Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

Rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh giai đoạn đầu cấp tiểu học (LV00546)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (920.89 KB, 113 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH GIAI ĐOẠN ĐẦU
CẤP TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc tiểu học)
Mã số: 60.14.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. VŨ THỊ SƠN

HÀ NỘI, 2011


2

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong suốt cuộc đời con người có rất nhiều nhu cầu cần được thỏa mãn.
Nhưng nhu cầu đầu tiên chính là nhu cầu về giao tiếp. C.Mác đã từng nói:
“Nhu cầu vĩ đại nhất, phong phú nhất của con người là nhu cầu tiếp xúc với
người khác. Nhu cầu này không ngang hàng với nhu cầu khác, sự phát triển
của nó trong một con người chính là một điều kiện làm cho con người trở
thành con người”. Như vậy, giao tiếp trở thành điều kiện tồn tại và phát triển
của con người, là nhân tố cơ bản và hùng mạnh của việc hình thành và phát


triển nhân cách. Qua giao tiếp, con người biết được các giá trị xã hội của người
khác và của bản thân. Trên cơ sở đó, cá nhân tự điều chỉnh, điều khiển bản
thân theo các chuẩn mực xã hội. Vì thế mà nhân cách con người ngày càng
hoàn thiện hơn. Mặt khác, giao tiếp còn có vai trò quan trọng đối với xã hội.
Không có giao tiếp thì sẽ không có tồn tại xã hội vì xã hội luôn là cộng đồng
người có sự ràng buộc, liên kết với nhau. C.Mác chỉ ra rằng: “Bản chất con
người không phải là cái trừu tượng vốn có của cá nhân riêng biệt. Trong tính
hiện thực của nó, bản chất con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội”.
Chính sự tham gia của con người vào các mối quan hệ xã hội đã tạo nên sự
phong phú thực sự về tinh thần của mỗi con người.
Đối với trẻ em nói chung và học sinh tiểu học nói riêng, giao tiếp còn có
ý nghĩa lớn lao trong việc lĩnh hội tri thức khoa học. Giao tiếp tốt tạo điều
kiện cho học sinh tiếp thu tốt kiến thức các môn học khác. Thực tế đã chứng
minh giao tiếp trong môi trường nhà trường, môi trường giáo dục giữa thầy và
trò, giữa nhà giáo dục và người được giáo dục, giữa người được giáo dục với
nhau, giúp cho các cá nhân có thể lĩnh hội các tri thức cần thiết bằng con đường
nhanh nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất và đỡ tốn kém nhất, tạo điều
kiện tối ưu cho sự hình thành và sự phát triển nhân cách. Do vậy, rèn luyện kĩ


3

năng giao tiếp được đặt ra như là một yêu cầu tất yếu đối với học sinh tiểu
học.
Đối với học sinh giai đoạn đầu tiểu học, giao tiếp còn có ý nghĩa đặc biệt
hơn. Đây là lứa tuổi lần đầu tiên đến trường – trở thành học sinh và có hoạt
động học tập là hoạt động chủ đạo. Các em bắt đầu thực hiện bước chuyển từ
hoạt động vui chơi là chủ đạo, sang hoạt động học tập là chủ đạo. Cùng với
việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn học, trẻ em học cách
học, học kĩ năng sống trong môi trường trường học và môi trường xã hội. Trẻ

bắt đầu phải vận hành cùng một lúc nhiều mối quan hệ khác nhau, với các
tính chất khác nhau: quan hệ với thầy, cô giáo; quan hệ bạn bè cùng trang lứa;
quan hệ với anh chị em cùng trường… Nếu trước đây, quan hệ của trẻ đối với
người khác chủ yếu mang tính chất giao tiếp xúc cảm, thì giờ đây, trong các
mối quan hệ điển hình trên, giao tiếp công việc chiếm ưu thế. Như vậy, nhập
vào các mối quan hệ này, trẻ vừa phải đương đầu với những đòi hỏi mới của
cuộc sống, lại vừa có được các cơ hội để xã hội hóa các mối quan hệ của mình
và chiếm lĩnh các phương thức ứng xử phù hợp.
Nhận thức được tầm quan trọng của kĩ năng giao tiếp, từ lâu dạy học
trong nhà trường đã hướng tới mục đích giao tiếp và sử dụng phương pháp
giao tiếp. Nó là cơ sở của một trong bốn trụ cột giáo dục quan trọng đó là
“Học để cùng sống với nhau, học để sống với những người khác”. Từ những
đổi mới này đòi hỏi mọi thành viên phải hiểu biết lẫn nhau, phải trao đổi với
nhau một cách hòa bình. Tuy nhiên, hiện nay việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp
cho các em chưa thực sự được chú ý. Vấn đề giáo dục kĩ năng sống nói chung
và kĩ năng giao tiếp nói riêng vẫn chưa được chú trọng đúng mức trong chính
sách giáo dục ở Việt Nam. Dạy học vẫn chủ yếu đề cao việc truyền tải kiến
thức, chưa hướng vào làm nảy sinh những nhu cầu, những mong muốn rèn
luyện, chiếm lĩnh và phát triển kĩ năng giao tiếp thông qua môn học và các


4

hoạt động ngoài giờ lên lớp. Chương trình đã chú ý nhưng chưa nhiều đến
thực hành giao tiếp. Sự rèn luyện kĩ năng giao tiếp của học sinh còn thiếu
đồng bộ, toàn diện… Vì vậy, nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học
sinh tiểu học ngày càng cấp thiết và đòi hỏi sự đầu tư nhiều hơn vì những lợi
ích mà nó mang lại cho các em.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài : “Rèn luyện kĩ năng
giao tiếp cho học sinh giai đoạn đầu cấp Tiểu học” một mặt chuẩn bị cơ sở

lí luận các biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp, mặt khác góp phần hoàn
thành mục tiêu giáo dục tất cả vì sự phát triển toàn diện của trẻ em lứa tuổi
tiểu học.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp nhằm nâng cao
chất lượng học tập và phát triển nhân cách cho học sinh tiểu học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận của việc xây dựng các biện pháp rèn luyện kĩ
năng giao tiếp cho học sinh giai đoạn đầu cấp tiểu học.
- Tìm hiểu thực tiễn giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh trong trường
tiểu học hiện nay.
- Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu
học nhằm nâng cao năng lực nhận thức, hình thành và phát triển nhân cách
cho các em.
- Tiến hành khảo nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và giá trị thực
tiễn của đề tài.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho
học sinh giai đoạn đầu cấp Tiểu học.
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh giai đoạn đầu cấp Tiểu học.


