Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

Đề cương chuyên đề về nghị quyết TW 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (217.58 KB, 26 trang )

ĐỀ CƯƠNG CHUYÊN ĐỀ:
BÁO CÁO TỔNG KẾT THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TW4 (KHÓA XI)
“MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẤP BÁCH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY”
Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI): “Một số vấn
đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” là một trong các Báo cáo của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khố XI) trình Đại hội XII của Đảng và cũng là một trong
3 Chuyên đề trong chương trình nghiên cứu học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội
XII của Đảng.
Chuyên đề này gồm 03 nội dung lớn sau:
I. Bối cảnh ra đời và nội dung của Nghị quyết;
II. Tình hình triển khai và kết quả thực hiện Nghị quyết;
III. Phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục thực hiện thời gian tới.
------I. BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CỦA NGHỊ QUYẾT.
1. Bối cảnh ra đời của Nghị quyết
Thực tiễn của cách mạng thế giới trong mấy thập niên vừa qua đã chỉ ra rằng:
Đảng cầm quyền nếu không thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng
trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, khơng ngừng nâng cao
năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của mình thì vai trị cầm quyền của Đảng sẽ bị lu
mờ và tự đánh mất vai trò lãnh đạo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động của mình đã ln chú
trọng đến cơng tác cán bộ, từ đánh giá, lựa chọn, đào tạo, thử thách, rèn luyện đến
sử dụng và đãi ngộ. Người cho rằng "cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy" Đảng,
Nhà nước, đoàn thể nhân dân; "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "công việc
thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém". Người cịn nói: “Một dân tộc,
một đảng và mỗi con người hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, khơng nhất định
hơm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lịng dạ khơng
cịn trong sáng nữa, nếu xa vào chủ nghĩa cá nhân”, “Đảng có vững cách mạng mới
thành cơng, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”.
Quán triệt sâu sắc lời di huấn của Bác và trên cơ sở đúc kết các bài học kinh
nghiệm quốc tế, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và
xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã nhiều lần




2

khẳng định: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ
then chốt và Đảng phải thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ
chức, cán bộ, phương thức lãnh đạo.
Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, khơng có nhiệm kỳ nào Trung ương Đảng
khơng có nghị quyết về xây dựng Đảng, về đổi mới chỉnh đốn Đảng, về công tác
cán bộ; điển hình như: Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VI): “Một số vấn đề cấp
bách về xây dựng Đảng, bảo đảm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội VI”; Nghị
quyết Trung ương 3 (khoá VII) về “Một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”;
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2 - khoá VIII) về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách
trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khoá
IX) về “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và
đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X): “Tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh phịng, chống tham nhũng, lãng phí”...
Tình trạng suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng,
lãng phí, hư hỏng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi
mà thậm chí có chiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mòn lòng tin của nhân dân
đối với Đảng.
Mặc dù Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã có nhiều nghị
quyết, kết luận, chỉ thị và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng Đảng,
nhưng công tác xây dựng Đảng vẫn còn nhiều khuyết điểm, yếu kém. Tình trạng
suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí, hư hỏng
của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi mà thậm chí có
chiều hướng nghiêm trọng hơn, làm xói mịn lịng tin đối với Đảng. Hội nghị lần
thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) đã ban hành Nghị quyết “Một
số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, bởi 4 lý do sau:
Một là, vai trò lãnh đạo của Đảng và cơng tác xây dựng Đảng ln có ý

nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng. Đây là bài học kinh nghiệm lớn,
là kết luận sâu sắc được rút ra qua hơn 85 năm hoạt động của Đảng ta; đồng thời, là
lý luận khoa học và kinh nghiệm thực tiễn của nhiều đảng, nhiều nước trên thế giới.
Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Sự
lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách
mạng Việt Nam”. Đây là vấn đề trước kia đã như vậy, hiện nay đang như vậy, và
sau này cũng sẽ vẫn như vậy.
Có ý kiến: có một số lĩnh vực không cần sự lãnh đạo của Đảng (VD: kinh tế
thị trường).


3

Hai là, yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố,
hiện đại hố đất nước trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường, định hướng XHCN
và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ rất to lớn, nặng nề và rất khó khăn, trong đó có rất
nhiều vấn đề mới đặt ra, địi hỏi Đảng ta phải giải đáp và giải quyết cả về lý luận và
thực tiễn. Mặt khác, tình hình thế giới lại đang có những diễn biến hết sức mau lẹ, phức
tạp và khó dự báo do sự tranh chấp, điều chỉnh chiến lược của các nước lớn. Cuộc đấu
tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa phong trào hịa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội với các thế lực đế quốc cực đoan, hiếu chiến đang diễn ra
dưới nhiều hình thức, sắc thái mới rất quyết liệt… Trong tình hình đó, địi hỏi Đảng
càng phải nâng tầm lãnh đạo lên cao hơn nữa, nâng sức chiến đấu mạnh hơn nữa mới
đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ mới.
Ba là, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, bên cạnh mặt tích cực, bản chất
và truyền thống tốt đẹp được phát huy, bản thân Đảng cũng còn nhiều khuyết điểm,
yếu kém, trong đó có những khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ nhưng chậm
được khắc phục, nhất là tình trạng suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống;
tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Đảng. Những khuyết
điểm, yếu kém đó, nếu không kịp thời đấu tranh, khắc phục sẽ làm giảm sút niềm

tin của nhân dân đối với Đảng; làm suy giảm sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo
của Đảng; là thách thức đối với uy tín, vai trị lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của
chế độ ta.
Bốn là, sự chống phá điên cuồng, quyết liệt của các thế lực thù địch, phản
động bằng Chiến lược “Diễn biến hịa bình” rất tinh vi, thâm độc. Âm mưu cơ bản,
lâu dài của chúng là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, xóa bỏ sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Để
thực hiện được âm mưu cơ bản đó, các thế lực thù địch đã áp dụng các biện pháp
một cách rất kiên trì, quyết liệt và xảo quyệt, nhằm phủ nhận thành quả của cách
mạng; hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà
nước ta; bôi đen hiện thực, gieo rắc hồi nghi; kích động, chia rẽ nội bộ…, làm cho
đội ngũ cán bộ, đảng viên phân tâm, nghi ngờ, mất niềm tin và từng bước phai nhạt
lý tưởng cách mạng, “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa”.
Trong bối cảnh và tình hình phức tạp như vậy, nếu Đảng không giữ vững được
bản chất cách mạng, không thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng; khơng thống
nhất cao về ý chí và hành động; khơng trong sạch về phẩm chất đạo đức và lối sống;
không chặt chẽ về tổ chức; khơng gắn bó mật thiết với nhân dân và khơng được nhân
dân ủng hộ, thì Đảng khơng thể đứng vững và lãnh đạo đưa đất nước đi lên. Vì vậy,


4

Ban Chấp hành Trung ương khoá XI phải ban hành Nghị quyết: “Một số vấn đề cấp
bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
2. Nội dung Nghị quyết
(Mục tiêu: Sửa chữa khuyết điểm, năng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
của Đảng trong tình hình mới.
Phương châm: + nhìn thẳng sự thật, nói rõ sự thật, làm thật và hiệu quả
thật; + tự soi tự sửa: từng tổ chức, cá nhân phải tự soi lại mình cả ưu và khuyết,
tập trung vào khuyết điểm. Để tự soi được phải có trí tuệ, lương tâm; bản lĩnh,

dũng cảm, quyết tâm; BH: 1 đảng có gan thừa nhận khuyết điểm, vạch rõ vì đâu có
khuyết điểm và tìm cách khắc phục khuyết điểm là đảng chân chính.
Việc tự soi của chúng ta đang có vấn đề.
+ phải làm từ trên xuống.
Các hạn chế:
+ cơng tác xây dựng Đảng cịn hạn chế...)
- Nghị quyết Trung ương 4 tập trung vào 3 vấn đề cấp bách nhất là:
(1) Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thối về tư tưởng chính trị, đạo
đức lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các
cấp.
(2) Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung
ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố và hội nhập
quốc tế.
(3) Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền
trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng.
Trong 03 vấn đề cấp bách nêu trên, thì vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên
suốt và cấp bách nhất.
- Để giải quyết 3 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng, Nghị quyết Trung ương
đề ra 4 nhóm giải pháp tồn diện, đồng bộ để thực hiện là:
(1) Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong
gương mẫu của cấp trên;
(2) Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng;
(3) Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách;
(4) Nhóm giải pháp về cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng.


