Tải bản đầy đủ (.doc) (32 trang)

tiểu luận cao học Chủ nghĩa mác lênin, tư tưởng hồ chí minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của đảng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (241.25 KB, 32 trang )

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………...2

1. Tính cấp thiết của đề tài….………………….……………………..2
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài…………………………………………..3
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……...…………………................4
2.1. Mục đích nghiên cứu………………………………...………...4
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu...…………………………...…………...4
3. Phương pháp nghiên cứu……..…………………………................4
4. Kết cấu của đề tài…..……...……………………………………….5
B. PHẦN NỘI DUNG...………………………………………………………....6
CHƯƠNG I: CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN LÀ THÀNH TỰU TRÍ TUỆ CỦA
LOÀI NGƯỜI, SỨC SỐNG VÀ GIÁ TRỊ BỀN VỮNG……………………...6

1. Chủ nghĩa Mác-Lênin là thành tựu trí tuệ của loài người...…….....6
2. Chủ nghĩa Mác-Lênin là lý luận cách mạng của giai cấp công
nhân……………………………………………………………………8
3.Chủ nghĩa Mác Lênin - sức sống trường tồn và giá trị bền vững....10
CHƯƠNG II: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ KẾT QUẢ CỦA SỰ VẬN
DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VÀO
ĐIỀU CỤ THỂ CỦA VIỆT NAM…………………………………………….14
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh – một minh chứng rực rỡ cho giá trị của

chủ
nghĩa
Mác-Lênin……………………………………………..
…........14
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam….15
3. Giá trị lịch sử của tư tưởng Hồ Chí Minh………………………...18
CHƯƠNG III: KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ


CHÍ MINH TIẾP TỤC ĐƯA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC THEO
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA……………………………………...20
1. Đảng ta kiên định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động………….20
2. Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là sự vận dụng sáng tạo
bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh…………………………...……………………………..24
3. Đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là
vấn đề cấp bách nay…………………………………………………..27
1


C. PHẦN KẾT LUẬN………………………………………………………….31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
32

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảng Cộng Sản Việt Nam từng nhận định: “Chủ nghĩa Tư Bản
hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường
song không thể khắc phục được những mâu thuẫn vốn có của nó. Các
quốc gia độc lập ngày càng tăng cường đấu tranh để tự lựa chọn con
đường và quyết định con đường của mình. Chủ nghĩa xã hội trên thế
giới từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và
sự thức tỉnh của các dân tộc có điều kiện và khả năng tạo ra những
bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử loài người nhất định
sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội.”
Sau khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông
Âu sụp đổ, một chiến dịch phê phán, bác bỏ học thuyết Mác-Lênin đã

diễn ra từ nhiều phía. Chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động được dịp ra
sức bác bỏ, vu cáo, bôi nhọ chủ nghĩa Mác-Lênin. Bọn cơ hội xét lại,
phản bội sám hối tự coi con đường đã đi sai lầm, lỗi thời và dường như
tỉnh ngộ bước ngay sang lập trường của những kẻ phản bội. Chủ nghĩa
đế quốc luôn coi sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa xã hội là một
mối nguy lại lớn đe dọa sự tồn tại và phát triển của chúng. Vì vậy,
chúng luôn coi việc chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và tiến tới
xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới là một chiến lược
đặc biệt quan trọng của chúng. Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế
lực thù địch tăng cường chống phá các nước xã hội chủ nghĩa bằng
chiến lược “diễn biến hòa bình”, coi trọng cuộc đấu tranh trên lĩnh vực

2


tư tưởng, âm mưu xóa bỏ hệ tư tưởng vô sản trong các tổ chức Đảng,
Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Tổng thống Mỹ Nich Xơn từng tuyên bố :“ Mặt trận tư tưởng là
mặt trận quyết định nhất…Toàn bộ vũ khí của chúng ta các hiệp định
mậu dịch, viện trợ kinh tế sẽ không đi tới đâu nếu chúng ta thất bại trên
mặt trận tư tưởng”. Từ 1995 trở lại đây chúng tuyên bố xóa bỏ lệnh
cấm vận về kinh tế, bình thường hóa quan hệ ngoại giao để chuyển
sang giai đoạn mới đẩy mạnh các hoạt động động như: “dính líu”,
“ngầm”, “sâu”, “hiểm” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Âm
mưu từng bước xóa bỏ nền tảng tư tưởng của chúng ta: chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh lái nước ta theo con đường tư bản chủ
nghĩa, phụ thuộc vào chủ nghĩa tư bản.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng Sản Việt
Nam khẳng định :“Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động”. Đại
hội lần thứ IX Đảng ta xác định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây

dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền
tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Xuất phát từ những vấn đề trên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bản thân tôi quyết định lựa
chọn đề tài: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đề tài đã được một số cuốn sách nghiên cứu như: chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ
nam cho mọi hành động của Đảng và dân tộc ta, nhà xuất bản văn hóa
3


thông tin – 2003. Nội dung cơ bản là đề cập tới sự ra đời của chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò của hệ tư tưởng này đối
với Đảng và cách mạng Việt Nam, sự vận dụng của Đảng ta trong suốt
quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta.
Tại Đại hội VII (1991) Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim
chỉ nam cho mọi hành động”. Và trong suốt quá trình lãnh đạo cách
mạng, Đảng luôn luôn quán triệt nhiệm vụ nghiên cứu, bổ sung và phát
triển hệ tư tưởng này cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước.
Đại hội XI (2011) của Đảng tiếp tục nêu ra bài học kinh nghiệm hàng
đầu: “ trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện
đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát
triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…”.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, mục đích của tiểu luận góp
phần làm sáng tỏ vấn đề: “Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của
Đảng”. Chỉ ra những sai trái cần phải giải quyết để giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa và quan điểm, tư tưởng của Đảng, nhân dân
nhằm củng cố niềm tin, kiên định mục tiêu, lí tưởng của Đảng; hình
thành thái độ đúng đắn trong cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm,
tư tưởng sai trái, xuyên tạc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch chống phá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu và làm rõ quan điểm: chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành
động của Đảng;
4


