Tải bản đầy đủ (.docx) (33 trang)

Phép biện chứng duy vật với đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái của Đảng CSVN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (359.62 KB, 33 trang )

BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỚI ĐƯỜNG LỐI TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Chuyên ngành :

Hệ thống thông tin

Giảng viên:

ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân

Lớp:

M1CQIS –B

Nhóm:

5

Hà Nội, Tháng 8 – 2016


BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG



TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỚI ĐƯỜNG LỐI TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Chuyên ngành :

Hệ thống thông tin

Giảng viên:

ThS. Nguyễn Thị Hồng Vân

Lớp:

M1CQIS –B

Nhóm thực hiện:

Nhóm 5

Hà Nội, Tháng 8 - 2016


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái hiện nay đang trở
thành vấn đề vô cùng bức xúc và được sự quan tâm của tất cả các nước trên thế
giới, đặc biệt trong bối cảnh môi trường đã và đang bị tàn phá, ảnh hưởng nặng
nề bởi một giai đoạn khá dài các nước chạy theo mục tiêu phát triển kinh tế
nhanh, không quan tâm tới bảo về và giữ gìn môi trường. Bất kỳ một quốc gia
nào, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, do vận dụng theo mô hình kinh tế
thị trường dù hoàn toàn hay một phần, với quy luật giá trị được đặt lên hàng đầu
đã làm cho đại bộ phận các nền kinh tế và các chủ thế kinh tế chạy theo mục tiêu
Nhóm 5

3Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

tăng trưởng, lợi nhuận mà bỏ qua yếu tố giữ gìn môi trường sinh thái nên đã gây
ra hàng loạt những hệ lụy như: khai thác tài nguyên một cách kiệt quệ, gây ô
nhiễm môi trường đất, nước, không khí, làm mất cân bằng đa dạng sinh học...
Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra các hệ quả như hiện tượng
thủng tầng Ozone, hiệu ứng nhà kính, Trái Đất nóng lên, các thảm họa thiên
nhiên như: mưa, bão, hạn hán, cháy rừng,... diễn ra với cường độ nhanh, mạnh,
tần suất dày đặc và mức độ nguy hiểm ngày càng tăng cao đe dọa cuộc sống của
con người. Đứng trước thực trạng này, mọi quốc gia cần phải nhận thức được
vấn đề bảo vệ môi trường là một chiến lược quan trọng trong các chiến lược

phát triển, tăng trường kinh tế hàng năm hoặc qua các thời kỳ, giai đoạn.
Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp là chủ
yếu với trình độ canh tác chưa cao, chưa chú trọng yếu tố bảo vệ môi trường,
ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ phát triển chưa gắn liền với đảm bảo
môi trường bền vững. Thời gian gần đây, Việt Nam đã chịu nhiều ảnh hưởng bởi
hệ lụy của một thời gian dài phát triển mà không chú trọng tới đảm bảo tính bền
vững của môi trường như môi trường đất và nước bị ô nhiễm nghiêm trọng do
sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, rác thải công
nghiệp, làng nghề,... không được xử lý trước khi đưa ra môi trường, tình trạng
chặt phá rừng vì mục đích kinh tế làm cho tình trạng lũ quét, sạt lở đất diễn ra
vô cùng nghiêm trọng. Đảng và Nhà nước ta đã xác định môi trường bền vững là
nhân tố ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế. Thực tế hiện nay, Việt Nam
cũng đã và đang rất tích cực tham gia vào các tổ chức, hiệp hội, ký các công ước
với các nước trên thế giới để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhưng phải
đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái.Chiến lược phát triển kinh tế gắn với bảo
vệ môi trường không những là ưu tiên hàng đầu mà còn là vấn đề mang tính
sống còn của sự phát triển của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Do đó, đề tài “Phép biện chứng duy vật với đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo
vệ môi trường sinh thái của Đảng CSVN” có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan
trọng đối với Việt Nam trong việc đề ra chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn
trong thời gian tới.
Nhóm 5

4Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân


Phép biện chứng duy vật – phương pháp luận nhận thức khoa học và

I.
1.1.

thực tiễn.
Khái niệm phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật được xây dựng từ việc kế thừa có chọn lọc
những thành tựu của các nhà khoa học trước, dựa trên cơ sở khái quát những
thành tựu khoa học mới nhất thế kỷ XIX cũng như thực tiễn lịch sử loài và thực
tiễn xã hội, C. Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập nên chủ nghĩa duy vật biện
chứng và phép biện chứng duy vật. Sau này, V.I. Lênin đã tiếp tục phát triển vào
đầu thế kỷ XX, phát triển phép biện chứng lên hình thức mới về chất là phép
biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy
vật và phương pháp luận biện chứng (hay giữa lý luận và phương pháp). Hệ
thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn những quy
luật cơ bản chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới. Phép biện
chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những
phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến nhằm phản ánh đúng đắn hiện thực
thế giới khách quan đồng thời chỉ ra những cách thức để định hướng cho con
người trong nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Vì thế Ph.Ăngghen đã đưa ra
định nghĩa “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật
phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và
của tư duy”.

1.2. Bản chất của phép biện chứng duy vật
1.2.1.Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng
1.2.1.1.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến


duy vật

Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình
thông qua sự vận động liên tục và sự tác động qua lại không ngững lẫn nhau.Bản
chất tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lọ thông qua sự tác động
qua lại giữa các mặt của bản thân chúng hay sự tác động của chúng đối với các
sự vật, hiện tượng khác trong thực tế. Do đó, để đánh giá sự tồn tại, bản chất của
một con người hay một sự vật hiện tượng tự nhiên, chúng ta phải thông qua mối
liên hệ, sự tác động của con người, sự vật đó với người khác, với sự vật khác,
Nhóm 5

5Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

với xã hội và tự nhiên thông qua các hoạt động khác nhau. Nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến được thể hiện rõ rệt thông qua:
i) Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác,
không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ.
ii) Mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt tùy theo điều
kiện nhất định tuy nhiên nó đều chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất,
chung nhất dưới những hình thức liên hệ riêng rẽ, cụ thể, được các nhà khoa học
nghiên cứu.
iii) Nghiên cứu mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới sẽ thấy rõ
được tính đa dạng, nhiều vẻ, nhiều chiều, nhiều khía cạnh của các sự vật, hiện tượng đó.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đưa ra khái quát bức tranh toàn cảnh

những mối liên hệ của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy). Phép duy vật biện
chứng phân chia các mối liên hệ chỉ mang tính tương đối, tuy nhiên sự phân chia
này lại vô cùng cần thiết bởi mỗi loại mối liên hệ có vị trí, vai trò xác định trong
sự vận động và phát triển của sự vật. Con người sẽ dựa vào đó để có cách tác
động phù hợp, nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong các hoạt động của mình.
1.2.1.2.