5

Trong 04 nhóm giải pháp nêu trên, thì nhóm giải pháp về tự phê bình và phê

bình, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cấp trên có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng đối với việc thực hiện Nghị quyết.
II. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI, THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT
1. Về tổ chức triển khai học tập, quán triệt Nghị quyết
Xác định tầm quan trọng đặc biệt của Nghị quyết Trung ương 4, Bộ Chính trị
đã ban hành Chỉ thị 15-CT/TW về thực hiện Nghị quyết; tổ chức Hội nghị cán bộ
chủ chốt tồn quốc (cuối tháng 2/2012), với quy mơ lớn nhất từ trước đến nay (hơn
1.300 cán bộ chủ chốt của cả nước dự) để học tập, quán triệt Nghị quyết; thảo luận
dự thảo Kế hoạch của Bộ Chính trị về tổ chức thực hiện Nghị quyết do đồng chí
Tổng Bí thư trực tiếp giới thiệu và giải đáp. Tiếp sau đó, Bộ Chính trị mở 2 Hội
nghị thơng báo nội dung Nghị quyết và cách tiến hành đối với cán bộ cao cấp
nguyên là Ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng và tương đương đã nghỉ hưu ở 2
khu vực; các hội nghị cán bộ chủ chốt của Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính
trị - xã hội ở Trung ương…
Sau Hội nghị cán bộ toàn quốc, Bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư được
biên tập thành tài liệu học tập Nghị quyết; đồng thời biên tập hệ thống tài liệu phục
vụ học tập, quán triệt cho các đối tượng khác từ Trung ương đến cơ sở theo Kế
hoạch của Bộ Chính trị, tạo được sự thống nhất cao về nhận thức trong toàn Đảng
về thực hiện Nghị quyết. Căn cứ Nghị quyết Trung ương, Chỉ thị, Kế hoạch của Bộ
Chính trị, các ban xây dựng Đảng Trung ương đã tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí
thư ban hành các quy định, quy chế, hướng dẫn… nhằm cụ thể hóa, thể chế hóa nội
dung Nghị quyết để thực hiện.
Để chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, ở Trung ương thành lập Bộ phận Thường
trực gồm đồng chí Tổng Bí thư, Thường trực Ban Bí thư và các đồng chí Ủy viên
Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư Trung ương là Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung
ương, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương,
Trưởng Ban Dân vận Trung ương và có Tổ Giúp việc Bộ phận Thường trực làm
việc theo chế độ kiêm nhiệm. Ở các cấp, bộ phận thường trực gồm các đồng chí Bí
thư, phó bí thư thường trực, chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra, trưởng ban tổ chức, trưởng
ban tuyên giáo, trưởng ban dân vận giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo và xử lý kịp thời

những vấn đề vướng mắc trong quá trình triển khai, thực hiện Nghị quyết.
Nhìn chung, cơng tác chỉ đạo triển khai học tập, quán triệt Nghị quyết được
chỉ đạo chặt chẽ, tiến hành nghiêm túc, bài bản và trở thành đợt sinh hoạt chính trị
sâu rộng trong tồn Đảng. Thơng qua đó, Nghị quyết Trung ương 4 đã có sức lan


6

tỏa mạnh mẽ, tạo sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng; được cán bộ, đảng viên,
nhân dân tin tưởng vào thực hiện Nghị quyết.
2. Tình hình và kết quả thực hiện Nghị quyết
Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 đã được Ban Chấp hành Trung
ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo chặt chẽ, sâu
sát, cụ thể với quyết tâm chính trị cao; 3 vấn đề cấp bách và 4 nhóm giải pháp nêu
trong Nghị quyết đã được triển khai tích cực, đồng bộ và đạt được một số kết quả
quan trọng bước đầu. Cụ thể là:
2.1. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thối về tư tưởng chính
trị, đạo đức lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh
đạo, quản lý các cấp (vấn đề cấp bách thứ nhất).
2.1.1. Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình ở các cấp:
Nghị quyết Trung ương đề ra 4 nhóm giải pháp để thực hiện, trong đó nhấn
mạnh phải thực hiện tốt nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính
tiền phong gương mẫu của cấp trên. Quán triệt tinh thần đó, việc chuẩn bị và tổ
chức kiểm điểm, tự phê bình và phê bình đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực
hiện nghiêm túc và chỉ đạo thực hiện chặt chẽ ở các cấp.
Trong quá trình chuẩn bị kiểm điểm, cấp ủy các cấp đã lấy ý kiến góp ý của
các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc và cán bộ chủ chốt của ngành, địa phương, cơ
quan, đơn vị đã nghỉ hưu bằng hình thức phù hợp; cấp trên rà soát, gợi ý kiểm điểm
đối với những tập thể, cá nhân có vấn đề nổi cộm cần kiểm điểm sâu và có báo cáo
giải trình; trước khi kiểm điểm phải báo cáo xin ý kiến cấp trên, nơi nào chuẩn bị

chưa đạt yêu cầu thì chưa được kiểm điểm.
Nội dung kiểm điểm khơng kiểm điểm tồn diện, chỉ tập trung vào 3 vấn đề
cấp bách nêu trong Nghị quyết Trung ương 4, gắn với đánh giá việc thực hiện các
quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước và giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức
xúc của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; liên hệ làm rõ những hạn chế, khuyết
điểm, yếu kém đã được chỉ ra nhiều năm nhưng chậm được sửa chữa, khắc phục.
Trình tự kiểm điểm được tiến hành từ trên xuống dưới; tập thể kiểm điểm
trước, cá nhân kiểm điểm sau; cấp trên dự và chỉ đạo chặt chẽ việc kiểm điểm của
cấp dưới, nhất là đối với những nơi có vấn đề nổi cộm được gợi ý kiểm
điểmuatrong quá trình kiểm điểm, vấn đề nào đã rõ thì kết luận ngay, vấn đề nào
chưa rõ thì giao cơ quan chức năng thẩm tra, làm rõ trước khi kết luận.


7

Bộ Chính trị xác định 12 biểu hiện chủ yếu của việc chuẩn bị và tổ chức kiểm
điểm không đạt yêu cầu, để cấp trên căn cứ đánh giá kết quả kiểm điểm của cấp
dưới; nơi nào kiểm điểm chưa đạt yêu cầu thì phải kiểm điểm bổ sung hoặc kiểm
điểm lại.
Sau kiểm điểm, cấp ủy có kết luận bằng văn bản về những ưu, khuyết điểm
chính của tập thể, cá nhân; mỗi tập thể, cá nhân đều phải xây dựng kế hoạch sửa
chữa, khắc phục khuyết điểm đã được kết luận qua tự phê bình và phê bình. Kết quả
kiểm điểm tập thể và cá nhân phải báo cáo trước hội nghị cấp ủy hoặc hội nghị cán
bộ chủ chốt cùng cấp thảo luận, tham gia ý kiến và phải được cấp ủy cấp trên trực
tiếp đánh giá; cấp ủy thông báo kết quả việc tiếp thu ý kiến đối với những tập thể,
cá nhân đã đóng góp ý kiến trước kiểm điểm cho tập thể và cá nhân bằng các hình
thức phù hợp.
Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thường xuyên
kiểm tra, giám sát việc thực hiện. (Năm 2012, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lập 5 đồn
kiểm tra tại 20 cấp ủy địa phương và cơ quan Trung ương; Năm 2013, Bộ Chính trị,

