Tải bản đầy đủ (.doc) (110 trang)

LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN văn hóa ỨNG xử của học SINH TRUNG học PHỔ THÔNG QUẬN hà ĐÔNG, THÀNH PHỐ hà nội HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (486.89 KB, 110 trang )

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

Chương 1

1.1.
1.2.
Chương 2

2.1.
2.2.
Chương 3

3.1.

3.2.

3.3.

THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN QUY
ĐỊNH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN HÀ
ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thực chất phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung
học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Những nhân tố cơ bản quy định phát triển văn hóa ứng
xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông,
thành phố Hà Nội
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
TRONG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN HÀ


ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
Thực trạng phát triển văn hóa ứng xử của học sinh
trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
hiện nay
Những vấn đề đặt ra trong phát triển văn hóa ứng xử
của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông, thành
phố Hà Nội hiện nay
GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN VĂN HÓA
ỨNG XỬ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI HIỆN NAY
Tạo sự thống nhất trong định hướng và tác động của
các chủ thể đối với phát triển văn hóa ứng xử của học
sinh trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội hiện nay
Xây dựng môi trường văn hóa học đường tích cực, lành
mạnh, tăng cường phối hợp giữa gia đình, nhà trường
và địa phương trong phát triển văn hóa ứng xử của học
sinh trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội hiện nay
Phát huy tính tích cực, chủ động học tập, rèn luyện của
học sinh trong phát triển văn hóa ứng xử ở các trường
trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
hiện nay

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang

3

10
10
28

39
39
50

60

60

67

74
84
86
91


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa ứng xử là sự thể hiện sinh động, phong phú, sâu sắc tính cách
của một cá nhân trong quan hệ xã hội. Theo đó, văn hóa ứng xử có vai trò hết
sức quan trọng trong quan hệ giữa người với người trong xã hội. Vì vậy, phát
triển văn hóa ứng xử là tất yếu của mỗi con người trong cộng đồng xã hội. Đối
với học sinh trung học phổ thông nói chung, học sinh trung học phổ thông quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội nói riêng, vấn đề phát triển văn hóa ứng xử của họ

càng có vị trí, vai trò quan trọng. Bởi ở độ tuổi này học sinh đang trong giai
đoạn chuyển dần từ sự dìu dắt trực tiếp của gia đình, nhà trường đến giai đoạn
độc lập, tự chủ trong nhiều hoạt động với tính cách là một cá nhân tự chịu trách
nhiệm về hành vi, lối sống của mình trước gia đình, nhà trường; chịu trách
nhiệm về hành vi trước pháp luật, trước dư luận cộng đồng, xã hội.
Những năm qua, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cũng như hệ thống
trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố, trong đó có quận Hà Đông
đã quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các quan điểm của
Đảng về giáo dục, đào tạo; về xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ
mới. Trực tiếp nhất là các Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Trung ương 3
khóa XI về công tác giáo dục, đào tạo; Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và
Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng nền văn hóa và con người
Việt Nam trong thời kỳ mới vào nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và
đào tạo nói chung và văn hóa ứng xử nói riêng ở các trường trung học phổ
thông. Do đó, chất lượng giáo dục và đào tạo, văn hóa ứng xử của học sinh
trung học phổ thông hiện nay đã có những bước chuyển biến tích cực, tiến bộ
rõ rệt. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực đó vẫn còn những hạn chế, bất cập. Ở
các trường trung học phổ thông quận Hà Đông vẫn có một số học sinh có dấu
hiệu sa sút nghiêm trọng về đạo đức, nhu cầu cá nhân phát triển lệch lạc, kém
ý thức trong quan hệ cộng đồng, thiếu niềm tin trong cuộc sống, ý chí kém
3


phát triển, không có tính tự chủ dễ bị lôi cuốn vào những việc xấu, ứng xử
thiếu văn hóa, thô lỗ, mất lịch sự, v.v.
Mặt khác, hiện nay do sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, của
văn hóa nước ngoài xâm nhập trong xu thế mở cửa, giao lưu hội nhập, mạng
internet đã thành thông dụng ở mọi ngõ ngách phố phường làm cho nhiều học
sinh trung học phổ thông quận Hà Đông bị lôi cuốn và thích ứng với cái tiêu
cực, cái phản văn hóa, phản giá trị nhanh hơn là những chuẩn mực trong ứng

