Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

Một số biện pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử việt nam ở trường trung học phổ thông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.06 MB, 80 trang )

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 3
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu ........................................................ 5
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ..................................... 5
5. Đóng góp của đề tài........................................................................................... 6
6. Bố cục ................................................................................................................ 6
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHO HỌC SINH VỀ VAI TRÒ CỦA
QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ - LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN ................................................................................................. 7
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 7
1.1.1. Một số quan niệm ........................................................................................ 7
1.1.2. Mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử ............ 13
1.1.3. Cơ sở xuất phát của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng
nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông ........................................... 15
1.1.4. Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng
nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông ........................... 17
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 20
1.2.1. Thực trạng của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân
dân trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông .................................................... 20
1.2.2. Nguyên nhân thực trạng ............................................................................ 22
1.2.3. Định hướng................................................................................................ 23
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC CHO HỌC SINH VỀ VAI
TRÒ CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG .............................. 25
2.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung của khóa trình lịch sử Việt Nam trong dạy học
lịch sử ở trường trung học phổ thông .................................................................. 25
2.1.1. Vị trí .......................................................................................................... 25



2.1.2. Mục tiêu..................................................................................................... 25
2.1.3. Nội dung .................................................................................................... 27
2.2. Những nội dung cần giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân
dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông ................... 28
2.2.1. Thời cổ đại................................................................................................. 29
2.2.2. Thời trung đại ............................................................................................ 29
2.2.3. Thời hiện đại ............................................................................................. 31
2.3. Một số biện pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân
trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông .......................................... 32
2.3.1. Trong giờ học nội khóa ............................................................................. 33
2.3.1.1. Sử dụng tài liệu tham khảo..................................................................... 33
2.3.1.2. Sử dụng tranh ảnh lịch sử....................................................................... 42
2.3.2. Trong hoạt động ngoại khóa ..................................................................... 45
2.3.2.1. Tổ chức cuộc thi: “Tìm hiểu về vai trò của quần chúng nhân dân trong
lịch sử” ................................................................................................................ 46
2.3.2.2. Tổ chức báo cáo chuyên đề về vai trò của quần chúng nhân dân đối với
lịch sử dân tộc...................................................................................................... 49
2.3.2.3. Tổ chức sân khấu hóa lịch sử theo chủ đề ............................................. 51
2.4. Thực nghiệm sư phạm .................................................................................. 53
2.4.1. Mục đích thực nghiệm............................................................................... 53
2.4.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm ............................................................ 54
2.4.3. Nội dung và phương pháp thực nghiệm .................................................... 54
2.4.4. Kết quả thực nghiệm ................................................................................. 55
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Sự vận động và phát triển của xã hội đã chứng minh rằng con người là
chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử. Quá trình vận động và phát triển đó diễn
ra thông qua hoạt động của con người được gọi là quần chúng nhân dân, dưới sự
lãnh đạo của một cá nhân hay một tổ chức, nhằm thực hiện mục đích và lợi ích
của mình. Quần chúng nhân dân bao gồm tất cả nhân dân lao động với những
giai cấp, tầng lớp khác nhau đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát
triển của xã hội.
Dưới góc độ triết học, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định, quần
chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, giữ vai trò quyết định đối với tiến
trình lịch sử. Từ khi xã hội loài người xuất hiện đến nay, lịch sử xã hội là do
nhân dân lao động xây dựng nên, họ chính là lực lượng sản xuất cơ bản của xã
hội, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, các giá trị văn hóa tinh thần và là động
lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển.
Thực tiễn của lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh vai trò, sức mạnh
to lớn của quần chúng nhân dân trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ
nước được đúc kết trong câu nói bất hủ của Nguyễn Trãi:“Chở thuyền cũng là
dân, lật thuyền cũng là dân, thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết”
[1; 139].
Kế thừa quan điểm triết học của các nhà tiền bối đi trước, Đảng Cộng sản
Việt Nam cũng khẳng định rằng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân
dân, và quan điểm “lấy dân làm gốc” trở thành tư tưởng thường trực nói lên vai
trò quan trọng của quần chúng nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn nhận thức được tầm quan trọng đó
và vận dụng trong quá trình xây dựng đất nước.
Ngày nay, Việt Nam đang trong thời kì quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội,
xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì thế, đòi hỏi khách quan đặt
ra là phải có đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và sự đóng góp
của nhân dân từ mọi phương diện nhằm tạo thành một nguồn sức mạnh tổng hợp
1



để thực hiện thành công định hướng đề ra. Vì thế, trong mỗi công cuộc cách
mạng thì vai trò của quần chúng nhân dân là cực kì quan trọng.
Sức mạnh, vai trò to lớn của quần chúng nhân dân là như vậy, nhưng một
vấn đề đặt ra là làm thế nào để khơi gợi, phát huy được tối đa nguồn lực của sức
mạnh ấy? Trọng trách này đặt lên vai của sự nghiệp giáo dục trong đó có bộ
môn lịch sử.
Môn lịch sử cũng như các môn khoa học khác, có ưu thế riêng trong việc
thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông và đặc biệt có ưu thế trong
việc giáo dục cho học sinh biết về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử.
Tuy nhiên, trong những năm qua, việc giáo dục cho học sinh biết về vai
trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử còn chưa được chú trọng và đặt đúng
vị trí của nó. Thông thường, ở những bài học lịch sử có chứa đựng nội dung về
vai trò của quần chúng nhân dân, giáo viên chỉ giới thiệu sơ qua hoặc chỉ cung
cấp kiến thức cơ bản trong bài học cho học sinh rồi thôi chứ chưa chú trọng tạo
biểu tượng sinh động hay sử dụng các hình thức, biện pháp khác để lôi cuốn học
sinh. Vì thế, cách thức giáo dục cho học sinh về vai trò to lớn của quần chúng
nhân dân trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc thông qua các bài học lịch
sử cụ thể còn đơn điệu, nhàm chán và kém hấp dẫn. Do đó, học sinh không hiểu
được hết sức mạnh, vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong lịch sử.
Hơn nữa trong bối cảnh hiện nay, tình hình chính trị đang có những diễn
biến phức tạp, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội luôn vấp phải sự chống phá
của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, những tranh chấp xung quanh vấn
đề chủ quyền biên giới, biển đảo của Tổ quốc ngày càng trở nên căng thẳng.
Trong bối cảnh đó, việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân
dân trong lịch sử nhất là giai đoạn hiện nay càng trở nên cần thiết. Thông qua
việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông, việc lồng ghép, giáo dục cho học sinh
về vai trò của quần chúng nhân dân không chỉ làm rõ hơn nội dung kiến thức cơ
bản, giúp học sinh nhớ kĩ, nhớ lâu, hiểu sâu kiến thức, có thái độ đúng đắn với
các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà còn giúp học sinh nhận thức được vai trò to