- Rút ra kinh nghiệm, biện pháp nhằm bảo vệ và không ngừng phát
triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chủ yếu là phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở nắm vững quan điểm,đường
lối của Đảng, kết hợp với thực tiễn;
- Kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phân
tích, so sánh, lịch sử cụ thể...
5. Kết cấu của đề tài
- Đề tài được trình bày trong 32 trang trên khổ giấy A4;
- Đề tài bao gồm: PHẦN MỞ ĐẦU, PHẦN NỘI DUNG VÀ PHẦN
KẾT LUẬN. PHẦN NỘI DUNG được trình bày trong 3 chương:
CHƯƠNG I: CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN LÀ THÀNH TỰU TRÍ TUỆ
CỦA LOÀI NGƯỜI, SỨC SỐNG VÀ GIÁ TRỊ BỀN VỮNG

CHƯƠNG II: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ KẾT QUẢ CỦA SỰ
VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
VÀO ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CỦA VIỆT NAM
CHƯƠNG III: KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH TIẾP TỤC ĐƯA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

5


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN LÀ THÀNH TỰU TRÍ
TUỆ CỦA LOÀI NGƯỜI, SỨC SỐNG VÀ GIÁ TRỊ BỀN VỮNG

1. Chủ nghĩa Mác-Lênin là thành tựu trí tuệ của loài người
Chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời những năm 40 của thế kỉ XIX, khi đó
lực lượng sản xuất ở tư bản chủ nghĩa đã phát triển mạnh mẽ. Mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã xã hội hóa với quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt, hàng loạt các cuộc đấu tranh của giai
cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản đã nổ ra như: phong trào của công
nhân dệt Liông Pháp (1831 - 1834); cuộc khởi nghĩa công nhân dệt
Xilêdi Đức (1844); phong trào Hiến chương ở Anh những năm 30 - 40
thế kỉ XIX… Song các cuộc đấu tranh này đều đi tới thất bại do chưa
có một lý luận cách mạng dẫn đường, chưa chỉ ra được mục tiêu của
cuộc đấu tranh, chưa có biện pháp và con đường đúng đắn.
Mặt khác, khoa học tự nhiên giai đoạn này có bước phát triển vượt
bậc chuyển từ trình độ kinh nghiệm lên trình độ lý luận. Ba phát minh
có ý nghĩa vạch thời đại: định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng;
thuyết tế bào; thuyết tiến hóa. Đây là cơ sở cho việc xác lập quan điểm
duy vật biện chứng trong việc xem xét xã hội, con người và thế giới tự

nhiên.
Cùng với đó là những thành tựu lý luận mà nhân loại đã đạt được
như: Triết học cổ điển Đức với các đại diện tiêu biểu như: Cantơ,
Hêghen, Phoiơbăc…Kinh tế chính trị cổ điển Anh với đại diện:
Ricacđô, Ađam Xmit…Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với đại
6


diện: Xanhximông, Phuriê, R.Ô oen…là tiền đề lý luận cho sự ra đời
của chủ nghĩa Mác, hệ tư tưởng lý luận cách mạng, khoa học của giai
cấp công nhân.
Như vậy, gắn liền với sự xuất hiện ở mức độ đầy đủ những tiền đề
kinh tế - xã hội, chủ nghĩa Mác-Lênin còn dựa trên sự chín muồi của
các tiền đề tư tưởng lý luận. Đó là kết quả của sự kế thừa những tinh
hoa trí tuệ của loài người phát triển qua các thời đại mà thế kỷ XIX đã
đạt tới đỉnh cao.
C.Mác (1818 - 1883) và Ph.Ăngghen (1820 - 1895) đã kế thừa,
chọn lọc những thành tựu khoa học và giá trị tư tưởng lý luận tiến bộ
của nhân loại, phân tích sâu sắc xã hội tư bản và tổng kết thực tiễn
phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân xây dựng nên học thuyết
khoa học, cách mạng và nhân đạo của giai cấp vô sản. Bằng sự phân
tích khoa học C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh sự sụp đổ tất yếu
của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa cộng sản - một
xã hội không còn tình trạng áp bức, bóc lột. Hai ông cũng vạch rõ sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người đào mồ chôn chủ nghĩa
tư bản bằng cách mạng vô sản và xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do
cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Phân tích sâu sắc xã hội
tư bản trong điều kiện mới V.I.Lênin (1870 - 1924) đã phát triển toàn

diện học thuyết Mác, đặc biệt là lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa;
vạch ra quy luật phát triển không đồng đều giữa kinh tế và chính trị của
chủ nghĩa tư bản: “Sự phát triển không đồng đều giữa kinh tế và chính
trị là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản…chủ nghĩa xã hội có thể
thắng trước hết là trong một số ít nước tư bản chủ nghĩa hoặc thậm chí
chỉ trong một nước tư bản chủ nghĩa”.
Những cống hiến mới về lý luận của Lênin đã góp phần bảo vệ, bổ
sung và phát triển toàn diện học thuyết Mác, làm cho nó trở thành chủ
nghĩa Mác-Lênin.
Vận dụng học thuyết đó vào hoàn cảnh của nước Nga, V.I.Lênin
đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917,
thành lập Liên bang Xô viết, tiếp đó lãnh đạo nhân dân Liên Xô xây

