Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

skkn một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học các bài toán mở cho học sinh lớp 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (198.11 KB, 14 trang )

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến thành phố Ninh Bình.
Chúng tôi gồm:

T
T

Họ và tên

Tỷ lệ (%) đóng
Nơi công
góp vào việc tạo
tác
Trình độ
Ngày tháng
Chức
ra sáng kiến
(hoặc nơi
chuyên
năm sinh
danh
(ghi rõ đối với từng
thường
môn
đồng tác giả, nếu
trú)


có)

1 Bùi Thị Sơn

01/6/1966

HT

ĐH

30/11/1968

THTT
THTT

PHT

ĐH

20%
20%

2 Nguyễn T Bích Thủy
3 Bùi T Hạnh Phúc

19/12/1970

THTT

PHT


ĐH

20%

4 Nguyễn T Bích Liên

12/01/1979

THTT

GV



20%

28/4/1973

THTT

GV

ĐH

20%

5 Phạm Bích Hà

Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: "Một số giải pháp nâng

cao chất lượng dạy học các bài toán mở cho học sinh lớp 1"
I. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: Dạy môn Toán lớp 1C.
II. THỜI GIAN ÁP DỤNG: 02 năm học ( 2014 – 2015, năm học 2015-2016).
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 01/9/2014
III. . MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN

1. Nội dung sáng kiến
Khả năng vận dụng các bài toán mở chính là phản ánh năng lực vận dụng
kiến thức của học sinh. Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng
vào làm toán kết hợp với kiến thức Tiếng Việt để giải quyết vấn đề trong toán học.
Từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đã ra cho học sinh đọc- hiểu- biết
hướng giải, để viết phép tính kèm câu trả lời và đáp số của bài toán.
Học sinh thực hành thành thạo các bài toán mở góp phần củng cố kiến thức
toán, rèn luyện kỹ năng diễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh
tiểu học.
Thực tế qua nhiều năm trực tiếp quản lí và giảng dạy ở khối lớp 1, trong quá
trình dạy học chúng tôi nhận thấy phần dạy các bài toán mở chiếm thời gian tương
1


đối nhiều, nhưng thực tế việc dạy và học các bài toán mở vẫn chưa đạt được kết
quả cao. Bởi vì đối với lớp 1: Vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng
tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế. Một nét nổi bật hiện nay là nói chung học
sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Nhiều khi với một bài
toán mở các em có thể nhẩm đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc
lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy. Thực tế hiện nay cho thấy,
các em thực sự lúng túng khi thực hành các bài toán mở. Một số em chưa biết tóm
tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp
để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic. Ngôn ngữ toán học còn rất hạn
chế, kỹ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, chưa có biện

pháp, phương pháp học toán, học toán và giải toán một cách máy móc nặng về dập
khuôn, bắt chước.
Đây cũng là lý do mà chúng tôi chọn đề tài "Một số giải pháp nâng cao
chất lượng dạy học các bài toán mở cho học sinh lớp 1" mong tìm ra những giải
pháp nhằm góp phần nâng cao kĩ năng giải toán cho học sinh lớp 1 nói riêng và
môn Toán 1 nói chung. Để từ đó, các em có thể thành thạo hơn với những bài toán
mở khó và phức tạp ở các lớp trên.
1.1. Giải pháp cũ thường làm
1.1.1. Nội dung giải pháp
Khi dạy và học các bài toán mở ở lớp 1 giáo viên thường thực hiện theo quy
trình và theo các bước sau:
Bước 1: Nêu yêu cầu của đề bài.
Bước này yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài, nhớ những dũ kiện bài toán
đã cho một cách chính xác và nắm vững yêu cầu của đề bài. Học sinh phải hiểu bài
toán cho biết gì và bài toán yêu cầu gì.
Trong quá trình này học sinh cần nhận ra bài toán đã cho thuộc dạng toán nào.
Bước 2: Nêu bài toán phù hợp với tranh vẽ.
Dựa vào việc nhận dạng tranh vẽ ở bước 1, hướng dẫn học sinh cách giải bắt
đầu từ yêu cầu đề bài toán.

2


Muốn giải đáp những yêu cầu của đề bài thì cần phải biết những gì? Những điều
đó đề bài đã cho biết chưa? Nếu chưa biết thì tìm bằng cách nào, dựa vào đâu để tìm?
Cứ lần lượt như vậy cho đến khi nào học sinh có thể tìm được cách giải đáp
từ những dữ kiện cho sẵn trong đề bài.
Bước 3: Viết phép tính phù hợp với bài toán.
Bước 4: Kiểm tra kết quả - Nêu các bài toán tương tự .
1.1.2. Những ưu, nhược điểm của giải pháp cũ.