Ban Bí thư lập 18 đồn kiểm tra tại 31 cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương.
Năm 2014, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lập 9 đoàn kiểm tra tại 18 cấp ủy địa phương
và cơ quan Trung ương).
Với sự chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát, cụ thể và quyết tâm chính trị cao của Ban
Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp,
việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 đã trở thành
đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, được cán bộ, đảng viên và nhân
dân đặc biệt quan tâm theo dõi, cơ bản đạt yêu cầu đề ra.
Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình tập thể, cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí
thư đã làm rõ hơn, sâu sắc hơn ưu điểm, khuyết điểm và những hạn chế của tập thể,
cá nhân trên một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng. Nhiều vấn đề nổi cộm, bức
xúc hoặc dư luận liên quan đến các đồng chí lãnh đạo của các cơ quan Trung ương
đã được xem xét và kết luận, góp phần đánh giá năng lực, phẩm chất cán bộ, bảo vệ
tổ chức, bảo vệ cán bộ và thông tin lại cho các tập thể, cá nhân đã góp ý kiến, phản
ảnh trước kiểm điểm. Qua kiểm điểm ở cấp tỉnh và tương đương, từng tập thể và cá
nhân đã nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn ưu, khuyết điểm của mình; đồng thời, phân
tích làm rõ ngun nhân chủ yếu của những hạn chế, khuyết điểm và nhận diện rõ
hơn, sâu sắc hơn những biểu hiện cụ thể của sự suy thối về tư tưởng chính trị, đạo
đức lối sống của tập thể và cá nhân. Bộ Chính trị và một số ban thường vụ tỉnh ủy,
thành ủy đã nghiêm túc tự nhận hình thức kỷ luật và nhận khuyết điểm với Trung


8

ương, với đảng bộ và nhân dân địa phương; đồng thời, xem xét trách nhiệm, xử lý
hoặc đề nghị xử lý kỷ luật đối với một số đồng chí có khuyết điểm.
Kết quả kiểm điểm ở các cấp được đánh giá là: Việc kiểm điểm tập thể và cá
nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư được Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) đánh giá: Cơ
bản đạt yêu cầu. Việc kiểm điểm tập thể và cá nhân của cấp tỉnh và tương đương
(130 đơn vị) được Bộ Chính trị đánh giá: Cơ bản đạt yêu cầu, trong đó có 02 tập thể

và một số cá nhân phải kiểm điểm bổ sung hoặc kiểm điểm lại. Việc kiểm điểm đối
với cấp huyện và cơ sở được Ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp đánh giá: Cơ
bản đạt yêu cầu, trong đó có một số tập thể, cá nhân phải kiểm điểm bổ sung hoặc
kiểm điểm lại.
Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 ở các
cấp đã tăng cường kỷ luật, kỷ cương và công tác quản lý cán bộ, đảng viên trong
từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong 3 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4
(từ năm 2012 đến 2014), toàn Đảng đã xử lý kỷ luật hơn 54.000 đảng viên và xóa
tên, cho ra khỏi Đảng hàng nghìn trường hợp khác, trong đó có một số cán bộ, đảng
viên phải xử lý bằng pháp luật; đã góp phần cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, ngăn chặn
và đẩy lùi một số biểu hiện suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong
Đảng và trong xã hội.
Hạn chế, khuyết điểm: (1) Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy
đủ, toàn diện, sâu sắc và chưa gương mẫu, tự giác thực hiện; tình trạng nể nang, né
tránh, xi chiều, ngại va chạm cịn xảy ra khá phổ biến ở các cấp. (2) Khơng ít cán
bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp chưa chỉ rõ được
tình hình suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở
địa phương, cơ quan, đơn vị mình. (3) Một số nơi nhận thấy có các biểu hiện tiêu cực
như chạy chức, chạy quyền, chạy tội, cục bộ, lợi ích nhóm…, nhưng chưa làm rõ
được thực chất, nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của tình hình; chưa chỉ ra được
địa chỉ cụ thể và trách nhiệm của các cá nhân. (4) Một số cấp ủy, tổ chức đảng, nhất
là người đứng đầu chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo mạnh mẽ, quyết liệt; còn biểu
hiện chủ quan, làm lướt, nhất là khi đưa việc kiểm điểm đi vào thường xuyên, gắn với
kiểm điểm đánh giá chất lượng tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên cuối năm.
2.1.2. Việc sửa chữa, khắc phục khuyết điểm sau kiểm điểm:
Sau kiểm điểm, từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các cấp ủy, tổ chức đảng và
cán bộ, đảng viên đều xây dựng kế hoạch sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm
với phương châm: Những khuyết điểm nào cần khắc phục và có thể khắc phục được
ngay thì chỉ đạo khắc phục ngay; những khuyết điểm nào phải khắc phục, nhưng



9

cần có thời gian để chuẩn bị thì xây dựng kế hoạch, xác định thời gian, lộ trình và
bước đi cụ thể để sửa chữa, khắc phục khuyết điểm.
Việc sửa chữa, khắc phục khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình ở các cấp
được tập trung vào 3 lĩnh vực chủ yếu sau: (1) Rà sốt, bổ sung, hồn thiện các quy
chế, quy định, hướng dẫn và các cơ chế, chính sách đã có cho phù hợp với thực tiễn;
đồng thời xây dựng, ban hành các quy chế, quy định, hướng dẫn… mới để thực
hiện. (2) Tập trung giải quyết, xử lý dứt điểm những vụ việc nổi cộm, bức xúc ở địa
phương, cơ quan, đơn vị như: Thu hồi quyết định giao đất hoặc chuyển đổi chủ đầu
tư đối với các dự án chậm triển khai thực hiện; xử lý những vi phạm trong quản lý,
sử dụng đất đai, khoáng sản và trong quản lý trật tự xây dựng đô thị; giải quyết các
vụ tranh chấp đất đai, khiếu kiện phức tạp đông người và những đơn thư tố cáo,
khiếu nại của cán bộ, đảng viên và nhân dân tồn đọng. (3) Rà soát, bổ sung, điều
chỉnh quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đẩy mạnh công tác đào
tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp (cả đương chức và
dự nguồn), phục vụ công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội
XII của Đảng.
Hạn chế, khuyết điểm: (1) Một số cấp ủy, tổ chức đảng chậm đề ra kế hoạch
sửa chữa, khắc phục khuyết điểm hoặc xây dựng kế hoạch còn chung chung, chưa
gắn việc khắc phục khuyết điểm của tập thể với các cá nhân. (2) Việc chỉ đạo sửa
chữa, khắc phục khuyết điểm ở một số nơi chưa đồng bộ, thiếu kiên quyết; việc xem
xét, xử lý đối với một số trường hợp vi phạm chưa kịp thời, nghiêm minh. (3) Một
số vụ việc nổi cộm, phức tạp, gây bức xúc trong Đảng, trong xã hội giải quyết còn
chậm so với yêu cầu.
2.1.3. Về lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh phịng, chống tham nhũng,
lãng phí:
Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy, chính quyền
các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cơng tác đấu tranh phịng, chống tham nhũng,

lãng phí đạt một số kết quả tích cực bước đầu. Cụ thể là:
(1) Ban Chấp hành Trung ương quyết định tái lập lại Ban Nội chính Trung
ương để tham mưu Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về cơng tác Nội chính,
đồng thời là cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phịng, chống
tham nhũng.
(2) Bộ Chính trị quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phịng,
chống tham nhũng do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban, với thành phần phù
hợp hơn và lựa chọn khâu đột phá là: đẩy mạnh tiến độ, xử lý nghiêm minh các vụ