7


dựng chủ nghĩa xã hội và thu được những thành tựu ban đầu hết sức
quan trọng.
Với tinh thần cách mạng và khoa học: C.Mác, Ph.Ăngghen và
V.I.Lênin luôn luôn tự phê phán, vạch rõ những thiếu sót, sai lầm trong
các luận điểm trước đó hoặc do những biến động chính trị - xã hội
khiến cho những luận điểm cũ không còn phù hợp, cần phải thay thế
bằng những luận điểm mới tiến bộ và chính xác hơn. Sự vĩ đại của các
ông không chỉ là đã đưa ra một học thuyết cách mạng và khoa học mà
còn đặt ra những vấn đề để những thế hệ sau sửa chữa, bổ sung và phát
triển học thuyết ấy gắn với điều kiện cụ thể, đặt học thuyết ấy trong
dòng chảy không ngừng của nhân loại. Ph.Ăngghen đã từng dự đoán:
“Chắc chắn rằng chúng ta hầu như chỉ mới ở bước đầu của lịch sử nhân
loại và những thế hệ sau sẽ uốn nắn lại chúng ta, tất cả phải đông hơn
rất nhiều so với những thế hệ mà nhận thức hiện phải được chúng ta

uốn nắn lại - lắm lúc với một thái độ khá khinh miệt”. Do vậy, chủ
nghĩa Mác-Lênin là một học thuyết mở, luôn luôn vận động và phát
triển không ngừng, nó có khả năng tự phê phán, tự đổi mới, một khả
năng xuất phát từ đòi hỏi bên trong của học thuyết, từ lí do tồn tại của
học thuyết.
2. Chủ nghĩa Mác-Lênin là lý luận cách mạng của giai cấp công
nhân
Chủ nghĩa Mác-Lênin còn được gọi là hệ tư tưởng vô sản nó có vai
trò đặc biệt quan trọng đối với giai cấp công nhân. Biểu hiện:
- Nó giúp cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chuyển từ tự
phát lên tự giác, từ đấu tranh kinh tế lên đấu tranh trên lĩnh vực tư
tưởng lý luận và đấu tranh chính trị (giành và giữ chính quyền nhà
nước). Lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin giúp giai cấp công
nhân xác định được vấn đề cơ bản của cuộc cách mạng là chính quyền
nhà nước. Cuộc cách mạng vô sản chỉ thật sự thắng lợi khi giai cấp
công nhân đã giành được chính quyền nhà nước và sử dụng chính
quyền ấy để cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới.
- Nó giúp cho giai cấp công nhân xác định được đúng kẻ thù của
mình và các lực lượng trung gian, tiến bộ khác cần phải được giai cấp
8


công nhân tập hợp để thực hiện cuộc tổng cách mạng xã hội, xóa bỏ
triệt để xã hội tư sản và xây dựng nên xã hội cộng sản chủ nghĩa.
- Hệ tư tưởng vô sản giúp cho giai cấp công nhân giác ngộ được
sức mạnh của mình và nhân sức mạnh ấy lên gấp bội lần khi có một tổ
chức tiên tiến, cách mạng ra đời: Đảng Cộng sản (đội tiên phong của
giai cấp công nhân). Lênin từng khẳng định sự ra đời của Đảng Cộng
sản là sản phẩm của sự kết hợp: chủ nghĩa Mác-Lênin và phong trào
công nhân. Cách mạng vô sản muốn thắng lợi phải có sự lãnh đạo của

Đảng Cộng sản.
- Chủ nghĩa Mác-Lênin làm rõ tính tất yếu của cách mạng xã hội,
coi đó là con đường duy nhất để tiến tới mục tiêu giải phóng con người
đồng thời nó cũng xác định phương thức, cách thức, biện pháp để hiện
thực hóa mục tiêu giải phóng con người ấy. Luận chứng một cách duy
vật về vai trò của của lý luận tiên phong trong mối quan hệ với thực
tiễn cách mạng C.Mác từng khẳng định: “Vũ khí của sự phê phán cố
nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật
chất chỉ có thể đánh đổ bằng lực lượng vật chất nhưng lý luận cũng sẽ
trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng”.
- Chủ nghĩa Mác-Lênin còn là cơ sở để các Đảng Cộng sản hoạch
cương lĩnh, chính sách, đường lối, chủ trương, chiến lược…phương
pháp cách mạng và phương hướng hoạt động thực tiễn để xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
- Vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin được biểu hiện sâu sắc nhất, cụ
thể nhất và chính xác nhất, đó là nhân tố chủ yếu trong việc nâng cao
tầm tư tưởng, tầm trí tuệ của Đảng, của dân tộc.
Trong lịch sử chưa hề có một học thuyết nào mà chỉ trong thời gian
tương đối ngắn lại được truyền bá rộng rãi, được áp dụng trong thực
tiễn xã hội và có tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới tiến trình phát triển của
lịch sử nhân loại như học thuyết Mác-Lênin. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã
trở thành nền tảng tư tưởng, vũ khí lý luận sắc bén cho sự nghiệp đấu
tranh của giai cấp công nhân, các dân tộc bị áp bức trên thế giới.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là một hệ thống lý luận thống nhất, hoàn bị,
được cấu thành bởi ba bộ phận: triết học Mác-Lênin, kinh tế chính trị
Mác-Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa hội khoa học.

9



Triết học Mác-Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử. Nó nghiên cứu mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
cùng những quy luật chung nhất của sự phát triển của tự nhiên, xã hội
và tư duy. Nó cung cấp cho con người thế giới quan và phương pháp
luận đúng đắn để nhận thức và cải tạo thế giới. Đó là quan điểm duy
vật biện chứng trong việc xem xét các sự vật hiện tượng và duy vật lịch
sử trong việc nghiên cứu xã hội (hình thái kinh tế - xã hội) để tìm ra
quy luật vận động trong lịch sử xã hội loài người.
Kinh tế chính trị Mác-Lênin nghiên các quy luật kinh tế dẫn đến sự
nảy sinh tiền đề vật chất và xã hội làm sụp đổ phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa và sự phát triển của phương thức sản xuất xã hội chủ
nghĩa, những quy luật kinh tế trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã
hội. Kinh tế chính trị Mác-Lênin vạch rõ quy luật tuyệt đối của chủ
nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư, sự vận động của các quy luật
kinh tế trong chủ nghĩa tư bản và những mâu thuẫn vốn có của nó tất
yếu đưa nó tới chỗ diệt vong. C.Mác và Ph.Ăngghen từng khẳng định:
“giai cấp tư sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó, sự sụp
đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu
như nhau”.
Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật chuyển biến
xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường,
phương thức xây dựng xã hội mới. Nó chứng minh rằng xã hội hóa lao
động trong chủ nghĩa tư bản đã tạo ra cơ sở vật chất chủ yếu cho sự ra
đời của chủ nghĩa xã hội, chỉ rõ động lực tinh thần, trí tuệ của sự
chuyển biến đó là chủ nghĩa Mác-Lênin; lực lượng cơ bản thực hiện sự
chuyển biến ấy là giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc
bị áp bức trên toàn thế giới.
Với bản chất cách mạng và khoa học, nhân đạo và nhân văn chủ
nghĩa Mác-Lênin là học thuyết duy nhất trong thời đại ngày nay có khả
năng đáp ứng nhu cầu giải phóng xã hội, giải phóng con người, thực