xử có văn hóa. Bên cạnh đó, vẫn còn một số chủ thể trong môi trường văn hóa
học đường quận Hà Đông chưa thật sự quan tâm, chú trọng đến phát triển văn
hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông trong quận. Đây là một trong
những nguyên nhân cơ bản nhất làm cho phát triển văn hóa ứng xử của học
sinh trung học phổ thông quận Hà Đông chưa toàn diện.
Từ những nội dung trên đặt ra vấn đề có tính cấp bách đối với nghiên cứu
phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông,
thành phố Hà Nội hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề về văn hóa
Trong những năm gần đây, văn hóa ứng xử là vấn đề đã thu hút nhiều nhà
khoa học quan tâm nghiên cứu với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, ở các phạm
vi khác nhau, nổi bật là các công trình khoa học, các bài viết, bài báo sau:
Khi nghiên cứu văn hóa và nhân cách, đặc biệt là nghiên cứu văn hóa và
nhân cách trong điều kiện chủ nghĩa xã hội phát triển, các nghiên cứu của
AV.Lunatsaroxki, PN.Phedoxeep, AG.Egrop, GL.Gomman, AK.Uledop và
LN.Cogan (Liên Xô) đã luận chứng khá sâu sắc dưới góc độ triết học, xã hội
học, chỉ ra sự tương tác chặt chẽ giữa văn hóa và nhân cách; khẳng định sự tồn
tại trọn vẹn của con người, sự phát triển toàn diện lực lượng sáng tạo, trí tưởng
tượng, đời sống tình cảm cũng như đời sống thể lực của con người; đó là các
hiện tượng cơ bản của văn hóa. GS La Quốc Kiệt, nhà nghiên cứu ở Trung
Quốc, trong “Tu dưỡng đạo đức tư tưởng” (2003) đã đưa ra quan điểm về nhân

4


cách, giá trị, luận chứng bản chất và sự thống nhất giữa giá trị bản thân và giá
trị xã hội trong nhân cách; đặc biệt, đã làm rõ khái niệm "tố chất văn hóa", coi
đó là tố chất cơ sở, nó thẩm thấu và ảnh hưởng rất mạnh đối với sự hình thành,
phát triển các tố chất khác. Việc tu dưỡng tố chất văn hóa là điều kiện tiên

quyết nhằm hoàn thiện nhân cách ở mỗi người. Tuy nhiên, "văn hóa" ở đây chỉ
được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là "trình độ học vấn". Sở Văn hoá - Thông tin Hà
Nội, Người Hà Nội thanh lịch [49]. Công trình tập trung phân tích đánh giá
những giá trị văn hóa và biểu hiện chất thanh lịch ở người Hà Nội trong lịch sử
và trong cuộc sống hàng ngày. Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh nét đẹp thanh
lịch trong cuộc sống tập thể.
Mặt khác, ngay từ khi thành lập, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
coi phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ vừa cấp
bách và lâu dài. Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) xác định những đặc
trưng của nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là: dân tộc, khoa học, đại chúng.
Tư tưởng đó ngày càng được bổ sung, hoàn thiện và cụ thể hóa phù hợp với
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong các kỳ Đại hội của Đảng,
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định: Phát triển toàn diện, đồng bộ
các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp
thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và
văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực
phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Tập trung xây dựng đời sống,
lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh; coi trọng văn hóa trong lãnh đạo,
quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử.
Thứ hai, tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến phát triển
văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông hiện nay
Vũ Khiêu, Nguyễn Vĩnh Cát, “Văn hóa Thủ đô hôm nay và ngày mai”
[26]. Thông qua việc phân tích, đánh giá văn hóa Thủ đô qua 45 năm xây
dựng và phát triển (1945 - 1990), nhất là mục “Bộ mặt Thủ đô qua nếp sống
ngày nay”, các tác giả đã làm rõ sự biến đổi cách thức ứng xử trong sinh
5


hoạt vật chất, tinh thần và cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh - Gia