10

án, vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp mà dư luận xã hội đặc biệt quan
tâm; ban hành Chỉ thị 33-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc
kê khai tài sản, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Chỉ thị 50-CT/TW về tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án
tham nhũng; ban hành Quy định về xử lý kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên
vi phạm; về công tác kiểm tra, giám sát và giải quyết tố cáo đối với cán bộ, đảng
viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; v.v.
(3) Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã tăng cường chỉ
đạo công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, phát hiện nhiều vụ việc, vụ án
tham nhũng; chuyển nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp cho cơ quan
chức năng điều tra, truy tố và xét xử nghiêm minh theo pháp luật, được dư luận
đồng tình và đánh giá cao (Năm 2012, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống
tham nhũng lập 7 đoàn kiểm tra ở 11 tỉnh, thành phố và 7 cơ quan Trung ương; bổ
sung 43 vụ án, 25 vụ việc có dấu hiệu tham nhũng thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung
ương theo dõi. Năm 2013, lập 4 đoàn kiểm tra, giám sát việc khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử các vụ án tham nhũng lớn ở 8 tỉnh, thành phố. Năm 2014, kiểm tra, đôn
đốc công tác phòng chống tham nhũng ở 7 bộ, ngành, cơ quan Trung ương. Năm
2015, lập 7 đoàn kiểm tra, giám sát, đơn đốc cơng tác đấu tranh phịng, chống tham

nhũng tại 4 bộ và 10 tỉnh, thành phố. Ngoài ra, các địa phương đã tiến hành gần
2.800 cuộc kiểm tra, giám sát và xử lý hơn 600 vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm
trọng).
(4) Quốc hội đã bổ sung, sửa đổi Luật phòng, chống tham nhũng và ban hành
nhiều dự án luật quan trọng khác để kiểm soát chặt chẽ vốn, tài sản của Nhà nước
nhằm phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra tham nhũng. Đồng thời, ban hành Nghị quyết
35/2012 về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do
Quốc hội và hội đồng nhân dân bầu, phê chuẩn;
(5) Ban Cán sự đảng Chính phủ xây dựng Đề án “Tăng cường thực hiện và
kiểm sốt việc kê khai tài sản”; Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một
số điều của Luật phòng, chống tham nhũng và minh bạch tài sản, thu nhập của cán
bộ, công chức; Nghị định về trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức
khi để xảy ra tham nhũng…
(6) Các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương đã bổ sung, sửa đổi, ban
hành mới một số quy định, quy chế, cơ chế, chính sách về quản lý tài chính; chi
tiêu, mua sắm tài sản công; quản lý và sử dụng xe công; thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí; về sử dụng ngân sách nhà nước trong việc đi công tác, học tập, nghiên cứu


11

ở nước ngoài; quản lý vốn trong các doanh nghiệp nhà nước; về thực hiện nếp sống
mới trong tổ chức việc cưới, việc tang; v.v.
Hạn chế, khuyết điểm:
(1) Việc thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí vẫn chưa đạt yêu
cầu. Nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham
nhũng chưa mạnh mẽ, toàn diện, quyết liệt, hiệu quả chưa cao. Việc tự phát hiện
tham nhũng, lãng phí của địa phương, cơ quan, đơn vị cịn rất hạn chế; cá biệt có
trường hợp còn bao che cho đối tượng sai phạm, làm hư hỏng, tha hóa cán bộ; một số
trường hợp xử lý chưa nghiêm, thiếu tính giáo dục, răn đe.

(2) Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn cịn phức tạp, nghiêm trọng và xảy ra
ở nhiều lĩnh vực, ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều loại đối tượng, với nhiều hình thức
mới tinh vi, làm gia tăng chi tiêu công, tăng gánh nợ cho ngân sách; làm cản trở sự
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; gây bức xúc trong dư luận, là thách thức
nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước.
(3) Chất lượng cơng tác điều tra cịn hạn chế, tiến độ điều tra một số vụ án
tham nhũng còn chậm (kể cả một số vụ án tham nhũng phức tạp do Ban Chỉ đạo
theo dõi, chỉ đạo), phải gia hạn nhiều lần, điều tra bổ sung, điều tra lại, thay đổi tội
danh hoặc đình chỉ điều tra. Chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm
sát hoạt động điều tra, xét xử án tham nhũng chưa cao; một số trường hợp đình chỉ
vụ án, đình chỉ bị can, miễn trách nhiệm hình sự có dấu hiệu tiêu cực. Việc thu hồi,
xử lý tài sản tham nhũng còn rất hạn chế, chưa đạt yêu cầu. Công tác phối hợp giữa
viện kiểm sát và cơ quan điều tra với các cơ quan liên quan trong việc phát hiện,
khởi tố, điều tra, xét xử các vụ án tham nhũng chưa chặt chẽ, dẫn đến một số vụ án
nghiêm trọng, phức tạp bị kéo dài.
(4) Việc kê khai tài sản, công khai tài sản thu nhập cịn hình thức và khơng
thực chất. Kết quả kiểm soát, xác minh việc kê khai và cơng khai cịn hạn chế, chưa
phát hiện và xử lý được nhiều trường hợp vi phạm trong việc kê khai tài sản (năm
2012 có 113.436 người kê khai tài sản chỉ phát hiện 3 người kê khai không trung
thực; năm 2013, trong 958.178 người kê khai tài sản, chỉ phát hiện có 5 người kê
khai khơng trung thực).
2.2. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung
ương, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế (vấn đề cấp bách thứ hai).
2.2.1. Về công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, luân
chuyển, sử dụng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.


12


Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, công tác cán bộ, nhất là ở cấp Trung
ương đã có nhiều chuyển biến mới tích cực, nổi bật là:
(1) Đã triển khai xây dựng và thực hiện có hiệu quả Đề án: “Quy hoạch Ban
Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các chức danh lãnh đạo chủ chốt
của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016 - 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo”. Đây là lần
đầu tiên Đảng ta quy hoạch cán bộ cấp chiến lược theo một quy trình chặt chẽ, bài
bản, khoa học, dân chủ, tạo được sự thống nhất cao. Đã quy hoạch được 290 đồng chí
nguồn Ban chấp hành Trung ương và 28 đồng chí nguồn Bộ Chính trị, Ban Bí thư
nhiệm kỳ 2016-2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo.
(2) Hồn thành việc rà sốt, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch ban chấp hành,
ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và lãnh đạo
các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương giai đoạn 2014-2016 và giai đoạn 2016 2021, phục vụ cho công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ
2015 - 2020 và Đại hội XII của Đảng.
(3) Trên cơ sở quy hoạch, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tổ chức 2 lớp bồi
dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho 154 đồng chí là Ủy viên Ban chấp hành Trung
ương khóa XI; 6 lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp cho 511 đồng chí (cấp tỉnh
có 231 đồng chí, các cơ quan Trung ương có 280 đồng chí; có 45 đồng chí nữ, 31
cán bộ người dân tộc thiểu số, 93 đồng chí trong lực lượng vũ trang); tổ chức các
lớp các bồi dưỡng nghiệp vụ theo chức danh cho hơn 170 đồng chí là bí thư cấp ủy
cấp huyện. Các cấp ủy địa phương cũng tổ chức hàng trăm lớp bồi dưỡng, cập nhật
kiến thức mới cho cán bộ lãnh đạo, quản lý đương chức và dự nguồn trong quy
hoạch. Công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là
cấp Trung ương được đẩy mạnh hơn và tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, dân
chủ, bài bản, khoa học, tạo được sự thống nhất cao giữa các cơ quan có liên quan ở
Trung ương và địa phương; giữa nơi đưa cán bộ đi và nơi tiếp nhận cán bộ đến.
Thông qua luân chuyển, đã góp phần đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách cán
bộ trong thực tiễn, giúp cho cán bộ phát triển toàn diện và trưởng thành.
Qua đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XII của Đảng cho thấy: Hầu hết các
đồng chí trúng cử Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XII
và ban chấp hành, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung

ương nhiệm kỳ 2015 - 2020 đều nằm trong quy hoạch và được đào tạo, bồi dưỡng
qua các lớp dự nguồn do Trung ương và các cấp ủy địa phương tổ chức, đã khắc
phục đáng kể tình trạng hẫng hụt về cán bộ cấp chiến lược (100% số học viên các