Ưu điểm:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh biết nêu bài toán phù hợp với tranh vẽ
+ Học sinh viết được 1 đến 2 phép tính phù hợp với 1 đến 2 bài toán vừa
nêu qua quan sát tranh vẽ.
Nhược điểm:
+ Phương pháp dạy học của giáo viên còn nặng nề, chưa phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lí của học sinh tiểu học, chưa phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh, mang
tính giảng giải , thuyết trình nhiều. Điều đó thể hiện qua một số tình trạng sau:
+ Học sinh nhớ các dạng toán một cách máy móc.
+ Học sinh ngại học các bài toán mở, dẫn đến không tự tin khi làm bài.
Trong quá trình quản lí và giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt là ở các lớp 1,
chúng tôi nhận thấy HS rất lúng túng thậm chí nêu sai bài toán, viết sai phép tính,
viết sai đáp số.
1.2. Giải pháp mới cải tiến
Giải pháp 1: Chuyển dịch ngôn ngữ thông thường thành ngôn ngữ toán
học và ngược lại.
* Thay đầu bài , ngữ điệu trong SGK.
Bài toán mở nêu các vấn đề thường gặp trong đời sống, các vấn đề đó gắn
liền với nội dung (khái niệm, cấu trúc, thuật ngữ ) toán học, do vậy giáo viên cần
cho học sinh nắm vững khái niệm thuật ngữ.
Để dạy tốt “Các bài toán mở” ở lớp 1, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải nắm
thật chắc những bài toán thể hiện ý nghĩa của phép tính.

3


a) Trong chương trình toán lớp 1 giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ
nên chưa thể đưa ngay “Bài toán có lời văn”. Mặc dù đến tận tuần 22, học sinh mới
được chính thức học cách trình bày bài giải “Bài toán có lời văn” song chúng ta đã
có ý ngầm chuẩn bị từ xa cho việc làm này ngay từ bài “Phép cộng trong phạm vi 3

(Luyện tập) ” ở tuần 7. Bắt đầu từ tuần 7 cho đến các tuần 16 trong hầu hết các tiết
dạy về phép cộng trừ trong phạm vi (không quá) 10 đều có các bài tập thuộc dạng
“ Viết phép tính thích hợp” ở đây học sinh được làm quen với việc:
- Xem tranh vẽ.
- Nêu bài toán bằng lời.
- Nêu câu trả lời.
- Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh).
Ví dụ: Sau khi xem tranh vẽ ở trang 46 (SGK), học sinh tập nêu bằng lời :
“Có 1 quả bóng trắng và 2 quả bóng xanh. Hỏi có tất cả mấy quả bóng?” rồi tập
nêu miệng câu trả lời : “có tất cả 3 quả bóng”, sau đó viết vào dãy năm ô trống để
có phép tính: 1+2 = 3. Từ phép tính 1+ 2 = 3, em hãy nêu các bài toán phù hợp với
phép tính.
VD1: Hà có 1 cái kẹo, Mai có 2 cái kẹo. Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu cái kẹo?
VD2: Có 1 bút chì đỏ và 2 bút chì xanh. Hỏi có tất cả bao nhiêu bút chì?
* Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đề để giải toán có lời văn là
chuẩn bị cho học sinh cả về viết câu lời giải và viết phép tính. Chính vì vậy ngay
sau các bài tập “ Nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống” chúng tôi
đã nghiên cứu đặt thêm cho các em những câu hỏi để các em trả lời miệng.
Ví dụ: Từ bức tranh “3 con chim trên cành, 1 con chim bay tới” ở trang 47–
SGK, sau khi học sinh điền phép tính vào dãy ô trống: 3 + 1 = 4
Giáo viên hỏi tiếp: “Vậy có tất cả mấy con chim?” để học sinh trả lời miệng:
“Có tất cả 4 con chim”; hoặc “Số chim có tất cả là bao nhiêu? (Số chim có tất cả là 4)…
Cứ làm như vậy nhiều lần, học sinh sẽ quen dần với các thành phần của bài toán.
GV có thể định hướng cho học sinh : Nêu bài toán để tìm số chim có tất cả hoặc
nêu bài toán để tìm số chim bay đi hoặc nêu bài toán để tìm số chim còn lại.
VD: Có 4 con chim , có 3 con chim bay đi . Hỏi còn lại bao nhiêu con chim? ;
Do đó các em sẽ dễ dàng nắm được các thành phần của bài toán có lời văn.
.thuận lợi khi viết được các câu lời giải các bài toán có lời văn sau này.
4