lớn của quần chúng nhân dân trong mỗi giai đoạn lịch sử; giáo dục niềm tự hào,
2


niềm tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng nhân dân; bồi dưỡng, vun đắp
thêm tình yêu quê hương đất nước, ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Một số biện
pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy
học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông” làm khóa luận tốt nghiệp
có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với bộ môn lịch sử, vấn đề giáo dục cho học sinh về vai trò của quần
chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông là
một vấn đề hoàn toàn mới mẻ, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu
nào đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên trước đó, ở các bộ môn khoa học khác,
đặc biệt là bộ môn Triết học, vấn đề vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch
sử đã trở thành đề tài được nhiều nhà lý luận quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là
các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin, được đề cập nhiều trong các sách
giáo trình, sách chuyên khảo dùng trong các trường đại học. Có thể kể đến một
số tác phẩm như:
C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập (tập 6,12), nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội 1995.
Giáo trình Triết học Mác - Lênin, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội 2003.
Giáo trình Kinh tế Chính trị Mác - Lênin, nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội 2007.
Giáo trình Triết học Mác - Lênin, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội 2011.
Các công trình trên đã đề cập một cách tương đối có hệ thống những vấn
đề lý luận về vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Đưa ra các

luận điểm cơ bản về quần chúng nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân
trong sự phát triển của lịch sử xã hội, mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và
cá nhân trong lịch sử, trong đó quần chúng nhân dân giữ vai trò là lực lượng
quyết định lịch sử.
3


Khi đề cập đến vấn đề con người, vai trò, chức năng của nguồn lực con
người đối với sự phát triển xã hội, tác giả Đỗ Nguyên Phương trong “Giáo trình
Chủ nghĩa xã hội khoa học, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
2002” khẳng định nguồn lực con người là yếu tố quyết định sự phát triển của
mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới, mà con người ở đây chính là lực lượng
quần chúng nhân dân lao động.
Trong cuốn giáo trình“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội 2008” (Phan Công Nghĩa
chủ biên), tác giả cũng đã đề cập đến vấn đề quần chúng nhân dân và vai trò của
quần chúng nhân dân trong lịch sử nhưng mang tính khái quát, chưa đi sâu vào
từng giai đoạn, thời kì lịch sử cụ thể.
Trong tác phẩm“Hồ Chí Minh Toàn tập (tập 9), nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội 1996” tuy không nói nhiều về vai trò của quần chúng nhân
dân trong lịch sử nhưng Người cũng đã đề cập đến vai trò to lớn của quần chúng
trong việc sáng tạo ra những của cải vật chất, các giá trị văn hóa tinh thần làm
phong phú thêm kho tàng văn hóa dân tộc.
Tác giả Lê Duẩn trong cuốn “Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhà
xuất bản Sự thật, Hà Nội 1976” cũng đã đề cập đến vai trò của quần chúng nhân dân
với tư cách là động lực của các cuộc cách mạng xã hội, mà cụ thể là cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong giai đoạn từ 1930 đến 1945.
Ngoài các nguồn tài liệu nêu trên, vấn đề vai trò của quần chúng nhân dân
trong lịch sử còn được luận bàn trong các văn kiện Đảng, đặc biệt là trong “Văn
kiện Đảng toàn tập (tập 3,6,7). Mặc dù được diễn giải với các ngôn từ khác nhau
nhưng tựu chung lại các văn kiện đề thống nhất cho rằng quần chúng nhân dân

là lực lượng đông đảo nhất, mạnh mẽ nhất, đấu tranh kiên quyết nhất trong các
phong trào cách mạng.
Như vậy, vấn đề vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử đã thu hút
sự chú ý, quan tâm của nhiều nhà lý luận. Tuy nhiên, các công trình, bài viết trên
chỉ mang tính định hướng về thế giới quan và phương pháp luận liên quan đến
vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Cho đến nay chưa có một công
4


nghiên cứu chuyên sâu nào đưa ra được các hình thức và biện pháp để giáo dục
cho học sinh biết về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử nói
chung, lịch sử Việt Nam nói riêng. Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu trên
đây là nguồn tài liệu tham khảo quý báu để tôi hoàn thành khóa luận này.
3. Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về
vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, sự vận dụng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về vai trò của quần chúng nhân dân vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới của nước
ta hiện nay. Đề tài đi sâu làm rõ vai trò, ý nghĩa cũng như những nội dung cần giáo
dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử, đồng
thời đề xuất một số biện pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng
nhân dân thông qua dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số biện pháp giáo dục cho học
sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở
trường trung học phổ thông.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn, đề tài giới hạn ở việc nghiên
cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về vai trò của quần chúng nhân dân trong

lịch sử. Vị trí, ý nghĩa, những nội dung cần giáo dục cho học sinh về vai trò của
quần chúng nhân dân. Qua đó, đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục cho học
sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở
trường trung học phổ thông.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về giáo dục và giáo
dục lịch sử, lý luận về phương pháp dạy học bộ môn.

5


Ngoài việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung như: nghiên cứu
tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,… đề tài còn sử dụng phương
pháp thực nghiệm - tiến hành soạn giáo án thực nghiệm.
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vai trò của quần
chúng nhân dân trong lịch sử.
Khẳng định vai trò, ý nghĩa, những nội dung cần giáo dục cho học sinh về
vai trò của quần chúng nhân dân. Đồng thời đề xuất một số biện pháp giáo dục
cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam
ở trường phổ thông. Việc đề xuất những biện pháp giáo dục cho học sinh về vai
trò của quần chúng nhân dân trong dạy học lịch sử góp phần thiết thực vào việc
nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch sử Việt Nam nói
riêng; giúp các em có những nhận thức đúng đắn về vai trò và sức mạnh to lớn của
quần chúng nhân dân; góp phần giáo dục cho học sinh ý thức trách nhiệm đối với
quê hương đất nước, với những thành quả mà ông cha ta đã giành được, lòng tự
hào, niềm tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng nhân dân lao động trong mỗi
thời kỳ lịch sử; tạo cho học sinh sự hứng thú, yêu thích đối với môn học.

Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho sinh viên các trường đại học
sư phạm, cho giáo viên ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn cả nước.
6. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ
lục, đề tài được kết cấu thành hai chương:
Chương 1: Vấn đề giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân
dân trong dạy học lịch sử - Lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Một số biện pháp giáo dục cho học sinh về vai trò của quần
chúng nhân dân trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông.