13

lớp dự nguồn cao cấp công tác ở các địa phương được bầu vào ban thường vụ, phó
bí thư tỉnh ủy và 45/61 đồng chí đắc cử bí thư tỉnh ủy, thành ủy).
(4) Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều
nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, hướng dẫn, kết luận,… về công tác xây dựng
Đảng để thực hiện như: Quy chế bầu cử trong Đảng; Quy định về việc chất vấn và
trả lời chất vấn trong Đảng; Quy định về lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnh
đạo, quản lý; Nghị quyết về tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức; Nghị quyết về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ; Quy
định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản
lý chủ chốt các cấp; v.v.
Hạn chế, khuyết điểm: Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung một số quy định, quy
chế về cơng tác tổ chức, cán bộ cịn chậm so với yêu cầu. Chất lượng công tác quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý còn bất cập, chưa kết hợp chặt
chẽ, đồng bộ giữa nguồn cán bộ được quy hoạch của các bộ, ngành Trung ương với
các địa phương. Cơng tác đánh giá cán bộ cịn nhiều hạn chế, yếu kém. Một số
trường hợp đánh giá cán bộ chưa đúng thực chất, cịn hình thức, cảm tính và nể
nang, né tránh trách nhiệm; chưa làm rõ được tình trạng chạy chức, chạy quyền…
2.2.2. Thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy
và cán bộ lãnh trong các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đồn
thể chính trị - xã hội.
(1) Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định
về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo
trong các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã

hội. Quốc hội đã ban hành Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín
nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc
phê chuẩn;
(2) Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội đã lấy phiếu tín nhiệm đối với 47 chức danh;
tại kỳ họp thứ 8 đã lấy phiếu tín nhiệm đối với 50 chức danh do Quốc hội bầu và
phê chuẩn. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm được cử tri cả nước đánh giá cao, khẳng
định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta. Qua lấy phiếu tín nhiệm lần thứ
nhất, Bộ Chính trị đã chỉ đạo rút kinh nghiệm và bổ sung, sửa đổi một số nội dung
trong Quy định 165-QĐ/TW bằng Quy định số 262-QĐ/TW cho phù hợp, bảo đảm
dân chủ và phản ánh khách quan, chính xác hơn.
(3) Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã tập trung chỉ đạo việc lấy phiếu tín nhiệm đối
với các đồng chí là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp.


14

Tại Hội nghị Trung ương 10 (khoá XI), Ban chấp hành Trung ương đã lấy phiếu tín
nhiệm đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư Trung ương
Đảng.
Nhìn chung, việc lấy phiếu tín nhiệm đã được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm
nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan, đúng quy định của
Trung ương. Về cơ bản, kết quả lấy phiếu tín nhiệm đã phản ánh trung thực, khách
quan mức độ tín nhiệm, năng lực thực tiễn của cán bộ; đồng thời là căn cứ quan
trọng để cấp ủy nhận xét, đánh gía cán bộ chính xác hơn; giúp mỗi cán bộ tự soi xét
bản thân, thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu vươn lên, nâng cao
chất lượng và hiệu quả công tác được giao.
Hạn chế, khuyết điểm: Việc lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa và tổ chức thực hiện
của một số địa phương, đơn vị còn lúng túng, thiếu đồng bộ; nhận thức chưa thống
nhất về phạm vi, đối tượng, thời gian và quy trình lấy phiếu tín nhiệm. Một số nơi
nhận xét, đánh giá cán bộ còn nể nang, né tránh, ảnh hưởng tới chất lượng lấy phiếu

tín nhiệm.
2.2.3. Việc tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức:
(1) Thực hiện Kết luận 64-KL/TW của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về
tiếp tục đổi mới hồn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, Bộ Chính
trị, Ban Bí thư đã ban hành và chỉ đạo thực hiện nhiều chủ trương, chính sách quan
trọng về tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, cơng chức trong hệ thống
chính trị như: Quy định về quản lý biên chế thống nhất của hệ thống chính trị và ổn
định biên chế các cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị - xã hội
đến năm 2016; Nghị quyết về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức. Ban Bí thư ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức
bộ máy của ban nội chính tỉnh ủy, thành ủy; đảng ủy ở các đơn vị sự nghiệp Trung
ương; của các cơ quan tham mưu, giúp việc của tỉnh ủy, thành ủy; mối quan hệ
công tác giữa ban cán sự đảng bộ, ngành với bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan, đơn
vị…
(2) Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương đã chỉ đạo rà sốt, sắp
xếp, bố trí lại cán bộ ở một số cơ quan, đơn vị cho phù hợp; ban hành và triển khai
đề án xác định vị trí việc làm, cơ cấu, chức danh, tiêu chuẩn, biên chế đội ngũ cán
bộ; thực hiện tinh giản biên chế và đổi mới hình thức, nội dung thi tuyển cơng chức,
viên chức; triển khai thực hiện thí điểm việc thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý và
nhất thể hóa một số chức danh có chức năng, nhiệm vụ tương đồng; chuyển đổi mô


15

hình tổ chức, hoạt động của một số đơn vị kinh tế sự nghiệp sang mơ hình doanh
nghiệp hoặc đối tác công tư.
Hạn chế, khuyết điểm:
(1) Việc sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế chưa tạo được sự chuyển biến rõ;
đội ngũ cán bộ, công chức đông nhưng không mạnh; việc thi tuyển cán bộ, cơng
chức, viên chức cịn hình thức, chất lượng thấp, thậm chí xảy ra tiêu cực.

(2) Tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính
trị cịn cồng kềnh, chưa hợp lý và chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; bộ máy và biên
chế của nhiều cơ quan, đơn vị chưa tinh gọn; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ
công tác cịn chồng chéo, trách nhiệm cá nhân khơng rõ….
2.3. Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính
quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị và tiếp tục đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng (vấn đề cấp bách thứ ba).
(1) Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các ban, cơ quan
đảng Trung ương đã sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới một số quy định, quy chế,
hướng dẫn của Đảng theo hướng đề cao hơn trách nhiệm, quyền hạn của người
đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân theo
nguyên tắc tập trung dân chủ, để các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện đúng chức
năng, nhiệm vụ của mình và phát huy vai trị, trách nhiệm của người đứng đầu như:
Quy định về lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Quy chế
về giám sát cán bộ, đảng viên diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; Quy định về
trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp;….
(2) Bộ Chính trị đã ban hành Quy chế về giám sát và phản biện xã hội của
Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị - xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính
quyền; Ban Bí thư ban hành Kết luận về đổi mới và nâng cao chất lượng điều tra dư
luận xã hội, tập hợp ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân nhằm tăng cường vai
trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị - xã hội trong việc
tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
(3) Bộ Chính trị ban hành hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc chất vấn và trả
lời chất vấn tại các kỳ họp Ban chấp hành Trung ương; đồng thời chỉ đạo Ủy ban
Kiểm tra Trung ương phối hợp với các ban đảng Trung ương hướng dẫn việc thực
hiện chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp ban chấp hành đảng bộ các cấp. Qua
thực hiện cho thấy: Việc chất vấn và trả lời chất vấn trong Đảng đã được triển khai
thực hiện và từng bước đi vào nền nếp.