Bài toán “Thêm” thành bài toán “gộp”, chẳng hạn: “An có 4 quả bóng, Bình
có 3 quả bóng. Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng?”, dạng này khá phổ biến. Học
sinh lần lượt có thể tự tìm các bài toán tương ứng với phép tính 3+ 4 = 7. hoặc
3+4=7
VD: Có 4 hình vuông , thêm 3 hình vuông . Hỏi có tất cả bao nhiêu hình
vuông? Hoặc có 4 bút chì , thêm 3 bút chì . Hỏi có tất cả mấy bút chì?
Bài toán “Bớt” thành bài toán tìm số hạng, chẳng hạn: “Lớp 1A có 35 bạn,
trong đó có 20 bạn nữ. Hỏi lớp 1A có bao nhiêu bạn nam?”, dạng này ít gặp vì
dạng này hơi khó (CTTH cũ dạy ở lớp 2).
Sau khi học sinh học xong bài toán “Thêm” “Bớt” giáo viên có thể cho học
sinh dựa vào phép tính để nêu bài toán thích hợp .
VD:

1+3=4

4–3=1

3+1=4
4–1=3
Học sinh lần lượt nêu : Có 1 quả bóng , thêm 3 quả bóng . Hỏi có tất cả bao
nhiêu quả bóng ? Hoặc “Có 3 quả bóng , thêm 1 quả bóng. Hỏi có tất cả mấy quả
bóng? ” Hoặc “ Có 4 quả bóng , bớt 3 quả bóng. Hỏi còn lại bao nhiêu quả bóng ?
Hoặc “ Có 4 quả bóng , bớt 1 quả bóng. Hỏi còn lại bao nhiêu quả bóng?
* Từ mô hình vật thật học sinh đặt đề toán phù hợp với tình huống sau đó
chuyển dịch thành ngôn ngữ toán học bằng việc viết phép tính thích hợp:
Đối với học sinh lớp 1, đặc biệt là những tuần đầu năm học, việc hướng dẫn
học sinh đọc để hiểu đề bài và giải được bài toán rất khó khăn, vất vả. Vốn từ ngữ,
vốn kiến thức liên quan đến đời sống thực tế của học sinh lớp 1 còn nhiều hạn chế,
tư duy của học sinh mang nặng yếu tố hình ảnh, cụ thể. Vì vậy, hướng dẫn học

sinh dựa vào mô hình, vật thật, đặt đề toán thích hợp với tình huống, từ đó học sinh
chuyển thành ngôn ngữ toán học bằng các phép tính phù hợp. Qua việc dùng ngôn
ngữ thông thường để nêu đề toán thích hợp, học sinh có biểu tượng ban đầu về bài
toán mở. Với cùng một mô hình, học sinh có thể đưa ra nhiều tình huống khác
nhau và viết được các phép tính phù hợp với mỗi tình huống và tìm cách diễn giải
bằng ngôn ngữ toán học là các phép tính thích hợp.
Ví dụ: Qua các hình ảnh “quả rụng, chim bay, bóng đứt dây, tách số, tách
que tính, tách hình…” để diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường thông qua việc đặt
5