đình văn hóa khi mới bước vào đổi mới. Các tác giả dự báo xu hướng phát
triển nếp sống văn hóa tiếp theo qua mối quan hệ ứng xử trong gia đình, giao
tiếp xã hội và sinh hoạt cá nhân; tức là những nội dung cơ bản trong văn hóa
ứng xử với môi trường xã hội và với bản thân.
Trần Ngọc Thêm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” [54]. Cho đến nay công
trình đã được tái bản lần thứ hai. Trong đó tác giả dành hai chương để bàn về
văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Văn hóa ứng
xử được tác giả quan niệm gồm hai hàm nghĩa: tận dụng và ứng phó thông
qua giao lưu và tiếp biến văn hóa.
Trần Văn Bính (chủ biên) “Văn hóa Thăng Long - Hà Nội hội tụ và tỏa
sáng” [3]. Tuy không trực tiếp bàn về văn hóa ứng xử, nhưng thông qua việc
làm sáng tỏ các giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội (văn học, kiến trúc, mỹ
thuật, giáo dục, lễ hội...), các tác giả đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về
lịch sử, về đặc điểm chung của văn hóa ứng xử và mối tương quan giữa văn
hóa Thăng Long - Hà Nội với văn hóa các vùng, miền trên đất nước (Phú
Xuân - Huế, Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh). Hội tụ và tỏa sáng là đặc trưng tiêu
biểu của văn hóa Thăng Long - Hà Nội, trong đó có văn hóa ứng xử.
Nguyễn Viết Chức (chủ biên), “Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với
môi trường thiên nhiên” [11]. Các tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa môi
trường thiên nhiên và văn hóa ứng xử đối với môi trường thiên nhiên ở người Hà
Nội, từ truyền thống đến hiện đại. Trước thách thức của toàn cầu hóa trong quá
trình đẩy mạnh CNH, HĐH các tác giả đã đề xuất một số phương hướng, quan
điểm, giải pháp và điều kiện xây dựng văn hóa ứng xử của người Hà Nội với
môi trường thiên nhiên.
Phan Quang Long, luận văn thạc sĩ, “Văn hóa ứng xử của người Hà Nội trong
thời kỳ đổi mới hiện nay” [33]. Phạm Minh Thảo, “Hỏi đáp về văn hóa ứng xử của
người Việt” [52], tác giả đưa ra một loạt câu hỏi liên quan đến những tình huống căn
bản nhất của văn hóa ứng xử, đồng thời trả lời một cách khái quát nhưng đầy đủ, sâu
sắc thông qua những ví dụ thực tiễn, dẫn chứng sinh động. TS Đoàn Trọng Thiều,
6



“Giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường: giáo dục cái tâm, cái đẹp”; Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Kỷ yếu Hội thảo: Giáo dục văn hóa giao tiếp trong
nhà [55], cho rằng: Giáo dục văn hóa giao tiếp có nhiều giải pháp, nhưng giải pháp
quan trọng nhất là về cái tâm, làm cho mọi người có cái tâm trong sáng, lương thiện,
giáo dục về cái đẹp và xây dựng các nguyên tắc giao tiếp. Nguyễn Tú, Minh Thu,
“Thanh niên nói lời hay, nếp sống đẹp” [57], chỉ ra tầm quan trọng của việc bồi
dưỡng, xây dựng văn hóa ứng xử cho thanh niên phù hợp với môi trường sư phạm
giúp họ phát triển toàn diện, đẹp cả về thể chất lẫn tinh thần.
Trước những biến động trong nước, quốc tế hiện nay và yêu cầu
ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây
dựng nguồn nhân lực tương lai theo tinh thần Nghị quyết số 33-NQ/TW hội
nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, đòi hỏi mỗi học
sinh trung học phổ thông phải phát triển toàn diện, trong đó có trình độ văn
hóa ứng xử đáp ứng yêu cầu tình hình phát triển mới. Tuy vậy, chưa có
công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về phát triển
văn hóa ứng xử cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn
quận Hà Đông, trong khi vấn đề này đang cần được làm sáng tỏ cả về
phương diện lý luận và thực tiễn. Vì vậy, đề tài nghiên cứu của luận văn:
“Phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông,
thành phố Hà Nội hiện nay”, là hoàn toàn mới mẻ không có sự trùng lặp với các
công trình nghiên cứu khoa học đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển văn hóa ứng xử của
học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông; đề xuất hệ thống giải pháp phát
triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông, thành
phố Hà Nội hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận giải những vấn đề bản chất, quy luật của phát triển văn hóa ứng xử
của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội hiện nay.
7


Làm rõ thực trạng phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học
phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội hiện nay.
Đề xuất các giải pháp cơ bản phát triển văn hóa ứng xử của học sinh
trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu văn hóa ứng xử và phát triển văn hóa ứng xử của học sinh
trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu
Là những vấn đề liên quan đến quá trình phát triển văn hóa ứng xử của học
sinh các trường trung học phổ thông ở quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (từ năm học
2010 - 2011 đến nay).
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; chủ trương, chính
sách, hướng dẫn của Nhà nước; điều lệ, quy chế, quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo về văn hóa, đạo đức và xây dựng con
người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
* Cơ sở thực tiễn
Là hiện trạng và những báo cáo tổng kết, đánh giá của các cơ quan
chức năng có liên quan, của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội và của các
trường trung học phổ thông ở quận Hà Đông và kết quả của điều tra khảo sát
xã hội học hiện nay.
* Phương pháp nghiên cứu