16

(4) Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã rà sốt, sửa đổi,
bổ sung và hồn thiện quy chế làm việc của cấp ủy theo hướng xác định rõ hơn
chức năng, nhiệm vụ, nhất là trách nhiệm của đồng chí bí thư, các đồng chí trong
ban thường vụ và thường trực cấp ủy; sửa đổi, bổ sung quy định về phân cấp quản
lý cán bộ; xác định rõ hơn thẩm quyền trách nhiệm của người đứng đầu và loại bỏ
các quy định khơng cịn phù hợp với thực tiễn. Qua đó, việc thực hiện nguyên tắc
tập trung dân chủ đã có chuyển biến tích cực; khắc phục một bước tình trạng bao
biện, làm thay hoặc bng lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng.
Hạn chế, khuyết điểm: Một số quy định, quy chế theo Kế hoạch 08 của Bộ
Chính trị chưa ban hành được như: Quy chế dân chủ trong Đảng; quy chế thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình; quy định thẩm quyền
và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trong
công tác cán bộ; quy định về xử lý trách nhiệm cá nhân người đứng đầu trong thực
hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Một số cấp ủy chưa chủ động triển khai xây
dựng các quy định, quy chế, còn thụ động, chờ đợi hướng dẫn của cấp trên; chỉ đạo
việc rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy định, quy chế ở địa phương còn chậm so với
yêu cầu.
3. Đánh giá chung
3.1. Về ưu điểm, kết quả và nguyên nhân:
(1) Các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở đã tập trung lãnh đạo,
chỉ đạo triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp
bách về xây dựng Đảng hiện nay” một cách bài bản, quyết liệt, khoa học với quyết tâm
chính trị cao và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, tạo chuyển biến tích cực
trong hệ thống chính trị, góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn,
đẩy lùi một số tiêu cực, suy thoái trong Đảng, giải quyết kịp thời một số vấn đề bức
xúc trong xã hội, góp phần tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
(2) Quá trình chuẩn bị, tiến hành kiểm điểm, tự phê bình và phê bình tập thể,

cá nhân theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 và việc khắc phục, sửa chữa những
hạn chế, khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, đã góp phần siết lại kỷ luật, kỷ
cương của Đảng, tạo sự chuyển biến tích cực bước đầu trong việc đấu tranh, ngăn
chặn, đẩy lùi được một số biểu hiện suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống
trong Đảng; khắc phục được một số hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ và
thực hiện các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân
chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.


17

(3) Nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã chú trọng nâng cao tinh thần
trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, đổi mới phong cách, lề lối làm
việc; giữ gìn đạo đức, lối sống và nghiêm khắc với mình hơn; bước đầu tự sửa chữa
khuyết điểm, tự điều chỉnh hành vi và các hoạt động trong cơng tác và trong cuộc
sống của mình, gia đình và người thân. Bước đầu đã kiềm chế, ngăn chặn tình trạng
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng lớn, đặc biệt
nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét
xử nghiêm minh theo pháp luật, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan
nghênh, đồng tình ủng hộ.
(4) Nhiều chủ trương, nguyên tắc, quan điểm, giải pháp lớn về công tác cán
bộ được thể chế hóa, cụ thể hóa bằng các quy định, quy chế, quy trình bảo đảm dân
chủ, khách quan, cơng khai, chặt chẽ hơn. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng,
luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được tăng cường, đẩy mạnh hơn, nhất
là ở cấp Trung ương, góp phần quan trọng cho sự thành cơng của đại hội đảng bộ
các cấp và Đại hội XII của Đảng.
(5) Việc lấy phiếu tín nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã có tác dụng
tích cực, giúp cán bộ tự soi mình, tự điều chỉnh và khắc phục khuyết điểm, nỗ lực
phấn đấu thực hiện tốt hơn chức trách nhiệm vụ được giao. Công tác quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ được đẩy mạnh hơn (lần đầu

tiên quy hoạch cán bộ cấp chiến lược). Kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4
về công tác cán bộ là bước quan trọng để chuẩn bị công tác nhân sự cấp ủy đại hội
đảng bộ các cấp và Đại hội XII của Đảng.
(6) Dân chủ trong Đảng và trong xã hội được phát huy. Cùng với việc chất
vấn và trả lời chất vấn trong Đảng, chất vấn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân các
cấp đã được đổi mới, thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm, yếu kém trong đời sống
kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương. Nhiều người đứng đầu cấp ủy, chính
quyền từ Trung ương đến địa phương tích cực đổi mới lề lối, tác phong làm việc,
sâu sát cơ sở, gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với nhân dân. Bộ Chính trị đã ban hành
Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính
trị - xã hội; quy định việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân
dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền đã tạo cơ sở thuận lợi để
Mặt trận Tổ quốc và các đồn thể chính trị - xã hội thực hiện tốt hơn chức năng,
nhiệm vụ được giao.
Có được những kết quả nêu trên là do:


18

(1) Việc ban hành Nghị quyết Trung ương 4 là một chủ trương đúng đắn, kịp
thời, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của cán bộ,
đảng viên và nhân dân; được nhân dân ủng hộ, tích cực tham gia.
(2) Q trình thực hiện Nghị quyết được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ
Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, cụ thể, sâu sát với
quyết tâm chính trị cao; đồng thời, có một số đổi mới về nội dung, cách làm đem lại
hiệu quả trong triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết.
(3) Có sự tham gia tích cực, đồng bộ của cả hệ thống chính trị từ Trung ương
đến cơ sở; sự gương mẫu, nghiêm túc trong kiểm điểm, tự phê bình và phê bình của
Bộ Chính trị, Ban Bí thư để cấp dưới học tập, noi theo.
3.2. Một số hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân:

(1) Qua thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, một số việc vẫn chưa đạt được
mục tiêu Nghị quyết đề ra, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây
dựng Đảng ở các cấp. Một số nội dung Nghị quyết đề ra nhưng chưa được triển khai
thực hiện, như: Việc xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ và tiêu chí đánh giá
theo chức danh; xây dựng cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng người
tài để tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ tham
mưu, chuyên gia cấp chiến lược; thực hiện chủ trương bố trí một số chức danh cán
bộ chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện khơng phải người địa phương. Việc thực hiện thí
điểm giao quyền cho bí thư cấp ủy lựa chọn, giới thiệu để bầu cử ủy viên thường vụ
cấp ủy; cấp trưởng lựa chọn, giới thiệu để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó; việc thí điểm
chế độ tiến cử, chế độ tập sự lãnh đạo, quản lý. Thực hiện quy trình những người
được dự kiến đề bạt, bổ nhiệm phải trình bày đề án hoặc chương trình hành động
trước khi cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Định kỳ tổ chức để nhân dân
tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền thơng qua Mặt trận Tổ quốc
và các đồn thể chính trị - xã hội…
(2) Trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình, tình trạng nể nang, né tránh,
ngại va chạm vẫn còn khá phổ biến ở các cấp. Một số cán bộ, đảng viên chưa tự
giác nhìn nhận đúng mức khuyết điểm, trách nhiệm của mình về những hạn chế,
khuyết điểm của tập thể và trách nhiệm được giao. Trên một số vấn đề, qua kiểm
điểm vẫn chưa làm rõ được thực chất, mức độ nghiêm trọng của tình hình; chưa chỉ
ra được địa chỉ cụ thể và ai chịu trách nhiệm như tình trạng suy thoái, chạy chức,
chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp…
(3) Việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các quy định của Đảng, Nhà nước
theo hướng đề cao hơn trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu trong mối quan


19

hệ giữa tập thể và cá nhân chưa thực hiện được. Chưa quan tâm đúng mức đến việc
xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu, tư vấn cấp chiến lược, cán bộ lãnh đạo, quản lý

doanh nghiệp nhà nước. Công tác đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất qua nhiều
nhiệm kỳ nhưng chưa có giải pháp để khắc phục; tình trạng nể nang, né tránh trách
nhiệm hoặc ngại va chạm trong đánh giá cán bộ vẫn còn khá phổ biến. Chưa làm rõ
và ngăn chặn được tình trạng chạy chức, chạy quyền. Cơng tác phịng ngừa, phát
hiện và xử lý tham nhũng còn hạn chế, chưa đạt yêu cầu đề ra.
(4) Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu
hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm
tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tình trạng suy thối về tư tưởng chính
trị, đạo đức lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa trong một bộ phận
cán bộ, đảng viên vẫn đang tồn tại, chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận cịn diễn
biến phức tạp hơn. Một số ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng lơi kéo, kích
động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, hành động, việc làm chống đối Đảng,
Nhà nước.
Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm trên là do:
(1) Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 trong bối cảnh tình
hình thế giới, khu vực có những diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo; các thế lực
thù địch gia tăng hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Trong nước, tình hình
kinh tế có bước phục hồi nhưng còn chậm; năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức
cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, trong khi yêu cầu phát triển và bảo vệ đất nước
trong quá trình hội nhập ngày càng cao. Tình trạng suy thối, tham nhũng, lãng phí
là những vấn đề phức tạp, khơng thể giải quyết được ngay trong một thời gian ngắn.
(2) Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thối về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí là việc hệ trọng, có tác động đến sự tồn vong của
chế độ nhưng chỉ đạo thực hiện chưa quyết liệt, chưa đáp ứng địi hỏi của tình hình.
Cấp ủy, người đứng đầu ở một số nơi chưa tiên phong, gương mẫu thực hiện Nghị
quyết, chưa nêu cao trách nhiệm, chưa có những giải pháp đủ mạnh để làm chuyển
biến tình hình ở địa phương, cơ quan, đơn vị.
(3) Trong quá trình thực hiện Nghị quyết, việc tu dưỡng, rèn luyện về tư
tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, nâng cao năng lực, trình độ của một
bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tích cực, đồng bộ, thường xuyên, trong khi đơ công

tác quản lý cán bộ, đảng viên còn nhiều sơ hở. Việc phát hiện, phòng ngừa, ngăn
chặn khuyết điểm của cán bộ, đảng viên tại chi bộ vẫn là khâu yếu.