5

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các biện pháp rèn
luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh giai đoạn đầu cấp Tiểu học (lớp 1, 2, 3).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích… các vấn đề lí luận có
liên quan đến phát triển năng lực giao tiếp của trẻ em.
- Phương pháp quan sát: Thu thập thông tin phản ánh việc rèn luyện kĩ

năng giao tiếp trong nhà trường tiểu học hiện nay.
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Sử dụng các phiếu hỏi để khảo sát,
thăm dò ý kiến của giáo viên, học sinh.
- Phương pháp thống kê: Xử lí các số liệu đã được điều tra và làm căn cứ
khẳng định độ tin cậy kết quả nghiên cứu.
6. Cấu trúc luận văn
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh
giai đoạn đầu cấp Tiểu học
Chương 2: Thực trạng rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh giai đoạn đầu
cấp Tiểu học
Chương 3: Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh giai
đoạn đầu cấp Tiểu học
Kết luận và khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
7. Giả thuyết khoa học
Kĩ năng giao tiếp của học sinh giai đoạn đầu cấp tiểu học sẽ được phát
triển tốt nếu được rèn luyện một cách đồng bộ (cả về kiến thức, thái độ, kĩ
năng) và toàn diện (thông qua các môn học, hoạt động tập thể và các tình
huống có thật trong cuộc sống).


6

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
GIAO TIẾP CHO HỌC SINH GIAI ĐOẠN ĐẦU CẤP TIỂU HỌC
1.1. Giao tiếp
1.1.1. Khái niệm

Giao tiếp là một hoạt động rất phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của
nhiều khoa học. Ở mỗi góc độ khác nhau, người ta đã đưa ra các định nghĩa
khác nhau về giao tiếp.
Theo Từ điển Tiếng Việt [38], “giao tiếp” là “trao đổi, tiếp xúc với
nhau”. Theo đó, khái niệm giao tiếp gắn liền với sự trao đổi và tiếp xúc. Mà
“trao đổi” được hiểu là bàn bạc ý kiến với nhau để đi đến thống nhất, “tiếp
xúc” trong giao tiếp chính là gặp gỡ để tạo mối quan hệ. Hiểu theo nghĩa đó,
giao tiếp dường như có mối liên quan đến các hoạt động trong mối quan hệ
của con người.
Trong tâm lí học cũng có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp. Đại
diện cho quan niệm thứ nhất, A.A. Leonchive coi giao tiếp là một dạng đặc
thù của hoạt động, có cấu trúc tâm lý chung như hoạt động. Vì thế, theo
A.N.Leonchive [26, tr.11] giao tiếp được định nghĩa như sau “Giao tiếp là
một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ đảm bảo sự tương tác
giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan
hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù,
mà trước hết là ngôn ngữ”. Như vậy, định nghĩa này trước hết, chỉ ra giao
tiếp là một hệ thống những quá trình. Ở đó diễn ra sự thay đổi không ngừng.
Thứ hai, ông nhấn mạnh thêm giao tiếp giữa con người với con người là quá
trình tác động có ý thức, mục đích, động cơ rõ rệt. Hoạt động giao tiếp diễn ra
trong mối quan hệ người – người nhằm hiểu biết lẫn nhau và làm thay đổi mối
quan hệ với nhau bằng cách tác động đến tri thức, tình cảm và toàn bộ nhân


7

cách. Đó chính là sự tương tác trực tiếp người – người trong giao tiếp. Thứ
ba, tác giả chỉ ra công cụ giao tiếp hiệu quả và quan trọng nhất là ngôn ngữ.
Đại diện cho quan niệm thứ hai là B.Ph.Lomop, tác giả này cho rằng
giao tiếp là một phạm trù độc lập với phạm trù hoạt động. Giao tiếp và hoạt

động là hai phạm trù đồng đẳng nhau, chúng “khác nhau về chất”, nhưng
không đối lập nhau mà “gắn bó mật thiết với nhau”, “chúng chuyển tiếp và
chuyển hóa lẫn nhau từ mặt này sang mặt kia”1, “giao tiếp là hình thức độc
lập và đặc thù của tính tích cực của chủ thể”4. Trong hoạt động, điều cơ bản là
chủ thể tập trung vào đối tượng, tích cực tiến hành các hành động, thao tác
với công cụ tương ứng để cải biến, chiếm lĩnh đối tượng, đáp ứng mục đích,
động cơ của chủ thể. Theo đó, giao tiếp xảy ra chỉ là phương tiện hỗ trợ cho
quá trình hoạt động. Như vậy, trong cuộc sống, giao tiếp và hoạt động có mối
quan hệ khăng khít với nhau. Mối quan hệ này có thể diễn ra theo hai cách
sau đây: cách thứ nhất, giao tiếp diễn ra như là một điều kiện để tiến hành các
hoạt động khác; cách thứ hai, hoạt động là điều kiện để thực hiện mối quan hệ
giao tiếp giữa con người. Vì thế, hoạt động và giao tiếp là hai mặt không thể
thiếu của cuộc sống, của hoạt động cùng nhau giữa những con người với con
người trong thực tiễn.
Trong giáo dục học, Giáo sư Phạm Minh Hạc [26, tr.10] cho rằng “Giao
tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người – người, hiện thực
hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”. Ở đây, tác giả
trước hết nhấn mạnh các quan hệ giữa người với người được tạo lập, mở rộng
và phát triển thông qua hoạt động giao tiếp. Đồng thời nhấn mạnh đến tính
chủ thể trong giao tiếp. Tính chủ thể ở đây được dùng ở cả 2 khía cạnh: i) tính
1

B.Ph.Lomop (2000), Những vấn đề lí luận và phương pháp luận tâm lí học, Nxb ĐHQG HN, tr
382
4

B.Ph.Lomop (2000), Sđd, tr 383


8


chủ động, độc lập, của người tham gia giao tiếp; ii) tính độc đáo, khác biệt
của chủ thể này so với chủ thể khác trong quá trình giao tiếp. Mặt khác, theo
một số nhà tâm lý học, giao tiếp là hoạt động phản ánh mối quan hệ chủ thể chủ thể còn hoạt động có đối tượng phản ánh mối quan hệ chủ thể - khách thể.
Do đó tính chủ thể có thể coi là điểm khác biệt cơ bản giữa hoạt động giao
tiếp với các hoạt động có đối tượng khác.
Như vậy, chúng ta thấy mỗi định nghĩa dường như xem xét và nhấn
mạnh giao tiếp ở một khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, theo chúng tôi giao
tiếp là một dạng đặc biệt của hoạt động, nó diễn ra như một quá trình có mở
đầu, có kết thúc và biến đổi theo thời gian. Mặt khác, giao tiếp đặc trưng cho
quan hệ người – người. Đã là người thì ai cũng cần giao tiếp và chỉ ở người
mới diễn ra hoạt động giao tiếp. Khi giao tiếp, mỗi đối tượng tham gia giao
tiếp là một chủ thể. Chủ thể này bằng hoạt động giao tiếp nhận thức, tác động
đến chủ thể kia và ngược lại.
Xuất phát từ những nhận định trên, người nghiên cứu mạnh dạn đưa ra
định nghĩa như sau: Giao tiếp là quá trình xã hội, trong đó các chủ thể trao
đổi thông tin, cảm xúc, nhân thức, đánh giá và điều chỉnh hành vi lẫn nhau,
đồng thời tự điều chỉnh hành vi của mình. Phương tiện giao tiếp đặc thù là
ngôn ngữ.
Định nghĩa trên về giao tiếp chỉ rõ thứ nhất, giao tiếp là một quá trình xã
hội, tức là một quá trình chỉ có ở con người và chỉ xảy ra với con người. Thứ
hai giao tiếp dù mang mục đích gì thì nó luôn thực hiện chức năng trao đổi
thông tin, chức năng cảm xúc, chức năng nhận thức lẫn nhau và đánh giá lẫn
nhau, chức năng điều chỉnh hành vi. Sau đó, phải thấy được rằng giao tiếp
được thực hiện bằng nhiều kênh truyền thông khác nhau, nhưng ngôn ngữ là
phương tiện đặc trưng và quan trọng.