hiện lí tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Nó là cơ sở để
xác định chiến lược, sách lược cho sự nghiệp đấu tranh của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động; là kim chỉ nam cho hoạt động của
phong trào công nhân và các phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập

10


dân tộc, dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, vì tự do và hạnh phúc
của con người.
3. Chủ nghĩa Mác-Lênin – sức sống trường tồn và giá trị bền vững
Trước hết, cần khẳng định, giá trị lớn lao và sức sống mãnh liệt
của chủ nghĩa Mác không phải ở chỗ nó cung cấp những lời giải đáp
cho mọi vấn đề của thực tiễn thế giới mà ở chỗ nó chỉ ra quy luật vận
động khách quan của xã hội, chỉ ra những nhiệm vụ lịch sử cần giải
quyết để từng bước giải phóng các giai cấp lao động và các dân tộc bị
áp bức, giải phóng con người và xã hội loài người khỏi mọi sự tha hóa,
xây dựng một xã hội “Trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là
điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người ”.
Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại mở ra 1 kỉ nguyên mới trong
lịch sử phát triển của nhân loại. Nhân dân Liên Xô dưới sự lãnh đạo
của Đảng Bônsêvich đã tạo ra sức mạnh chiến thắng chủ nghĩa phát xít
cứu loài người khỏi thảm họa phát xít. Tiếp đó, các nước xã hội chủ
nghĩa lần lượt ra đời và trở thành hệ thống thế giới, đối trọng với chủ
nghĩa tư bản và buộc chủ nghĩa tư bản phải thay đổi để thích nghi với
thời đại.
Cũng từ Cách mạng Tháng Mười Nga đã cổ vũ cho nhiều dân tộc
bị áp bức đứng lên giành độc lập dân tộc. Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám
thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mạng Tháng

Mười Nga dạy cho chúng ta rằng cách mạng muốn thành công thì phải
lấy quần chúng công nông làm gốc, phải bền gan, phải hy sinh, phải có
Đảng bền vững. Tóm lại, phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.
Tiếp đó, Đảng ta kiên định với lời dạy của Người và lý luận Mác-Lênin
đã đánh bại sự quay trở lại của thực dân Pháp và sự xâm lược của đế
quốc Mỹ; đồng thời công cuộc đổi mới đất nước qua 25 năm qua đã và
đang minh chứng cho sức sống của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Cách mạng Tháng Mười Nga đã có mặt với lịch sử nhân loại qua 95
năm và nó đang có một sức sống mới, sức sống của chủ nghĩa xã hội
hiện đại, một xã hội dân chủ, vì dân, vì người lao động trên những
nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin.
11


Chủ nghĩa tư bản hiện đại mặc dù đang có những điều chỉnh để
thích nghi với thời đại, song do bản chất và quy luật vận động của nó
nên không thể tránh khỏi những nghịch lí trong quá trình phát triển.
Và hôm nay chúng ta đang chứng kiến những diễn biến của cuộc
khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế, bắt đầu từ năm 2008 ở nước
Mỹ, nhanh chóng lan ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác
động đến hầu hết các nước. Kinh tế suy thoái đã phơi bày sự thật của
những bất công xã hội trong xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống nhân
dân lao động giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách
giàu nghèo càng lớn. Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch
lý “phản phát triển”, từ kinh tế - tài chính đã tràn vào lĩnh vực xã hội,
làm bùng nổ các xung đột xã hội và không ít nơi từ tình huống kinh tế
đã trở thành tình huống chính trị với biểu tình, bãi công, làm rung
chuyển cả thể chế. Bên cạnh đó là khủng hoảng năng lượng, lương
thực, cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, suy thoái của môi
trường sinh thái đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn

tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của quá trình phát triển
kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu
của cải và tiêu dùng vật chất làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá
nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu
của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc
khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính chất phản tiến
bộ, phản nhân văn và không bền vững cả về kinh tế, xã hội và sinh thái
của nó; như Mác đã từng nói, chủ nghĩa tư bản đang huỷ hoại chính
ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao động và tài
nguyên. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng
hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ
của chế độ tư bản chủ nghĩa.
Đó chính là thời cơ của chủ nghĩa xã hội dựa trên nền tảng của
chủ nghĩa Mác-Lênin. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Không
phải từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội
được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn. Đổi
mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và
phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền
tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng”.
12


Có thể nói, trong xu thế chính trị quốc tế đương đại thì xu thế khôi
phục và phát triển phong trào xã hội chủ nghĩa đang diễn ra mạnh mẽ.
Với những thành tựu của Trung Quốc, Việt Nam và các nước xã hội
chủ nghĩa khác trong công cuộc cải cách cho thấy rằng chủ nghĩa xã
hội đang dần thoát khỏi bế tắc cả về lý luận lẫn thực tiễn. Vị thế và vai
trò của các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng nâng cao, họ trở thành
những chủ thể quan trọng của quan hệ quốc tế hiện đại, đóng góp to
lớn vào quá trình hình thành một trật tự thế giới mới theo hướng thật sự

dân chủ, công bằng cùng nhau hướng tới những mục tiêu chung của
thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Những năm gần đây, khu vực Mỹ Latinh đã xuất hiện xu thế thiên
tả và ngày càng phát triển mạnh thành một trào lưu – “chủ nghĩa xã hội
thế kỉ XXI”. Có bốn nước lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
là: Vênêduêla, Nicaragoa, Bôlivia và Êcuađo. Đặc điểm, tính chất của
chủ nghĩa xã hội ở các nước này có những nét riêng nhưng cũng là một
minh chứng hùng hồn cho sức sống mãnh liệt và lý tưởng tốt đẹp của
chủ nghĩa xã hội, khẳng định đây là xu thế phát triển khách quan và
không thể đảo ngược.