6


CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ GIÁO DỤC CHO HỌC SINH VỀ VAI TRÒ CỦA
QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ - LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số quan niệm
* Quan niệm về quần chúng nhân dân
- Quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin:
Theo quan điểm duy vật lịch sử, con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử
nhưng không theo phương thức hành vi đơn lẻ, rời rạc, cô độc của mỗi con
người mà theo phương thức liên kết những con người lại với nhau để tạo thành
sức mạnh cộng đồng xã hội, có tổ chức, có lãnh đạo nhằm giải quyết các nhiệm
vụ lịch sử trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội - cộng đồng đó
chính là quần chúng nhân dân.
Với quan niệm đúng đắn, khoa học về con người và bản chất của con
người, Triết học Mác - Lênin đã lý giải một cách khoa học, thuyết phục về quần
chúng nhân dân. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quần chúng nhân
dân bao gồm tất cả nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ trong xã hội mà

qua hoạt động của họ thúc đẩy sự phát triển của xã hội [2; 483, 484].
Khái niệm quần chúng nhân dân theo Chủ nghĩa Mác - Lênin được xác
định bởi những nội dung sau:
Thứ nhất, quần chúng nhân dân là những người lao động sản xuất ra của
cải vật chất và các giá trị tinh thần để duy trì cho sự tồn tại và phát triển của xã
hội (gồm những người lao động tự giác và sáng tạo).
Thứ hai, quần chúng nhân dân là những bộ phận dân cư chống lại giai cấp
thống trị áp bức bóc lột, đối kháng với nhân dân và chống lại các kẻ thù xâm lược.
Thứ ba, quần chúng nhân dân là những giai cấp, những tầng lớp thúc đẩy
sự tiến bộ xã hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặc gián tiếp trên các
lĩnh vực của đời sống xã hội.
Như vậy, từ sự phân tích trên cho thấy, quần chúng nhân dân là một phạm
trù lịch sử, có sự vận động, biến đổi theo sự phát triển của lịch sử xã hội.
7


- Quan niệm của Hồ Chí Minh:
Trong cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ít
lần đưa ra quan niệm về quần chúng nhân dân.
Có lúc Người cho rằng quần chúng nhân dân bao gồm tất cả “trai, gái,
già, trẻ” của “năm lớp Sĩ, Nông, Công,Thương, Binh” [12; 622].
Có lúc Người chỉ rõ rằng: “quần chúng nhân dân là bốn giai cấp công
nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử khác yêu nước” [14; 586].
Người còn nhấn mạnh rằng bốn giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản
dân tộc và những phần tử khác yêu nước “đó là nền tảng của quốc dân”.
Như vậy, theo quan niệm của Hồ Chí Minh thì quần chúng nhân dân bao
gồm đông đảo những người thuộc nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau và chủ yếu
là những người lao động trong xã hội. Đó là các tầng lớp trí thức (Sỹ); giai cấp
nông dân - người sống bằng nghề làm ruộng (Nông); giai cấp công nhân (Công)
- người lao động chân tay, làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng,

hầm mỏ…; tầng lớp thương nhân hay tầng lớp những người buôn bán (Thương);
những người làm việc trong quân đội nhân dân hay là quân nhân của nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (Binh). Các tầng lớp, giai cấp này “đoàn kết thành một
khối” như “năm cánh ngôi sao vàng trên nền đỏ quốc kì Việt Nam” và là “nền
tảng của quốc dân Việt Nam” [15; 498].
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể khẳng định quần chúng nhân
dân là bộ phận có chung lợi ích căn bản, bao gồm những thành phần, những tầng
lớp, giai cấp khác nhau liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh đạo của một cá
nhân, tổ chức hay đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề về kinh tế, chính trị,
xã hội của một thời đại nhất định. Họ là những người sản xuất ra của cải, vật
chất và tinh thần nuôi sống toàn bộ xã hội, họ là những người đấu tranh chống
lại sự áp bức bóc lột của giai cấp thống trị, đồng thời họ là lực lượng thúc đẩy sự
tiến bộ của xã hội thông qua những hoạt động của mình.
Căn cứ vào điều kiện lịch sử xã hội và những nhiệm vụ đặt ra của mỗi thời
đại mà quần chúng nhân dân bao hàm những thành phần, những tầng lớp và giai
cấp khác nhau, biến đổi theo sự phát triển của phương thức sản xuất vật chất.
8


Ví dụ: Trong xã hội chiếm hữu nô lệ với phương thức sản xuất chiếm hữu
nô lệ thì quần chúng nhân dân là giai cấp nô lệ. Trong xã hội phong kiến với
phương thức sản xuất phong kiến thì quần chúng nhân dân là giai cấp nông dân,
thợ thủ công, thương nhân, giai cấp tư sản, tiểu tư sản, … Trong xã hội tư bản
chủ nghĩa với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì quần chúng nhân dân
chính là giai cấp công nhân, nông dân, … Trong xã hội xã hội chủ nghĩa với
phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, quần chúng nhân dân là giai cấp công
nhân, nông dân, đội ngũ trí thức,…
Ngày nay, quần chúng nhân dân bao gồm toàn bộ lực lượng tiến bộ của
nhân loại, trong đó lực lượng cơ bản là giai cấp công nhân và nhân dân lao động,
đoàn kết đấu tranh phấn đấu thực hiện cho các mục tiêu cơ bản của thời đại: hòa

bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Thực chất, quần chúng nhân dân là sự liên kết những cá nhân thành một
khối thống nhất, được xây dựng trên cơ sở nền tảng là lợi ích căn bản nhằm thực
hiện những nhiệm vụ lịch sử đặt ra. Do đó, quần chúng nhân dân là một phạm
trù lịch sử, vận động và biến đổi theo sự phát triển của lịch sử xã hội.
* Quan niệm về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử
- Quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin:
Trước khi Chủ nghĩa Mác ra đời, triết học duy tâm và triết học duy vật
đều chưa nhận thức được vai trò quan trọng của quần chúng nhân dân trong lịch
sử, cụ thể:
Tư tưởng tôn giáo cho rằng, mọi sự thay đổi trong xã hội là do ý chí của
đấng tối cao, là do “mệnh trời”, ý chí đó được các cá nhân thực hiện.
Đối lập với quan điểm nêu trên, triết học duy tâm lại khẳng định lịch sử
nhân loại là lịch sử của các bậc vua chúa, anh hùng hào kiệt, thiên tài lỗi lạc.
Còn quần chúng nhân dân chỉ là công cụ, phương tiện để sai khiến [4; 620].
Trong khi đó, những nhà duy vật trước Mác tuy không tin vào Thượng đế,
thần linh, nhưng cũng không hiểu được vai trò của quần chúng nhân dân trong
lịch sử. Họ cho rằng nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội là tư tưởng, đạo
đức, là các vĩ nhân sớm nhận thức được chân lý vĩnh cửu.
9