9


1.1.2. Các phương tiện giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình tương tác xã hội bao gồm các biểu hiện rất đa
dạng và phong phú, có thể thực hiện qua ngôn ngữ nói và viết, qua nét mặt,
cử chỉ, tư thế, giọng nói, trang phục, cách sử dụng không quan giao tiếp….
Các phương tiện giao tiếp được nhiều ngành khoa học và nhiều tác giả quan
tâm. Song hầu hết các nhà nghiên cứu như Hoàng Anh, Nguyễn Thanh Bình,
Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa… thống nhất giao tiếp được thực hiện
bằng ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ.
Phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ:
Định nghĩa đã nêu rõ ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp đặc thù của con
người. Tính đặc thù này không chỉ đơn thuần chỉ ra ngôn ngữ là phương tiện
giao tiếp mà là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và là phương tiện đặc
trưng của con người.
Nói như V.Lenin “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất
của con người”. Bằng ngôn ngữ con người có thể truyền đi bất kì một loại
thông tin nào giữa các thế hệ với nhau và trong cùng một thế hệ để tạo thành
một cộng đồng, một xã hội. Ngoài ra, chính nhờ có ngôn ngữ mà con người
có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động, diễn đạt chính xác, rõ
ràng các tư tưởng tình cảm. Thêm vào đó các tác giả như Mai Ngọc Chừ, Vũ
Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt) còn cho
rằng trong xã hội loài người, phần lớn nhất và trọng yếu nhất của thông tin
được tàng trữ và lưu hành nhờ ngôn ngữ. Trên góc độ lịch sử và toàn diện mà
xét, không một phương tiện giao tiếp nào có thể sánh được với ngôn ngữ. Cho
dù ngôn ngữ có bị những hạn chế về không gian và thời gian, cho dù ngoài
ngôn ngữ con người còn dùng những phương tiện giao tiếp khác nữa nhưng ở
vị trí trên hết và trước hết, vẫn phải là ngôn ngữ. Bất kể cuộc giao tiếp nào mà
muốn tiến hành được cũng phải dựa vào một ngôn ngữ cụ thể, cũng sử dụng


10


một tiếng nói cụ thể. Ngược lại, thông qua giao tiếp của con người ngôn ngữ
mới được hình thành, rèn luyện và phát triển. Theo tác giả Nguyễn Trí [35,
tr.151) chính trong giao tiếp ngôn ngữ mới thực hiện được chức năng quan
trọng của nó: chức năng giao tiếp. Nói cách khác, ngôn ngữ trở thành ngôn
ngữ sống nhờ vào giao tiếp. Một ngôn ngữ nếu không được ai sử dụng để giao
tiếp, nó trở thành ngôn ngữ chết.
Trong tâm lí học người ta khẳng định rằng nếu nội dung của lời nói tác
động vào ý thức thì ngữ điệu của nó lại tác động mạnh mẽ đến tình cảm con
người. Vì vậy, giao tiếp bằng ngôn ngữ cần chú ý đến nội dung ngôn ngữ và
tính chất của ngôn ngữ hay gọi là ngữ điệu (bao gồm nhịp điệu, âm điệu,
cường độ, trọng âm…). Các yếu tố này có ý nghĩa biểu nghĩa rất rõ, người ta
có thể hiểu một thông tin quan trọng qua giọng nói, cách lên/xuống giọng…
Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ
Thực tế cho thấy ngôn ngữ bằng lời là phương tiện giao tiếp trọng yếu
nhất của con người nhưng không phải duy nhất. Trong nhiều hoàn cảnh giao
tiếp, người ta có thể dùng các phương tiện như cử chỉ, vẻ mặt, ánh mắt, tư thế
cơ thể (lắc đầu, nhún vai..), sự thay đổi khoảng cách không gian, sự tiếp xúc
của cơ thể để phụ trợ cho lời. Người ta gọi đó là các phương tiện giao tiếp phi
ngôn ngữ.
Tác giả Hoàng Anh [2, tr.196] cho rằng giao tiếp phi ngôn ngữ thường
xuyên xảy ra và có vai trò, ý nghĩa không kém phần quan trọng so với phương
tiện ngôn ngữ. Mặc dù các yếu tố phi ngôn ngữ được sử dụng đồng thời để bổ
trợ cùng với phương tiện ngôn ngữ nhưng nhờ có năng lực biểu cảm của các
yếu tố không lời mà quá trình giao tiếp trở nên nhạy cảm, tinh tế và sâu sắc
hơn.
Về mức độ phổ biến của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ, nhà tâm lí
học người Anh, Michael Archil đã quan sát và nhận thấy rằng trong một giờ