Đề tài vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử và phương pháp văn hóa học, đạo đức học. Ngoài ra còn vận
dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích và tổng hợp; so sánh và đánh
giá; nghiên cứu tài liệu, quan sát, điều tra xã hội học và xin ý kiến chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Luận văn là tài liệu phục vụ cho các trường trung học phổ thông ở quận
Hà Đông vận dụng nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề phát

8


triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn quận Hà Đông
hiện nay. Đồng thời, kết quả của luận văn là một trong những tài liệu tham khảo
trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập và bồi dưỡng, rèn luyện, phát
triển văn hóa ứng xử của học sinh ở các trường trung học phổ thông hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo, phụ lục và những công trình khoa học của tác giả đã công bố
liên quan đến đề tài.

9


Chương 1
THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN QUY ĐỊNH PHÁT TRIỂN
VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Thực chất phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học

phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội

1.1.1. Đặc điểm văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông
quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Quan niệm về văn hóa
Xung quanh khái niệm văn hóa, hiện nay vẫn còn có nhiều cách định
nghĩa khác nhau, bởi lẽ văn hóa là sản phẩm do lao động của con người tạo ra
mà hoạt động lao động của con người rất đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau. Tuy nhiên, có thể tiếp cận khái niệm văn hóa theo hai góc độ. Theo
nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra tồn tại
cả ở dạng văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa vật thể và văn hóa phi
vật thể. Như vậy, theo nghĩa rộng văn hóa được hiểu là cái đối lập với những
phản giá trị cũng do con người sáng tạo ra. Cuộc đấu tranh giữa giá trị và phản
giá trị là quy luật phổ biến nhất cho sự phát triển văn hóa. Trong lịch sử phát
triển loài người, con người không ngừng sáng tạo ra nhiều các giá trị văn hóa,
nhưng cũng phải thường xuyên đấu tranh chống lại những phản giá trị. Những
phản giá trị là do những con người lạc hậu, quay lưng lại truyền thống lịch sử,
chống lại tiến bộ xã hội. Thông thường, lực lượng xã hội này đại diện cho
những giai cấp lạc hậu, lỗi thời và những người còn thiếu lương tâm, chạy theo
thói ích kỷ cá nhân. Khi tiếp cận khái niệm văn hóa theo Nghĩa hẹp, văn hóa là
những giá trị thuộc đời sống tinh thần xã hội. Như vậy, hiểu văn hóa theo
nghĩa hẹp thì văn hóa là một mặt trong quan hệ với đời sống vật chất xã hội đó
là đời sống tinh thần xã hội như tư tưởng, ngôn ngữ v.v..
Với những nội dung của văn hóa như trên cho thấy, văn hóa liên quan
sâu sắc đến sự ứng xử, đến chuẩn mực và biểu tượng mã văn hóa. Văn hóa
khác với các lĩnh vực khác ở nhiều nội dung. Trong đó, văn hóa phản ánh hiện
10


thực xã hội không chỉ bằng lý thuyết, khái niệm, phạm trù mà còn bằng biểu
tượng văn hóa. Biểu tượng văn hóa là một vật có thể cảm quan được, có thể là
một màu sắc, có thể là một hình thù, một vật, v.v.. Những biểu tượng ấy có thể

nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, nhưng nó lại chứa đựng một thông điệp lớn, thậm
chí là vô cùng lớn đến mức là thế giới quan, vũ trụ quan, nhân sinh quan của
một cộng đồng người rộng lớn. Chẳng hạn, biểu tượng âm - dương trong triết
học phương Đông rất gọn nhẹ, nhưng đó có thể thấy là một hệ thống tri thức đồ
sộ mà phải qua nhiều luận giải mới có thể thấy hết tầm vóc lớn lao của phản
ánh hiện thực xã hội. Vì phản ánh phần lớn qua biểu tượng cho nên muốn hiểu
văn hóa phải giải mã được những thông điệp văn hóa từ biểu tượng ấy.
Biểu tượng văn hóa cũng có những cấp độ khác nhau và tính đa dạng
về hình thức biểu hiện rất lớn. Mỗi cộng đồng, dân tộc tạo cho mình một
chuẩn mực ứng xử cụ thể khác nhau nhưng cùng có ý nghĩa về giá trị. Để hiểu
được văn hóa của một cộng đồng cũng như có thể ứng xử phù hợp với chuẩn
văn hóa của một cộng đồng cụ thể thì phải giải mã được biểu tượng văn hóa.
Những biểu tượng này được hiểu như ký tín hiệu của những yêu cầu về cấm
kỵ, hay đồng ý, tán đồng. Nếu không hiểu và cũng không giải được mã văn
hóa thì rất dễ vi phạm chuẩn mực văn hóa và nó như một sự vi phạm cái
thiêng liêng của cộng đồng, dân tộc.
Mặt khác, văn hóa còn là một hệ thống chuẩn mực ứng xử văn hóa. Ở
đây, chuẩn mực văn hóa được hiểu như một hệ thống tiêu chí và qua đó mà
mỗi thành viên phải tự giác tuân thủ trong quan hệ ứng xử. Như vậy, chuẩn
mực văn hóa và ứng xử văn hóa là hai mặt thống nhất với nhau, qua mặt này
có thể hiểu được bản chất của mặt kia. Chuẩn mực văn hóa yêu cầu cá nhân
con người tuân thủ một cách nghiêm ngặt, nhưng lại là khuyến khích, tự giác
không giống như yêu cầu của chính trị và pháp luật. Tính chất tự giác, tự
nguyện tuân thủ chuẩn mực văn hóa làm cho văn hóa tương đồng, sát với đạo
đức, thẩm mỹ. Trong cái tương đồng đó thì yêu cầu của chuẩn mực đạo đức
11


gần như là hạt nhân của chuẩn mực văn hóa. Chân - Thiện - Mỹ như những
phạm trù tương đồng nhau về giá trị nhân đạo, nhân văn, nhưng cũng có nét

khách biệt. Nếu như chuẩn đạo đức thì cái thiện nổi lên, cái thẩm mỹ thì cái
đẹp nổi lên và văn hóa thì rộng hơn và nổi lên là giá trị. Cả Chân - Thiện - Mỹ
đều có ý nghĩa tiến bộ xã hội, cho nên bản chất phát triển hoàn thiện nhân
cách con người, của xã hội là tiến đến cái Chân - Thiện - Mỹ.
Quan niệm về ứng xử
Trong ứng xử, con người luôn chủ động lựa chọn thái độ, hành vi, cử
chỉ, cách nói năng, tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi
người. Theo đó, có thể quan niệm, ứng xử là phản ứng của con người đối với
sự tác động từ bên ngoài đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định
được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của con người khi tiếp xúc
với người xung quanh.
Như vậy, ứng xử là phản ứng của con người trước sự tác động của
người khác hay môi trường tự nhiên trong một tình huống cụ thể nhất định,
là biểu hiện bản chất nhân cách của mỗi cá nhân thông qua ngôn từ, cử chỉ,
thái độ, phong thái, hành vi trước sự tác động của các yếu tố bên ngoài. Từ quan
niệm trên có thể rút ra những điểm cơ bản về ứng xử của con người như sau:
Một là, ứng xử là những phản ứng của con người đáp lại đối với tự
nhiên; là điều chủ thể cảm thấy, nhận thấy, hiểu mình đang đứng trước tình
huống nào để tổ chức hoạt động đáp trả lại tình huống đó.
Hai là, trong ứng xử những suy nghĩ của chủ thể luôn được biểu hiện
ra bên ngoài thông qua hành động, cử chỉ, ngôn ngữ, sắc thái tình cảm, v.v.
mà đối tác và những người xung quanh có thể quan sát và nhận biết được.
Ba là, ứng xử không diễn ra một cách tùy tiện mà thường tuân theo
khuôn mẫu nhất định nào đó, do cộng đồng người quy định.
Bốn là, ứng xử thể hiện ở chỗ con người không chỉ chủ động trong
giao tiếp mà còn chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán. Sự lựa
chọn đó có được là dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm của mỗi cá nhân.
12



Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những
đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và
cách nói năng của cá nhân với những người xung quanh và yếu tố bên ngoài
tác động vào con người.
Quan niệm về văn hóa ứng xử
Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa mọi mặt đời
sống xã hội trong đó có toàn cầu hóa văn hóa đã làm cho môi trường văn
hóa được mở rộng. Nhờ đó, chủ thể văn hóa có thể tiếp cận và tiếp nhận các
giá trị văn hóa phong phú, đa dạng. Tuy nhiên, điều đó đòi hỏi chủ thể văn
hóa phải có một sự hiểu biết nhất định để nhận thức được giữa môi trường
văn hóa mênh mông ấy, đâu là giá trị văn hóa cần học hỏi, trau dồi, đâu là
những nguồn văn hóa lai căng cần phải đấu tranh gạt bỏ. Đó cũng là một
trong những ứng xử cần thiết của mỗi người trong bối cảnh xã hội hiện
nay. Văn hóa không chỉ là sự hiểu biết của con người mà còn giúp con người
làm đẹp cho đời bằng sự hiểu biết. Không hiểu biết hay hiểu biết không đầy
đủ thì không thể tạo ra sản phẩm văn hóa có giá trị hoặc không thể hưởng
thụ có chất lượng thành tựu của văn hóa, do đó hành vi ứng xử cũng khó có
thể đạt đến tầm văn hóa.
Từ những phân tích trên đây, có thể quan niệm: Văn hóa ứng xử là sự
thể hiện triết lí cuộc sống, lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động trong ứng xử
và giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người và con người với tự
nhiên được xã hội thừa nhận.
Như vậy, văn hóa ứng xử của con người là sự thể hiện mối quan hệ ứng
xử giữa con người với các đối tượng khác nhau thể hiện qua ngôn ngữ, hành
vi, nếp sống, tâm sinh lý… trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống
đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của cá nhân, nhóm
xã hội, toàn bộ xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng bản sắc của
văn hóa một dân tộc, một quốc gia được cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng,
13



toàn bộ xã hội thừa nhận và làm theo. Theo đó, văn hóa ứng xử của con người
được thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, văn hóa ứng xử thể hiện trước hết ở hành vi ứng xử. Hành vi
ứng xử là sự thực hiện và thể hiện các khuôn mẫu mang tính lý tưởng kết tinh
những giá trị và chuẩn mực mà cá nhân và cộng đồng hướng tới. Văn hóa ứng
xử là một phương diện để thể hiện nhân cách và bản lĩnh của con người trong
hoạt động thực tiễn gắn với trình độ văn hóa.
Thứ hai, văn hóa ứng xử còn thể hiện qua kỹ năng ứng xử. Kỹ năng
ứng xử không phải trên trời rơi xuống, cũng không phải do di truyền. Một
người muốn có được kỹ năng ứng xử đạt đến chuẩn mực văn hóa thì phải
thông qua quá trình học tập, rèn luyện kỹ năng ứng xử từ hoạt động thực tiễn,
bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, lối sống có văn hóa.
Thứ ba, văn hóa ứng xử thể hiện qua cách nói, cách viết của con
người. Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là ngôn ngữ của cử chỉ là phương
tiện thể hiện văn hóa của con người, nó phản ánh quá trình hoạt động tạo ra
lối suy nghĩ của con người. Ngôn ngữ gắn liền với học vấn và tính cách của
con người, nó cho phép chia sẻ xúc cảm, tình cảm, ý nghĩ, kinh nghiệm,
khát vọng, trí nhớ, nhu cầu, tư tưởng của con người.
Thứ tư, văn hóa ứng xử thể hiện qua thái độ ứng xử. Thái độ ứng xử
của con người là một vấn đề có tính chất định hướng cơ bản và thường xuyên
cho văn hóa ứng xử (thái độ lựa chọn các khuôn mẫu ứng xử, thái độ thể hiện
kỹ năng ứng xử…). Văn hóa ứng xử là một bộ phận cấu thành nên tổng thể
văn hóa do đó nội hàm khái niệm này cũng rất rộng lớn. Vì vậy, để tìm hiểu,
đánh giá được văn hóa ứng xử của một cộng đồng người một cách đầy đủ, cần
nhìn nhận văn hóa ứng xử theo bốn chiều kích của con người: Chiều cao:
quan hệ với tự nhiên; chiều rộng: quan hệ với xã hội; chiều sâu: quan hệ với
chính mình; chiều lịch sử: quan hệ với tổ tiên và con cháu mai sau. Ngoài ra,
để tìm hiểu văn hóa ứng xử của một cá nhân trong cộng đồng người cần nhìn
14