Ở thời cổ trung đại, cũng có nhà tư tưởng đề cao vai trò của quần chúng
nhân dân nhưng lại không nhận thức được một cách khoa học vai trò đó.
Bằng những lý luận sắc bén mang tính khoa học và cách mạng, Chủ nghĩa
Mác - Lênin đã bác bỏ luận điểm của các nhà triết học duy tâm và duy vật không
triệt để trước đó và chứng minh được vai trò quyết định của quần chúng nhân
dân trong lịch sử và khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân
chính ra lịch sử. Bởi vì mọi lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng con người chỉ
được chứng minh thông qua sự tiếp thu và hoạt động của quần chúng nhân dân.

Hơn nữa tư tưởng tự nó không làm biến đổi xã hội mà phải thông qua hành động
cách mạng, hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân, để biến lý tưởng, ước
mơ thành hiện thực trong đời sống xã hội.
Theo quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, vai trò quyết định lịch sử
của quần chúng nhân dân được biểu hiện ở 3 nội dung chính sau:
Thứ nhất: Quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực
tiếp sản xuất ra của cải, vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Thứ hai: Quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách
mạng xã hội. Lịch sử đã chứng minh rằng, không có cuộc cách mạng nào không
có sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Họ là lực lượng cơ bản của
cách mạng, đóng vai trò quyết định thắng lợi của mọi cuộc cách mạng.
Thứ ba: Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị văn hóa
tinh thần.
Tóm lại, theo Chủ nghĩa Mác - Lênin xét từ kinh tế đến chính trị, từ hoạt
động vật chất đến hoạt động tinh thần, quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò
quyết định trong lịch sử.
- Quan niệm của Hồ Chí Minh:
Hồ Chí Minh đã kế thừa và vận dụng sáng tạo quan niệm của Chủ nghĩa
Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Người khẳng
định vai trò lao động, sản xuất ra của cải vật chất của quần chúng nhân dân là vô
cùng to lớn. Người nói “xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở là nhờ người lao
động. Trí thức mở mang cũng là nhờ người lao động. Vì vậy, lao động là sức
10


chính của sự tiến bộ loài người”. Vì thế, Người luôn nhắc nhở: “cơm chúng ta
ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều do mồ hôi, nước mắt của nhân
dân mà ra. Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân” [14; 250].
Hồ Chí Minh còn khẳng định, dân là lực lượng chủ yếu, là gốc của các
cuộc cách mạng. Người nhiều lần chỉ ra rằng: “Cách mạng là sự nghiệp của

quần chúng nhân dân, quần chúng tự mình giải phóng lấy mình, không có anh
hùng hào kiệt nào có thể cứu vớt được quần chúng, mà chính bản thân quần
chúng được giác ngộ, được tổ chức đoàn kết lại dưới sự lãnh đạo của đội tiên
phong của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Đông Dương mới có thể giải
phóng cho mình được” [11; 11].
Quần chúng nhân dân không chỉ là những người sáng tạo ra của cải vật
chất hay là lực lượng chủ yếu của các cuộc cách mạng xã hội mà theo Hồ Chí
Minh, quần chúng nhân dân còn là những người tạo ra các giá trị văn hóa tinh
thần. Người đã từng nói: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là
những người sáng tạo. Nhưng quần chúng không chỉ sáng tạo ra của cải, vật
chất cho xã hội, quần chúng còn là những người sáng tác nữa”. “Những câu tục
ngữ của ta do ai làm ra? Đó là do quần chúng làm ra. Những câu tục ngữ,
những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng. Các sáng tác
ấy rất hay mà lại ngắn, chứ không trường thiên đại hải, dây cà ra dây muống.
Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý” [13; 250]. Vì thế, những giá trị tinh
thần do nhân dân sáng tạo là cơ sở cho sự phát triển văn hóa nghệ thuật. Sự hoạt
động của quần chúng nhân dân là cơ sở sản xuất ra giá trị tinh thần cho xã hội.
Những tâm tư tình cảm, nguyện vọng là cơ sở vô tận cho sự nghiệp sáng tác, xây
dựng và phát triển ngày càng cao về văn hóa tinh thần.
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: quần chúng
nhân dân đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của lịch sử dân
tộc. Trong bất kì giai đoạn nào của lịch sử thì vai trò của quần chúng nhân dân
cũng đều được xác định bởi các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, quần chúng nhân dân là chủ thể tạo ra mọi của cải vật chất đảm
bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
11


Chúng ta biết rằng, con người muốn tồn tại trước hết cần thỏa mãn những
nhu cầu thiết yếu như: ăn, ở, mặc,… Để đáp ứng những nhu cầu đó, người ta

phải không ngừng sản xuất. Sản xuất vật chất là điều kiện cơ bản quyết định sự
tồn tại và phát triển của xã hội. Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động của
toàn bộ xã hội, chứ không phải của một cá nhân nào. Trong đó, lực lượng cơ
bản, đông đảo và quyết định nhất là quần chúng nhân dân.
Thứ hai, quần chúng nhân dân là lực lượng chủ yếu của các cuộc cách
mạng xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng, giữa giai cấp
thống trị và giai cấp bị trị. Khi những mâu thuẫn đó lên tới đỉnh điểm, không thể
dung hòa được thì tất yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp. Đấu tranh giai cấp phát
triển đến giai đoạn đỉnh cao của nó sẽ thực hiện cuộc cách mạng xã hội để xóa
bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới, đồng thời nó sẽ xóa bỏ
chế độ xã hội cũ, thiết lập chế độ xã hội mới tiến bộ hơn.
Quần chúng nhân dân bao giờ cũng là lực lượng cơ bản của cách mạng,
đóng vai trò quyết định đến thắng lợi của mọi cuộc cách mạng. Trong các cuộc
cách mạng vĩ đại làm thay đổi hình thái kinh tế - xã hội, quần chúng nhân dân
tham gia đông đảo, tự giác, tích cực thì cách mạng mới có thể giành thắng lợi.
Cách mạng là ngày hội của quần chúng nhân dân, là sự nghiệp của quần chúng
chứ không phải sự nghiệp riêng của mỗi cá nhân, anh hùng nào. Lịch sử xã hội
loài người đã chứng minh điều đó.
Ở Việt Nam, vào thời kì cách mạng gay go nhất trong giai đoạn 1930 1945, Đảng ta đã xây dựng được khối liên minh giữa các cao trào cách mạng
1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945. Thông qua các cao trào đó mà Đảng ta
đã tập hợp, giác ngộ và đưa quần chúng nhân dân vào các cuộc đấu tranh. Nhiều
tổ chức quần chúng, nhiều đoàn thể cách mạng được thành lập đã thu hút đông
đảo nhân dân tham gia, biến cách mạng trở thành ngày hội của quần chúng mà
đỉnh cao là cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945.

