nhuận của tổng giá trị kinh doanh nhân
với số vòng luân chuyển vốn lu động.
HVLĐ = PLN* Vl/c
20


LN
Trong đó: PLN=


TGT


Vl/c =

TGT

VLĐ

LN



HVLĐ=

TGT
*

TGT

VLĐ

Nh vậy nếu cố định chỉ tiêu tỷ trọng lợi nhuận trong tổng giá trị kinh doanh thì
hiệu quả sử dụng vốn lu động tỷ lệ thuận với số vòng quay vốn lu động.
Vốn lu động bình quân trong năm đợc tính bằng cách cộng mức vốn lu động
của 365 ngày trong năm rồi chia cho 365.
Để đơn giản, trong thực tế thờng tính nh sau:
VLĐ đầu tháng + VLĐ cuối tháng
Vốn lu động bình quân tháng =
2

VLĐ bình quân 1+VLĐ bình quân 2+...
Vốn lu động bình quân năm=
12

3. Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của công ty

AIRIMEX trong thời gian qua
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mọi hoạt động là do doanh
nghiệp tự quyết định về mặt hàng, thời điểm kinh doanh, giá cả, khối lợng, chất lợng và địa điểm kinh doanh. Nh vậy trong các yếu tố tác động tới hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp gồm các yếu tố chủ quan và khách quan.
3.1 Các nhân tố khách quan.
Các nhân tố khách quan là các nhân tố tác động tới hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Các nhân tố này có ảnh hởng tới hoạt động kinh doanh của doanh
21


nghiệp, có tính định hớng cho doanh nghiệp.

3.1.1 Nhân tố về tính thời vụ của sản xuất kinh doanh .
Mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh là thoả mãn tối đa nhu cầu thị trờng với lợi nhuận cao nhất có thể. Mà nhu cầu thị trờng thì chịu ảnh hởng tơng đối
lớn của yếu tố thời vụ. Tính thời vụ này ảnh hởng trực tiếp tới mặt hàng kinh
doanh, khối lợng kinh doanh và do vậy nó ảnh hởng tới doanh thu và kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với đặc điểm kinh doanh của công ty AIRIMEX, đây là những loại mặt
hàng khai thác sản phẩm công nghệ kỹ thuật cao, do vậy nó có chu kỳ bảo dỡng
thay thế sản phẩm. Đây chính là nhân tố thời vụ ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh
của công ty.
Ngoài ra mặt hàng này có đặc điểm đồng bộ thờng xuyên, liên tục một hợp
đồng đợc ký kết là hợp đồng lớn thờng là quá dài hạn, mỗi năm thực hiện một lần
thực hiện hợp đồng kéo dài nhiều năm do vậy ảnh hởng rất lớn tới tính thời vụ kinh

doanh của công ty.
3.1.2 Phân bổ và phát triển nguồn lực sản xuất xã hội.
Nhân tố này thuộc môi trờng bên ngoài của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp ở
gần các nguồn hàng thì sẽ thuận lợi cho việc lu chuyển hàng hoá.
Đối với công ty xuất nhập khẩu hàng không, do cơ chế chính sách có nhiều thay
đổi, do vậy nhiều loại trang thiết bị, máy móc khác nhau trang bị trong nhiều thời
kỳ khác nhau. Hiện nay nghành hàng không Việt Nam sử dụng nhiều loại máy bay
của các hãng khác nhau nh ATR(Pháp), Boeing(Mỹ), AIRBUS( pháp),
FOKKER(Hà Lan),và các máy bay của Liên Xô(cũ ). Do vậy nguồn hàng kinh
doanh của công ty là rất rộng lớn , tuỳ từng đợt mà nó sẽ ảnh hởng rất lớn đến hoạt
động của công ty trong từng thời điểm khác nhau.
3.1.3 Các ngành khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty
nh giao thông vật tải, thông tin liên lạc, Ngân hàng ... có ảnh hởng thuận chiều tới
hoạt động kinh doanh của công ty. Điều này có nghĩa là các ngành này phát triển
22