Nguyên lý về sự phát triển
Sự phát triển, trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật cũ là hiện tượng

diễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội, trong bản thân con người và
trong tư duy. Sự phát triển thể hiện rất khác nhau trong hiện thực tùy theo hình
thức tồn tại cụ thể của từng dạng vật chất. Sự phát triển của giới vô cơ được thể
hiện dưới dạng biến đổi các yếu tố và hệ thống vật chất, sự tác động qua lại giữa
chúng và trong các điều kiện nhất định sẽ làm nảy sinh các hợp chất phức tạp –
các hợp chất hữu cơ ban đầu, tiền đề của sự sống. Tuy nhiên, sự phát triển trong
giới hữu cơ thể hiện ở khả năng thích nghi của sinh vật với sự biến đổi phức tạp
của môi trường, sự hoàn thiện thường xuyên quá trình trao đổi chất giữa cơ thể
và môi trường ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng cao
hơn, từ đó làm xuất hiện ngày càng nhiều các giống loài mới phù hợp với môi
trường sống. Như vậy, sự phát triển trong đó sự vật mới ra đời thay thế sự vật
Nhóm 5

6Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân


cũ có thể là vận động đi lên, vận động tuần hoàn thậm chí là vận động đi xuống.
Tuy nhiên, xét cả quá trình vậnđộng với không gian rộng và thời gian dài thì quá
trình vận động đi lên luôn là xu hướng chung của mọi sự vật.
Phép duy vật biện chứng khẳng định sự phát triển luôn mang tính khách
quan, không phụ thuộc ý muốn, nguyện vọng, ý chí, ý thức của con người mà
nằm ngay trong bản thân sự vật.Sự phát triển mang tính phổ biến vì nó diễn ra ở
mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy, ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của
thế giới khách quan.Bên cạnh đó, phát triển còn mang tính đa dạng phong phú
khi mà mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau, tồn
tại ở những không gian khác nhau, thời gian khác nhau.
1.2.2.Các

quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp

luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện,
quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử - cụ thể về phương diện vạch ra
nguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng phát triển tiến lên của các sự vật,
hiện tượng trong thế giới. Đó là ba quy luật:
1.2.2.1.

Quy luật chuyển hoá
Từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại:

gọi là quy luật lượng - chất. Quy luật này phản ánh cách thức, cơ chế của quá
trình phát triển, là cơ sở phương pháp luận chung để nhận thức và thúc đẩy quá
trình phát triển của sự vật với 3 yêu cầu cơ bản là:
-

Thường xuyên và tăng cường tích luỹ về lượng để tạo điều kiện cho sự thay đổi


-

về chất. Chống chủ nghĩa duy ý chí muốn đốt cháy giai đoạn.
Khi lượng được tích luỹ đến giới hạn độ, phải mạnh dạn thực hiện bước nhảy

vọt cách mạng, chống thái độ bảo thủ, trì trệ.
- Vận dụng linh hoạt các hình thức nhảy vọt để đẩy nhanh quá trình phát triển.
1.2.2.2.
Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập
Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập còn được gọi là quy
luật mâu thuẫn.Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng.Nó vạch ra nguồn
gốc, động lực của sự phát triển, phản ánh quá trình đấu tranh giải quyết mâu
thuẫn bên trong sự vật. Từ đó, phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẫn mà yêu cầu
Nhóm 5

7Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

cơ bản của nó là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẫn của sự vật, trước hết là
mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu, phải phân tích mâu thuẫn và quá trình
đấu tranh giải quyết mâu thuẫn. Đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẫn.
Tuy nhiên, hình thức đấu tranh rất đa dạng, linh hoạt, tuỳ thuộc mâu thuẫn cụ
thể và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
1.2.2.3.


Quy luật phủ định của phủ định
Quy luật này khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên theo hình thức

xoáy ốc thể hiện tính chất chu kỳ trong quá trình phát triển. Đó là cơ sở phương
pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi phương pháp suy
nghĩ và hành động của con người. Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng
tính kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, chống kế thừa
nguyên xi, máy móc và phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ.
Nguyên tắc phủ định biện chứng trang bị phương pháp khoa học để tiếp cận lịch
sử và tiên đoán, dự kiến những hình thái cơ bản của tương lai.
1.2.3.Các cặp phạm trù
Bên cạnh 3 quy luật cơ bản, nội dung của phép biện chứng duy vật còn
bao gồm các cặp phạm trù không cơ bản:
-

Cặp phạm trù cái riêng - cái chung và cái đơn nhất
Cặp phạm trù tất nhiên - ngẫu nhiên
Cặp phạm trù nguyên nhân - kết quả
Cặp phạm trù bản chất - hiện tượng
Cặp phạm trù khả năng - hiện thực
Cặp phạm trù nội dung - hình thức
Tóm lại, mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật
có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng.Vì vậy, chúng phải được vận dụng tổng
hợp trong nhận thức khoa học thực tiễn cách mạng.

1.3.

Ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy vật
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển của phép
biện chứng duy vật là cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sửcụ thể và nguyên tắc phát triển.