12



Thứ ba, quần chúng nhân dân chính là người sáng tạo ra những giá trị văn
hóa tinh thần.
Quần chúng nhân dân chẳng những đóng vai trò quyết định trong sản
xuất vật chất, trong các cuộc cách mạng xã hội, mà còn đóng vai trò vô cùng to
lớn trong sự nghiệp phát triển văn học, nghệ thuật, khoa học,… đồng thời áp
dụng những thành tựu đó trong hoạt động thực tiễn. Những sáng tạo về văn học,
nghệ thuật, y học, chính trị, đạo đức, … của nhân dân vừa là cội nguồn, vừa là
điều kiện để thúc đẩy sự phát triển nền văn hóa tinh thần của các dân tộc trong
mọi thời đại. Hoạt động của quần chúng nhân dân từ trong thực tiễn là nguồn
cảm hứng vô tận cho mọi sáng tạo tinh thần trong đời sống xã hội.
Ví dụ: Từ những hoạt động sản xuất vật chất, quần chúng nhân dân đã đúc
kết ra những kinh nghiệm sản xuất, điều đó được thể hiện rõ qua những câu ca
dao, tục ngữ:
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”
hay
“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.
Chính hoạt động sản xuất vật chất và những sáng tạo của quần chúng đã
tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển nền văn hóa tinh thần của dân tộc trong mọi
thời đại. Các giá trị văn hóa tinh thần chỉ có thể trường tồn khi được đông đảo
quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá sâu rộng trở thành giá trị phổ biến.
Tóm lại, xét từ góc độ kinh tế - chính trị, từ thực tiễn đến tinh thần tư
tưởng thì quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong tiến trình lịch
sử dân tộc.
1.1.2. Mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử
Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân không bao giờ có thể
tách rời vai trò cụ thể của mỗi cá nhân, đặc biệt là vai trò của các cá nhân ở vị trí
thủ lĩnh, lãnh tụ hay ở tầm vĩ nhân. Ở bất cứ một thời kì nào, một cộng đồng xã
hội nào, nếu lịch sử đặt ra những nhiệm vụ cần giải quyết thì từ trong phong trào
quần chúng nhân dân, tất yếu sẽ xuất hiện những cá nhân đáp ứng nhiệm vụ đó.

13


Theo V.I.Lênin: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền
thống trị nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ
chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong
trào” [26; 473].
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, vai trò của quần chúng nhân
dân và vai trò của cá nhân trong lịch sử không tách rời nhau, trái lại có mối quan
hệ khăng khít với nhau, trong đó quần chúng nhân dân giữ vai trò quyết định,
không có quần chúng nhân dân thì không thể có vĩ nhân - lãnh tụ. Lãnh tụ là
lãnh tụ của quần chúng, anh hùng là anh hùng của tập thể, là con đẻ của phong
trào cách mạng, có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu mà lịch sử đặt ra đưa
phong trào đi lên. Cá nhân ưu tú, lãnh tụ kiệt xuất là sản phẩm của phong trào
quần chúng nên sức mạnh trí tuệ của họ bắt nguồn từ quần chúng nhân dân. Như
vậy có thể khẳng định rằng, mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với vĩ nhân
- lãnh tụ là mối quan hệ biện chứng. Tính biện chứng của mối quan hệ này được
biểu hiện trên những mặt sau:
Thứ nhất, tính thống nhất giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân - lãnh tụ.
Không có phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, không có các quá
trình kinh tế, chính trị, xã hội của đông đảo quần chúng nhân dân, thì cũng
không thể xuất hiện vĩ nhân - lãnh tụ. Những cá nhân ưu tú, những lãnh tụ kiệt
xuất là sản phẩm của thời đại, nên họ sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát
triển phong trào của quần chúng.
Thứ hai, quần chúng nhân dân và lãnh tụ thống nhất trong mục đích và lợi
ích của mình. Sự thống nhất về mục tiêu cách mạng, hành động cách mạng giữa
quần chúng nhân dân và lãnh tụ do chính quan hệ lợi ích quy định. Lợi ích biểu
hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau như lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích
văn hóa, … Quan hệ lợi ích là cầu nối, là nội lực để liên kết các cá nhân cũng
như quần chúng nhân dân và lãnh tụ với nhau thành một khối thống nhất về ý

chí và hành động. Lợi ích đó vận động và phát triển tùy thuộc vào thời đại, vào
địa vị lịch sử của giai cấp cầm quyền mà lãnh tụ là đại biểu. Từ đó cho thấy mức

14


độ thống nhất về lợi ích là cơ sở quy định sự thống nhất về nhận thức và hành
động giữa quần chúng và lãnh tụ trong lịch sử.
Thứ ba, sự khác biệt giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân - lãnh tụ biểu
hiện trong vai trò khác nhau của sự tác động đến lịch sử. Tuy cùng đóng vai trò
quan trọng đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, nhưng quần chúng
nhân dân là lực lượng quyết định sự phát triển, còn vĩ nhân - lãnh tụ là người
định hướng, dẫn dắt phong trào, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử.
Bởi vậy, quan hệ giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân - lãnh tụ là quan
hệ biện chứng, vừa thống nhất vừa khác biệt. Không thể tuyệt đối hóa vai trò của
quần chúng nhân dân mà bỏ qua vai trò của các vĩ nhân - lãnh tụ, hay tuyệt đối
hóa vai trò của vĩ nhân - lãnh tụ mà xem nhẹ vai trò của quần chúng nhân dân.
Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân
dân, đồng thời cũng đánh giá cao vai trò của vĩ nhân - lãnh tụ, kiên quyết chống
lại tệ sùng bái cá nhân.
Những lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản như C.Mác, Ph.Ăngghen,
V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đều hết sức khiêm tốn, gần gũi với nhân dân, đề cao vai
trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân, xứng đáng là những vĩ nhân kiệt xuất
mà toàn thể loài người tôn kính và ngưỡng mộ.
1.1.3. Cơ sở xuất phát của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần
chúng nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
* Tình hình, nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn mới:
Đất nước Việt Nam với một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá, sau ngày
độc lập thống nhất, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã bước vào công
cuộc xây dựng đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội với một nền nông nghiệp lạc

