Tải bản đầy đủ (.docx) (53 trang)

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại huyện tứ kỳ, tỉnh hải dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (291.43 KB, 53 trang )

MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
LỜI CẢM ƠN


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐTBD

: Đào tạo bồi dưỡng

CBCC

: Cán bộ công chức

KTXH

: Kinh tế xã hội

HĐND

: Hội đồng nhân dân

UBND

: Uỷ ban nhân



LỜI CẢM ƠN
Sau hai tháng thực tập tại phòng Nội vụ, UBND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dương, với sự giúp đỡ của các bác, các anh, chị trong phòng Nội vụ cùng sự chỉ
bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã hoàn thành báo cáo thực tập một cách tốt
nhất.
Bốn năm học tập dưới mái trường Đại học Nội vụ Hà Nội, em đã được các
thầy, cô giáo truyền đạt những kiến thức lý luận cơ bản về ngành Quản trị nhân lực
nhưng chưa có điều kiện va chạm thực tiễn. Nhưng qua đợt kiến tập và thực tập
ngành nghề do trường tổ chức, em được phòng Nội vụ nói riêng và UBND huyện
Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương nói chung tiếp nhận về thực tập, những lý luận được học tại
trường hôm nay được đem ra thực hành soi chiếu và áp dụng trong thực tiễn hàng
ngày. Em đã quan sát và học hỏi được nhiều điều về công việc, kỹ năng nghiệp vụ
hành chính nhân sự cũng như trách nhiệm trong công việc, tác phong, thái độ ứng
xử làm việc nơi công sở, vững vàng, tự tin với nghề nghiệp mình đã chọn.
Qua bài báo cáo này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất đến các
bác, các anh, chị công tác trong phòng Nội vụ, UBND huyện Tứ Kỳ cùng các thầy
cô giáo Khoa Tổ chức và Quản lý nhân lực. Đặc biệt là thầy Nguyễn Văn Tạo đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ
em hoàn thành bài báo cáo này!
“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức cấp xã tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. ” là một đề tài gắn liền với lý luận
và thực tiễn. Do trình độ hiểu biết còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có giới hạn nên
bài báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý và
chỉ bảo từ phía thầy, cô giáo.
Xin chân thành cảm ơn!


PHẦN MỞ ĐÂU
1. Lí do chọn đề tài
Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) có vai trò rất quan trọng, là nhân tố

quyết định sự thành bại của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cán
bộ là cái gốc của mọi công việc", "Muốn việc thành công hay thất bại, đều do cán
bộ tốt hoặc kém". Ở nước ta, cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một trong bốn cấp
hành chính. Cấp xã là cấp thấp nhất, gần dân nhất, là cấp trực tiếp tổ chức và vận
động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng
dân cư. Chính quyền cấp xã thực hiện quản lý nhà nước trên các lĩnh vực: Chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Để chính quyền cấp xã thực hiện
chức năng quản lý nhà nước một cách có hiệu lực và hiệu quả thì cần phải có đội
ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã có năng lực quản lý nhà nước tốt. Vì vậy,
việc quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở xã, phường, thị trấn có
đủ phẩm chất, năng lực là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả
trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Tỉnh Hải Dương nói chung và Huyện Tứ Kỳ nói riêng đang trong giai đoạn
hội nhập kinh tế, đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện
các công trình, dự án trọng điểm gắn với chương trình mục tiêu Quốc gia về xây
dựng nông thôn mới nên việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
là một yêu cầu bức thiết. Trong những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã ở Huyện Tứ Kỳ đã đạt được những kết quả bước đầu quan trọng,
góp phần củng cố, kiện toàn bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền
cơ sở.
Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới, đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương vẫn chưa thích ứng với sự đòi
hỏi của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện trong nhiều vấn đề như: trình
độ chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, năng lực, cơ cấu...Chương trình đào tạo, bồi
dưỡng chưa thực sự khoa học, chưa phù hợp với thực tế địa phương; Công tác quản
lý đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều bất cập. Để khắc phục những hạn chế này, đòi hỏi

5



Đảng bộ huyện Tứ Kỳ phải tiếp tục đối mới và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Chỉ trên cơ sở đó mới có khả năng tạo ra
một đội ngũ cán bộ có Tài - Đức trọn vẹn; có cơ cấu hợp lý; có tư duy nhanh nhạy;
đủ khả năng nhận thức các quy luật tự nhiên và xã hội để vận dụng khi xử lý các
tình huống thực tiễn trên địa bàn. Chính vì vậy, nhân đợt thực tập tại phòng Nội vụ
UBND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương để tìm hiểu rõ hơn về công tác đào tạo, bồi
dưỡng CB,CC cấp xã của huyệnTứ Kỳ, em chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp
nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Tứ Kỳ,
tỉnh Hải Dương.” Để làm báo cáo thực tập
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài có mục tiêu sau:
Thứ nhất: dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn để đánh giá thực trạng của công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
trong những năm gần đây.
Thứ hai: Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương trong
thời gian tới.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
cấp xã.
- Phân tích, đánh giá làm rõ thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
cấp xã ở Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương trong thời gian gần đây; Chỉ ra những kết
quả đạt được và những mặt còn hạn chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng CB,CC
cấp xã của huyện Tứ Kỳ.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương trong giai đoạn
hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

6


về xây dựng đội ngũ CBCC, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà
nước, hệ thống các văn bản của nhà nước có liên quan đến công chức.
- Phương pháp thống kê – phân tích: Lấy số liệu từ phòng Nội Vụ Huyện Tứ
Kỳ: số liệu về số lượng đội ngũ cán bộ công chức tại các xã, về trình độ chuyên
môn, số năm công tác, vị trí công tác, yêu cầu công việc, thành tích đóng góp, khen
thưởng, báo cáo tổng kết của các năm.
- Phương pháp so sánh số liệu qua các năm.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
5 . Kết cấu của báo cáo
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ
bản của khóa luận bao gồm 3 chương.
Chương 1: Tổng quan về huyện Tứ Kỳ và cơ sở lý luận về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã.
Chương 2: Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã tại
Huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương hiện nay.