các đề toán, sau đó chuyển dịch thành ngôn ngữ toán học bằng việc viết thành các
phép tính thích hợp là ý nghĩa thực tiễn của phép tính gắn với bài toán có lời văn
sau này.
*Thay tranh bằng vật thật.
Trước mỗi giờ toán chúng tôi thường nghiên cứu kĩ bài toán tìm xem đồ dùng nào
phù hợp với bài như các nhóm đồ vật, các mẫu hình, tranh vẽ.
Mỗi học sinh có 1 hộp hình học toán, theo yêu cầu của giáo viên học sinh được
rèn luyện các thao tác trên tập hợp các nhóm đồ vật, các mẫu hình.
Phần lớn các bài toán đều có chủ đề liên quan tới các đại lượng và mối quan hệ
giữa các đại lượng trong bài toán. Vì thế, việc rèn kĩ năng thao tác qua việc học về
phép đo đại lượng là rất cần thiết cho việc giải toán.
Khi hướng dẫn học sinh làm bài 4(47). Giáo viên cho học sinh lấy các đồ vật
trong bộ đồ dùng thực hành toán thay thế cho hình ảnh tranh vẽ.
VD: Có 3 hình vuông, thêm 1 hình vuông. Hỏi có tất cả bao nhiêu hình vuông?
Hoặc có 3 que tính xanh và 1 que tính vàng. Hỏi có tất cả bao nhiêu que tính?
Hoặc có 3 cái quạt trần và 1 cái quạt treo tường. Hỏi có tất cả có bao nhiêu cái quạt ?
* Sử dụng sơ đồ ven và học sinh dựa vào sơ đồ ven để diễn giải bằng thuật
ngữ toán học mối quan hệ giữa các thành tố và cấu tạo số, lý giải mối quan hệ giữa
các phép toán.

Từ việc học cấu tạo số giáo viên hướng dẫn học sinh lập sơ đồ ven, dựa vào sơ
đồ ven để nêu lại cấu tạo số và mối quan hệ giữa các thành tố, qua đó học sinh
được củng cố về cấu tạo số, bước đầu có khái niệm, biểu tượng các phép tính cộng
trừ. Khi học về các phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10, giáo viên sử dụng sơ đồ
ven để củng cố, làm rõ hơn khái niệm, biểu tượng phép tính cộng, trừ:
Hình ảnh các chấm tròn trong sơ đồ ven là ý nghĩa của phép tính cộng, phép
tính trừ được giáo viên cung cấp cho học sinh theo quan điểm tập hợp, giúp các em
cảm nhận bằng trực giác.

1+3=4
3+1=4
3

4

1
6

1+3=3+1


Từ sơ đồ ven trên, học sinh có thể xây dựng thành phép tính cộng, cũng bằng
sơ đồ ven, giáo viên che bớt các chấm tròn để xây dựng phép tính trừ. Sau đó dùng
sơ đồ ven để học sinh hiểu được mối quan hệ ngược giữa phép cộng và phép trừ.
Từ phép cộng 1 + 3 = 4 suy ra phép trừ tương ứng 4 – 1 = 3 và 4 – 3 = 1 và chỉ ra
rằng phép trừ là phép tính ngược của phép tính cộng.
Giải pháp 2: Hoạt động thực hành và đưa trò chơi học tập vào giải các bài
toán mở.
* Hoạt động trải nghiệm, thực hành:
Chúng tôi tổ chức các hoạt động để học sinh được làm việc với vật thật, mô

hình. Phát huy tính chủ động của học sinh để học sinh được tham gia tiếp xúc với
vật thật, tìm ra cái mới, cách giải quyết bài toán, không gò bó, phụ thuộc vào cái đã
có. Chúng tôi tạo điều kiện cho học sinh quan sát, suy nghĩ, hoạt động thực tế với
vật thật, mô hình qua đó khuyến khích, động viên và tạo điều kiện cho các em tìm
ra các phép tính khác nhau phù hợp với tình huống của bài toán.
Đối với các bài toán mở, chúng tôi luôn gắn với thực tế, biến các con số các
mối quan hệ toán học khô khan phức tạp với thực tế sinh động phù hợp với tư duy
của các em, giúp các em giải quyết vấn đề dễ dàng hơn. Học sinh được trải nghiệm
với các tình huống thực tế như: “Có 3 cái kẹo, thêm 4 cái kẹo thành mấy cái kẹo?”
Từ các tình huống có trong bài học học sinh có thể vận dụng các tình huống có
thực trong đời sống thực tế tự nêu được vấn đề và tự giải quyết vấn đề để tự chiếm
lĩnh kiến thức mới.
* Đưa trò chơi học tập vào dạy học các bài toán mở.
Trò chơi toán học tạo ra không khí vui tươi, hồn nhiên sinh động để học sinh
hứng thú trong học tập môn toán đặc biệt là các bài toán mở. Các trò chơi còn kích
thích trí tưởng tượng, tính tò mò, ham hiểu biết cho trẻ không những thế, trò chơi
học tập giúp các em tự tin hơn, tích cực, tự giác tìm hiểu kiến thức mới, tạo động
lực học tập cho các em. Một số trò chơi có thể áp dụng trong quá trình dạy các bài
toán mở là:
+ Trò chơi tiếp sức.