1.3.1. Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn

Nhóm 5

8Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với
tất cả các mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của
từng mặt, từng mối liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định.
Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong sự nghiệp cách mạng:
-

Trong Cách mạng dân tộc dân chủ: Đảng ta vận dụng quan điểm toàn diện trong
phân tích mâu thuẫn xã hội, đánh giá so sánh lực lượng giữa ta với địch, tạo ra

-

và sử dụng sức mạnh tổng hợp.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta tiến hành đổi mới toàn diện, triệt để; đồng
thời phải xác định khâu then chốt. Nắm vững mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế,
đổi mới chính trị và đổi mới tư duy.
Đối lập với nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng, quan điểm siêu
hình xem xét sự vật, hiện tượng một cách phiến diện. Nó không xem xét tất cả
các mặt, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng; hoặc xem mặt này tách rời mặt
kia, sự vật này tách rời sự vật khác.Chủ nghĩa chiết trung thì kết hợp các mặt

một cách vô nguyên tắc, kết hợp những mặt vốn không có mối liên hệ với nhau
hoặc không thể dung hợp được với nhau. Thuật nguỵ biện thì cường điệu một
mặt, một mối liên hệ; hoặc lấy mặt thứ yếu làm mặt chủ yếu.
1.3.2. Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong
quá trình vận động phát triển: nó ra đời trong điều kiện như thế nào? trải qua
những giai đoạn phát triển như thế nào? mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặc
điểm như thế nào?
1.3.3. Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn
thấy khuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ mất
đi cái mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu.

1.4.

Tính tất yếu phải phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường
Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường là một tất yếu khách quan
vừa là yêu cầu bức thiết đối với mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt khi các tác
động của con người lên môi trường tự nhiên ngày càng nghiêm trọng gây nên
Nhóm 5

9Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

những hậu quả không lường đe dọa trực tiếp tới sức khỏe, đời sống và sự tồn tại
của con người. Các nhà máy, xí nghiệp mọc lên như nấm, lượng khí thải, chất

thải đổ ra môi trường ngày càng nhiều; lượng rác thải của con người tăng lên
hàng ngày, hàng giờ và chưa được thu gom, xử lý đúng cách làm ô nhiềm nguồn
nước, không khí sống; sự phát triển của các phương tiện giao thông vận tải làm
tăng lượng xả khí thải ra môi trường; rác công nghiệp..…
Việt Nam đang đối mặt với vô vàn thách thức do phát triển kinh tế không
chú trọng tới bảo vệ môi trường trong thời gian gần đây như ô nhiềm nguồn
nước do rác thải công nghiệp ô nhiễm đất do khai thác than đá, quặng có sử
dụng hóa chất độc hại, ô nhiễm không khí do sản xuất nông nghiệp sử dụng các
phương tiện thô sơ,đốt lò đất thủ công,đốt cao su làm nhựa đường…Do đó cựu
thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận định “môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên
bị cạn kiệt, rừng bị tàn phá, đất bị xói mòn và tình trạng sa mạc hóa, biến đổi khí
hậu, nguy cơ nước biển dâng… làm thu hẹp không gian sinh tồn của con người
chẳng những tác động tiêu cực đến cuộc sống hiện tại mà còn đe dọa sự phát
triển của các thế hệ tương lai” là thách thức to lớn trên con đường phát triển của
Việt Nam trong thời gian tới. Vì vậy, phát triển kinh tế phải gắn chặt với bảo vệ
và cải thiện môi trường, chủ động đối phó với hiểm họa nước biển dâng, sử
dụng công nghệ tiết kiệm nguyên liệu, nang lượng, phát triển kinh tế xanh cần
được thể hiện trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả nước cũng
như trong từng lĩnh vực ở từng địa phương, đơn vị.
II.
2.1.
2.1.1.
2.1.1.1.

Mối quan hệ biện chứng giữa đường lối tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi
trường sinh thái của Đảng CSVN
Đường lối tăng trưởng kinh tế
Khái niệm
Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu,

thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội.
Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng kinh tế. Nhưng
không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế. Phát triển
kinh tế đòi hỏi phải thực hiện được ba nội dung cơ bản sau :
Nhóm 5

10Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

-

Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP)

-

và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người.
Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theohướng tiến bộ, thể hiện ở các ngành dịch vụ và
công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ trọng nông nghiệp

-

ngày càng giảm xuống.
Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên của thu
nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế… mà mỗi người dân được hưởng.
Như vậy, phát triển kinh tế là mục tiêu và ước vọng của các dân tộc trong
mọi thời đại.


2.1.1.2.

Môi trường sinh thái – kinh tế môi trường
Môi trường là một khái niệm tổng hợp, phức tạp, mang tính mở và phát triển
cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ nói riêng, của nền kinh tế - xã hội
và nhận thức của loài người nói chung.
Kinh tế môi trường là một ngành khoa học đa ngành và mới mẻ, lấy các
vấn đề môi trường làm đối tượng nghiên cứu chính của mình và tiếp cận chủ yếu
chúng dưới góc độ kinh tế.
Môi trường là toàn bộ các vùng địa - vật lí và sinh học, các điều kiện về
vật chất - tự nhiên, bao gồm sinh quyển (không khí, nước, đất, ánh sáng…) và
hệ sinh thái với tư cách là sản phẩm của tạo hoá, có trước con người, tương tác
lẫn nhau, và cùng tác động đến sự hình thành và phát triển của con người cùng
các hoạt động xã hội của họ. Bản thân các hoạt động sinh tồn của con người
cũng đang ngày càng làm thay đổi môi trường một cách mạnh mẽ.

2.1.1.3.

Phát triển bền vững
Nguồn gốc chủ yếu của sự thay đổi về môi trường sinh thái hiện nay là
các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của con người.
Phát triển là quy luật tất yêú của tiến hoá đã và đang diễn ra trên hành tinh
của chúng ta từ khi nó được hình thành.

2.1.2.