7


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ HUYỆN TỨ KỲ VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO BỒI

DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Khái quát về Ủy Ban Nhân Dân Huyện Tứ Kỳ
1.1.1 . Vị trí, chức năng.
Uỷ ban nhân dân huyện Tứ Kỳ là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh Hải Dương . UBND huyện chịu trách nhiệm
chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên nhằm đảm
bảo thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng,
an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn
UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương góp phần bảo
đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung
ương đến cơ sở.
1.1.2 . Nhiệm vụ, quyền hạn.
Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND huyện trong việc thực hiện quản lý nhà
nước bao gồm:
- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh phê duyệt; tổ chức và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch sau khi được
phê duyệt.
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, các chương trình khuyến khích phát triển
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, ở địa phương trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
phê duyệt; tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, các chương trình sau khi được
phê duyệt
- Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây
dựng lực lượng vũ trang và xây dựng quốc phòng toàn dân, thực hiện chế độ nghĩa
vụ quân sự, nhiệm vụ hậu cần tại chỗ, nhiệm vụ động viên, chính sách hậu phương
quân đội và chính sách đối với các lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương, quản
lý hộ tịch, hộ khẩu ở địa phương, quản lý việc cư trú đi lại của người nước ngoài ở
địa phương.
- Phòng chống thiên tai, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, bảo vệ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi
ích hợp pháp khác của công dân; chống tham nhũng, chống buôn lậu, làm hàng giả

và các tệ nạn xã hội.
- Quản lý công tác tổ chức, biên chế, lao động tiền lương, đào tạo đội ngũ
công chức, viên chức Nhà nước và cán bộ cấp xã, công tác bảo hiểm xã hội theo sự
phân cấp của Chính phủ.
- Tổ chức và chỉ đạo công tác thi hành án dân sự ở địa phương theo quy định
của Pháp luật.

8


- Tổ chức thực hiện việc thu – chi ngân sách của địa phương theo quy định
của Pháp luật.
1.1. 3 . Cơ cấu tổ chức bộ máy.
Các phòng ban: 12 cơ quan
STT
Cơ quan, đơn vị
1
Văn phòng HĐND – UBND

STT
7

Cơ quan, đơn vị
Phòng Giáo dục

2

Phòng Nội vụ

8


Phòng Văn hóa và Thông tin

3

Phòng Tài chính – Kế hoạch

9

Phòng Nông nghiệp và PTNT

4

Phòng Lao động TB và XH

10

Thanh tra huyện

5

Phòng Tài nguyên và môi trường

11

Phòng Tư pháp

6

Phòng Kinh tế hạ tầng


12

Phòng Y tế

Các đơn vị sự nghiệp: có 4 đơn vị sự nghiệp:
STT
1

Cơ quan, đơn vị
Đài phát thanh

2

Trạm khuyến nông

3

Trung tâm văn hoá Thể thao-TT

4

Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất
Huyện Tứ Kỳ có 26 xã, 1 thị trấn:

STT
Xã, thị trấn
1
Xã Ngọc Sơn


STT
15

Xã, thị trấn
Xã Tây Kỳ

2

Xã Kỳ Sơn

16

Xã Quang Phục

3

Xã Đại Đồng

17

Xã Tân Kỳ

4

Xã Hưng Đạo

18

Xã Dân Chủ


5

Xã Ngọc Kỳ

19

Xã Quảng Nghiệp

6

Xã Tái Sơn

20

Xã Đại Hợp

7

Xã Bình Lãng

21

Xã Quang Khải

8

Xã Đông Kỳ

22


Xã Minh Đức

9

Thị trấn Tứ Kỳ

23

Xã Văn Tố

10

Xã Tứ Xuyên

24

Xã An Thanh

11

Xã Cộng Lạc

25

Xã Quang Trung

12

Xã Nguyên Giáp


26

Xã Tiên Động

13

Xã Phượng Kỳ

27

Xã Hà Kỳ

14

Xã Hà Thanh

9


1.2 . Khái quát về Phòng Nội Vụ, Huyện Tứ Kỳ
Địa chỉ cơ quan : Số 02, Đường Tây Nguyên, Thị trấn Tứ Kỳ, Huyện Tứ Kỳ,
Tỉnh Hải Dương
Số điện thoại : 03203.744.218
1.2.1. Vị trí, chức năng của Phòng Nội vụ
Phòng Nội vụ huyện Tứ Kỳ là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Tứ
Kỳ, là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng
quản lý nhà nước các lĩnh vực: tổ chức; biên chế các cơ quan hành chính, sự nghiệp
nhà nước; cải cách hành chính; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán
bộ, công chức, viên chức nhà nước; cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; văn thư,
lưu trữ nhà nước; tôn giáo; thi đua - khen thưởng và công tác quản lý nhà nước về

thanh niên.
Phòng Nội vụ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự
chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời
chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Nội vụ.
1.2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn:
- Trình UBND cấp huyện các văn bản hướng dẫn về công tác nội vụ trên địa
bàn và tổ chức triển khai thực hiện theo quy định.
- Trình UBND cấp huyện ban hành quyết định chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch
dài hạn, 5 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm
vụ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được giao.
- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch
sau khi được duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh
vực thuộc phạm vi quản lý được giao.
- Về tổ chức bộ máy:
+ Tham mưu giúp UBND cấp huyện quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và tổ chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện theo hướng dẫn của UBND tỉnh;
+ Tham mưu để UBND cấp huyện trình cấp có thẩm quyền quyết định thành
lập, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện;
+ Xây dựng đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các tổ chức sự nghiệp trình
cấp có thẩm quyền quyết định;