7


Cách chơi : Mỗi tổ cử từ 3 em trở lên , tuỳ theo đầu bài bài toán nối tiếp nhau
tham gia trò chơi theo yêu cầu của cô giáo hoặc yêu cầu bài toán, nếu tổ nào hoàn
thành nhanh, đúng thì tổ đó sẽ thắng cuộc.
VD: Khi dạy bài phép cộng trong phạm vi 6. Giáo viên củng cố cho học sinh
bằng cách tổ chức trò chơi tiếp sức như sau : Mỗi tổ cử 4 bạn nối tiếp nhau viết 1
phép tính có kết quả bằng 6 ....

+ Trò chơi đoán phép tính thích hợp.
Cách chơi: GV đưa ra một bức tranh, học sinh lần lượt nêu các phép tính phù
hợp với tranh, sau đó giáo viên lật phép tính ở mặt sau để học sinh đối chiếu xem
đúng hay sai và giải thích đã nêu bài toán nào thích hợp.
Luật chơi : Mỗi học sinh nêu 1 phép tính mà em cho là phù hợp với tranh vẽ.
+ Trò chơi : “Nêu bài toán thích hợp”
VD: GV đưa phép tính 3 + 2 = 5
Cách chơi: Hai đội cùng chơi, đổi qua, đổi lại, đội nào nêu được bài toán đúng
phù hợp với phép tính sau cùng là đội chiến thắng.
Luật chơi: Mỗi đội 5 em tham gia trò chơi.
+ Trò chơi nối tranh vẽ với phép tính thích hợp theo nhóm.
Cách chơi: Giáo viên gắn hình ảnh với phép tính trên bảng theo nhóm chơi mỗi
nhóm 1 hoặc 1 nhóm học sinh tuỳ theo yêu câù bài toán, lần lượt từng em lên nối
tranh vẽ với 1 phép tính (Mỗi em chỉ được nối 1 tranh vẽ với 1 phép tính ) nhóm
nào nối xong trước và đúng nhóm đó sẽ chiến thắng.
VD: Khi dạy bài “Phép cộng trong phạm vi 4 tôi củng cố kiến thức cho học
sinh bằng cách chơi trò chơi: Nối tranh vẽ với phép tính thích hợp”. Giáo viên nêu
cách chơi, luật chơi sau đó cử đại diện các nhóm lên chơi, nhóm nào nối đúng, nối
nhanh nhóm đó sẽ thắng cuộc.

Nối tranh vẽ với phÐp tÝnh thÝch hîp:

Nhóm 1
4–1=3

1+3=4

4–3=1
8



3+1=4

Nhóm 2
4–1=3

1+3=4

4–3=1
3+1=4

Ưu điểm: Trò chơi học tập giúp các em khắc sâu kiến thức sau khi học mỗi bài
toán, dạng toán, tạo hứng thú cho các em học toán.
Giải pháp 3: Đổi mới hình thức tổ chức lớp học.
Chúng tôi tổ chức lớp học thật linh hoạt với bàn đôi, ghế đơn, học sinh có
thể dịch chuyển dễ dàng, dễ dàng chuyển đổi từ mô hình lớp học cơ bản, sang hoạt
động nhóm đôi, nhóm 4 và hoạt động cả lớp. Từ hình thức tổ chức lớp học linh
hoạt như trên việc tương tác giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên dễ
dàng và hợp lý hơn. Từ việc tổ chức lớp học theo hướng linh hoạt đã hạn chế kiểu
truyền thụ một chiều từ thầy sang trò, chúng tôi tổ chức, hướng dẫn, khuyến khích
cho các em tự học, tự chiếm lĩnh tri thức, tự đánh giá mình, theo dõi, đánh giá bạn,
quan hệ hợp tác trong học tập, học sinh chủ động tương tác, hỗ trợ nhau trong quá
trình học tập. Chủ động hợp tác nhóm, trao đổi, chia sẻ thông tin và tìm ra hướng
giải quyết các vấn đề liên quan đến bài toán mở, tự đánh giá kết quả hoạt động của
mình và của bạn từ đó học sinh tự tin bộc lộ khả năng của bản thân.
Khi dạy bài toán mở, chúng tôi tổ chức cho các em hoạt động cá nhân làm
việc với mô hình vật thật rồi tự đặt đề toán phù hợp với tình huống của bài toán và
viết phép tính thích hợp với tình huống đó. Trao đổi với bạn bên cạnh để chia sẻ
thông tin tương tác hỗ trợ nhau tìm ra cái mới, hướng giải quyết mới liên quan đến
bài toán. Nếu ở vấn đề có tính phức tạp, chúng tôi tổ chức cho các em trao đổi

nhận xét, bổ sung về hướng giải quyết, phát huy tính sáng tạo trong cách giải quyết
vấn đề của học sinh.
9