làm cho hiệu quả kinh doanh của công ty phát triển hơn . Nó là "chất dầu bôi trơn "
cho" bánh xe hoạt động kinh doanh " của công ty làm rút ngắn thời gian kinh
doanh, tăng vòng quay của vốn, tạo cơ hội làm tăng lợi nhuận của công ty.
3.1.4 Sức mua và chi phí
Nhân tố này sẽ ảnh hởng đến từng mức lu chuyển do đó ảnh hởng tới tổng
doanh thu và kết quả kinh doanh của công ty.
Trong những năm qua do nhu cầu về giao thông vận tải nói chung và về ngành
hàng không nói riêng có sự tăng lên đáng kể cả về chất lợng về số lợng, do đó nhu
cầu về trang thiết bị, vận tải hàng không cũng tăng lên. Đây là điều kiện thuận lợi
lớn để ngành hàng không phát triển.
Chi phí lu thông ảnh hởng trực tiếp tời lợi nhuận, mọi kết quả của hoạt động
sản xuất kinh doanh đều do nhiều yếu tố chi phí tạo ra. Ngợc lại, mỗi chi phí đợc
sử dụng không phải chỉ để tạo ra một kết quả. Nh vậy làm giảm thấp chi phí lu

thông tới mức có thể tức là góp phần làm tăng hiệu quả.
3.1.5 Các chính sách về tài chính, tiền tệ của nhà nớc.
Đây thực chất là một hệ thống các nhân tố thể hiện các chính sách tài chính,
tiền tệ của nhà nớc, nó có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới kết quả hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Chính sách tạo vốn nhằm đảm bảo nhu cầu về vốn
kinh doanh cho các doanh nghiệp. Đây là vấn đề rất quan trọng vì còn là tiền đề
cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nhu cầu về vốn kinh doanh lớn
hơn nhiều so với vốn tự có của doanh nghiệp.
Do sự hỗ trợ của nhà nớc, của ngân hàng có vai trò lớn đối với hoạt động của
công ty.
Công ty xuất nhập khẩu hàng không AIRIMEX làm nhiệm vụ nhập khẩu uỷ
thác trang thiết bị hàng không cho các đơn vị trong ngành và đợc hởng phần trăm
uỷ thác. Thờng thì tiền thanh toán ngời mua sẽ chịu trách nhiệm thanh toán trực
tiếp với ngời bán với ngời bán hoặc thông qua công ty AIRIMEX. Do vậy giảm đợc
số lợng lớn đồng vốn lu thông, nhu cầu đi vay ít, đây là điểm thuận lợi cho việc
hoạt động kinh doanh của công ty.
+Chính sách thuế ( thuế doanh thu, thuế xuất nhập khẩu, thuế lợi tức, thuế tiêu
thụ đặc biệt ...) một mặt tạo ra các nguồn thu ngân sách cho nhà nớc, mặt khác hạn
23


chế động lực kinh doanh cho doanh nghiệp. Chính sách thuế có tác động trực tiếp
tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp biểu hiện bằng tiền về các khoản thuế
phải nộp của doanh nghiệp đối với nhà nớc.
+ Chính sách về khấu hao cơ bản : Trớc kia theo chế độ của nhà nớc qui định
các doanh nghiệp phải nộp 100% mức khấu hao cơ bản cho ngân sách nhà nớc, khi
có nhu cầu về xây dựng, mua sắm tài sản cố định doanh nghiệp phải lập kế hoạch
xin cấp phát vốn để mua sắm trang thiết bị và xây dựng . Điều này không hợp lý vì
khấu hao cơ bản nộp cho ngân sách nhà nớc để tái đầu t cho các doanh nghiệp,nhng thực tế số vốn khấu hao cơ bản lại dùng vào những mục đích nhằm đổi mới
trang thiêt bị của doanh nghiệp trong quá trình xin cấp phát vốn thờng sinh ra hiện