10


+ Tham mưu giúp Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định thành lập, giải thể,
sáp nhập các tổ chức phối hợp liên ngành cấp huyện theo quy định của pháp luật.
- Về quản lý và sử dụng biên chế hành chính, sự nghiệp:
+ Tham mưu giúp Chủ tịch UBND cấp huyện phân bổ chỉ tiêu biên chế
hành chính, sự nghiệp hàng năm;
+ Giúp UBND cấp huyện hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng biên

chế hành chính, sự nghiệp;
+ Giúp UBND cấp huyện tổng hợp chung việc thực hiện các quy định về
chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ quan chuyên môn, tổ chức sự
nghiệp cấp huyện và UBND cấp xã;
- Về công tác xây dựng chính quyền:
+ Giúp UBND cấp huyện và các cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện
việc bầu cử đại biêu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân theo phân công của
UBND cấp huyện và hướng dẫn của UBND cấp tỉnh;
+ Thực hiện các thủ tục để Chủ tịch UBND cấp huyện phê chuẩn các chức
danh lãnh đạo của UBND cấp xã; giúp UBND cấp huyện trình UBND cấp tỉnh phê
chuẩn các chức danh bầu cử theo quy định của pháp luật;
+ Giúp UBND cấp huyện trong việc hướng dẫn thành lập, giải thể, sáp nhập
và kiểm tra, tổng hợp báo cáo về hoạt động của thôn, xóm, tổ dân phố trên địa bàn
huyện theo quy định; bồi dưỡng công tác cho Trưởng, Phó thôn, xóm, tổ dân phố.
- Giúp UBND cấp huyện trong việc hướng dẫn, kiểm tra tổng hợp báo cáo
việc thực hiện Pháp luật về dân chủ cơ sở đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự
nghiệp, xã, phường, thị trấn trên địa bàn;
- Về cán bộ, công chức, viên chức:
+ Tham mưu giúp UBND cấp huyện trong việc tuyển dụng, sử dụng, điều
động, bổ nhiểm, bổ nhiệm lại, đánh giá; thực hiện chính sách, đào tạo, bồi dưỡng về
chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức quản lý đối với cán bộ, công chức, viên chức;
+ Thực hiện việc tuyển dụng, quản lý công chức xã, phường, thị trấn và thực
hiện chính sách đối với cán bộ, công chức và cán bộ không chuyên trách xã,
phường, thị trấn theo phân cấp.
- Về cải cách hành chính:
+ Giúp UBND cấp huyện triển khai, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên
môn cùng cấp và UBND cấp xã thực hiện công tác cải cách hành chính ở địa
phương;
+ Tham mưu, giúp UBND cấp huyện về chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cải
cách hành chính trên địa bàn huyện;

+ Tổng hợp công tác cải cách hành chính ở địa phương báo cáo UBND cấp
huyện và cấp tỉnh;
11


- Giúp UBND cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động
của hội và tổ chức phi chính phủ trên địa bàn;
- Về công tác văn thư, lưu trữ:
+ Hướng dẫn, kiểm tra các cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện chấp hành
chế độ, quy định của pháp luật về công tác văn thư, lưu trữ;
+ Hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ về thu thập, bảo vệ, bảo quản
và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ đối với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện và
lưu trữ huyện;
- Về công tác tôn giáo:
+ Giúp UBND cấp huyện chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện
các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo và công
tác tôn giáo trên địa bàn;
+ Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên môn cùng cấp để thực hiện
nhiệm vụ quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn theo phân cấp của UBND tỉnh
và theo quy định của Pháp luât;
- Về công tác thi đua, khen thưởng:
+ Tham mưu, đề xuất với UBND cấp huyện tổ chức các phong trào thi đua
trên địa bàn huyện đồng thời làm nhiệm vụ thường trực của Hội đồng thi đua, khen
thưởng cấp huyện;
+ Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch, nội dung thi đua,
thực hiện tốt công tác khen thưởng trên địa bàn huyện; xây dựng, quản lý và sử
dụng Quỹ thi đua, khen thưởng theo quy định của Pháp luât;
- Quản lý nhà nước về công tác thanh niên:
+ Triển khai, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thanh niên;
+ Hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về thanh niên và

công tác thanh niên được giao;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm về
công tác nội vụ theo thẩm quyền;
- Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo Chủ tịch UBND cấp huyện
và Giám đốc Sở Nội vụ về tình hình, kết quả triển khai công tác nội vụ trên địa
bàn;
- Quản lý tổ chức, biên chế, thực hiện chế độ, chính sách, chế độ đãi ngộ,
khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán
bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Phòng Nội vụ theo quy định
của pháp luật và theo phân cấp của UBND cấp huyện;
- Quản lý tài chính, tài sản của Phòng Nội vụ theo quy định của pháp luật và
theo cấp của UBND cấp huyện;
- Giúp UBND cấp huyện quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của UBND xã, phường, thị trấn về công tác nội vụ và các lĩnh vực công tác khác
được giao trên cơ sở quy định của Pháp luật và theo hướng dẫn của Sở Nội vụ;
12


- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của UBND cấp huyện.
1.2.3. Cơ cấu tổ chức
Hiện nay phòng Nội vụ UBND huyện Tứ Kỳ gồm có 5 người (4 biên chế và
1 nhân viên hợp đồng):
STT Họ và tên