nhận từ bốn phương thức ứng xử: ứng xử giữa cá nhân đó với thiên nhiên,
ứng xử giữa cá nhân đó với người khác, ứng xử giữa cá nhân đó với chính
mình (tự ứng xử) và ứng xử của cá nhân đó với công việc.
Tóm lại, văn hóa ứng xử là một bộ phận cấu thành của văn hóa. Đó
chính là hệ thống giá trị, chuẩn mực quy định phương thức ứng xử của mỗi
cá nhân trong cộng đồng. Ở góc độ cá nhân, văn hóa ứng xử là thái độ, lời
nói, hành vi của con người trước sự tác động của con người hay các yếu tố
khác thể hiện trình độ văn hóa, sự hiểu biết, bản chất nhân cách của mỗi cá
nhân trong các tình huống giao tiếp nhất định. Xét trên phạm vi rộng, văn hóa
ứng xử của cộng đồng là tổng hòa những khuôn mẫu ứng xử được lặp đi lặp
lại, được đa số người trong cộng đồng thừa nhận và thực hiện một cách thống
nhất. Nó được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nó chịu sự chi phối
của những điều kiện, môi trường nhất định đặc biệt là điều kiện kinh tế - xã
hội. Và khi những điều kiện đó thay đổi thì nó cũng có sự điều chỉnh cần thiết
cho phù hợp.
Đặc điểm văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà
Đông, thành phố Hà Nội
Cũng giống như học sinh ở các trường trung học phổ thông khác, học
sinh trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội giống nhau về lứa
tuổi, chương trình giáo dục, đào tạo, mục tiêu về mô hình nhân cách, trình độ
tri thức các môn khoa học có tính cơ bản, phổ thông.v.v.
Tuy nhiên, học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông có những nét
đặc thù. Nét đặc thù của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông là do
môi trường địa lý, kinh tế, xã hội, lịch sử, truyền thống, tín ngưỡng v.v. quy
định. Hà Đông là một quận nằm ở phía tây thành phố Hà Nội với dấu ấn của sự
đan xen giữa văn hóa nông thôn và thành thị, có lịch sử lâu đời của văn hóa
“Xứ Đoài” trong quan hệ với văn hóa Hà Nội và văn hóa “Xứ Đông” được kết
tinh, hội tụ mang đậm dấu ấn của văn hóa làng nghề lâu đời như Vạn Phúc và

Đa Sỹ, v.v.. Đây chính là những nét văn hóa riêng về môi trường văn hóa so
15


với học sinh trung học phổ thông ở các địa phương khác trên địa bàn thành phố
Hà Nội. Mặt khác, do quá trình phát triển của công nghiệp hóa và đô thị hóa,
nên học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông không chỉ có người bản địa
mà còn đến từ các tỉnh khác nhau. Vì vậy, nó tạo nên một diện mạo của sự
giao thoa văn hóa giữa các chủ thể học sinh trong các trường trung học phổ
thông trên địa bàn quận Hà Đông hiện nay.
Đặc điểm văn hóa học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông mang
sắc thái của một thế hệ người đang trong quá trình tiếp nhận và định hình văn
hóa nhân cách ở giai đoạn cận kề với giai đoạn vượt qua văn hóa lứa tuổi lệ
thuộc vào gia đình. Nhìn chung văn hóa của học sinh là văn hóa của lứa tuổi
gắn liền với văn hóa gia đình, khu dân cư. Văn hóa học sinh trung học phổ
thông quận Hà Đông khác với văn hóa học sinh cấp dưới ở tính chất cận kề
với giai đoạn dần vượt ra khỏi sự quản lý của gia đình, bước vào tự lập. Trong
thời gian ba năm học, từ học sinh lớp 10 đến học sinh lớp 12, học sinh từng
bước thoát ly sự quản lý của gia đình và dần bước vào tự lập. Tốt nghiệp lớp
12, họ bị phân tán theo các hướng phát triển khác nhau, không chỉ về tính chất
nghề nghiệp, mà còn phân hóa nhanh về tính tự lập trong ứng xử văn hóa.
Một bộ phận tiếp tục bước vào học ở bậc học cao hơn; một bộ phận làm nghĩa
vụ quân sự; một bộ phận đi làm theo các hướng nghề nghiệp khác nhau, thậm
chí có một số nhanh chóng hình thành gia đình mà mình là chủ thể chính, v.v..
Đặc điểm văn hóa học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông còn
mang sắc thái của những chủ thể văn hóa đang tiếp tục cận kề đến sự phân
tán. Phân tán cả về thiên hướng nghề nghiệp cả về tính chất hoạt động, mà
ở đó bộc lộ sự phân hóa về tính chất, đặc điểm rất rõ nét. Văn hóa học sinh
này bắt đầu từng bước chuyển sang giai đoạn dần thoát ly khỏi kiểm soát
của gia đình, khu phố tạo ra tính tự lập. Đây là dấu hiệu khá khác biệt so

với học sinh cấp dưới, học sinh trung học phổ thông đã có nhiều dấu hiệu
của sự thoát dần khỏi kèm cặp chặt chẽ của gia đình, tham gia vào hoạt
động và quan hệ xã hội rộng và sâu hơn. Cùng với những đặc điểm ấy là