20

(4) Các vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng được xác định trong Nghị quyết
Trung ương 4 là những vấn đề quan trọng, khó và đã kéo dài nhiều nhiệm kỳ, song
chưa có những giải pháp đủ mạnh để khắc phục, giải quyết. Công tác thông tin,
tuyên truyền về thực hiện Nghị quyết có lúc, có nơi chưa đầy đủ, kịp thời, chưa định
hướng được dư luận. Một số địa phương cịn bng lỏng kiểm tra, giám sát việc sửa
chữa, khắc phục khuyết điểm.
4. Một số kinh nghiệm về xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện.
Qua 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết, rút ra một số kinh nghiệm trong
việc xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết như sau:
(1) Trung ương đã chọn đúng và trúng những vấn đề cấp bách nhất của công
tác xây dựng Đảng để ban hành Nghị quyết. Khi đã có Nghị quyết, Bộ Chính trị,
Ban Bí thư và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiên trì
thực hiện với quyết tâm chính trị cao. Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí
thư, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, chính
quyền, các cơ quan, đơn vị nêu cao vai trị tiền phong, gương mẫu, có quyết tâm cao
và chịu trách nhiệm trước cấp trên về tổ chức thực hiện Nghị quyết.
(2) Việc triển khai thực hiện Nghị quyết được tiến hành bài bản, khoa học,
chặt chẽ. Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị và Kế hoạch thực hiện Nghị quyết; đồng
thời chỉ đạo các ban, cơ quan đảng Trung ương ban hành các văn bản hướng dẫn cụ
thể và khá đồng bộ để thực hiện. Việc tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết và các
văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương một cách nghiêm túc, dứt điểm ở các
cấp, đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong tồn Đảng, góp phần củng
cố, thống nhất nhận thức và xác định trách nhiệm của mình trong việc thực hiện
Nghị quyết.

(3) Các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo các cơ quan Trung ương đã
ban hành chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện khẩn trương, nghiêm túc, có
sự phân cơng nhiệm vụ cụ thể, phù hợp với điều kiện của địa phương, cơ quan, đơn
vị. Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện Nghị quyết được các cấp ủy quan tâm chỉ
đạo, thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm.
(4) Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình tập thể, cá nhân theo Nghị quyết
Trung ương 4 được chỉ đạo chặt chẽ, bài bản, tiến hành nghiêm túc, thận trọng, với
một số nội dung và cách làm mới so với trước đây đã đem lại hiệu quả cụ thể, thiết
thực.
(5) Việc chuẩn bị, xem xét, thông qua các đề án, cơ chế, chính sách… để triển
khai thực hiện Nghị quyết được tiến hành chu đáo, thận trọng, bảo đảm chất lượng;


21

có chủ trương sau khi ban hành thấy chưa phù hợp, chưa sát thực tiễn đã được kịp
thời bổ sung, sửa đổi ngay; có những vấn đề quan trọng, phức tạp, cịn có ý kiến
khác nhau đều được thảo luận dân chủ, kỹ lưỡng để quyết định theo đúng nguyên
tắc, quy định của Điểu lệ Đảng.
(6) Thực hiện xây đi đôi với chống (xây để chống và chống để xây); coi trọng
công tác thông tin, tuyên truyền, vận động, thuyết phục; đề cao tính tự giác, gương
mẫu của cấp trên và người đứng đầu, đi đôi với xử lý nghiêm minh các trường hợp vi
phạm.
III. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC
THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Phương hướng chung
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định: Trong những năm tới, yêu cầu,
nhiệm vụ của thời kỳ phát triển mới rất nặng nề, địi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa
cơng tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì với quyết tâm chính trị
cao tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) gắn với việc

thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nhằm tăng cường xây dựng Đảng trong
sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; phát huy
sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh tồn diện, đồng bộ
cơng cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hịa bình, ổn
định; sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
2. Nhiệm vụ và giải pháp
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm
kỳ, trong đó, 2 nhiệm vụ trọng tâm liên quan đến 3 vấn đề cấp bách mà Nghị quyết
Trung ương 4 đề ra, đó là: (1) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn,
đẩy lùi suy thối về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ. (2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội
ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ .
(3) Xây dựng tổ chức bộ máy của tồn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu
lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), gắn với
thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng Đảng trong Nghị quyết Đại hội XII
của Đảng, trong 5 năm tới, cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp
chủ yếu sau:
2.1. Tiếp tục thực hiện toàn diện, đồng bộ các nội dung mà Nghị quyết
Trung ương 4 đã đề ra, cụ thể là:


22

(1) Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp rà soát việc thực hiện Nghị quyết Trung
ương 4 và kế hoạch sửa chữa, khắc phục khuyết điểm của ngành, địa phương, cơ
quan, đơn vị mình; chỉ rõ những việc đã làm được, những việc chưa làm và chưa
làm tốt; kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung những nội dung cần thiết để lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện, gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cho phù hợp,
bảo đảm hiệu quả, thiết thực, nhất là những nội dung vừa qua chưa thực hiện hoặc

thực hiện chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra và những vấn đề phức tạp mới phát sinh.
(2) Các cấp ủy, tổ chức đảng bổ sung, sửa đổi quy chế làm việc cho phù hợp
với Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nghị quyết của đại hội đảng bộ cấp mình và
tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị; trong đó, chú ý làm rõ vai trị,
trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể và cá nhân người đứng đầu cấp ủy trong công
tác tổ chức cán bộ. Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 và Chỉ thị 03 của
Bộ Chính trị (khóa XI), gắn với thực hiện Quy định của Ban Bí thư về trách nhiệm
nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp.
(3) Đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ và tăng cường
giáo dục chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống cách mạng cho cán bộ,
đảng viên; kiên quyết phê phán, đấu tranh với những biểu hiện suy thối về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển
hoá” trong nội bộ. Kiên quyết, kịp thời đấu tranh với âm mưu, hoạt động chống phá
Đảng, Nhà nước và chế độ ta của các thế lực thù địch, phản động, các đối tượng cơ
hội chính trị.
(4) Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý
tưởng cách mạng; tăng cường sự thống nhất ý chí, hành động trong Đảng, giữ mối
liên hệ mật thiết với nhân dân. Tiếp tục làm rõ, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Kịp thời bổ sung, sửa đổi các quy định, quy
chế, tạo điều kiện, cơ sở cho việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, nhất là việc
lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị.
(5) Tiếp tục cụ thể hóa, thể chế hóa các nguyên tắc về cơng tác cán bộ, bảo
đảm tính thống nhất, đồng bộ, chặt chẽ giữa các khâu và liên thông giữa các cấp;
đẩy mạnh quy hoạch cán bộ và đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ sau quy
hoạch. Đổi mới phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, nhất là người đứng đầu
theo hướng công khai, dân chủ, minh bạch; đẩy mạnh thực hiện chủ trương bố trí
một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện khơng là người địa phương.
(6) Xây dựng cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài để
xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, có phẩm chất và uy