Giới

Năm

Chức vụ


Trình độ

1

tính
Nam

sinh
1963

Trưởng phòng

Cử

Đồng Việt Khoa

nhân

công tác xã
2

Phạm Thị Hải Yến

Nữ

1984

Phó phòng

hội

Cử

nhân

hành chính
3

Nguyễn Khắc Sáng

Nam

1984

Chuyên viên

học
Cử

nhân

hành chính
4

Nguyễn Thị Xiêm

Nữ

1988

Chuyên viên


học
Cử

nhân

hành chính
5

Nguyễn Văn Khánh

Nam

1987

học
Nhân viên hợp Cử
đồng

Quản

nhân
trị

kinh doanh
1.2.4. Quá trình hình thành và phát triển
Phòng Nội vụ huyện Tứ Kỳ được thành lập từ tháng 4 năm 2008, trên cơ sở
tách Phòng Nội vụ - Lao động – Thương binh & Xã hội thành 2 phòng chuyên môn
là Phòng Nội vụ và Phòng Lao động – Thương binh & Xã hội. Trải qua hơn 7 năm
xây dựng và phát triển, Phòng Nội vụ được giao 5 biên chế, hiện có 4 công chức

nằm trong biên chế và 01 hợp đồng lao động.Về trình độ chuyên môn: 100% cán
bộ, công chức có trình độ đại học, về trình độ lý luận chính trị: Cao cấp có 01 đồng
chí, trung cấp có 01 đồng chí và sơ cấp có 03 đồng chí. Chi bộ phòng nội vụ có 4
đồng chí là đảng viên chiếm 90% cán bộ, công chức của cơ quan.
Trong những năm qua, được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng; sự
chỉ đạo giúp đỡ kịp thời của Sở Nội vụ tỉnh Hải Dương,UBND huyện Tứ Kỳ, tập
thể phòng Nội vụ huyện Tứ Kỳ luônTrưởng
đoànphòng
kết thống nhất, phấn đấu hoàn thành xuất
(phụ trách)
Phụ trách toàn bộ hoạt động của
13bố trí cán bộ
phòng và công tác


sắc mọi nhiệm vụ được giao, được nhiều cấp, ngành tuyên dương, khen
thưởng:Năm 2009 được UBND tỉnh Hải Dương tặng danh hiệu Tập thể lao động
xuất sắc; năm 2010 được UBND tỉnh Hải Dương tặng Cờ thi đua; từ năm 2011 đến
năm 2014 được UBND huyện tặng danh hiệu Tập thể lao động tiên tiến và tặng giấy
khen.Chi bộ phòng Nội vụ liên tục từ năm 2008 đến năm 2014, được Huyện ủy Tứ
Kỳ, Đảng bộ khối chính quyền công nhận đạt danh hiệu Chi bộ trong sạch , vững
mạnh và tặng giấy khen.
Cán bộ, công chức phòng Nội vụ hằng năm đều được đánh giá hoàn thành
xuất sắc và hoàn thành tốt nhiệm vụ, không có cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm
vụ, vi phạm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước.Tiêu biểu năm 2009 và năm 2014, đồng chí Trưởng phòng Nội vụ huyện được
UBND tỉnh tặng bằng khen do có thành tích xuất sắc trong công tác, hằng năm cán
bộ, công chức,người lao động của Phòng được UBND huyện tặng danh hiệu Chiến
sĩ thi đua cơ sở, Lao động tiên tiến và Giấy khen.
1.3. Thực trạng công tác quản trị nhân lực của Phòng Nội Vụ huyện Tứ

Kỳ
1.3.1.Công tác phân tích công việc : Phân tích công việc là quá trình nghiên
cứu nội dung công việc nhằm xác định điều kiện tiến hành, các nhiệm vụ, trách
nhiệm, quyền hạn khi thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng cần thiết phải
có khi thực hiện công việc. Làm tốt công tác này sẽ tạo điều kiện cho việc sắp xếp
công việc cho cán bộ , công chức hiệu quả hơn. Hiện tại ở phòng Nội Vụ Huyện Tứ
Kỳ cũng có chia các mảng công việc cho từng chuyên viên và từng cán bộ phụ
trách riêng.
1.3.2.Công tác quản lý biên chế:
Phòng Nội vụ sẽ theo dõi biến động biên chế hàng năm từ đó xây dựng kế
hoạch biên chế trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của cơ quan đảm bảo đủ số lượng
đáp ứng được yêu cầu của công việc. Trưởng phòng các đơn vị sẽ dựa vào nhiệm
vụ hàng năm , biên chế được giao , báo cáo kết quả thực hiện công việc của CBCC
và nếu thấy số lượng công việc nhiều cần có thêm người giải quyết và những công
chức không đáp ứng được yêu cầu của công việc thì sẽ đề nghị Phòng Nội vụ giao
thêm biên chế. Phòng Nội vụ đã kết hợp cùng phòng Giáo dục và đào tạo xây dựng

14


kế hoạch biên chế hàng năm đối với viên chức trong toàn huyện Tứ Kỳ và trực tiếp
ký duyệt kế hoạch biên chế viên chức.
1.3.3. Công tác tuyển dụng
xây dựng kế hoạch, tuyển dụng cán bộ công chức, viên chức luôn được
Phòng thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chất lượng: Quá trình lập kế hoạch là dự
đoán trước những nhu cầu về nhân lực của các khối Phòng , Ban trực thuộc Huyện
và tùy theo kế hoạch mở rộng nhân lực và biên chế chỉ tiêu mà Tỉnh giao cho . Xây
dựng kế hoạch tuyển dụng CBCC phải đảm bảo về số lượng, cơ cấu, chủng loại
nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các đơn vị
Sau khi nhận được chỉ tiêu biên chế của Sở Nội vụ tỉnh Hải Dương phòng