hậu và bao tàn tích của chiến tranh để lại. Bên cạnh đó, nước ta còn chịu sự bao
vây, cấm vận của các thế lực thù địch hòng chống phá công cuộc xây dựng Chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhìn lại quá trình cách mạng, nhân dân ta đã phải
đánh đổi biết bao công sức, xương máu để giành lại độc lập tự do cho dân tộc.
Ngày nay, từ quá độ đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội là một quá trình dài
có thể nói đầy gian nan thử thách với một nền kinh tế nhiều thành phần đang vận
15


hành theo cơ chế thị trường và với xu thế hội nhập kinh tế thế giới, có thể nói
đây vừa là thời cơ vừa là thách thức đối với nhân dân ta. Vì thế đòi hỏi khách
quan đặt ra là phải có đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhà nước và sự
đóng góp của nhân dân từ mọi phương diện nhằm tạo thành một sức mạnh tổng
hợp để thực hiện thành công định hướng đề ra. Vì thế trong mỗi công cuộc cách
mạng thì vai trò của quần chúng nhân dân là vấn đề cực kì quan trọng.
Hiện nay, trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn xác định mục tiêu đi lên
xây dựng Chủ nghĩa xã hội là vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Xác định rõ sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng nhân dân.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, sự nghiệp dựng nước và giữ nước
không chỉ dành riêng cho một tộc người, một địa phương hay một giai cấp nào
đó mà là sự nghiệp chung của tất cả các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam.
Trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, Việt Nam đang đứng trước
những khó khăn, thử thách lớn: nguy cơ tụt hậu, cạnh tranh khốc liệt với bên
ngoài; nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc; tình hình chính trị - xã hội có
nhiều bất ổn; công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc luôn bị các thế lực bên ngoài
lăm le chống phá, … thì ý thức đoàn kết các dân tộc, phát huy sức mạnh của
quần chúng nhân dân cần phải được đề cao hơn nữa.
Để thực hiện thành công công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan
trọng nhất là phải có yếu tố con người. Như Bác Hồ đã dạy: “Muốn xây dựng

chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Con người ở đây
chính là quần chúng nhân dân. Chính vì lẽ đó đòi hỏi Đảng ta trong lãnh đạo
phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải tăng cường chăm lo xây dựng, giáo
dục quần chúng, phải xuất phát từ tâm tư nguyện vọng và lợi ích chính đáng của
quần chúng nhân dân. Bác Hồ nói: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội nó chỉ có ở
hàng chục triệu con người”. Nói như thế để thấy rằng lực lượng ấy chỉ có ở
quần chúng nhân dân khi họ đã có ý thức tự giác cách mạng. Do đó, quan điểm,
đường lối của Đảng ta từ trước đến nay luôn khẳng định cách mạng là sự nghiệp

16


của quần chúng nhân dân. Mọi hoạt động phải dựa vào dân và vì lợi ích của
nhân dân.
Như vậy, trước những biến đổi của tình hình, nhiệm vụ của đất nước
trong giai đoạn mới đòi hỏi Đảng ta phải tăng cường hơn nữa công tác rèn
luyện, giáo dục cán bộ, đảng viên, xử lý nghiêm khắc mọi biểu hiện quan liêu
hống hách, xa rời thực tế, xa rời quần chúng nhân dân. Nhìn nhận mọi sự phê
bình, đóng góp của quần chúng nhân dân. Có như vậy mới có thể lãnh đạo được
nhân dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
* Ưu thế của bộ môn lịch sử:
Lịch sử là một trong những môn học cơ bản được đưa vào giảng dạy ở
trường phổ thông. Với tư cách là một môn khoa học xã hội, môn lịch sử có ưu
thế đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông.
Môn lịch sử thực hiện chức năng và nhiệm vụ do đặc trưng của nó quy định.
Đối với học sinh trung học phổ thông, lịch sử không chỉ khơi dậy cho các
em lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, ý thức trách nhiệm đối với
Tổ quốc mà còn góp phần phát triển tư duy, nhất là tư duy biện chứng, giúp các
em độc lập suy nghĩ, sáng tạo, từng bước hình thành nhân cách con người Việt
Nam, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.

Chính vì ưu thế đặc biệt của bộ môn như vậy nên việc lồng ghép nội dung
giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong các bài học lịch
sử là rất cần thiết. Việc làm này không chỉ giúp các em “biết” mà còn “hiểu” sâu
sắc về lịch sử, rằng lịch sử của dân tộc Việt Nam là thành quả quá trình hoạt
động sáng tạo của quần chúng nhân dân hay nói cách khác, quần chúng nhân
dân là những người làm nên lịch sử, là những người đảm bảo cho sự tồn tại và
phát triển của xã hội, quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi quốc gia.
1.1.4. Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần
chúng nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
* Vai trò:
Giáo dục thế hệ trẻ bao giờ cũng là mối quan tâm đặc biệt và được ưu tiên
hàng đầu ở mọi quốc gia, mọi thời đại để xã hội tồn tại và phát triển.
17


Nhà trường phổ thông đóng vai trò quan trọng cùng với xã hội hoàn thành
tốt nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay. Cũng giống như các
môn khoa học khác, môn lịch sử với chức năng, nhiệm vụ của mình đã góp phần
tích cực vào công việc này.
Tác dụng giáo dục quan trọng nhất của bộ môn lịch sử ở nhà trường phổ
thông là giáo dục trí tuệ, tư tưởng chính trị, tình cảm, đạo đức, lý tưởng sống và
xác định thái độ với cuộc sống hiện tại.
Để thực hiện được những nhiệm vụ trên, bên cạnh những thay đổi mang
tính tích cực trong biên soạn sách giáo khoa, chương trình học, đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thì một
biện pháp không thể thiếu song song với đó là trong quá trình dạy và học lịch sử
ở trường phổ thông, giáo viên lồng ghép, giáo dục cho học sinh về vai trò của
quần chúng nhân dân đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc.
Việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy
học lịch sử đóng một vai trò rất quan trọng, nó không chỉ góp phần làm cho bài

giảng thêm sinh động, dễ hiểu, hấp dẫn, lôi cuốn được sự chú ý của học sinh vào
bài giảng, qua đó giúp các em tái hiện lại bức tranh quá khứ một cách cụ thể,
sinh động và chân thật mà còn giúp các em nhận thức được vai trò to lớn của
quần chúng nhân dân trong các thời kì lịch sử. Để các em hiểu được rằng, chính
quần chúng là những người làm nên lịch sử. Chính họ là những người lao động,
trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống toàn bộ xã hội, đảm bảo cho sự
tồn tại và phát triển của xã hội. Họ là lực lượng chủ yếu tham gia vào các cuộc
cách mạng xã hội, giữ vai trò quyết định đến thắng lợi của cách mạng. Quần
chúng nhân dân còn là cội nguồn phát sinh những sáng tạo văn hóa tinh thần của
xã hội, là chủ nhân của những câu chuyện truyền miệng, những câu ca dao, tục
ngữ, những thành ngữ răn dạy các thế hệ đi sau biết được cái đạo làm người thế
nào cho tốt. Đồng thời còn giáo dục cho học sinh niềm tự hào, lòng biết ơn,
niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ đất nước hiện nay. Từ đó bồi dưỡng, vun đắp thêm tình yêu quê hương