13


CHƯƠNG II: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ KẾT QUẢ CỦA
SỰ VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA
MÁC-LÊNIN VÀO ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CỦA VIỆT NAM

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh - một minh chứng rực rỡ cho giá trị của
chủ nghĩa Mác-Lênin
Sự bế tắc trong con đường cứu nước của dân tộc Việt Nam cuối
thế kỉ XIX đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước,
giải phóng dân tộc. Vượt qua những hạn chế của các nhà yêu nước
đương thời Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng tiên tiến
nhất của thời đại. Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và trở thành chiến sĩ
cộng sản Người đã xác định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc
không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Chủ nghĩa Mác-Lênin được Người xem là: “Một học thuyết cách
mạng nhất, chân chính nhất và triệt để nhất. Chủ nghĩa Mác-Lênin
trang bị cho chúng ta thế giới quan và phương pháp luận khoa học về

thế giới, chỉ ra con đường phát triển để nhân loại thoát khỏi áp bức bóc
lột’’.
Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001)
của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định:
“Tư tưởng Hồ Chí minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và
sâu sắc về những vần đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả
của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều
kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng
về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về
14


độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đoàn
kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước
thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo
đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch,
vững mạnh, cán bộ Đảng viên vừa là người lãnh đạo vừa là đầy tớ thật
trung thành của nhân dân… Tư tưởng Hồ chí Minh soi đường cho cuộc
đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần vô giá
của Đảng và dân tộc ta”.
Tư tưởng và tấm gương đấu tranh bất khuất cho độc lập, tự do của
Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam đã trở thành nguồn cổ vũ mạnh
mẽ đối với phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa
trong thế kỷ XX. Nhiều quốc gia độc lập đã thừa nhận ảnh hưởng trực
tiếp và gián tiếp của cách mạng Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong bối cảnh thế giới ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp
chúng ta nhận thức đúng đắn những vấn đề lớn có liên quan đến việc
bảo vệ nền độc lập dân tộc, phát triển xã hội và đảm bảo quyền con
người, bởi Hồ Chí Minh suốt đời phấn đấu cho việc giải phóng các dân
tộc, đã đề ra lý luận về sự phát triển của các dân tộc giành được độc lập
tiến lên chủ nghĩa xã hội và luôn quan tâm đến lợi ích con người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng vững chắc để Đảng ta vạch ra
đường lối cách mạng đúng đắn là sợi chỉ dẫn đường cho toàn Đảng,
toàn quân, toàn dân ta đi đến thắng lợi.
Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi với chúng ta vì đã thấm sâu vào
quần chúng nhân dân, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ
đối với thời đại. Qua thực tiễn cách mạng tư tưởng Hồ Chí Minh ngày
càng tỏa sáng chiếm lĩnh trái tim, khối óc của hàng triệu con người.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam

15


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng đã đưa ra
khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có đoạn: “…tư tưởng Hồ
Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta…”.
Tính sáng tạo trong tư tưởng của Người được thể hiện ở chỗ :
trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
đồng thời nghiên cứu, vận dụng những nguyên lý đó Người mạnh dạn
loại bỏ những gì không thích hợp với điều kiện cụ thể của đất nước,
dám đề xuất những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra và giải quyết linh
hoạt, khoa học và hiệu quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn:
“Lý luận không phải là một cái gì đó cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo ;

lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ
thực tiễn sinh động”.
Tính sáng tạo của người được thể hiện ở một số điểm sau:
Một là, sau khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và trở thành người
chiến sĩ cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Người đã chỉ ra con đường
cho cách mạng Việt Nam: “ làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Bởi vì: “chỉ có chủ nghĩa cộng
sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng
tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết ấm no trên quả
đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh
phúc…”. Đó là quan điểm chính trị có tầm quan trọng đặc biệt đối với
phong trào cách mạng ở các thuộc địa trong đó có Việt Nam.
Hai là, Người có những cống lớn lao về nghiên cứu chủ nghĩa dân
tộc và các vấn đề dân tộc. Người chỉ rõ quy luật vận động, bản chất, vị
trí của chủ nghĩa thực dân và sự diệt vong tất yếu của nó trong lịch sử
nhân loại. Hồ Chí Minh cho rằng: cách mạng giải phóng dân tộc ở
thuộc địa cần phải tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành
thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Thực tiễn ở Việt Nam
đã chứng tỏ quan điểm này của Người là hoàn toàn đúng đắn.
Ba là, Hồ Chí Minh có những luận giải sáng tạo về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc
hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Người cho
rằng: “chủ nghĩa cộng sản dễ dàng thâm nhập ở Châu Á hơn là ở Châu
Âu”; phải dựa vào nhân dân đem tài dân, sức dân ra mà xây dựng chủ
16


nghĩa xã hội; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; tranh
thủ sự ủng hộ mọi mặt của quốc tế; vừa cải tạo vừa xây dựng trong đó
xây dựng là chính, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa làm vừa học...