23

tín, đủ năng lực, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Tiếp tục xây dựng, ban
hành và thực hiện cải cách chế độ tiền lương, gắn với sắp xếp lại tổ chức bộ máy
của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; thực hiện tinh giản biên chế cán
bộ, công chức, viên chức; đẩy mạnh cải cách hành chính, chống bình qn, độc
quyền, đặc lợi; cơng khai chế độ, chính sách đối với cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo,
quản lý các cấp để nhân dân giám sát.
(7) Thực hiện nghiêm túc kiểm điểm tự phê bình và phê bình hàng năm trong
các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4,
trọng tâm là kiểm tra việc sửa chữa, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm đã được
chỉ ra qua kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương 4, kiểm điểm hàng năm và những
vấn đề mới phát sinh liên quan đến trách nhiệm của tập thể và cá nhân.
(8) Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát việc thực
hiện Nghị quyết Trung ương 4 một cách cụ thể, phù hợp, thiết thực. Chú trọng kiểm
tra ở những nơi có vấn đề nổi cộm qua kiểm tra hoặc phản ánh của báo chí; kiểm
tra, giám sát tổ chức đảng phải gắn với kiểm tra cá nhân người đứng đầu; xử lý
nghiêm minh các tổ chức đảng và đảng viên vi phạm.
(9) Đẩy mạnh việc phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh phòng, chống quan
liêu, tham nhũng, lãng phí bằng tổ chức, hệ thống, pháp luật, cơ chế, chính sách và
nhiều biện pháp để “khơng thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng”. Quy định
rõ việc kê khai, công khai và kiểm tra, xác minh về kê khai thu nhập, tài sản của cán
bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp để bảo đảm tính cơng khai, minh bạch.
2.2. Tiếp tục cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính
trị (khóa XI) về “Tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức”. Chú trọng một số nội dung sau:
- Kiên trì thực hiện chủ trương tinh giản biên chế cán bộ, công chức, viên
chức, bảo đảm không tăng tổng biên chế của cả hệ thống chính trị. Trường hợp phải
thành lập tổ chức mới hoặc được giao nhiệm vụ mới thì các cơ quan tổ chức, đơn vị

tự cân đối điều chỉnh trong tổng biên chế hiện có. Giữ ổn định biên chế của các tổ
chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp đến hết năm 2016. Từ năm 2017, thực hiện khốn
kinh phí hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao.
- Sớm hồn thành việc xác định vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức
hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội để làm căn cứ xác định biên chế phù hợp.
- Đẩy mạnh thực hiện kiêm nhiệm đối với một số chức danh của cán bộ, công
chức từ trung ương đến cấp xã, nhất là kiêm nhiệm đối với các chức danh cán bộ


24

không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, tổ dân phố. Khốn kinh phí chi trả phụ cấp
để khuyến khích giảm dần số lượng những người hoạt động khơng chuyên trách và
tăng thu nhập của cán bộ công chức cấp xã.
- Cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo ngạch, chức danh
nghề nghiệp, vị trí việc làm và trình độ đào tạo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ,
bảo đảm cơ cấu phù hợp về nữ, người dân tộc thiểu số. Tiếp tục thực hiện cơ chế
khốn kinh phí quản lý hành chính gắn với chế độ tiền thưởng để khuyến khích
những người làm việc tốt, hiệu quả.
2.3 Tiếp tục cụ thể hóa thực hiện Kết luận số 24-KL/TW của Bộ Chính trị
(khóa XI) về “Tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh
đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Cụ thể là:
- Xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ và tiêu chí đánh giá cán bộ theo tiêu
chuẩn chức danh, theo hiệu quả công việc và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên,
nhân dân. Đánh giá, lựa chọn cán bộ thông qua cơ cơ chế thi tuyển, sát hạch hàng
năm đối với cán bộ từ cấp cục, vụ và tương đương trở xuống theo phương châm làm
cái gì thi cái đó. Gắn đánh giá cán bộ theo định kỳ với kiểm điểm, tự phê bình và
phê bình hàng năm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Quy định
thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu trong công tác cán bộ và quy hoạch, luân

chuyển cán bộ.
- Đổi mới công tác tạo nguồn cán bộ theo hướng lựa chọn sinh viên tốt
nghiệp loại giỏi ở các trường đại học có chất lượng cử về cơ sở (những nơi khó
khăn, có nhu cầu) để đào tạo, từ đó chọn lọc nguồn quy hoạch cán bộ lâu dài. Xây
dựng, thực hiện cơ chế tiến cử cán bộ; cơ chế người đứng đầu đề xuất, chuẩn bị
người quy hoạch thay thế mình, người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu để bầu cử, bổ
nhiệm cấp phó…
- Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong
quy hoạch theo chức danh cán bộ, gắn lý thuyết với thực hành, kỹ năng xử lý thực
tiễn đối với từng chức danh, ở từng cấp, từng ngành, lĩnh vực công tác. Xây dựng
và thực hiện chế độ tập sự lãnh đạo, quản lý.
- Thực hiện nghiêm cơ cấu 3 độ tuổi trong quy hoạch cấp ủy và ban lãnh đạo,
quản lý các cấp; tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, bảo đảm tính thực
chất, khả thi của đề án quy hoạch cán bộ. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả quy
hoạch cán bộ cấp chiến lược bảo đảm tính kế thừa, phát triển và sự chuyển tiếp liên
tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ.


25

- Đẩy mạnh công tác luân chuyển để đào tạo cán bộ và thực hiện bố trí một số
chức danh lãnh đạo, quản lý không là người địa phương ở cấp tỉnh, cấp huyện và
từng bước nghiên cứu thực hiện ở cấp xã, phường, thị trấn. Xây dựng và thực hiện
quy định về luân chuyển cán bộ, trong đó xác định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn,
đối tượng luân chuyển đào tạo theo quy hoạch và quy trình luân chuyển.
2.4 Tiếp tục cụ thể hóa thực hiện Kết luận 64-KL/TW của Ban Chấp hành
Trung ương (khoá XI): “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị từ
Trung ương đến cơ sở”, nhằm xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị từ
Trung ương đến cơ sở đồng bộ, tinh gọn, có tính ổn định, phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ; xây dựng đội ngũ cán bộ, cơng chức có số lượng hợp lý, có phẩm chất

chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ chính trị của thời kỳ mới. Chú trọng một số nội dung sau:
(1) Đối với tổ chức đảng:
- Nghiên cứu, sắp xếp lại mơ hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các đảng
bộ khối ở các địa phương; mơ hình tổ chức đảng ở các tổng cơng ty, tập đồn kinh
tế nhà nước theo quy định của Điều lệ Đảng và phù hợp thực tiễn.
- Sửa đổi, bổ sung các quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của
các cơ quan tham mưu, giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện;
điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn cho
phù hợp với thực tế và yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới hiện nay;
(2) Đối với các cơ quan Nhà nước:
- Tiếp tục đổi mới hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành
trong sạch, vững mạnh, quản lý thống nhất, thông suốt, tinh gọn, hợp lý, nâng cao
hiệu lực, hiệu quả các cơ quan nhà nước, khắc phục tình tyrangj bng lỏng trên
một số lĩnh vực. Tiếp tục cải cách hành chính, chế độ cơng vụ, cơng chức.
- Nghiên cứu, điều chỉnh một số tổ chức không cần thiết, chưa phù hợp bên
trong một số bộ, ngành; khắc phục những hạn chế khi tổ chức bộ quản lý đa ngành,
đa lĩnh vực. Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành
tập trung vào quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, khắc phục sự chồng chéo hoặc bỏ
trống về chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý; bảo đảm nguyên tắc một
việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính.
- Thực hiện thí điểm việc hợp nhất một số cơ quan tham mưu, giúp việc của
Đảng với các cơ quan chuyên môn của Nhà nước ở địa phương có chức năng,
nhiệm vụ tương đồng và thực hiện nhất thể hóa chức danh bí thư kiêm chủ tịch hội


×