Đặc điểm đường lối tăng trưởng kinh tế theo các thời kỳ
Kinh tế Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (từ 1975 đến
nay) trải qua hai giai đoạn:

Nhóm 5

11Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học
-

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

Giai đoạn I: từ năm 1975 đến năm 1986, giai đoạn nền kinh tế chỉ huy mang tính
chất tập trung quan liêu, bao cấp.
Trong giai đoạn này, cơ cấu quản lý kinh tế của nước ta là tập trung quan
liêu bao cấp, theo đó nền kinh tế tồn tại là nền kinh tế mệnh lệnh chỉ huy. Đảng
và Nhà nước chỉ công nhận duy nhất hai thành phần kinh tế: thành phần kinh tế
Nhà nước và thành phần kinh tế tập thể. Các thành phần kinh tế tư nhân không
được phép tồn tại và hoạt động.
Nền kinh tế của một nước phản ánh mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và
lực lượng sản xuất.Sự phát triển của nền kinh tế cũng phản ánh sự phù hợp của
hai yếu tố trên. Ở nước ta giai đoạn này, trong khi lực lượng sản xuất còn chưa
phát triển và mức độ phát triển không đồng đều, sản xuất nhỏ thủ công là phổ
biến, trình độ phân công lao động và xã hội hóa rất thấp thì chúng ta lại xây dựng
nền kinh tế mệnh lệnh, chỉ huy. Nhà nước chỉ ưu tiên, chú trọng bảo hộ cho kinh
tế quốc doanh và kinh tế tập thể, coi hai thành phần kinh tế là kinh tế XHCN, còn
các thành phần kinh tế khách bị coi là mầm mống của CNTB nên bị xóa bỏ hoàn
toàn. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, Đảng ta đã
xác định đường lối kinh tế dựa trên đường lối phát triển chung của đất nước, trong
đó có một vài điểm đáng lưu ý sau: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN, xây
dựng vật chất kỹ thuật của CNXH, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên
sản xuất lớn XHCN, xây dựng chế độ làm chủ tập thể XHCN. Ưu tiên phát triển

công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ…”. Tuy nhiên, việc xác định mục tiêu chặng đường đầu tiên của thời
kỳ quá độ của Đảng là chưa rõ ràng, hơn nữa Đảng đã phạm sai lầm trong việc
xác định bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về cải tạo XHCN, về việc
áp dụng cơ cấu quản lý kinh tế… trong hoàn cảnh nước tacơ sở vật chất kỹ thuật
còn thấp kém, công nghệ lạc hậu, sản xuất nông nghiệp là chính.
Trong thời kỳ này, do ảnh hưởng của điều kiện lịch sử, chúng ra đã sao
chép rập khuôn mô hình phát triển kinh tế xã hội và cơ cấu quản lý kinh tế của
các nước XHCN. Có thể nói, nền kinh tế mệnh lênh – chỉ huy mang tính chất tập
trung, quan liêu, bao cấp là phù hợp với hoàn cảnh có chiến tranh, bởi lúc đó
Nhóm 5

12Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

mục tiêu chung và lớn nhất của cả nước là hoàn thành cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân, giải phóng đất nước để tiếp tục tiến hành cách mạng XHCN. Vì
thế, việc tập trung sức người sức của cho cuộc chiến tranh chính nghĩa là hết sức
cần thiết.Điều đó tạo nên sức mạnh to lớn của toàn dân, nhanh chóng hoàn thành
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để tiến tới cách mạng XHCN. Tuy nhiên,
khi đất nước đã giành thống nhất, thời kỳ quá độ được thực hiện trong phạm vi
cả nước, nền kinh tế tập trung bao cấp này không còn phù hợp với hoàn cảnh đất
nước. Kinh tế phát triển thụ động và thiếu linh hoạt, các nguồn lực không được
khai thác triệt để, sản xuất kém hiệu quả do cách làm việc cứng nhắc…Và hậu
quả tất yếu là năm 1979 và năm 1985-1986, nền kinh tế-xã hội nước ta lâm vào
cuộc khủng hoảng: tình trạng lạm phát trầm trọng (cao nhất là năm 1985 với tỉ lệ

lạm phát là 600%), sản xuất trì truệ, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời
sống người dân khó khăn…Điều này đã tạo áp lực lớn đối với sự phát triển của
đất nước. Do đó, sự nghiệp đổi mới được bắt đầu ngay từ áp lực này.
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
(năm 1991), Đảng đã chỉ ra nguyên nhân của những sai lầm trong giai đoạn này:
“Đảng đã sai phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan,
nóng vội trong cải tạo XHCN, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, có
mức đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng, duy trì quá lâu cơ chế
quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách
giá cả, tiền tệ, tiền lương…”. Đó là bài học tổng kết những thời kỳ lãnh đạo của
Đảng đối với sự phát triển của đất nước nói chung và nền kinh tế nói riêng. Do
điều kiện lịch sử, nhận thức bước đầu của Đảng về con đường đi lên XHCN ở
nước ta còn chưa đúng đắn. mặc dù vậy, điều này cũng tạo điều kiện để Đảng
từng bước bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh, làm cho con đường đó ngày càng
rõ ràng hơn trong những giai đoạn sau.
-

Giai đoạn II: từ năm 1986 đến nay, Việt Nam xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước (gọi tắt là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN).
Nhóm 5

13Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

Chúng ra thực sự có chính sách đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI (121986) chủ trương thực hiện thành công trong báo cáo chính trị thì có 5 nhiệm vụ

liên quan đến đổi mới kinh tế:


Xây dựng và tổ chức thực hiện ba chương trình về lương thực – thực phẩm,



hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Thực hiện nhiệm vụ cải tạo XHCN một cách thường xuyên với những hình thức
và bước đi thích hợp, làm cho QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của





LLSX, thúc đẩy sự phát triển của LLSX.
Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
Giải quyết cho được những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông.
Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động…
Tiếp đó, bên cạnh việc tổng kết thực tiễn, bài học kinh nghiệm sau một
thời gian quá độ lên CHXH, Đại hội Đảng lần thứ VII của Đảng đã cụ thể hóa
đường lối phát triển, đề ra những phương hướng rõ ràng đối với đất nước ta
trong thời kỳ quá độ lên XHCN. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNHX (1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “ Nước
ta quá độ lên CNHX, bỏ qua chế độ tư bản,…Các thế lực thù địch thường xuyên
tìm cách phá hoạt chế độ xã hội và nền độc lập của nhân dân ta.”. Đồng thời,
phương hướng cơ bản về xây dựng nền kinh tế ở nước ta được xác định là: “…
Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân…”. Sự

phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam cần có định hướng XHCN của
Đảng, có sự quản lý của Nhà nước để tránh lệch hướng và hạn chế những mặt
trái tiêu cực của kinh tế thị trường.
Như vậy đặc trưng của thời kỳ quá độ lên XHCN ở nước ta là bỏ qua chế
độ TBCN, từ phong kiến lạc hậu tiến thẳng lên XHCN. Việc xác định được vấn
đề “ bỏ qua chế độ TBCN” chứ không phải “bỏ qua giai đoạn TBCN” là một
bước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng ta.