11

trò chuyện, một người Phần Lan chỉ sử dụng điệu bộ có một lần, trong khi đó
người Italia dùng đến 80 lần, người Pháp 120 lần và người Mexico 180 lần.
Về vai trò của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ, Birdwhistell đã quan sát
và nhận thấy rằng trong một cuộc trò chuyện trực diện thì yếu tố lời nói chiếm
chưa đến 35% còn trên 65% là giao tiếp không lời. Từ những số liệu đó chúng
ta thấy được mức độ sử dụng, sự ảnh hưởng và hiệu quả của các phương tiện
phi ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp là không nhỏ. Hơn nữa, nếu như ngôn
ngữ gắn liền với ý thức và được sử dụng một cách có chủ định của ý thức thì
các yếu tố phi ngôn ngữ ít hoặc không gắn liền với ý thức, nó có thể được
biểu lộ một cách tự động, máy móc trong quá trình giao tiếp. Vì vậy, giao tiếp
phi ngôn ngữ thường được cho rằng là thật hơn và có giá trị giao tiếp cao.
Nghiên cứu về phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ các tác giả phân chia theo
hệ thống: giao tiếp qua nét mặt; điệu bộ, cử chỉ; khoảng cách và không gian
giao tiếp.
- Giao tiếp qua nét mặt: Nhiều người cho rằng giao tiếp có thể được thực
hiện thông qua nét mặt. Sự phối hợp vận động của các cơ, các giác quan, các
bộ phận trên mặt tạo thành nhiều bộ mặt mang trạng thái cảm xúc khác nhau.
Theo bộ ảnh chuẩn của E.I.Zard thì nét mặt của con người biểu lộ 6 cảm xúc:
vui mừng, buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi, ghê tởm. Trong nét mặt có hai
thành phần nổi bật là ánh mắt và nụ cười. Kết quả nghiên cứu của các nhà
khoa học thừa nhận rằng trong số các giác quan của con người, đôi mắt có thể
chuyền tải lượng thông tin nhiều nhất (trên 80%) và bộc lộ rõ nhất cảm xúc
của con người. Những khái niệm như thông hiểu, ngầm bảo, cảm thông đều
thể hiện qua sự truyền cảm của đôi mắt. Mặt khác, nụ cười trong giao tiếp
cũng thể hiện tình cảm, thái độ của con người. Nụ cười khiến cho giao tiếp trở
nên tinh tế và ý nhị hơn.



12

- Giao tiếp qua điệu bộ, cử chỉ: Điệu bộ, cử chỉ xuất hiện ở các bộ phận
của cơ thể, đó là sự phối hợp vận động của các cơ ở đầu, cổ, mặt, tay chân,
thân mình… Trong đó, cử chỉ điệu bộ tay chân được sử dụng nhiều trong thứ
ngôn ngữ này. Mỗi cử chỉ là một trạng thái xúc cảm, một tín hiệu giao tiếp.
- Không gian và khoảng cách giao tiếp: Là một phương tiện để bộc lộ
mối quan hệ tình cảm giữa các bên với nhau. Về lĩnh vực này Edwand Hall có
những đóng góp đáng kể. Theo ông giao tiếp xảy ra trong 4 khoảng cách
không gian sau: Khoảng cách thân tình: từ 0 - 0.5m là khoảng cách giữa
những người có quan hệ gần gũi, ruột thịt như vợ chồng, cha con…; khoảng
cách riêng tư: 0.5 - 1.5m là khoảng cách thân thiết giữa các cá nhân như bạn
bè, chiến hữu; khoảng cách xã giao: 1.5 - 3.5m; vùng công cộng từ 3.5 - 7.5m.
Như vậy qua tìm hiểu chúng ta thấy rằng giao tiếp phi ngôn ngữ có ảnh
hưởng nhất định đến giao tiếp, đem lại cho người giao tiếp nhiều thông tin
quan trọng (như giới tính, tuổi tác, thành phần xã hội…). Mặt khác, giao tiếp
bằng ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ luôn diễn ra song song với nhau và
đem lại hiệu quả khác nhau. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, ngôn ngữ
chỉ góp phần nhỏ nhất 7% trong việc tác động đến người nghe, giọng điệu
chiếm tới 38% và yếu tố phi ngôn ngữ sở hữu đến 55%. Do đó, cần thiết phải
có sự phối hợp giữa giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để giao tiếp đạt hiệu
quả cao nhất. Nói như nhà ngôn ngữ học Arbecrombie “Chúng ta nói bằng
các cơ quan cấu âm nhưng chúng ta giao tiếp với cả cơ thể của chúng ta…
Những sự kiện kèm ngôn ngữ xuất hiện song song với ngôn ngữ nói, hòa lẫn
vào ngôn ngữ nói và cùng ngôn ngữ nói hình thành nên một hệ thống giao
tiếp trọn vẹn”.


13


1.1.3. Các nguyên tắc giao tiếp
Trong giao tiếp, con người muốn đạt kết quả thì ngoài việc hiểu mục
đích, nội dung, phương pháp, cấu trúc, phương tiện…giao tiếp, mỗi cá nhân
rất cần nắm được các nguyên tắc giao tiếp cơ bản.
Tác giả Vũ Dũng cho rằng: “Nguyên tắc giao tiếp là những yêu cầu mang tính
chỉ đạo, định hướng cho hành vi, ứng xử, thái độ trong quá trình trao đổi, tiếp
xúc của các chủ thể giao tiếp nhằm đảm bảo hiệu quả của quá trình giao tiếp
đó” [1, tr.71].
Khi bàn về vấn đề này, các tác giả Hoàng Anh, Nguyễn Thanh Bình,
Nguyễn Văn Lũy, Trần Thị Tuyết Hoa [24, tr.11] cho rằng: “ Nguyên tắc giao
tiếp là hệ thống những quan điểm chỉ đạo, định hướng thái độ và hành vi ứng
xử, đồng thời chỉ đạo việc lựa chọn các phương pháp, phương tiện giao tiếp
của cá nhân”.
Như vậy, về cơ bản, các tác giả đều thống nhất nguyên tắc giao tiếp
thuộc về tầng tư tưởng, phương pháp luận mang tính chỉ đạo cho lĩnh vực
giao tiếp. Cụ thể, chúng chỉ đạo, định hướng tới thái độ, hành vi ứng xử cá
nhân; quy định việc lựa chọn các phương pháp và phương tiện giao tiếp.
Đồng thời các tác giả cũng cho rằng sự tiếp thu các nguyên tắc giao tiếp diễn
ra một cách tự phát thông qua sự nhận thức lí luận, sự trải nghiệm và rèn
luyện của bản thân mỗi người. Tuy nhiên, giao tiếp có được phải có sự tồn tại
và cùng tham gia của tất cả các chủ thể giao tiếp, cùng chịu trách nhiệm thực
hiện mục đích giao tiếp. Do đó nguyên tắc giao tiếp mang tính chất tương đối
ổn định và bền vững trong xã hội. Theo các tác giả này, để giao tiếp đạt hiệu
quả, con người cần nắm được những nguyên tắc sau:
Tôn trọng nhân cách của đối tượng giao tiếp
Trong quan hệ xã hội ai cũng có nhu cầu được người khác tôn trọng. Vì
vậy trong giao tiếp cần phải tôn trọng phẩm giá, tâm tư, nguyện vọng và tính