Bốn là, Hồ Chí Minh có những sáng tạo mới mẻ về xây dựng và
phát triển Đảng Cộng Sản. Thể hiện: quy luật ra đời của Đảng ta theo
Người là sự kết hợp: chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào công nhân và
phong trào yêu nước; bản chất Đảng Cộng Sản Việt Nam: Đảng Cộng
Sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện cho lợi ích
cơ bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc; xây
dựng Đảng cầm quyền: thực hiện liên minh công nông trí đặt dưới sự
lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng cộng sản, Đảng lấy
chủ nghĩa Mác-Lênin làm cốt, thường xuyên tự phê bình, tự chỉnh đốn,
Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân
dân…
Năm là, trong tổ chức lực lượng Người có những quan điểm sáng
tạo về Đại đoàn kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”.
Đại đoàn kết đã trở thành chiến lược của Đảng ta và là nhân tố thường
xuyên góp phần quyết định thắng lợi trong sự nghiệp cách mạng của
Đảng và nhân dân ta trong mọi thời kì, đồng thời đóng góp to lớn vào
kho tàng kinh nghiệm cách mạng thế giới.
Sáu là, tư tưởng quân sự của Người đã đặt nền móng cho chiến
lược quân sự Việt Nam đó là: dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo
lực phản cách mạng; khởi nghĩa vũ trang nhân dân, kháng chiến toàn
dân toàn diện; chủ động tiến công, kết hợp chặt chẽ thời thế và lực;
đánh địch bằng mọi lực lượng, kết hợp mọi địa hình; đấu tranh trên tất
cả các mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế…
Bảy là, nét sáng tạo và đặc sắc của Người về nhà nước kiểu mới:
nhà nước của dân, do dân, vì dân với tính cách nhân dân rộng rãi và
sâu sắc; cán bộ, Đảng viên vừa là người lãnh đạo vừa là đầy tớ thật
trung thành của nhân dân: “Việc gì có lợi cho dân thì phải làm cho kỳ
được, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”. Xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kết hợp cả “pháp trị” và “đức trị”

trong quản lí xã hội, điều hành đất nước.

17


Tám là, Người có những sáng tạo mới mẻ về vai trò, sức mạnh
của văn hóa: “văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận”, phát triển kinh
tế đi đôi với phát triển văn hóa; những sáng tạo trong đạo đức của
người cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; coi trọng
nhiệm vụ chiến lược đó là “trồng người” - vấn đề có tính quy luật
quyết định sự thành bại của cách mạng.
Những luận điểm sáng tạo trên của Hồ Chí Minh là những nét nổi
bật và là những đóng góp quan trọng không chỉ đối với cách mạng Việt
Nam mà còn cả cách mạng thế giới. Người đã kế thừa và phát triển
xuất sắc lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tinh hoa văn hóa nhân
loại, làm phong phú lý luận cách mạng vô sản, chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên
chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa.
3. Giá trị lịch sử của tư tưởng Hồ Chí Minh
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng đã nêu ra
những nội dung cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta
giành thắng lợi, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta”.
Sở dĩ Đảng ta khẳng định như vậy bởi: tư tưởng Hồ Chí Minh
không chỉ tiếp thu, kế thừa những giá trị, tinh hoa văn hóa tư tưởng
“vĩnh cửu” của dân tộc và nhân loại, trong đó chủ yếu là chủ nghĩa
Mác-Lênin mà còn đáp ứng nhiều vấn đề của thời đại, của sự nghiệp
cách mạng Việt Nam. Nét đặc sắc nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh là
những vấn đề xoay quanh việc giải phóng dân tộc và định hướng cho
sự phát triển của dân tộc.

Thực tế lịch sử Việt Nam cho thấy, nhờ vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng và nhân dân ta đã
đánh bại hai đế quốc hùng mạnh: Pháp và Mỹ, giành thắng lợi vẻ vang
cho tổ quốc, tiếp đó là những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới
đất nước và bảo vệ tổ quốc.
Ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên vẹn giá trị và
giúp chúng ta nhận thức đúng đắn những vấn đề lớn có liên quan đến
bảo vệ nền độc lập dân tộc, phát triển xã hội, đảm bảo quyền con
18


người. Trải qua những khúc quanh của lịch sử và những biến cố khắc
nghiệt của thời đại tư tưởng của Người vẫn giữ nguyên giá trị to lớn và
có trong hành trang của dân tộc ta đi tới mục tiêu: “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Về phương pháp luận, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp ta cách
nhìn nhận và hành động khoa học, tránh giáo điều, rập khuôn,
máy móc hoặc xét lại, bảo thủ trì trệ. Hồ Chí Minh luôn nhắc
chúng ta học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn. Người
cán bộ bất cứ làm việc gì, ở cấp bậc nào đều phải đi sâu nghiên
cứu lý luận, không ngừng học tập nâng cao trình độ, đồng thời
phải coi trọng tổng kết thực tiễn, bổ sung, làm sáng rõ lý luận. Hồ
Chí Minh nhấn mạnh: Thực tiễn không có lý luận soi đường là thực
tiễn mù quáng. Lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suông.
Trong công tác luôn hướng về cơ sở, tin ở dân, dựa vào dân,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Trong đấu tranh cách mạng
luôn chủ động, sáng tạo, biến yếu thành mạnh, biến ít thành nhiều, tạo
thế để phát triển. Người luôn nhắc chúng ta phải kiên định,
khôn khéo “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; biết biến cái đại sự thành cái
tiểu sự ; biến cái tiểu sự thành cái vô sự. Tuyệt đối không để cái vô

sự thành cái đại sự... Vì thế Hồ Chí Minh giản dị đến vĩ đại và vĩ
đại một cách giản dị.
Ngày nay, chúng ta có thể khẳng định rằng việc học tập tư tưởng
Hồ Chí Minh là học tập tinh thần cách mạng, khoa học và nhân văn cao
cả của Hồ Chí Minh, là nắm vững lập trường, quan điểm và phương
pháp của Hồ Chí Minh để xử trí mọi việc.