Giải pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học các bài toán mở.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là việc áp dụng những thành
tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật vào thực tiễn giảng dạy nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập.
Khi dạy bài toán : Viết phép tính thích hợp. GV sử dụng máy chiếu , các hình
ảnh trực quan vào dạy học để gây hứng thú cho học sinh .

3+1=4

2+2=4

1+3=4
3+1=4
3

4

1+3=3+1

1

Sử dụng công nghệ thông tin không chỉ dừng ở khai thác trình bày kiến thức mới mà
còn thực hiện ở nhiều khâu khi dạy bài toán mở như luyện tập, thực hành, kiểm tra.
Không so sánh “hiện đại với thủ công”, việc ứng dụng công nghệ thông tin
lựa chọn tùy điều kiện từng lớp và khả năng của giáo viên, chúng tôi nghiên cứu sử

dụng đúng mục đích, có hiệu quả thiết thực, tránh hình thức lãng phí và đưa ra 3
nguyên tắc tối thiểu sau:
Đúng nội dung kiến thức.
Học sinh được cùng tham gia, được thực hành nhiều hơn
Tạo môi trường học tập hứng thú, tích cực, phù hợp tâm sinh lý trẻ.
2. Khả năng áp dụng của sáng kiến
10


Sáng kiến "Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học các bài toán mở cho học
sinh lớp 1" đã được áp dụng hiệu quả ở các lớp Một trong trường tiểu học Tân Thành .
- Kết quả nắm bắt kiến thức của học sinh được nâng lên rõ rệt.
- Những giải pháp trên phát huy được tính tích cực, chủ động tìm hiểu kiến thức
của học sinh, các em có hứng thú thi đua học tập.
- Kinh nghiệm trên có thể được áp dụng rộng rãi cho tất cả các đối tượng học
sinh các lớp 1, đặc biệt là các em học sinh chưa bền vững về kiến thức. Qua thực
tế giảng dạy, chúng tôi có thể khẳng định: sáng kiến có thể áp dụng được với các
trường tiểu học và các địa phương khác. Giáo viên có thể sử dụng linh hoạt các
phương pháp dạy học và sử dụng đồ dùng dạy học hợp lý, các cách thức, các hoạt
động khác nhau cho phù hợp với nội dung bài dạy trong mỗi tiết học.
IV. ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Sáng kiến sẽ được được áp dụng hiệu quả khi:
Để học sinh nắm vững và thực hành thành thạo bài toàn mở ở lớp 1.
Giáo viên cần:
+ Xác lập được mối liên hệ giữa các dữ liệu của bài toán.
+ Chọn phép tính thích hợp trả lời đúng yêu cầu của bài toán.
Điều chủ yếu của việc dạy học các bài toán mở là giúp học sinh tự tìm hiểu
được mối quan hệ giữa tranh vẽ với phép tính thích hợp trong điều kiện bài toán
mà thiết lập các phép tính số học tương ứng, phù hợp. Để tiến hành được điều đó,

việc dạy toán diễn ra theo 3 mức độ.
- Mức độ thứ nhất: Hoạt động chuẩn bị cho bài toán.
- Mức độ thứ hai: Hoạt động làm quen với bài toán.
- Mức độ thứ ba: Nêu được phép tính hoặc bài toán thích hợp.
+ Tạo giờ học thoải mái, sinh động, hợp tác tin cậy lẫn nhau giữa thầy và trò
phát huy tốt tính tích cực tư duy của học sinh. Giáo viên nên dùng những thuật ngữ
đơn giản, dễ hiểu trong khi giảng bài.
+ GV phải có tác phong mẫu mực, ứng xử khéo léo, nhiệt tình với công việc.
+ Nắm rõ đặc điểm về tâm lý của học sinh ở từng độ tuổi những kinh
nghiệm trong giảng dạy.
11


+ Bản thân giáo viên luôn luôn tự học tự rèn, liên hệ trao đổi với đồng nghiệp.
V. ĐÁNH GIÁ LỢI ÍCH THU ĐƯỢC DO ÁP DỤNG SÁNG KIẾN.

1. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế mà sáng kiến đem lại chính là việc thường xuyên sử dụng
có hiệu quả các đồ dùng học tập không gây lãng phí về cơ sở vật chất.
Việc sử dụng tranh ảnh có sẵn trên mạng cũng giảm bớt nhiều chi phí.
Trước đây giáo viên phải mất rất nhiều thời gian để tìm tranh ảnh minh họa hoặc
nhà trường phải mua các bộ tranh học từ thì bây giờ giáo viên có thể sử dụng hình
ảnh trên mạng và chiếu lên qua máy chiếu để cả lớp có thể quan sát.
Tuy nhiên, lợi ích kinh tế lớn nhất mà sáng kiến mang lại là chất lượng dạy
học môn Toán được nâng lên rõ rệt. Đây chính là nguồn lợi kinh tế lâu dài mang
lại cho bản thân học sinh, gia đình học sinh và xã hội mà những người làm giáo
dục mong muốn đạt được.
2. Hiệu quả xã hội
Qua quá trình quản lí và giảng dạy chúng tôi thấy trước khi chưa áp dụng
phương pháp mới học sinh thường không nắm được yêu cầu của đề bài. Khi đưa các

phương pháp mới vào thực hiện thì học sinh tự tin hơn, vững kiến thức về giải toán có
lời văn hơn.
Ở những tuần đầu học sinh lớp tôi chưa biết phương pháp học các bài toán mở
nên các em chỉ nêu được bài toán 1 cách thụ động, nhưng sau khi đưa các giải pháp trên
vào dạy học các bài toán mở tôi thây các em hoàn toàn tự tin để thực hành các bài toán
mở và học sinh lớp tôi còn có thói quen đọc kĩ đề bài, tóm tắt, phân tích đề toán, không
những biết cách đặt câu lời giải hay, viết phép tính đúng mà còn biết cách trình bày bài
giải đúng, đẹp có ý thức kiểm tra lời giải, kết quả, có thói quen tìm ra cách giải khác.
Những kết quả mà các em đạt được sau những lần kiểm tra định kì như sau:
Lớp chưa thử nghiệm: 1B - Năm học 2013 -2014
THỜI GIAN

ĐIỂM 9-10

ĐIỂM 7-8

ĐIỂM 5-6

ĐIỂM DƯỚI 5

CUỐI KÌ I

13

15

7

0


CUỐI KÌ II

20

12

3

0

Lớp thử nghiệm : Lớp 1C- Năm học 2014- 2015
12


THỜI GIAN

ĐIỂM 9-10

ĐIỂM 7-8

ĐIỂM 5-6

ĐIỂM DƯỚI 5

CUỐI KÌ I

20

10


5

0

27
7
1
0
Có được kết quả như vậy một phần nhờ tinh thần học tập tích cực, tự giác

CUỐI KÌ II

của học sinh, sự quan tâm nhắc nhở của phụ huynh học sinh, bên cạnh đó là các
biện pháp giáo dục đúng lúc, kịp thời của giáo viên.
Qua kết quả đã đạt được trên, chúng tôi thấy số học sinh đạt điểm 9, điểm 10
tăng. So với năm học trước thì kết quả trên thật là một điều đáng mừng. Điều đó cho
thấy những cố gắng trong đổi mới phương pháp dạy học của chúng tôi đã có kết quả
khả quan. Lớp học sôi nổi, nắm kiến thức vững chắc học sinh tương tác, hỗ trợ nhau
trong quá trình học tập mang lại hiệu quả rõ rệt đó chính là động lực để chúng tôi tiếp
tục theo đuổi ý tưởng của mình.
Với kết quả này, chắc chắn khi các em học lên các lớp trên, các em sẽ vẫn tiếp
tục phát huy hơn nữa với những bài toán có lời văn yêu cầu ở mức độ cao hơn.
Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật.
TP. Ninh Bình, ngày 25 tháng 4 năm 2016
NGƯỜI NỘP ĐƠN
Tác giả

Bùi Thị Sơn
Đồng tác giả


Nguyễn Thị Bích
Thủy

Bùi Thị Hạnh Phúc

13

Nguyễn Thị Bích Liên

Phạm Bích Hà


TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN THÀNH
XÁC NHẬN

PHÒNG GIÁO DỤC THÀNH PHỐ NINH BÌNH
XÁC NHẬN

14



×