2.2.
2.2.1.

Bảo vệ môi trường sinh thái
Môi trường sinh thái
Nhóm 5

14Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặt chẽ
với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vi toàn cầu.
Vai trò của môi trường:
Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật.
Trên không gian do môi trường cung cấp, con người thực hiện các hoạt động
sống của mình, trong đó có quá trình sản xuất của cải vật chất. Nói một cách cụ
thể, đối với quá trình sản xuất, môi trường đã cung cấp mặt bằng và phông tự
nhiên cho sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp.

Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống
và sản xuất của con người. Xét về bản chất thì mọi hoạt động của con người để
duy trì cuộc sống đều nhằm vào việc khai thác các hệ thống sinh thái của tự
nhiên thông qua lao động cơ bắp, vật tư công cụ và trí tuệ. Với sự hỗ trợ của các
hệ thống sinh thái, con người đã lấy từ tự nhiên những nguồn tài nguyên thiên
nhiên cần thiết phục vụ cho việc sản xuất ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu
cầu của mình.Thiên nhiên là nguồn cung cấp mọi nguồn tài nguyên cần thiết.Nó
cung cấp nguồn vật liệu, năng lượng, thông tin cần thiết cho hoạt động sinh
sống, sản xuất và quản lý của con người. Nhu cầu của con người và các nguồn
tài nguyên không ngừng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và mức độ phức tạp
theo trình độ phát triển của xã hội. Các loại tài nguyên được khai thác bao gồm:
Rừng tự nhiên: cung cấp nước, bảo tồn tính đa dạng sinh học và độ phì
nhiêu của đất, nguồn gỗ, củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái…
Các thủy vực: cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và các
nguồn thủy hải sản…
Động thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý
hiếm…
Không khí, nhiệt độ, năng lượng mặt trời, gió, nước: để con người hít thở,
cung cấp năng lượng cho sản xuất…
Các loại quặng, dầu mỏ: Cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các
hoạt động sản xuất nông nghiệp…
Nhóm 5

15Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân


Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong
cuộc sống và hoạt động sản xuất. Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của cải
vật chất, con người luôn đào thải ra các chất thải vào môi trường.Thời kỳ sơ
khai, khi dân số nhân loại còn ít, chủ yếu do các quá trình phân hủy tự nhiên làm
cho chất thải sau một thời gian biến đổi nhất định lại trở lại trạng thái nguyên
liệu của tự nhiên. Nhưng ngày nay, do dân số thế giới tăng lên nhanh chóng
cùng quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm số lượng chất thải tăng lên
không ngừng khiến chức năng phân hủy tự nhiên của môi trường quá tải, gây ô
nhiễm môi trường. Nếu phân loại chi tiết, có thể chia chức năng này ra thành các
loại sau:
-

Chức năng biến đổi lý – hóa học
Chức năng biến đổi sinh hóa
Chức năng biến đổi sinh học
Môi trường còn lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người:

-

Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất và

-

sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người.
Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báo cáo
sớm các hiểm họa đối với con người và sinh vật sống trên Trái Đất như phản
ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện

-


tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa…
Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động
thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và sáng tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị
thẩm mỹ để thưởng ngoạn, tôn giáo văn hóa khác.
Bảo vệ môi trường sinh thái:
Như đã phân tích ở trên, môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với
đời sống con người cũng như các hoạt động sản xuất vật chất, chính vì vậy cần phải
tích cực, chủ động bảo vệ môi trường. Thực tế chứng minh rằng, con người đã,
đang và sẽ phải trả giá cho những hành vi phá hoại môi trường của mình.
Hàng loạt thách thức về môi trường đang đặt ra hiện nay trên thế giới bao gồm:

-

Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần xuất thiên tai gia tăng
Sự suy giảm tầng ô zôn
Tài nguyên thiên nhiên bị suy thoái
Nhóm 5

16Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học
-

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng
Sự gia tăng dân số
Sự suy giảm tính đa dạng sinh học trên Trái Đất
Những hiện tượng trên đe dọa nghiêm trọng tới môi trường, ảnh hưởng lớn

đến sứckhỏe và các hoạt động sống của con người nhưng nguyên nhân chủ yếu lại
xuất phát từ chính con người. Nếu không có các biện pháp thích hợp để giảm sự
hủy hoại môi trường thì con người sẽ có lúc bị diệt vong. Chính vì vậy, bảo vệ môi
trường là vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay để con người cứu lấy môi trường cũng
như tự cứu bản thân mình. Theo điều 6 Luật môi trường Việt Nam: “Bảo vệ môi
trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi
trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát
hiện, tố cáo hành vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường”.Như vậy bảo vệ môi
trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của tất cả mọi người.

2.2.2.


Vai trò bảo vệ môi trường sinh thái với sự phát triển của xã hội
Môi trường cung cấp các yếu tố cơ bản cho quá trình sản xuất:
Nền kinh tế nước ta vẫn còn dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên thiên nhiên
(TNTN) riêng giá trị sản lượng nông nghiệp còn chiếm 23% tổng sản lượng giá
trị GDP. Nếu tính cả các lĩnh vực khác, thì có thể thấy TNTN đã đóng góp tới
50% tổng giá trị GDP, 60-70% tổng giá trị hàng xuất khẩu, và mang lại việc làm



cho hàng triệu người lao động.
Các yếu tố rất quan trọng trong sản xuất như nước, không gian, nơi tiếp thu và
xử lý rác thải… đều do môi trường cung cấp. Thiếu hụt các yếu tố này sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất, kìm hãm sự phát triển. Chẳng hạn nói về
nước, nếu thiếu nước sạch thì đời sống người lao động sẽ mất ổn định gây ảnh
hưởng lớn đến quá trình sản xuất xã hội, thiếu nước cho các hồ thủy điện sẽ dẫn
tới tình trạng cắt điện thường xuyên gây nhiều thiệt hại cho hoạt động kinh