14


cách của nhau. Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp là phải coi đối tượng
giao tiếp là con người có đầy đủ quyền học tập, lao động… được bình đẳng
với mọi người trong quan hệ xã hội. Đối lập với tôn trọng nhân cách đối
tượng giao tiếp là thái độ coi thường, miệt thị, kiêu căng, tự phụ trong giao
tiếp.
Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp được biểu hiện:
- Có thái độ trân trọng, niềm nở khi tiếp xúc
Thái độ trân trọng khi tiếp xúc luôn tạo ra những xúc cảm tích cực ở đối
tượng giao tiếp : tin tưởng, vui vẻ, tự tin… và nhờ đó quá trình giao tiếp diễn
ra được thuận lợi hơn.
- Biết lắng nghe ý kiến của đối tượng giao tiếp
Bản chất của giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin, tâm tư, nguyện vọng.
Cùng với sự tự khẳng định, tự thể hiện thì trao đổi thông tin cũng là nhu cầu
của người khác khi tham gia giao tiếp. Vì vậy việc chú ý lắng nghe ý kiến của
đối tượng giao tiếp thể hiện sự quan tâm, trân trọng nhu cầu của họ, thỏa mãn
những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đối tượng giao tiếp. Việc thỏa
mãn nhu cầu bao giờ cũng làm nảy sinh các cảm giác vui vẻ, có tác dụng tích
cực và nâng cao hiệu quả quá trình giao tiếp.
Hành vi cụ thể của người biết lắng nghe trong giao tiếp hết sức phong
phú: không lơ đãng, không quay mặt đi, không nhìn đồng hồ, biết tán thưởng
và có lời nói ôn tồn…
- Có thái độ ân cần, thể hiện các phản ứng biểu cảm một cách chân
thành, trung thực
Những giả dối trong ngôn ngữ thường mâu thuẫn với những biểu hiện
của nét mặt, cử chỉ. Đó là lẽ tự nhiên vì tâm lí thống nhất với hoạt động. Do
đó, sự chân thành trung thực, ân cần vừa thể hiện thái độ tôn trọng đối tượng
giao tiếp, vừa là cơ sở duy trì quan hệ bền đẹp.



15

- Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp còn thể hiện qua hành vi giao
tiếp có văn hóa
Giao tiếp bất luận trong trường hợp nào cũng không được dùng ngôn
ngữ có tính miệt thị, xỉ vả, xúc phạm nhân cách của nhau, nhất là ở những chỗ
đông người, nơi công cộng. Ngoài ra, các cử chỉ, động tác… trong giao tiếp
cần phải phù hợp với phong tục, truyền thống văn hóa địa phương, dân tộc
của đối tượng giao tiếp.
- Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp còn được thể hiện ở trang
phục, đầu tóc gọn gàng, sạch sẽ, đúng kiểu cách.
Trong các điều kiện giao tiếp khác nhau, người ta có thể có trang phục,
kiểu cách khác nhau. Song ăn mặc lôi thôi, luộm thuộm, bẩn thỉu, nhàu
nát…đều là biểu hiện thiếu tôn trọng đối tượng giao tiếp và cũng chính là
thiếu tôn trọng nhân cách bản thân.
Tôn trọng nhân cách đối tượng giao tiếp là nguyên tắc cơ bản đòi hỏi
mỗi người phải tuân thủ trong quá trình giao tiếp mới có thể gặt hái thành
công trong quan hệ xã hội.
Có thiện ý trong giao tiếp
Thiện ý trong giao tiếp là luôn mong muốn đem lại điều tốt đẹp cho
người mà mình giao tiếp. Thiện ý được hiểu như cái “tâm”, “tính thiện”,
“lòng nhân hậu”… của con người.
- Thiện ý thể hiện trước hết ở sự tin tưởng đối tượng giao tiếp. Trong
giao tiếp chúng ta nên hi vọng và tin tưởng vào những mặt tốt, ưu điểm của
đối tượng giao tiếp. Điều này có tác dụng khích lệ họ cố gắng để xứng đáng
với lòng tin mà ta gửi gắm họ, nhờ vậy họ sẽ cố gắng vươn tới sự hoàn thiện
hơn, tốt đẹp hơn.
- Một biểu hiện khác của thiện ý trong giao tiếp là chân thành và công
bằng trong nhận xét đánh giá về nội dung vấn đề mà đối tượng giao tiếp đang



16

trình bày, về nhân cách đối tượng giao tiếp. Điều đó giúp đối tượng giao tiếp
thêm tin tưởng vào người mình đang giao tiếp và tự nhận thức bản thân đầy
đủ và chính xác hơn.
+ Thiện ý trong giao tiếp còn biểu hiện ở thái độ không thành kiến với
đối tượng giao tiếp và dành tình cảm tốt đẹp cho họ. Đây là thái độ quan hệ
thiện ý. Khi dứt bỏ những thành kiến, chúng ta sẽ có những thái độ, hành vi
độ lượng và khách quan hơn trong giao tiếp, chúng ta dễ dàng dành tình cảm
tốt đẹp cho đối tượng giao tiếp, làm cho quan hệ hai bên thêm thuận lợi.
Đồng cảm trong giao tiếp
Đồng cảm trong giao tiếp là cùng có chung cảm xúc, cảm nghĩ giữa các
nhân vật trong quá trình giao tiếp. Để có sự đồng cảm, mỗi người phải biết
đặt mình vào vị trí của người khác, vào hoàn cảnh, lứa tuổi của người khác để
suy nghĩ và cảm thông với niềm vui, nỗi buồn của họ.
Đồng cảm bao giờ cũng xuất phát từ sự hiểu biết lẫn nhau. Đồng cảm tạo
ra sự gần gũi, thân mật, tạo ra cảm giác an toàn và hứng thú khi giao tiếp với
nhau. Đồng cảm là cơ sở của sự chia sẻ, của hành vi nhân hậu và sự khoan
dung. Nhờ có sự đồng cảm mà chủ thể giao tiếp mới có hành vi ứng xử phù
hợp với nhu cầu, nguyện vọng, mong muốn của đối tượng giao tiếp.
1.1.4. Các nhân tố tham gia giao tiếp
Một quá trình giao tiếp trọn vẹn luôn dựa trên những nhân tố giao tiếp.
Các nhân tố này vừa tham gia, vừa ảnh hưởng đến các phương diện của giao
tiếp: từ việc lựa chọn nội dung đến cách thức thể hiện, và cả những nghi thức
trong giao tiếp. Đó là các nhân tố giao tiếp sau:
- Nhân vật giao tiếp: Nhân vật giao tiếp là những người tham gia giao
tiếp. Có hai yếu tố của nhân vật giao tiếp ảnh hưởng đến giao tiếp là vai giao
tiếp và quan hệ liên cá nhân. Nói đến vai giao tiếp là nói đến vị trí của nhân
vật trong giao tiếp. Đó là: người nói và người nghe. Thông thường người nói