18


đất nước, ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc, viết tiếp những trang sử vẻ vang,
hào hùng của dân tộc.
* Ý nghĩa:
Việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân trong dạy
học lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông có ý nghĩa trên cả ba mặt: kiến thức, kĩ
năng và thái độ.
- Kiến thức: Giúp các em nắm được quần chúng là người sáng tạo, là chủ
nhân của lịch sử. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng từ khi xã hội loài
người xuất hiện đến nay, lịch sử xã hội là do nhân dân lao động xây dựng nên và
quần chúng là lực lượng thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Tất cả mọi sự kiện
xảy ra trong xã hội đều có sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân. Nhất
là trong quá trình dựng nước và giữ nước, vai trò của quần chúng nhân dân luôn

được đề cao. Như Trần Quốc Tuấn đã từng khuyên vua: “Khoan thư sức dân để
làm kế sâu rễ bền gốc, là thượng sách để giữ nước” [23; 106], hay công thần
Nguyễn Trãi đã viết trong “Bình Ngô Đại Cáo”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên
dân”, hay như Bác Hồ của chúng ta vẫn thường nói: “Dễ muôn lần không dân
cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, … [15; 212].
Vai trò của quần chúng nhân dân thấy rõ nhất là trong các cuộc cách
mạng, các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm xuyên suốt chiều dài lịch sử Việt
Nam, từ thời dựng nước, giữ nước cho đến thời cận đại, với những chiến thắng
vẻ vang có sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân.
Vì vậy cần phải có quan điểm đúng đắn về vai trò của quần chúng nhân
dân trong các giai đoạn lịch sử của dân tộc. Phải chăm lo sâu sát đến lợi ích,
nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân. Tích cực phát huy vai trò
của quần chúng bằng cách phát huy dân chủ, bổ sung, xây dựng, hoàn thiện và
thực hiện tốt quy chế dân chủ. Phải biết lắng nghe ý kiến của nhân dân, mọi
công việc phải biết dựa vào dân vì dân mà phục vụ. Phải kiên quyết đấu tranh
chống lại những quan điểm trái với quan điểm của Triết học Mác-Lênin về vai
trò của quần chúng nhân dân.

19


- Thái độ: Thông qua việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần
chúng nhân dân trong dạy học lịch sử sẽ giúp các em biết quý trọng những thành
quả lao động của quần chúng nhân dân, yêu lao động, hứng thú, say mê với
những sáng chế, phát minh, giữ gìn và phát triển những thành quả lao động của
cha ông. Đồng thời, hình thành cho học sinh thế giới quan đúng đắn về vai trò
của quần chúng nhân dân trong lịch sử.
Giáo dục cho học sinh tình cảm yêu mến, niềm tin vững chắc vào sự phát
triển của dân tộc trong xây dựng đất nước, vào thắng lợi tất yếu của sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội mà quần chúng nhân dân đã tự nguyện, quyết tâm,

kiên trì thực hiện. Biết quý trọng những thành quả đấu tranh kiên cường của ông
cha để từ đó xác định rõ trách nhiệm của mình trong cuộc sống hiện tại.
Giúp các em hiểu được rằng, nền văn hóa mà các em được thừa hưởng
ngày nay đã được xây đắp từ cuộc đấu tranh gian khổ, lâu dài của bao thế hệ cha
ông đi trước. Vì vậy, các em không chỉ hưởng thụ mà phải ra sức bảo vệ, phát
huy những di sản văn hóa dân tộc và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn
hóa nhân loại để làm phong phú thêm cho nền văn hóa của chúng ta.
- Kĩ năng: Với ngôn ngữ sinh động, giàu hình ảnh qua phần trình bày của
giáo viên sẽ góp phần rèn luyện được ngôn ngữ nói cho học sinh; khả năng suy
luận, khái quát hóa, năng lực trình bày, phân tích một vấn đề, một sự kiện, hiện
tượng lịch sử; cách khai thác tư liệu lịch sử để phục vụ cho việc “biết - hiểu”
lịch sử, đồng thời làm phong phú thêm vốn từ, cách sử dụng từ của các em. Từ
đó hình thành cho các em thái độ học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo ra sự
hứng thú, yêu thích đối với môn học.
Như vậy, việc lồng ghép giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng
nhân dân trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông có ý nghĩa to lớn trong
việc thực hiện mục tiêu dạy học bộ môn. Cần thấy được vai trò, ý nghĩa đó để có
cách sử dụng hợp lý và hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy và học lịch sử.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng của việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng
nhân dân trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
20


Trong lịch sử cũng như trong giai đoạn hiện nay, quần chúng nhân dân
đóng một vai trò rất quan trọng đối với tiến trình phát triển đi lên của đất nước.
Trong tất cả các hoạt động xã hội đều có sự tham gia của đông đảo quần chúng
nhân dân, từ hoạt động sản xuất vật chất, sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần
đến các cuộc cách mạng xã hội và các hoạt động xây dựng, bảo vệ đất nước.,,
Quần chúng nhân dân có vai trò to lớn như vậy, song một thực tế đáng