-

doanh, sản xuất..
Môi trường cung cấp các địa điểm du lịch, khu vui chơi, giải trí tự nhiên, đem

-

lại về nguồn lợi không nhỏ cho nền kinh tế.
Thời tiết khí hậu ổn định là tiền đề quan trọng cho quá trình sản xuất.
Nhận thức rõ vai trò của bảo vệ môi trường sinh thái với sự phát triển của
xã hội, Đảng và nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo vệ
Nhóm 5

17Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

và khai thác tài nguyên một cách hợp lí. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát triển nhanh, bền vững, tăng
trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và
“Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm
sự hài hòa giưa môi trường tự nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học. Chủ động phòng
tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, của sự biến đổi khí hậu bất lợi và
tiếp tục giải quyết hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường. Bảo vệ và cải
tạo môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, tăng cường quản lí Nhà nước đi
đôi với nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người dân. Chủ động gắn kết yêu
cầu cải thiện môi trường trong mỗi quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án

phát triển kinh tế - xã hội, coi yêu cầu về môi trường là một tiêu chí quan trọng
đánh giá các giải pháp phát triển”.
Việt Nam được thế giới xác định là quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi từ
cương lĩnh đại hội Đảng lần thứ VI đến đại hội Đảng lần thứ IX, trải qua 15 năm
đổi mới và phát triển đã thể hiện tính đúng đắn của nó. Kinh tế liên tục tăng
trưởng, xã hội ổn định. Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia tích cực
vào công tác bảo vệ môi trường duy trì và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, tham gia nhiều công ước quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, duy
trì đa dạng sinh học và phát triển bền vững.
2.3.

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái
Giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường sinh thái có mối quan hệ hết sức chặt
chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên
nhân chính tạo ra những biến đổi của môi trường một phần hay toàn bộ. Môi
trường tự nhiên đồng thời cũng là nhân tố quyết định có tác động đến sự phát triển
của nền kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên – đối tượng
của hoạt động phát triển hoặc gây ra hàng loạt thảm họa, thiên tai đối với các hoạt
động kinh tế xã hội của địa phương, vùng, quốc gia. Xu hướng gây ô nhiễm môi
trường có sự khác biệt giữa các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau,
cụ thể như:
Nhóm 5

18Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân


- Ô nhiễm do dư thừa: 20% dân số thế giới ở các nước giàu hiện đang sử
dụng tới 80% tài nguyên và năng lượng của loài người
- Ô nhiễm do nghèo đói: những người nghèo khổ ở các nước đang và kém
phát triển không có nhiều sự lựa chọn để phát triển kinh tế, do đó họ thường tận
dụng tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo khả năng sinh kế của gia đình. Theo đó
việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên như rừng, khoáng sản, nông
nghiệp….diễn ra vô cùng phổ biến và tốc độ nhanh, tuy nhiên 80% dân số nghèo
trên thế giới chỉ sử dụng 20% phần tài nguyênvà năng lượng của loài người.
2.3.1.

Tác động qua lại của đường lối tăng trưởng kinh tế đến môi trường sinh thái
và ngược lại
Môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện vô cơ, hữu cơ của các hệ
sinh thái ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và mọi hoạt động khác của xã hội
loài người.Nó cũng là những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay
một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người. Còn tăng trưởng
kinh tế nhằm cải thiện và phát triển đời sống của con người. Vì vậy giữa môi
trường sinh thái và tăng trưởng kinh tế có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ. Như
chúng ta đã biết, môi trường sống được tạo ra và tồn tại trong tự nhiên, vì vậy có
thể nói nó tồn tại một cách khách quan độc lập với ý thức con người. Tuy nhiên
sự phát triển của môi trường lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của con người,
con người có thể tác động làm môi trường tốt lên hoặc xấu đi. Tăng trưởng kinh
tế lại được sinh ra, tồn tại và phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào con người nên
nó tồn tại chủ quan. Môi trường chịu ảnh hưởng trực tiếp của con người, tăng
trưởng kinh tế phụ thuộc vào con người từ đó ta có thể thấy môi trường chịu ảnh
hưởng của tăng trưởng kinh tế và ngược lại, mối quan hệ của chúng thông qua
một chủ thể là con người. Môi trường là địa bàn để tăng trưởng kinh tế hoạt
động vì tăng trưởng kinh tế diễn ra trên diện rộng và cần khai thác tài nguyên
thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích của con người. Nhưng tài nguyên môi trường
không phải vô hạn. Nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không nghĩ đến việc cải tạo

môi trường thì một ngày nào đó tăng trưởng kinh tế sẽ phải dừng lại do môi
trường bị suy thoái. Lúc đó con người sẽ phải nhận hậu quả do chính mình gây
Nhóm 5

19Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

ra. Một sản phẩm do con người tạo ra lại phá hủy cái mà con người tác động
trực tiếp là môi trường sinh thái (vì con người không thể sống mà không chịu tác
động của môi trường sinh thái ). Ngược lại, nếu tăng trưởng kinh tế gắn liền với
bảo vệ môi trường không những nó làm cho đời sống con người ngày càng được
cải thiện cả môi trường do kinh tế phát triển nhà nước có ngân sách cho những
dự án bảo vệ môi trường, nguồn tài nguyên bị khai thác được thay thế dần bởi
các nguồn tài nguyên tự tạo.
2.3.2.

Những vấn đề đặt ra giữa mục tiêu, chiến lược tăng trưởng kinh tế đến bảo
vệ môi trường sinh thái và ngược lại
Vấn đề cần đặt ra hiện nay là giải quyết được 3 mâu thuẫn sau giữa tăng
trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái.
a) Mâu thuẫn giữa yêu cầu nhận thức đúng đắn về kết hợp hài hòa giữa
tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường với thực tế nhận thức của Cán bộ,
Đảng viên, nhân dân và doanh nhân còn nhiều bất cập.
Trong những năm gần đây, sự kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi
trường đã được quan tâm. Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở mức độ các chủ trương
là chủ yếu, chưa trở thành hành động có hiệu quả cao trên thực tế.