Nội vụ xây dựng chỉ tiêu tuyển dụng dựa trên thông báo của Sở Nội vụ và báo cáo
của các xã và các trường trong toàn huyện sau đó phòng tổ chức họp và phân công
nhiệm vụ cho các cán bộ phụ trách về nhiệm vụ này:
Đối với biên chế tại các xã, thị trấn và đơn vị sự nghiệp giáo dục sẽ do đồng
chí Nguyễn Thị Xiêm lập kế hoạch tuyển dụng.
- Sau khi đã hoàn thành kế hoạch phòng gửi cho UBND và Sở Nội vụ phê
duyệt; UBND huyện thành lập Hội đồng tuyển dụng và phòng Nội vụ là nhân tố
chính. Tiếp đó phòng ra thông báo tuyển dụng và gửi tới các cơ quan liên quan và
công khai thông báo trong toàn bộ huyện Tứ Kỳ. Công việc này được thực hiện
trong tháng 3 và tháng 4.
+ Đến tháng 5 là thời gian tiếp nhận hồ sơ công việc này do đồng chí
Nguyễn Thị Xiêm đảm nhiệm. Đồng chí này sẽ xem xét hồ sơ đã đủ các loại giấy tờ
hợp lệ (đúng và đủ) hay chưa và hướng dẫn cho các thi sinh các thể lệ dự tuyển, thi
tuyển, các giấy tờ cần thiết.
+ Tháng 6, tháng 7 HĐTD sẽ xem xét, duyệt các hồ sơ đạt yêu cầu sau đó
tổng hợp và thông báo kết quả tuyển dụng.Thông báo này sẽ được gửi tới tất cả các
thi sinh dự thi và có lịch thi tuyển kèm theo.
+ Tới tháng 8 bắt đầu tổ chức thi tuyển bên cạnh đó là trả lại hồ sơ gốc cho
các thi sinh đã đạt trong đợt tuyển dụng đầu và các thí sinh không đạt, thông báo lên
Sở Nội vụ và phân công người trúng tuyển vào công tác tại các đơn vị còn thiếu vào
thàng 9.

15


1.3.4.Công tác đánh giá thực hiện công việc của cán bộ công chức viên
chức:
Hàng năm phòng tham mưu cho UBND huyện làm tốt công tác nhận xét
đánh giá cán bộ, công chức, viên chức thông qua đánh giá phát hiện những ưu điểm
và hạn chế của từng cán bộ, công chức, viên chức để phát huy ưu điểm, khắc phục

hạn chế còn tồn tại đồng thời lựa chọn cán bộ có triển vọng phát triển để bồi dưỡng
làm nguồn cán bộ quản lý.
+ Với những công chức là người đứng đầu và cấp phó của cơ quan:Công
chức sẽ viết báo cáo kiểm điểm tự đánh giá kết quả công tác theo nhiệm vụ được
giao và tự nhận xét ưu nhược điểm trong công tác. Bản báo cáo này được trình bày
trước cuộc họp kiểm điểm công tác hàng năm của cơ quan, đơn vị
Tập thể công chức của cơ quan sử dụng công chức tham gia đóng góp ý kiến
tại cuộc họp kiểm điểm công tác hàng năm. Người đứng đầu cơ quan đơn vị tiếp thu
ý kiến tham gia đóng góp của tập thể công chức và nhận xét đối với cấp phó của
mình , trình Chủ tịch UBND huyện nhận xét và tham mưu cho Ban thường vụ
Huyện uỷ đánh giá phân loại công chức.
+ Với những công chức không giữ chức vụ lãnh đạo: cũng sẽ viết báo cáo
kiểm điểm tự đánh giá kết quả công tác của mình sau đó người đứng đầu cơ quan sử
dụng công chức nhận xét về kết quả tự đánh giá của công chức và đưa ra kết luận và
phân loại công chức tại cuộc họp kiểm điểm hàng năm
+ Với viên chức thì trình tự đánh giá cũng như nội dung đối với công chức
trong cơ quan nhà nước. Hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng do trưởng phòng
GDĐT huyện đánh giá và báo cáo kết quả trình Chủ tịch UBND Huyện.
1.3.5.Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Được quan tâm đúng mức, có kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên
chức cả về kiến thức quản lý nhà nước, lý luận chính trị, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, kiến thức quốc phòng an ninh, chế độ tập sự với công chức tạm tuyển
thông qua quá trình đánh giá phân loại công chức viên chức của các phòng ban để
Phòng Nội vụ có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho CBCC.
1.3.6.Công tác bổ nhiệm cán bộ , công chức viên chức

16


Công tác bổ nhiệm cán bộ , công chức viên chức có nhiều đổi mới , được

thực hiện công khai , dân chủ , đúng quy trình , quy chế quản lý cán bộ của Ban
Thường vụ Huyện ủy : Bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo bám sát vào quy hoạch , mạnh
dạn bổ nhiệm hàng loạt đội ngũ lãnh đạo được đào tạo bài bản chất lượng cụ thể.
1.3.7. Công tác tiền lương
Để đảm bảo cơ chế trả lương phát huy tính hiệu quả và thực sự trở thành
đòn bẩy để thực hiện công việc Phòng đã tham mưu cho UBND Huyện về việc tuân
thủ theo những quan điểm trả lương cơ bản sau :
+ Trả lương theo đúng quy định của pháp luật , tuân thủ các quyết định trả
lương theo đúng ngạch bậc của Nhà nước
+ Đối với trường hợp nhân viên hợp đồng thì được hưởng 85% bằng cấp của
hệ số lương theo quy định của nhà nước.
- Căn cứ vào các quy định của Nhà nước và văn bản hướng dẫn của Sở Nội
vụ; phòng Nội vụ đã tham mưu cho UBND huyện thực hiện tốt các chế độ; trong
năm 2014 phòng đã thực hiện chế độ chính sách đối với viên chức: nâng bậc lương
thường xuyên – đồng chí; xếp lương cán bộ thay đổi chức vụ sau bầu cử - đồng
chí; xếp lương theo bằng câp chuyên môn – đồng chí; điều chuyển bổ nhiệm đồng chí; giải quyết chế độ BHXH – đồng chí