buồn là trong chương trình, sách giáo khoa lịch sử ở trường phổ thông hiện nay,
vai trò của quần chúng nhân dân cũng đã được đề cập đến nhưng còn khá mờ
nhạt, chủ yếu là trong các bài nội khóa và việc khai thác nó để giáo dục cho học
sinh còn rất hạn chế.
Thực tế cũng cho thấy, ngày nay phần lớn giáo viên cũng đều đã nhận
thức được vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, tuy nhiên việc giáo dục cho
học sinh về vai trò của quần chúng với những hình thức, biện pháp mới mẻ, hấp
dẫn thì được rất ít giáo viên quan tâm, chú ý.
Đa số giáo viên khi nói về vai trò của quần chúng nhân dân trong các sự
kiện lịch sử đều trình bày lướt qua, nêu một cách chung chung chứ chưa đi sâu
phân tích kĩ, làm rõ cho học sinh hiểu vai trò đó là gì? Do đó chưa mang tính
giáo dục cho học sinh về tầm quan trọng của quần chúng nhân dân. Học sinh chỉ
biết được rằng, trong các sự kiện lịch sử đó có sự tham gia của quần chúng nhân
dân mà không biết được rằng sức mạnh của quần chúng là vô cùng to lớn, chính
quần chúng nhân dân mới là nhân tố quan trọng quyết định đến sự thành bại của
cách mạng.
Hơn nữa, các biện pháp giáo dục mà giáo viên lựa chọn khi giáo dục cho
học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân còn chưa được phong phú, chủ yếu
vẫn là sử dụng phương pháp trình bày miệng có sử dụng một số tài liệu tham
khảo hoặc kể chuyện lịch sử và hầu hết được giáo viên cung cấp trong các bài
học nội khóa. Các hoạt động ngoại khóa, đặc biệt là chương trình sân khấu hóa
lịch sử về vai trò của quần chúng nhân dân hầu như vắng bóng. Chính vì các
biện pháp giáo dục chưa phong phú, hấp dẫn nên đã không thu hút, lôi cuốn

21


được sự chú ý của học sinh. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho học sinh
chán ghét, không yêu thích môn lịch sử.
1.2.2. Nguyên nhân thực trạng

Mặc dù giáo viên nhận thức được vai trò to lớn của quần chúng nhân dân
đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc nhưng chưa thật sự tâm huyết với việc
giáo dục nó cho học sinh hoặc chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của việc
giáo dục cho học sinh vai trò to lớn của quần chúng nhân dân trong lịch sử cũng
như trong giai đoạn hiện nay. Có những giáo viên cho rằng việc đó không thật
sự cần thiết, không quan trọng. Có giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của
việc phải giáo dục cho học sinh vai trò của quần chúng nhân dân nhưng lại chưa
có những biện pháp giáo dục phù hợp mà chủ yếu vẫn sử dụng biện pháp truyền
thống là trình bày miệng. Giáo viên trình bày và học sinh ngồi dưới chỉ biết lắng
nghe và ghi nhớ chứ chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh. Học sinh không được bộc lộ những quan điểm, ý kiến cá nhân về các
sự kiện, hiện tượng lịch sử mà giáo viên đề cập đến.
Một nguyên nhân nữa đó là, việc giáo dục cho học sinh về vai trò của
quần chúng nhân dân hầu hết chỉ được giáo viên nói đến trong các bài học nội
khóa theo chương trình sách giáo khoa lịch sử hiện hành. Vai trò của quần
chúng chỉ được giáo viên nhắc đến ở những sự kiện lịch sử lớn có ý nghĩa quan
trọng mang tính chất bước ngoặt. Vai trò của quần chúng được nhắc đến ở đây
chỉ là với tư cách là lực lượng của các cuộc cách mạng xã hội, còn vai trò lao
động sản xuất hay sáng tạo ra các giá trị văn hóa tinh thần của quần chúng thì
hầu như không được giáo viên nhắc tới trong các bài xây dựng và phát triển nền
kinh tế, văn hóa dân tộc trong các giai đoạn lịch sử.
Thêm vào đó, thông thường giáo viên chỉ quan tâm chú trọng đến việc
giáo dục cho học sinh về vai trò của các vĩ nhân, các nhân vật lịch sử quan trọng
như: Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Hồ Chí
Minh, … mà ít đề cập đến việc giáo dục cho học sinh vai trò của quần chúng
nhân dân đối với lịch sử dân tộc.

22



Hầu hết ở các trường phổ thông, giáo viên chỉ chú trọng vào các bài học
nội khóa chứ chưa quan tâm đến việc tổ chức những buổi ngoại khóa tìm hiểu về
lịch sử nói chung và những cuộc thi tìm hiểu về vai trò của quần chúng nhân dân
trong lịch sử nói riêng. Đa số giáo viên cho rằng việc này là không cần thiết, chỉ
cần truyền đạt đầy đủ những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa cho học sinh
là đủ chứ chưa chú trọng đến việc giáo dục cho học sinh về vai trò của quần
chúng trong mỗi bài học lịch sử nên không tạo được sự hứng thú, yêu thích môn
học cho học sinh.
1.2.3. Định hướng
Trên cơ sở khai thác nội dung các sự kiện lịch sử trong các bài học nội
khóa, giáo viên tiến hành lồng ghép giáo dục cho học sinh về vai trò của quần
chúng nhân dân trong mỗi bài học lịch sử, nhất là trong các bài nghiên cứu kiến
thức mới, bài ôn tập, sơ kết, tổng kết.
Khi tiến hành giáo dục cho học sinh về vai trò của quần chúng nhân dân,
giáo viên sử dụng nhiều biện pháp giáo dục khác nhau, có thể là sử dụng tài liệu
tham khảo như: văn kiện Đảng, tài liệu Hồ Chí Minh, tài liệu văn học; có thể sử
dụng thêm tranh ảnh lịch sử để minh họa hoặc kể các câu chuyện lịch sử về vai
trò của quần chúng nhân dân.
Ngoài các bài học nội khóa trong chương trình sách giáo khoa lịch sử phổ
thông, giáo viên có thể khai thác, tìm hiểu thêm một số biện pháp giáo dục
phong phú hơn, hấp dẫn hơn như: tổ chức các buổi ngoại khóa, dạ hội lịch sử, tổ
chức sân khấu hóa lịch sử, các cuộc thi tìm hiểu về vai trò của quần chúng nhân
dân hay tổ chức những buổi thăm quan các bảo tàng, di tích lịch sử có sự hướng
dẫn của giáo viên, … Như vậy sẽ tạo được sự thoải mái, hứng thú cho học sinh
trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Biến những kiến thức mà các em học được
trong sách vở thành bài học cụ thể trong thực tiễn cuộc sống, giúp các em bộc lộ
và phát huy khả năng sáng tạo, tự học, tự tìm tòi nghiên cứu, bộc lộ những quan
điểm, ý kiến cá nhân về các sự kiện, hiện tượng lịch sử và có cái nhìn đúng đắn,
khách quan đối với lịch sử dân tộc. Để các em biết được rằng trong tất cả các sự
kiện, hiện tượng lịch sử chỉ có vai trò của các vĩ nhân thôi chưa đủ mà cần phải

23


×