19


CHƯƠNG III: KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN, TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, TIẾP TỤC ĐƯA SỰ NGHIỆP ĐỔI
MỚI ĐẤT NƯỚC THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1. Đảng ta kiên định lập trường lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành
động
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đã chứng tỏ rằng :
kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là bí quyết
thành công của cách mạng Việt Nam từ trước đến nay và từ nay về sau.
Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin có nghĩa là kiên định con đường
mà C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã chỉ ra và Hồ Chí Minh đã lựa
chọn, là nắm vững vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh vào việc hoạch định đường lối, chính sách và xử lý mọi
vấn đề của cách mạng, là tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
trên đất nước ta bằng những cách thức, bước đi và mô hình thích hợp
với đặc điểm và truyền thống dân tộc với xu thế thời đại.
Những năm qua công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu to
lớn và có ý nghĩa rất quan trọng. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế
- xã hội và bước vào thời kì đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện

đại hóa, ổn định chính trị được giữ vững, quốc phòng an ninh được
củng cố, quan hệ đối ngoại được mở rộng, uy tín và vị thế nước ta trên
thế giới được nâng lên tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc
xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Thành tựu mà nhân dân ta đã đạt được
trong hơn 20 năm qua là thành tựu của việc kiên định vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh trong thời
kì đổi mới.

20


Song trước sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu
chủ nghĩa Mác-Lênin đứng trước sự phê phán gay gắt. Chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù địch ra sức vu cáo, xuyên tạc, bác bỏ học
thuyết Mác-Lênin. Chúng rùm beng về cái gọi là “sự cáo chung” của
chủ nghĩa Mác-Lênin, rằng “chủ nghĩa xã hội đã chết và hàng trăm
năm sau cũng không gượng dậy được”, chủ nghĩa Mác-Lênin là một
học thuyết lạc hậu, lỗi thời, cực đoan, sai lầm, ảo tưởng… và cần từ bỏ
nó.
Ở nước ta, đó đây cũng xuất hiện một số quan quan điểm như vậy.
Có người sám hối, trở cờ, họ “chân thành” khuyên Đảng ta từ bỏ chủ
nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ con đường mà Hồ Chí Minh, Đảng và nhân
dân ta đã lựa chọn. Họ nói rằng, học thuyết sụp đổ thì có lý do gì mà
còn kiên định với con đường chủ nghĩa xã hội nữa. Bởi vậy, ta cần phải
nhận thức cho rõ nguyên nhân vì sao hệ thống các nước xã hội chủ
nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ ?
Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ do nhiều nguyên
nhân, trong đó có hai nguyên nhân chủ yếu, trực tiếp như: Một là, trong
cải tổ Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc sai lầm rất nghiêm trọng về
đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức cán bộ. Đó là đường lối xét lại,

phản bội chủ nghĩa Mác-Lênin ở một số người lãnh đạo cao nhất cao
nhất của Đảng. Những người này từng bước khống chế ban lãnh đạo
của Đảng, đường lối của họ phủ nhận những giá trị căn bản của học
thuyết Mác-Lênin, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng
của Đảng. Hai là, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch, chúng không lúc nào ngừng thực hiện chiến lược chống cộng,
chống chủ nghĩa xã hội. Chúng đã phát hiện rằng cải tổ của Liên Xô
mang tính chất mang tính chất cơ hội, xét lại và chúng ra sức tác động
mạnh mẽ bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” để đánh bại, lật đổ chủ
nghĩa xã hội bằng “chiến thắng không cần chiến tranh”.
Hai nguyên nhân trên quyện chặt với nhau, song nguyên nhân bên
trong là gốc của sự sụp đổ. Điều này càng chứng tỏ: cải tổ là tất yếu
song sụp đổ lại không là tất yếu. Ngày nay, càng thấy rõ rằng đường lối
chính trị, hệ tư tưởng cải tổ Liên Xô ngay từ đầu là hệ tư tưởng tư sản.
Những người cầm đầu Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô lúc đó

21


như Goócbachốp và phe cánh của ông ta là những phần tử xét lại, phản
bội tổ quốc.
Kẻ thù đang ra sức khai thác sự kiện Liên Xô sụp đổ để rêu rao “cái
chết của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác-Lênin nói chung”. Âm
mưu của chúng nhằm đánh lạc hướng sự chú ý của nhân dân thế giới
đối với nguyên nhân thật sự dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô và Đông Âu. Đây là thủ đoạn nhằm tác động vào tinh thần của
các nước xã hội chủ nghĩa còn lại và phong trào cộng sản trên thế giới,
khoét sâu tình trạng hoang mang, bối rối, mất lòng tin đối với chủ
nghĩa xã hội, coi đó là thủ đoạn chiến tranh tâm lí có hiệu quả trong
chiến lược “diễn biến hòa bình”. Nhưng sự thật vẫn là sự thật:

- Cách mạng Tháng Mười là một là một tất yếu lịch sử và nó đã mở
ra một thời đại mới trong lịch sử phát triển của nhân loại;
- Các nước xã hội chủ nghĩa lần lượt ra đời sau chiến tranh thế giới
thứ hai, trở thành hệ thống thế giới và đã có một thời gian dài phát triển
không ngừng, sự phát triển đó là hợp quy luật lịch sử;
- Ảnh hưởng to lớn của hệ thống chủ nghĩa xã hội trên thế giới đối
với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh cho
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và dân sinh. Đó là một thực tế lịch
sử không ai có thể bác bỏ được;
- Hiện nay, chủ nghĩa Mác-Lênin và nền tảng triết học của nó là
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vẫn tồn tại
và phát triển sáng tạo ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong phong
trào cộng sản và trong nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa mới sụp đổ.
Chủ nghĩa Mác-Lênin tồn tại ngay trong giai đoạn thoái trào của chủ
nghĩa xã hội.
Bởi vậy, cần có cách nhìn đúng đắn, cách nhìn duy vật biện chứng
đối với các sự kiện lịch sử: sự thăng trầm là tất yếu, sự ra đời của một
chế độ mới không bao giờ là quá trình êm thấm, phẳng phiu, suôn sẻ.
Nó ra đời trong sự tìm tòi, thể nghiệm và sự đấu tranh quyết liệt, dai
dẳng đối với các thế lực thù địch luôn lăm le xóa bỏ nó. Lịch sử của
chế độ phong kiến và chế độ tư bản cũng đã tững diễn ra như vậy.
Cách mạng Pháp diễn ra từ 1789 chẳng phải mãi đến 1890 sau khi
phục tích chế độ phong kiến mới giành thắng lợi đó sao. Lịch sử bao
giờ cũng có cái lôgic phát triển của nó. Chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ
22


bị thay thế bởi 1 chế độ mới vượt nó. Song con đường gập ghềnh mà
chế độ mới phải trải qua cũng tất yếu như sự thắng lợi của nó.
Thực tế, Việt Nam sau khi giành được độc lập đến trước năm