17


Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP XÃ TẠI HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY
2.1. Cở sở lý luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng CB, CC
2.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức; cán bộ, công chức cấp xã và hệ thống
chức danh cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của pháp luật hiện hành
-Trong Luật cán bộ, công chức được Quốc hội Việt Nam khóa XII, kỳ họp
thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đưa
định nghĩa về cán bộ, công chức như sau:
Cán bộ, công chức Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức

vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi là cấp tỉnh), ở huyện, quận,thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây
gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cán bộ, xã , phường thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt
Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội động nhân
dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị
- xã hội, công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Ở Việt Nam, công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan đơn
vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp,
công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không
phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của
đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn
vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp
công lập theo quy định của pháp luật.
18


- Khái niệm công chức xã
Chính quyền địa phương ở cấp cơ sở xã phường, thị trấn (gọi chung là cấp
xã) là cấp chính quyền gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với
nhân dân. Cùng với việc xây dựng củng cố chính quyền cấp xã, việc chăm lo xây
dựng chất lượng công chức cấp phường cần thường xuyên bổ sung hoàn thiện.
Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày

25/1/2010, quy định công chức xã, phường, thị trấn (cấp xã) là công dân Việt
Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban
nhân dân cấp xã, trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Công chức cấp phường có các chức danh sau:
1. Trưởng công an;
2. Chỉ huy trưởng quân sự;
3. Văn phòng – thống kê;
4. Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường
5. Tài chính – kế toán;
6. Tư pháp – hộ tịch;
7. Văn hóa – xã hội.
Như vậy, công chức cấp xã là: Công dân Việt Nam trong biên chế, được
hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, làm việc tại Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp phường do được bầu để giữ chức vụ hoặc
được tuyển dụng giao giữ chức vụ chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân
cấp xã.
2.1.2 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng CB, CC
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo bồi dưỡng CB,CC
trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng ta đã chủ trương : “ Đẩy mạnh đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức với chương trình, nội dung sát hợp, chú trọng đội ngũ cán
bộ xã, phường. Có chương trình kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng thường
xuyên cán bộ, công chức nhà nước”. Đảng ta coi việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức là việc làm thường xuyên, cần phải được ưu tiên trong sự nghiệp đổi mới
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đào tạo và bồi dưỡng là hai
khái niệm phản ảnh cùng một mục tiêu là truyền kiến thức cho người công chức.
Tuy vậy, hai thuật ngữ này có những tính chất, nội dung, phạm vi tồn tại và quy
trình khác nhau.
19



Đào tạo là quá trình truyền thụ khối lượng kiến thức mới một cách có hệ
thống để người công chức thông qua đó trở thành người có trình độ cao hơn trước
đó. Như đào tạo để cấp bằng lý luận chính trị cao cấp, đào tạo cử nhân hành chính.
Thông thường đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức cơ bản mới hoặc ở trình
độ cao hơn.
Bồi dưỡng là quá trình hoạt động làm tăng thêm kiến thức mới cho những
người đang giữ chức vụ, đang thực thi công việc của một ngạch, bậc nhất định để
hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao. Khối lượng kiến thức, kỹ năng được quy
định tại các chương trình, tài liệu phải phù hợp với từng đối tượng cán bộ, công
chức. Kết quả của các khóa học bồi dưỡng, người học sẽ nhận được chứng chỉ ghi
nhận kết quả như : Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao
cấp, chuyên viên chính chuyê viên hoặc bồi dưỡng chuyên đề…
Như vậy có thể khái quát khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức là quá trình
truyền thụ kiến thức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác
nhau cho công chức phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng công việc được
Nhà nước giao, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thực hiện.
2.1.3. Sự cần thiết của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp

Trong điều kiện đội ngũ cán bộ công chức nước ta hiện nay đa số chưa được
chuẩn hóa theo quy định chức danh, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ
của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa hội nhập với
khu vực và thế giới. Đặc biệt trong điều kiện khoa học công nghệ và thông tin phát
triển như vũ bão, thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế và xã hội,
việc ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ tin học và hiện đại hóa nền
hành chính, thì công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC trở nên cần thiết hơn bao giờ hết,
vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CBCC đặc biệt là đội ngũ CBCC
chính quyền cấp xã là vấn đề được quan tâm giải quyết thiết thực.
Muốn đưa được chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước đến với nhân dân, giúp dân hiểu và thực hiện thì đội ngũ CBCC ở cơ sở
phải nắm bắt được nội dung và cách thức tổ chức thực hiện, như vậy mới có thể

tuyên truyền và vận động nhân dân địa phương làm theo. Để làm tốt được vai trò
này, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC ở cơ sở. Chính quyền cấp xã
là đơn vị hành chính ở cơ sở, trực tiếp tổ chức đưa đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Đây cũng là nơi gần dân
nhất, tiếp thu những ý kiến của nhân dân để phản ánh cho Đảng và Nhà nước hoàn
thiện chính sách, pháp luật. Trên thực tế, CBCC cấp xã phải giải quyết một khối
lượng công việc rất lớn, đa dạng và phức tạp, liên quan đến mọi mặt của đời sống
20


chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở cơ sở. Do đó, nếu đội ngũ
CBCC sa sút về phẩm chất, không đủ năng lực công tác sẽ gây những hậu quả tiêu
cực và nghiêm trọng về nhiều mặt đối với mỗi địa phương nói riêng và cả nước nói
chung. Do đó, vấn đề đào tạo bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp
xã là nội dung trọng tâm, then chốt góp phần xây dựng hệ thống chính trị, chính
quyền vững mạnh từ cơ sở.
Bên cạnh đó xuất phát từ thực trạng đội ngũ CBCC cấp xã Huyện Tứ Kỳ số
lượng công chức cấp xã chưa đạt chuẩn về chuyên môn vẫn còn. Việc vận dụng
chính sách của Đảng và Nhà nước vào địa phương còn hạn chế. Khả năng tiếp cận
thông tin , ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý của CBCC cấp xã tại Huyện
không cao nên công tác lãnh đạo chỉ đạo và giải quyết công việc chưa đạt đúng yêu
cầu. Trên thực tế đội ngũ cán bộ cấp xã đang phải tiếp nhận, xử lý một khối lượng
công việc ngày càng nhiều . Trong khi nhiều cán bộ ở cấp xã lại không được đào tạo
cơ bản, nhiều chế độ chính sách liên tục được thay đổi nhưng ít được bồi dưỡng
nghiệp vụ . Việc nắm bắt thông tin chậm dẫn tới thiếu tính nhạy bén, linh hoạt trong
xử lý công việc, hiệu quả thực thi công vụ còn thấp. Vì vậy công tác đào tạo bồi
dưỡng CBCC cấp xã có vai trò hết sức quan trọng và là việc làm cần thiết trong xây
dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ
của Huyện.
2.2.Khái quát thực trạng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã Huyện Tứ Kỳ

2.2.1. Số lượng và cơ cấu cán bộ, công chức trên địa bàn Huyện
2.2.1.1. Về số lượng
Bảng 2.1.Số lượng cán bộ, công chức huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương năm 2015
Tuổi
Dưới 30
TỪ 30 – 40
TỪ 41 – 50
TỪ 51 – 60
Tổng

Số lượng
28
104
76
68
276

TỶ LỆ (%)
10,1
37,7
27,5
24,7
100

Giới
Nam
NỮ

163


113

TỶ LỆ (%)
Nam
NỮ

59

41

Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng CBCC huyện Tứ Kỳ của phòng Nội
vụ.
Qua bảng số liệu trên ta thấy lực lượng CB, CC tại Huyện vẫn chưa có sự
cân đối và sự chuyển tiếp liên tục qua các thế hệ: số lượng CBCC từ 40 tuổi trở lên
chiếm tỷ lệ cao là 52,2%; trong khi đó số CBCC dưới 40 tuổi chiếm 47,8%.

21


Về cơ cấu giới tính: Nam có 163 người chiếm 59%, Nữ có 113 người chiếm
41%, nhìn chung cơ cấu giới tính CB, CC ở huyện Tứ Kỳ là chưa đồng đều, còn có
sự chênh lệch giữa nam và nữ.
2.2.1.2. Về chất lượng
- Về trình độ lý luận chính trị của CB, CC
Trình độ lý luận chính trị thể hiện trước hết ở việc được ĐTBD qua các trình độ
sơ cấp, trung cấp, cao cấp hoặc cử nhân về lý luân chính trị. Qua điều tra CBCC ở
Huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương, trình độ này thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2. Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở huyện
Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương năm 2015
Trình độ

Cao cấp
Cử nhân
Trung cấp
Chưa có lý luận chính trị
Tổng

Số lượng
12

Tỷ lệ (%)
4,3

15
116
133
276

5,4
42
48,3
100

Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng CBCC huyện Tứ Kỳ của phòng Nội
vụ.
Nhìn chung trình độ lý luận chính trị của đội ngũ CBCC cấp xã ở huyện Tứ Kỳ
về cơ bản đáp ứng được tiêu chuẩn chức danh. Trong đó, số CBCC đã được đào tạo lý
luận chính trị chiếm 51,7%. Trong đó chủ yếu là ở trình độ trung cấp lý luận chính trị
với 42%. Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng, số lượng CBCC chưa có lý luận chính trị
vẫn còn chiếm số lượng lớn với 48,3%. Đây là vấn đề lớn cần được quan tâm, đòi hỏi
công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã của huyện Tứ Kỳ cần phải được tiếp tục đẩy

mạnh hơn nữa.
- Trình độ chuyên môn của CB, CC là một trong những thước đo về tiêu
chuẩn và năng lực của CB, CC. Tiêu chí này có vai trò xác định xem hiện nay CB,
CC có đầy đủ điều kiện để đáp ứng nhiệm vụ và cũng xác phần nào năng lực công
tác của CB, CC ở vị trí nhất định.
Trình độ của của CBCC huyện Tứ Kỳ được thể hiện qua bảng sau:

22


Bảng 2.3.Trình độ chuyên môn của đội ngũ CBCC cấp xã ở huyện Tứ Kỳ,
tỉnh Hải Dương năm 2015
Trình độ