17

sẽ đưa ra lời trao còn người nghe sẽ đưa ra lời đáp. Sau đó người nói trở thành
người nghe. Nghe xong họ đưa ra lời trao. Giao tiếp cứ thế tiếp diễn. Như vậy
luôn có sự đổi vai trong một cuộc giao tiếp.
Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật tham gia giao tiếp biểu hiện ở
các phạm vi: vị thế xã hội, vị thế giao tiếp và quan hệ thân cận.
+ Vị thế xã hội của những người tham gia giao tiếp phụ thuộc vào chức
quyền, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội, địa vị trong gia đình… của họ. Các
yếu tố này thường tác động trực tiếp đến cuộc giao tiếp. Tuy nhiên, ở mỗi
cuộc giao tiếp, các yếu tố này tác động đậm nhạt, mạnh yếu khác nhau. Điều
đáng chú ý là các yếu tố thể hiện vị thế xã hội của người tham gia thường cố
định, ít thay đổi trong suốt cuộc giao tiếp.2
+ Quan hệ thân cận là quan hệ thiên về tình cảm giữa những người tham
gia giao tiếp. Quan hệ thân cận biểu hiện trên các mức độ: thân hay sơ, nồng
nàn thắm thiết hay lạnh nhạt, quý mến hay xa lạ… Mối quan hệ này có thể
biến đổi trong và sau cuộc giao tiếp.
+ Những người tham gia giao tiếp còn bị chi phối bởi vị thế giao tiếp.
Trong một cuộc giao tiếp bao giờ cũng có ở vị thế mạnh, người ở vị thế yếu.
Người ở vị thế giao tiếp mạnh sẽ chi phối một cách tự giác hoặc ngẫu nhiên,
có chủ đích hoặc không có chủ đích cuộc giao tiếp. Ngược lại, người ở vị thế
giao tiếp yếu sẽ bị chi phối, bị lôi theo các nội dung do người ở vị thế giao
tiếp mạnh nêu ra.
- Hiện thực được nói tới: Đây là nhân tố nội dung giao tiếp. Bao gồm
toàn bộ thế giới tự nhiên và xã hội và các biểu hiện tâm lí của con người. Nó
tạo thành đề tài và nội dung của hoạt động giao tiếp, trả lời cho câu hỏi: Nói
cái gì? Về cái gì?
2


Dẫn theo Nguyễn Trí (2009), Một số vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở tiểu
học, Nxb Giáo dục, tr 154.


18

- Hoàn cảnh giao tiếp: Hoạt động giao tiếp cũng như các hoạt động khác
của con người luôn luôn diễn ra trong những hoàn cảnh nhất định. Hoàn cảnh
giao tiếp bao gồm các đặc điểm về lịch sử, địa lí, văn hóa, nghệ thuật, khoa
học, kĩ thuật, kinh tế, giáo dục…rộng lớn có sự tác động thường xuyên, tuy
khó thấy đối với hoạt động giao tiếp. Đó còn là hoàn cảnh không gian, thời
gian mà hoạt động giao tiếp diễn ra. Các nhân tố trong hoàn cảnh giao tiếp
luôn ảnh hưởng đến cuộc giao tiếp.
- Mục đích giao tiếp: Hoạt động giao tiếp luôn nhằm vào một mục đích
nào đó, có thể là nhằm mục đích chính hoặc mục đích phụ. Khi đạt được mục
đích thì hoạt động giao tiếp cũng đạt được hiệu quả. Nhân tố mục đích luôn
chi phối đến hoạt động giao tiếp.
- Phương tiện và cách thức giao tiếp: Như đã trình bày, phương tiện giao
tiếp được sử dụng là ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ. Tùy từng phạm vi,
từng lĩnh vực hoạt động của con người mà lựa chọn những yếu tố thích hợp.
Hơn nữa, giao tiếp còn có thể được thực hiện theo những cách thức khác
nhau: nói miệng hoặc dùng văn bản viết… Tất cả điều đó ảnh hưởng đến hoạt
động giao tiếp.
1.2. Kĩ năng giao tiếp
1.2.1. Khái niệm
Trước hết, chúng ta cần xem xét về khái niệm kĩ năng.
Kĩ năng là một phạm trù cơ bản trong tâm lý học. Hiện nay, đa số các
nhà nghiên cứu đều thống nhất có hai quan niệm khác nhau về kĩ năng.
Quan niệm thứ nhất: coi kĩ năng là mặt kĩ thuật của thao tác, hành động

hay hoạt động.
Đại diện cho quan niệm này là các tác giả như Ph.N.Gônôbôlin,
V.A.Krutretxki, A.G.Covalov, Trần Trọng Thủy…


19

Theo V.A.Krutretxki [2, tr. 96] “Kĩ năng là phương thức thực hiện hoạt
động – cái mà con người lĩnh hội được”. V.A.Krutretxki không đề cập đến
kết quả của hành động. Tác giả cho rằng chỉ cần nắm vững cách thức thực
hiện hành động, nắm vững các tri thức về hành động và thực hiện được nó
trong thực tiễn là đã có kĩ năng hành động.
A.G.Covalov cũng đồng quan điểm trên và nhấn mạnh “kĩ năng là
phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của
hành động” mà không đề cập đến kết quả của hành động. Theo tác giả, kết
quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là
năng lực con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động
thì đem lại kết quả tương ứng.
Quan niệm thứ hai: coi kĩ năng không đơn thuần là mặt kĩ thuật của hành
động mà nó còn là một biểu hiện về năng lực của con người. Đại diện cho
quan niệm này có các tác giả như N.Đ.Lêvitov, K.K.Platonov, Nguyễn Quang
Uẩn, Ngô Công Hoàn, Hoàng Anh…
N.Đ.Lêvitov cho rằng, kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác
nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những
cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định. Người có kĩ năng
hành động trước hết phải có tri thức hành động. Sau đó, vận dụng đúng đắn,
có kết quả trong thực tiễn. Sau nữa, kĩ năng phải tính đến sự ổn định, bền
vững, mềm dẻo, linh hoạt và sáng tạo trong bất kì điều kiện và thời gian nào.
Theo K.K.Platonov thì người có kĩ năng không chỉ hành động có kết quả
trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong

những điều kiện khác nhau.
Như vậy, khi xem xét kĩ năng với tư cách là năng lực hành động của cá
nhân chúng ta không chỉ phân tích mặt kĩ thuật của hành động mà còn phải