tợng quan liêu cửa quyền, tiêu cực.
Trớc tình hình đó, trong điều kiện nhà nớc giao vốn cho các doanh nghiệp qui
định các doanh nghiệp phải bảo toàn vốn, tự trang trải, tự tái đầu t mở rộng sản
xuất kinh doanh nên toàn bộ khấu hao cơ bản là do doanh nghiệp quản lý, đó cũng
là nguồn vốn quan trọng để tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh
doanh.
+ Chính sách về lãi suất tín dụng.
Lãi suất tín dụng phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trờng Nhà nớc có thể
can thiệp trực tiếp vào cung cầu tiền tệ , do vậy Nhà nớcquản lý đợc lãi suất tín
dụng thông qua các ngân hàng, các tổ chức tín dụng. Mục tiêu chính của chính
sách tín dụnglà lao động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
+ Chính sách trợ giá, bù giá cho xuất nhập khẩu của nhà nớc. Chính sách này
nhằm mục đích tạo ra những sự trợ giúp, khuyến khích cần thiết để xuất khẩu nhằm
bảo hộ chính sách sản xuất trong nớc hoặc để khuyến khích nhập những mặt hàng
không sản xuất đợc ở trong nớc mà nó cần thiết, phục vụ cho nhu cầu của nền kinh
tế đất nớc.
Đối với các mặt hàng kinh doanh của công ty AIRIMEX, do đặc điểm, tính chất
của hàng hoá, sản phẩm của ngành công nghệ cao, không sản xuất ở trong nớc đợc,
do vậy một biểu thuế thấp cho mặt hàng này là rất cần thiết.
+ Chính sách về tỷ giá ngoại tệ.
Tỷ giá ngoại tệ phản ánh mối tơng quan về sức mua của đồng tiền quốc gia và
24


đồng tiền các nớc khác. Tuỳ từng thời điểm khác nhau, tỷ giá ngoại tệ lên xuống
gây ra có lợi hoặc có hại cho hoạt động xuất khẩu. Nhà nớc quản lý tỷ giá ngoại tệ
thông qua các ngân hàng có ảnh hởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu của công ty.
Ngoài sự quản lý của nhà nớc, tỷ giá còn chịu sự biến động về tiền tệ của các nớc trên thế giới và trong khu vực.
Để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao điều quan trọng là phải dự đoán đợc

sự biến động của tỷ giá.
Dự đoán mức độ biến động của tỷ giá chính là dự đoán mức độ rủi do về tiền tệ
thu mua và thanh toán, từ đó có thể thấy đợc khả năng hiệu quả của thơng vụ.Bao
gồm dự đoán trên hai khía cạnh:
-Dự đoán biến động về giá thu mua hàng trong nớc :đợc dự đoán xem xét trên
toàn bộ thị trờng trong nớc và các đơn vị khác cùng kinh doanh nhập khẩu. Dự
đoán biến động về giá thu mua trong nớc này rất quan trọng bởi vì nếu dự đoán
không chính xác thì khi ký hợp đồng ngoại ( với đối tác nớc ngoài ) mức xác định
là thơng vụ nhập khẩu này lỗ ( không hiệu quả ) nhng vẫn thực hiện. Điều này cho
thấy phải dự đoán đúng vùng biến động giá có thể chấp nhận đợc và phải nhanh
chong thực hiện hợp đồng để tránh những rủi ro bất lợi cho doanh nghiệp.
-Dự đoán biến động của tỷ giá ngoại tệ hàng nhập khẩu phải dự đoán tỷ giá taị
thời điểm thanh toán bởi vì ngời mua sẽ không thanh toán ngay khi dự đoán hay
khi ký hợp đồng. Để tránh đợc rủi ro phải dự đoán đợc vùng biến động của tỷ giá
để quyết định thực hiện thơng vụ, tránh ảnh hởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động
nhập khẩu.
Ước tính tỷ giá ngoại tệ vào thời điểm thanh toán theo công thức :
Kn=K1(1-h )n-1
Kn:Tỷ giá ngoại tệ vào thời điểm thanh toán
K1: Tỷ giá ngoại tệ vào thời điểm lên phơng án và ký kết hợp đồng
h:Lãi suất ngoại tệ tại ngân hàng
n:Thời gian tính lãi suất
25


×