Sự nhận thức về việc kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng kinh tế với bảo
vệ môi trường của cán bộ, đảng viên, nhân dân và ở các cơ sở sản xuất
kinh doanh, dịch vụ, du lịch hay các cộng đồng dân cư cũng như đội ngũ
doanh nhân chưa đầy đủ khiến cho tình trạng vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường và quản lý tài nguyên vẫn đang diễn ra ở hầu hết các tỉnh,
gây khó khăn trong công tác phòng ngừa và khắc phục, xử lý sự cốvề
môi trường.
b) Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải có quy hoạch, kế hoạch hợp lý cho việc
kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và thực trạng công tác
quy hoạch, kế hoạch này chưa đáp ứng được yêu cầu
Mặc dù bước đầu, trong phần lớn các kế hoạch, quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội và môi trường tại địa phương đã có sự gắn kết giữa mục
Nhóm 5

20Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

tiêu phát triển kinh tế, ổn định xã hội với bảo vệ môi trường. Nhưng nhìn chung,
sự gắn kết này chỉ mới dừng lại về mặt hình thức mà chưa có sự kết hợp hài hòa.
Hiện nay, thực tế ở hầu hết các tỉnh cho thấy, tăng trưởng kinh tế vẫn chủ
yếu dựa vào tăng trưởng vốn đầu tư và khai thác các nguồn tài nguyên thô, tỷ lệ giá
trị gia tăng của sản phẩm còn thấp, sức cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp
trên thị trường chưa cao, điều này phản ánh trình độ của nền kinh tế cơ bản vẫn
phát triển theo chiều rộng, thiếu sự đầu tư phát triển cho chiều sâu, hầu hết các lĩnh
vực sản xuất vẫn sử dụng các loại công nghệ lạc hậu, gây lãng phí đầu vào nguyên,
nhiên liệu và gây ảnh hưởng lớn tới bảo vệ môi trường.

c) Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải có hệ thống chính sách hợp lý bảo đảm kết
hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường với hệ thống chính sách bảo đảm kết
hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường hiện tại còn nhiều bất cập
Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã ban hành khá nhiều văn bản
và quy phạm pháp luật về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhưng
trên thực tế, việc áp dụng và triển khai những văn bản này còn nhiều hạn
chế cần phải sửa đổi, bổ sung. Các quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ. Ngoài ra, những chế tài xử phạt liên
quan đến vi phạm môi trường tại các điểm gây ô nhiễm còn chưa đủ mạnh,
dẫn đến tình trạng tái phạm nhiều lần của các đơn vị, cá nhân gây ô nhiễm.
Bên cạnh đó, việc buông lỏng hoặc “làm ngơ” của một số cơ quan quản lý
nhà nước về môi trường khiến cho việc phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm
chưa nghiêm, gây bức xúc cho người dân. Cải cách hành chính ở các tỉnh đã thu
được các kết quả quan trọng, nhưng đội ngũ cán bộ quản lý tài nguyên và môi
trường cấp tỉnh đến cấp xã còn thiếu về số lượng, năng lực, trình độ còn bất cập.
III.

Thực trạng và giải pháp cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi

3.1.
3.1.1.

trường sinh thái
Hiện trạng biến đổi môi trường sinh thái ở VN
Rừng tiếp tục bị thu hẹp
Trước năm 1945, Việt Nam có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích
tự nhiên của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29%),
Nhóm 5

21Lớp M1CQIS-B



Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

đến nay chỉ còn khoảng 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%). Độ che phủ của rừng
đã giảm sút đến mức báo động.Chất lượng rừng ở các vùng còn rừng bị hạ
xuống mức quá thấp.Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên sinh.40
năm trước đây, 400.000 ha đất ven biển nước ta được bao phủ bởi rừng ngập
mặn, nhưng chỉ trong 5 năm, 2006 - 2011, 124.000 ha rừng ngập mặn ven biển
đã biến mất để nhường chỗ cho các ao tôm, ao cá - tương đương diện tích bị mất
trong 63 năm trước đó.Rừng ngập mặn trưởng thành rộng lớn ở vùng châu thổ
sông Hồng hầu như đã bị tàn phá. Hệ lụy kéo theo là sự giảm sút mạnh của năng
suất nuôi trồng thủy sản ven biển và sự mất cân bằng môi trường sinh thái.
Số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn cho thấy đến hết năm 2012 có hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị phá để sử
dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện, nhưng chỉ mới trồng
bù được hơn 700 ha.
Đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học vào nhóm cao
nhất thế giới. Với các điều tra đã công bố, Việt Nam có 21.000 loài động vật,
16.000 loài thực vật, bao gồm nhiều loài đặc hữu, quý hiếm. Tổ chức vi sinh vật
học châu Á thừa nhận Việt Nam có không ít loài vi sinh vật mới đối với thế giới.
Thế nhưng, trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài chim
bị tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong. Có một thực tế là các trang trại gây
nuôi động vật hoang dã như nuôi những loài rắn, rùa, cá sấu, khỉ và các loài quý
hiếm khác vì mục đích thương mại ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á lại
không hề làm giảm bớt tình trạng săn bắt động vật hoang dã trong tự nhiên, mà
thậm chí còn làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn bởi những trang trại này đã liên

quan tới các hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã.
3.1.2.

Ô nhiễm biển, sông ngòi
Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nguyên nhân chính dẫn
đến ô nhiễm biển, sông ngòi là do phát triển công nghiệp, du lịch tràn lan; nuôi
trồng thủy sản bất hợp lý; dân số tăng và nghèo khó; lối sống giản đơn và dân trí
thấp; thể chế, chính sách còn bất cập... Hiện có từ 70% đến 80% lượng rác thải
Nhóm 5

22Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

trên biển có nguồn gốc từ nội địa khi các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp,
khu dân cư xả nước thải, chất thải rắn không qua xử lý ra các con sông ở vùng
đồng bằng ven biển hoặc xả thẳng ra biển.
Điển hình như vụ sả thải của Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp
Formusa Hà Tĩnh tại khu công nghiệp Vũng Áng-Hà Tĩnh trong năm 2016 đã
làm ô nhiễm nghiêm trọng vùng biển của 4 tỉnh miền Trung(Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế), phá hủy thảm thực vật đáy biển, cá biển chết
hang loạt làm cho hang trăm nghìn ngư dân sống bằng nghề biển thất nghiệp,
các hộ nuôi trồng thủy sản cũng bị ảnh hưởng, thời gian để khắc phục môi
trường mất rất nhiều năm.
Vụ sả thải của công ty Vedan diễn ra trong nhiều năm liền tại Long ThànhĐồng Nai đã bức tử sông Thị Vải. Gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường và ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân tại khu vực
Với những dòng sông ở các thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ

Chí Minh, tình trạng bị ô nhiễm nặng nề là điều dễ dàng nhận thấy qua thực tế,
cũng như qua sự phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên,
sông ở nhiều vùng nông thôn cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm
nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải làng nghề, rác thải nông nghiệp và rác thải
từ các khu công nghiệp vẫn đang từng ngày, từng giờ đổ xuống.
Các dòng sông đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề nhất là:
sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy, sông Đồng Nai và hệ thống sông Tiền và sông Hậu
ở Tây Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Những con sông này đã trở nên độc
hại, làm hủy hoại nguồn thủy sản và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống,
sức khoẻ của cộng đồng.
3.1.3.

Bãi rác công nghệ và chất thải
Như việc khai thác quặng Bô Xít ở Tây nguyên làm cho môi trường đất ô
nhiễm nghiễm trọng do lưu trữ bùn đỏ chất thải khi chế xuất nhôm từ quặng,
thiếu hụt ngồn nước khu vực Tây nguyên vì phải tiêu tốn lượng rất lớn khi luyện

Nhóm 5

23Lớp M1CQIS-B


Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

quặng và gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm mạch nước ngầm từ quá trình khai
thác và chế xuất quặng
Hiện các doanh nghiệp ở Việt Nam là chủ sở hữu của hơn một nghìn con
tàu biển trọng tải lớn, cũ nát. Hầu hết các cảng biển trên thế giới đều không cho

phép loại tàu này vào, vì nó quá cũ gây ô nhiễm môi trường lại không bảo đảm
an toàn hàng hải. Thế nhưng, hơn một nghìn con tàu cũ nát đó vẫn đang được
neo vật vờ ở các tuyến sông, cửa biển để chờ được “hóa kiếp” thành phế liệu mà
việc phá dỡ loại tàu biển cũ này sẽ thải ra rác thải nguy hại làm ô nhiễm môi
trường sống.
Nhiều dự án luyện, cán thép lớn đã, đang và sẽ xuất hiện, hứa hẹn đưa
Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thép lớn, song đồng thời cũng có nguy cơ
biến Việt Nam thành nơi tập trung “rác” công nghệ và chất thải. Bài học “xương
máu” này đã từng xảy ra với ngành sản xuất xi măng, song vẫn có khả năng lặp
lại nếu những dây chuyền luyện gang, thép bị loại bỏ ở Trung Quốc được đưa về
lắp đặt ở Việt Nam.
3.1.4.

Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp
Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy,
nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng gia
tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao. Trong đó, lo ngại nhất là chất
thải từ chăn nuôi. Hiện cả nước có 16.700 trang trại chăn nuôi, tập trung chủ yếu ở
đồng bằng sông Hồng (45%) và Đông Nam Bộ (13%), với tổng đàn gia súc 37,8
triệu con và trên 214 triệu con gia cầm. Theo tính toán của Vụ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tổng khối lượng
chất thải trong chăn nuôi của nước ta hiện khoảng hơn 73 triệu tấn/năm.
Nuôi trồng thủy sản cũng đang gặp phải vấn đề tương tự.Việc đẩy mạnh
các biện pháp thâm canh, tăng năng suất tại các vùng nuôi tôm tập trung, trong
đó chủ yếu là tôm sú đã làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước. Cùng với đó, tình
trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt một cách tràn
lan, không có kiểm soát đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước. Hiện nay, lượng
Nhóm 5

24Lớp M1CQIS-B



Báo cáo Tiểu luận môn Triết học

Giảng viên: ThS.Nguyễn Thị Hồng Vân

thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng, quá hạn sử dụng còn
tồn đọng cần tiêu hủy là hơn 700 kg (dạng rắn) và hơn 3.400 lít (dạng lỏng).
Kết quả điều tra năm 2006 cho thấy, khu vực nông thôn thải ra khoảng 10 triệu
tấn/năm chất thải rắn sinh hoạt, nhưng đến năm 2010 tăng lên tới 13,5 triệu
tấn/năm. Số rác thải này cộng với lượng chất thải từ sản xuất nông nghiệp đã
khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng trở nên
đáng lo ngại.
3.1.5.

Ô nhiễm ở các làng nghề
Một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại
học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, 100% mẫu
nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép.
Riêng Hà Nội, khảo sát tại 40 xã cho kết quả khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng
từ các hoạt động sản xuất.
Ở các làng tái chế kim loại, khí độc không qua xử lý đã thải trực tiếp vào
không khí như ở làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên), nồng độ chì vượt
quá 2.600 lần tiêu chuẩn cho phép. Nghề thuộc da, làm miến dong ở Hà Tây
(nay là Hà Nội) cũng thường xuyên thải ra các chất như bột, da, mỡ làm cho
nước nhanh bị hôi thối, ô nhiễm nhiều dòng sông chảy qua làng nghề.
Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao
động gần đây cho biết, trong các làng nghề, những bệnh mắc nhiều nhất là bệnh
liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hay
đau dây thần kinh chiếm 9,72%. Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệ người

dân mắc bệnh về thần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm
khoảng 65,6% và bị chứng hồng cầu giảm chiếm 19,4%. Còn tại làng nghề sản
xuất rượu Vân Hà (Bắc Giang) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da là 68,5% và các
bệnh về đường ruột là 58,8%.

3.1.6.

Khai thác khoáng sản
Cùng với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu, nguồn tài nguyên khoáng sản dưới
lòng đất của nước ta đã bị khai thác khá mạnh. Theo thống kê của Tổng cục Hải
quan, từ năm 2009 - 2011, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1 - 2,6 triệu tấn khoáng
Nhóm 5

25Lớp M1CQIS-B


×