20

nghiên cứu các nhân tố quan trọng khác đó là mặt kết quả của hành động
trong những điều kiện khác nhau.
Về thực chất hai quan niệm trên không phủ định lẫn nhau. Sự khác nhau
giữa hai quan niệm chủ yếu ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc
của kĩ năng. Trong nghiên cứu, người ta phân ra hai bậc trình độ kĩ năng. Tâm
lý học phân thành kĩ năng nguyên sinh và kĩ năng thứ sinh.
Kĩ năng nguyên sinh là những kĩ năng được hình thành lần đầu qua các
hành động đơn giản. Những kĩ năng này là cơ sở để hình thành kĩ xảo.
Kĩ năng thứ sinh hay kĩ năng bậc cao là những kĩ năng được hình thành
trên cơ sở của tri thức và kĩ xảo.
Quan niệm thứ nhất chỉ thừa nhận loại kĩ năng thứ nhất, tức là các kĩ
năng mang tính thao tác kĩ thuật của hành động. Quan niệm thứ hai thừa nhận
sự tồn tại hai loại kĩ năng nhưng nhấn mạnh loại thứ hai, loại kĩ năng mang
tính năng lực là chủ yếu. Vì những lí do đó, khái niệm mà họ đưa ra có sự
khác nhau.
Với nội hàm khái niệm đầy đủ như ở trên, chúng tôi nhận thấy quan
niệm thứ hai được các nhà khoa học sử dụng nhiều hơn cả. Vì vậy nghiên cứu
lấy đó làm căn cứ để xác định, làm rõ hơn các vấn đề liên quan đến kĩ năng
giao tiếp, phục vụ trực tiếp cho đề tài.
Xuất phát từ những kết quả đó, kĩ năng giao tiếp được hiểu là cách thức
thực hiện có kết quả hoạt động giao tiếp trong những hoàn cảnh, tình huống
thực tế khác nhau.
Kĩ năng giao tiếp

Từ những kết quả ở trên có thể hiểu kĩ năng giao tiếp (KNGT) là những
thao tác, cử chỉ, điệu bộ, hành vi, ngôn ngữ được chủ thể giao tiếp phối hợp
hài hòa, hợp lí nhằm đảm bảo kết quả cao trong quá trình giao tiếp của con
người.


21

Theo nhiều nhà nghiên cứu, KNGT thực chất là sự phối hợp phức tạp
giữa những chuẩn mực hành vi xã hội của cá nhân với sự vận động của cơ
mắt, ánh mắt, nụ cười (vận động môi, miệng), tư thế đầu, cổ, vai, tay, chân,
đồng thời với ngôn ngữ nói, viết của chủ thể giao tiếp. Sự phối hợp hài hòa,
hợp lí giữa các vận động mang một nội dung tâm lí nhất định, phù hợp với
mục đích, ngôn ngữ và nhiệm vụ giao tiếp cần đạt được của chủ thể giao tiếp.
1.2.2. Con đường hình thành kĩ năng giao tiếp
Theo Nguyễn Văn Lũy, Trần Thị Tuyết Hoa [24] quá trình biến trẻ em từ
một thực thể tự nhiên thành một con người xã hội, quá trình hình thành và
phát triển nhân cách của trẻ được thực hiện qua giao tiếp. Giao tiếp vừa là
điều kiện vừa phương thức hình thành nhân cách. Do đó, tác giả cho rằng kĩ
năng giao tiếp được thực hiện bằng 2 con đường:
- Con đường tự phát (chủ yếu là bắt chước): Con đường tự phát là sự
tiếp nhận một cách tự nhiên các chuẩn mực hành vi xã hội trong giao tiếp.
Trên cơ sở nền tảng những thành tựu con người đạt được mà sự bắt chước
hành vi ra đời. Tác giả đưa ra ví dụ trẻ mẫu giáo đã có thể sử dụng những câu
nói đơn giản để giao tiếp với cha mẹ, người lớn, cô giáo và bạn bè xung
quanh để thỏa mãn một số nhu cầu cơ bản. Trẻ đã có khả năng làm chủ một số
hành vi ngôn ngữ, hành vi chân tay, biết tự mình làm một số việc theo sự chỉ
dẫn của người lớn. Trên cơ sở đó, trẻ bắt chước các hành vi giống các hành vi
của người lớn trong giao tiếp.
Bắt chước là sự tập nhiễm (thấm vào, nhiễm vào rồi dần dần trở thành

thói quen) đầu tiên về hành vi của con người. Bắt chước có thể là vô thức,
hoặc có sự tham gia của ý thức. Qua con đường bắt chước hành vi, con người
lĩnh hội được rất nhiều đặc trưng xã hội, thực hiện nhiều hành động xã hội.
- Con đường tự giác – người lớn giáo dục trẻ, là sự tác động có mục
đích, có kế hoạch của người lớn đối với trẻ em nhằm hình thành và phát triển


22

những năng lực và phẩm chất nhân cách nói chung và KNGT nói riêng. Trẻ
em không đứng một mình đối diện với thế giới xung quanh, quan hệ của nó
đối với thế giới xung quanh bao giờ cũng phải thông qua người lớn. Người
lớn là người mang trong mình những kinh nghiệm xã hội – lịch sử mà trẻ em
cần lĩnh hội. Chỉ dưới sự hướng dẫn của người lớn trẻ em mới có thể tiếp thu
được kho tàng quý báu của nhân loại một cách có hiệu quả.
1.2.3. Một số kĩ năng giao tiếp cơ bản cần rèn luyện
Kĩ năng giao tiếp bao gồm nhiều nhóm kĩ năng. Dựa trên các tiêu chí
khác nhau, mỗi người có cách phân nhóm khác nhau.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu lựa chọn hai
KNGT cơ bản cần rèn luyện. Đó là kĩ năng lắng nghe và kĩ năng diễn đạt.
Kĩ năng lắng nghe
* Vì sao phải rèn luyện kĩ năng lắng nghe:
Lắng nghe không đồng nhất với nghe. Nghe chỉ là một hoạt động vô ý
thức của con người. Chúng ta nghe những âm thanh xung quanh nhưng không
nhất thiết phải hiểu chúng. Lắng nghe thì khác. Lắng nghe là một khả năng
của hệ thần kinh. Khi lắng nghe, nhờ hoạt động của tư duy mà chúng ta hiểu
được nội dung thông báo. Có nhà nghiên cứu khoa học cho rằng, chúng ta sử
dụng khoảng 53% thời gian giao tiếp để lắng nghe. Và trong suốt quá trình
học tập, chúng ta dành 40% thời gian để học đọc, 35% thời gian để học viết,
25% thời gian để học nói và chẳng có thời gian nào để học nghe hay giao tiếp.