Số lượng

Tỷ lệ

Thạc sỹ

3

1

Đại học

68

24,6


Cao đẳng

54

19,6

Trung cấp

95

34,4

Còn lại

56

20,4

Tổng

276

100

Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng CBCC huyện Tứ Kỳ của phòng Nội
vụ Tứ Kỳ
Qua bảng số liệu trên ta thấy, trình độ chuyên môn của CBCC cấp xã của
huyện Tứ Kỳ vẫn còn khá khiêm tốn. Đa số CBCC cấp xã có trình độ trung cấp, với
34,4%; CBCC có trình độ đại học chiếm 24,6%. Số lượng CBCC chưa qua đào tạo
vẫn chiếm tỷ lệ lớn với 20,4%. Đây là một yêu cầu đặt ra đối với công tác đào tạo,

bồi dưỡng CBCC cấp xã ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Mặt mạnh:
+ Về số lượng: phần lớn chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của Huyện
Tứ Kỳ có tuổi đời còn khá trẻ (tuổi đời dưới 50 chiếm 78%), trình độ chuyên
môn cao, do đó rất thuận tiện cho công tác quy hoạch, luân chuyển, nâng ngạch,
nâng bậc, bố trí phân công công việc cho cán bộ, công chức vào những chức vụ
phù hợp với chuyên môn, trình độ, năng lực cán bộ, công chức.
+ CBCC cấp xã ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương có bản lĩnh chính trị vững
vàng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Có ý thức và lập trường đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước. Thực hiện nghiêm các quy định về
những việc CBCC không được làm. Có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn gắn bó mật thiết
với nhân dân. Thái độ giao tiếp của công chức thực thi nhiệm vụ với các tổ chức,
công dân đúng mực, trách nhiệm, tận tình và chu đáo.
+ Về cơ bản, đội ngũ CBCC cấp xã ở huyện Tứ Kỳ đều có trình độ chuyên
môn phù hợp đạt chuẩn trở lên; tỉ lệ cán bộ, công chức trẻ có trình độ đại học
23


được cải thiện rõ rệt; nhiều CBCC xã thị trấn có ý thức trách nhiệm, thái độ cầu
thị, khắc phục khó khăn, tích cực, tự giác học tập nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ. Tham gia đầy đủ các khóa đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp
vụ, kỹ năng quản lý điều hành, kỹ năng giao tiếp hành chính, kỹ năng thuyết
trình…do đó chất lượng, năng lực hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước
của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ngày càng được nâng cao, góp phần nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở cấp cơ sở.
- Mặt hạn chế:
Trình độ ngoại ngữ và tin học của cán bộ, công chức còn hạn chế, vì vậy gây
ra rất nhiều khó khăn trong quá trình giao tiếp hành chính và gây không ít khó khăn
cho công tác tin học hoá thủ tục hành chính và giải quyết những công việc của nhà

nước, cũng như trong công tác đào tạo, bồi dưỡng trình độ năng lực chuyên môn
cho cán bộ, công chức.
2.2. Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã ở
Huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2015.
2.2.1. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Huyện Tứ Kỳ, tỉnh
Hải Dương giai đoạn 2011-2015
2.2.1.1. Về thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng
Thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhằm tiếp
tục tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức, thực
hiện mục tiêu nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kỹ
năng cơ bản về quản lý nhà nước cho cán bộ, công chức cấp xã, ngày 25 tháng 4
năm 2013, Sở Nội vụ đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 821/QĐUBND về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã giai
đoạn 2013-2015; trên cơ sở kế hoạch được UBND tỉnh phê duyệt, trong năm 2013,
Sở Nội vụ đã phối hợp với các đơn vị, địa phương tổ chức tốt công tác đào tạo, bồi
dưỡng cho cán bộ, công chức xã trên địa bàn tỉnh. Qua đó, từng bước hình thành đội
ngũ cán bộ, công chức xã có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt,
tận tụy với công việc, đủ năng lực hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao.
Bảng 2.4. Bảng nhu cầu đào tạo cán bộ công chức cấp xã ở Huyện Tứ Kỳ

24


STT

1

2

đào tạo


đào tạo

Cán bộ

Công chức

Cán bộ

Công chức

Chuyên môn nghiệp vu

150

70

20

36

Tỷ lệ (%)

54,3

25,4

7,2

13,1


86

57

25

108

31,2

20,7

9

39,1

99

69

10

98

35,9

25

3,6


35,5

78

39

65

94

28,3

14,1

23,6

34

10

23

114

129

3,6

8,3


39,9

34,2

Lý luận chính trị

Quản lý nhà nước
Tỷ lệ

4

Số CBCC chưa qua

Nhu cầu dào tạo cán bộ

Tỷ Lệ
3

Số CBCC đã được

Tin học
Tỷ lệ
5 Ngoại ngữ

Tổng
số

100

100


100

100

5
Tỷ lệ

100

Nguồn: Báo cáo thống kê số lượng, chất lượng CBCC huyện Tứ Kỳ của phòng Nội
vụ
Qua bảng số liệu trên ta thấy, nhu cầu đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã ở
huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương là khá lớn. Số CBCC chưa được đào tạo, bồi dưỡng
về chuyên môn nghiệp vụ là 20,3%; về lý luận chính trị là 48,1%; về quản lý nhà
nước là 39,1%. Đặc biệt là số CBCC chưa được đào tạo về ngoại ngữ và tin học là
khá lớn, số lượng CBCC chưa qua đào tạo về tin học là 57,6%, về ngoại ngữ là
84,1%.
Với công chức cấp xã có chức trách là công chức làm công tác chuyên môn
thuộc UBND xã, có trách nhiệm giúp UBND cấp xã quản lý Nhà nước. Vì thế cán
bộ công chức cấp xã mỗi người có một nhiệm vụ, công việc rõ ràng cho nên các
chức danh này có nhu cầu đào tạo bồi dưỡng phù hợp với vị trí công việc mình đang
25


×