1986, đất nước lâm vào khủng hoảng trầm trọng về kinh tế, đời sống
nhân dân gặp khó khăn gay gắt, lòng tin của nhân dân vào Đảng và
Nhà nước giảm sút; thêm vào đó là sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu
năm 1991 khiến cho hệ giá trị chủ nghĩa xã hội bị xâm hại và dẫn đến
khủng hoảng cả lòng tin vào chủ nghĩa xã hội. Tình hình đó, Đảng chủ
trương đổi mới tư duy lý luận mà trước hết là đổi mới nhận thức về chủ
nghĩa Mác-Lênin, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta. Sự khủng hoảng trên do hai nguyên nhân cơ bản:
“Một là: bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn,
nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông
lỏng trong quản lý kinh tế - xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh
đường lối và nguyên tắc của Đảng. Đó là tư tưởng tiểu tư sản, vừa "tả"
khuynh vừa hữu khuynh. Đúng như Đại hội lần thứ V nhận định,
chúng ta vừa chủ quan nóng vội, vừa bảo thủ trì trệ, trong thực tế hai
mặt đó cùng tồn tại và đều cản trở bước tiến của cách mạng. Hai là:
những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán
bộ của Đảng. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng thẳng thắn chỉ ra
những sai lầm, khuyết điểm trên và đến Đại hội lần thứ VII thông qua
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động”. Đó
là một minh chứng rất rõ ràng cho sự kiên định của Đảng ta đối với chủ
nghĩa xã hội trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn trầm trọng về
kinh tế và khủng hoảng nặng nề về tinh thần.
Trong các Đại hội sau, Đảng vẫn giữ nguyên lập trường của mình:
“lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động”.Mới đây, Đại hội lần thứ XI
(2011) Đảng tiếp tục nêu ra bài học kinh nghiệm hàng đầu của cách

mạng Việt Nam : “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên
trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng
23


sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội...”, xem đây là
cơ sở để hoạch định đường lối, cương lĩnh, chính sách đồng thời là
nguyên nhân, là gốc của mọi thắng lợi.
2. Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là sự vận dụng sáng
tạo bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa mác-Lênin,tư
tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay
Công cuộc đổi mới của chúng ta được tiến hành với ý nghĩa là
một quá trình cải biến cách mạng vĩ đại nhằm giải phóng và phát huy
mọi nguồn lực cho phát triển, đem lại sự biến đổi sâu sắc trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội.
Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là
phê phán một cách khoa học, thấm nhuần quan điểm thực tiễn, lịch sử
cụ thể và phát triển nhằm khắc phục những cách hiểu sai, cách làm
giản đơn, siêu hình giáo điều, duy ý chí trái quy luật về chủ nghĩa xã
hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng chỉ rõ: “Nhiều năm nay, trong nhận thức của
chúng ta về chủ nghĩa xã hội có nhiều quan niệm lạc hậu”. Đổi mới
không phải là xa rời, từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội mà
là sự nhận thức đúng đắn hơn và đầy đủ hơn, là sự phát triển sáng tạo
hơn nữa bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin,
chủ nghĩa xã hội khoa học để tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội có
căn cứ và thực tiễn hơn thông qua cải cách kinh tế và xã hội, đổi mới
cơ chế chính sách và hệ thống chính trị.
Tổng kết hơn 25 năm đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ XI rút ra năm

bài học lớn: “Một là, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải
kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng
sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đổi mới toàn diện,
đồng bộ với những bước đi thích hợp. Tích cực, chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế phải gắn với chú trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự
chủ, giữ vững truyền thống và bản sắc văn hoá dân tộc. Mở rộng, phát
huy dân chủ phải gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và ý thức trách
24


nhiệm của mỗi công dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cả cộng
đồng. Hai là, phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và
phát triển bền vững, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế,
đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ
mô. Tăng cường huy động các nguồn lực trong và ngoài nước, sử dụng
tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế. Phát triển lực lượng sản xuất phải đồng thời xây dựng, hoàn thiện
quan hệ sản xuất phù hợp; củng cố và tăng cường các yếu tố bảo đảm
định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế. Ba là, phải coi trọng việc
kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội; bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào ở vùng sâu,
vùng xa, đặc biệt là trong tình hình kinh tế khó khăn, suy giảm; gắn
phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, an ninh,
tăng cường quan hệ đối ngoại, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bốn là, đặc biệt chăm lo củng cố, xây
dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thật sự phát huy dân
chủ, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết thống nhất, gắn
bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của

nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Xây dựng đội ngũ cán
bộ, đảng viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, trong sáng về đạo đức,
lối sống, có sức chiến đấu cao, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Năm là,
trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo phải rất nhạy bén, kiên quyết, sáng
tạo, bám sát thực tiễn đất nước; chú trọng công tác dự báo, kịp thời đề
ra các giải pháp phù hợp với tình hình mới; tăng cường công tác tuyên
truyền, tạo sự đồng thuận cao, phát huy sức mạnh của cả hệ thống
chính trị, của toàn xã hội ”.
Đổi mới mà không làm thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa có
nghĩa là đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, là sự tìm tòi một
mô hình chủ nghĩa xã hội thực tế năng động và có hiệu quả. Xuất phát
từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về chủ nghĩa xã hội, từ kinh nghiệm thực tế đổi mới đất nước, trên cơ
25


×