Nói về vai trò của kĩ năng lắng nghe tiến sĩ Joyce Brothers cho rằng
“lắng nghe, chứ không phải bắt chước, là biểu hiện chân thành nhất của sự
ủng hộ hay khen ngợi”. Lắng nghe không phải là bản năng mà là nghệ thuật,
là kĩ năng cần phải rèn luyện lâu dài.
- Trong hoạt động giao tiếp nghe, nói là những hoạt động cơ bản trong
việc giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người. Hiệu quả của việc giao tiếp –


23

người nói/viết có diễn đạt đúng ý của mình hay không và người nghe/đọc có
hiểu chính xác, đầy đủ nội dung thông báo của người nói hay không – tùy
thuộc vào mức độ thuần thục của bốn hoạt động nghe, nói, đọc, viết. Đó là
những hoạt động không thể thiếu trong hoạt động giao tiếp. Nếu chúng ta chỉ
biết nói mà không biết nghe, chỉ biết đọc mà không biết viết thì việc giao tiếp
không thể đạt được như mong muốn, khó có thể hiểu hết ý định của người
khác. Bởi vậy, bên cạnh việc rèn luyện kĩ năng nói, chúng ta cần phải rèn
luyện kĩ năng nghe. Luyện nghe chính là luyện một loại hoạt động của con
người, luyện hoạt động giao tiếp.
Trong giao tiếp, nghe tạo thành cơ chế của việc nhận tin, nói tạo thành
cơ chế của việc phát tin. Trong khi nghe, tín hiệu vật chất tác động đến người
nghe là những sóng âm thanh. Khi phát tin, người nói chuyển nội dung thông
báo vốn trừu tượng, tồn tạo trong óc của mình thành những tín hiệu âm thanh
ngôn ngữ để truyền tới người nghe. Khi nhận tin, người nghe tìm cách luận
giải tín hiệu ngôn ngữ dưới dạng các chuỗi âm thanh để khôi phục lại nội
dung thông báo người nói đã truyền đi. Không luận giải được nhanh chóng,
chính xác và đầy đủ các tín hiệu đã truyền đi trong các quá trình này, người
nghe sẽ bị hạn chế rất nhiều trong việc thu nhận thông báo. Vì vậy, rèn luyện
kĩ năng lắng nghe chính là rèn luyện kĩ năng phân tích, luận giải văn bản ở
dạng nói. Đây là kĩ năng không thể thiếu trong hoạt động giao tiếp.

Mặt khác, theo thống kê của nhiều nhà tâm lý học, trong giao tiếp bằng
ngôn ngữ của con người thì hai phần ba là giao tiếp miệng. Đối với giáo viên,
tỷ lệ này còn cao hơn nữa. Người giáo viên không chỉ biết nói tốt mà còn phải
biết nghe tốt, nhất là nghe ý kiến của học sinh. Vì vậy, yêu cầu rèn luyện kĩ
năng lắng nghe sẽ giúp chúng ta ý thức đầy đủ hơn về vai trò của hoạt động
này trong giao tiếp.
* Một số hình thức nghe:


24

Do hoàn cảnh và điều kiện nào đó của việc giao tiếp, trong thực tế đời
sống, có khi chúng ta vừa là người nghe, vừa là người nói, nhưng cũng có khi
chúng ta chỉ là người nghe từ đầu tới cuối của một quá trình giao tiếp. Chính
điều đó đã làm cho việc nghe của chúng ta ở những điều kiện, hoàn cảnh khác
nhau có những điểm khác nhau. Ở đây, chúng ta có thể chia việc nghe thành 2
loại: nghe đối thoại (mang tính chủ động, vừa được nghe, vừa được nói) và
nghe độc thoại (mang tính bị động, chỉ được nghe). Việc phân chia này mang
tính chất tương đối vì trong thực tế, ở những điều kiện và hoàn cảnh nhất định
chúng ta vẫn có thể biến nghe thụ động thành chủ động, và ngược lại.
* Những điều kiện để nghe có hiệu quả:
- Cần xác định mục đích trước khi nghe. Mục đích này càng rõ ràng bao
nhiêu, hiệu quả của việc nghe càng tốt đẹp bấy nhiêu. Không có mục đích rõ
ràng, người nghe sẽ không thể duy trì sự chú ý của mình trong suốt quá trình
nghe.
- Cần có hứng thú với nội dung nói. Hứng thú là một trong những yếu tố
đảm bảo cho người nghe có thể theo dõi cẩn thận, đầy đủ và ghi chép được tỉ
mỉ những vấn đề được người nói thông báo.
- Phải có sự hiểu biết tối thiểu về nội dung trình bày. Đây là cái nền để
lĩnh hội sâu sắc, toàn diện vấn đề được đề cập tới. Tầm hiểu biết có ảnh

hưởng lớn tới chất lượng của việc nghe. Kiến thức ở người nghe càng rộng,
càng sâu thì việc nghe càng đạt được hiệu quả mong muốn.
Cần có trí nhớ tốt: Trí nhớ tốt đó là kết quả của việc rèn luyện trí tuệ
thường xuyên. Trí nhớ giúp cho người nghe nắm bắt nhanh chóng, dễ dàng
các sự kiện, hiện tượng, vấn đề được người nói trình bày. Từ việc lưu giữ
được nội dung nói, người nghe có thể xâu chuỗi, lý giải một cách chính xác
vấn đề và rút ra được những điều cần thiết, phù hợp với mục đích của mình.


25

Sức khỏe và hoàn cảnh (như thời gian, không gian, tiếng ồn…) cũng có
ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng nghe. Âm thanh phù hợp giúp cho người
nghe luận giải nội dung rõ ràng hơn, đỡ tốn sức lực hơn. Âm thanh bị nhiễu
làm cho người nghe mệt mỏi và làm giảm đi một cách rõ rệt hiệu quả của việc
nghe.
* Cách nghe:
Đối với mỗi đề tài, mỗi loại bài nói đều cần có cách nghe riêng. Chẳng
hạn, với những bài giảng khoa học, nội dung chính cần nắm là những luận
điểm và mối quan hệ giữa các luận điểm đó. Với những câu chuyện, nội dung
cần nắm lại là những tình tiết, những diễn biến, xung đột. Còn với những tin
tức thời sự thì đó lại là những biến cố, những sự kiện diễn ra trong không gian
và thời gian…Chính vì vậy, với mỗi loại đề tài, loại bài nói phải có cách nghe
phù hợp mới có thể nắm được những vấn đề cốt lõi nhất, quan trọng nhất,
không bị sa vào những chi tiết phụ.
Điểm quan trọng khi nghe để nắm vững nội dung bài nói không phải chỉ
ở những luận điểm, sự kiện, tình tiết… mà còn là việc nắm cho được cách dẫn
dắt, cách lập trình, trình bày vấn đề của người nói. Điều này cho phép người
nghe hiểu chính xác logic của các sự kiện, mối quan hệ khăng khít giữa các
luận điểm và từ đó lại càng hiểu đầy đủ hơn bản chất của các luận điểm và sự

kiện được người nói nêu ra.
Kĩ năng diễn đạt
Cùng với kĩ năng lắng nghe, kĩ năng diễn đạt là một trong những kĩ năng
quan trọng cần trang bị, rèn luyện cho mỗi người. Kĩ năng diễn đạt được hiểu
là khả năng, trình độ biểu đạt ngôn ngữ. Theo đó, kĩ năng diễn đạt không đơn
thuần chỉ là kĩ năng nói mà còn là kĩ năng thể hiện giọng nói, cử chỉ, thái
độ…Hơn nữa, trong giao tiếp luôn có sự đổi vai từ người nói sang người nghe
hoặc ngược lại nên kĩ năng lắng nghe và kĩ năng diễn đạt có liên quan mật


×