16


sống, sinh hoạt ở một môi trường văn hóa đô thị với nhiều dấu ấn của tính
chất văn minh, nhưng cũng có nhiều loại tệ nạn xã hội khác nhau.
Bên cạnh đó là tâm lý lứa tuổi bắt đầu trưởng thành, từng bước thoát
ly khỏi sự kèm cặp sâu sát của gia đình, tự chọn nghề, tự chọn hướng đi cho
tương lai, luôn tồn tại những khuynh hướng trái ngược nhau tích cực và tiêu
cực, văn hóa và phản văn hóa. Những tiền đề xuất phát ở trên và với những
cái vốn có bên trong, văn hóa của học sinh trung học phổ thông quận Hà
Đông có những sắc thái riêng và khuynh hướng phát triển phức tạp, trái
ngược nhau diễn ra.
Từ các góc độ tiếp cận trên, có thể quan niệm: Văn hóa ứng xử của học
sinh trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội là sự thể hiện tri
thức, lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động trong ứng xử và giải quyết mối
quan hệ với bạn bè, thầy cô, gia đình, với môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội phù hợp với lứa tuổi được xã hội thừa nhận.
Như vậy, văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà
Đông, trước hết là một phương diện, một mặt của văn hóa nói chung, nhưng
mang sắc thái, diện mạo riêng của văn hóa “học đường”. Trong thực tiễn cho
thấy, mỗi môi trường xã hội, mỗi hoạt động và phương thức quan hệ có thể
tạo ra sắc thái văn hóa ứng xử khác nhau, văn hóa ứng xử của học sinh trung
học phổ thông quận Hà Đông thuộc văn hóa ứng xử “học đường”. Trong văn
hóa ứng xử “học đường” của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông
cũng có nét riêng khác với văn hóa ứng xử “học đường” của học sinh cấp
dưới. Sự khác biệt này là ở lứa tuổi, ở giai đoạn chuẩn bị hành trang tri thức

để bước vào đời với những thiên hướng, nghề nghiệp khác nhau. Văn hóa ứng
xử của học sinh trung học phổ thông hàm chứa nhiều khuynh hướng phát
triển, nhiều nội dung của văn hóa xã hội cao hơn.
Từ gia đình ra xã hội, văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông
từng bước thoát ra khỏi sự điều chỉnh của gia đình và tiến dần đến tính chủ
17


thể trong ứng xử xã hội. Học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông thể hiện
tính độc lập khá cao so với học sinh cấp dưới trong quan hệ ứng xử. Đặc điểm
này luôn tiềm ẩn những xu hướng trái ngược nhau. Những học sinh giữ được
nét văn hóa ứng xử truyền thống gia đình thì ứng xử trong mở rộng quan hệ
xã hội thường có văn hóa. So với văn hóa ứng xử của học sinh cấp dưới thì
văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông có nhiều pha tạp bởi sự xâm
nhập của văn hóa ứng xử xã hội cao hơn.
Quan hệ giữa học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông với thầy,
cô giáo trong trường cũng có những biểu hiện mới và sắc thái độc đáo hơn
so với bậc học trung học cơ sở về văn hóa ứng xử. Văn hóa ứng xử của học
sinh trung học phổ thông bắt đầu hình thành những bước phát triển mới, là
giai đoạn thể hiện tính chủ thể cao hơn. Giai đoạn tiếp nhận giá trị văn hóa
ứng xử theo khuôn mẫu, chuẩn mực của gia đình, của thầy, cô bắt đầu giảm
dần và hướng đến dung nạp những văn hóa ứng xử của xã hội bên ngoài
môi trường giáo dục tăng lên, định hình văn hóa ứng xử của học sinh trung
học phổ thông có tính độc lập cao hơn.
Trong quan hệ giữa học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông với
nhau cũng có những biểu hiện mới về văn hóa ứng xử. Học sinh trung học
phổ thông quận Hà Đông bắt đầu có những dấu hiệu của sự tinh tế và cũng có
cả xu hướng thiếu tính lịch lãm trong văn hóa ứng xử. Sự tinh tế thường xuất
hiện ở những học sinh giữ được cốt cách tâm hồn của văn hóa truyền thống,
nhanh nhạy tiếp thu mặt tích cực của văn hóa xã hội, văn hóa học đường cộng

với những bước trưởng thành về tâm sinh lý lành mạnh của tuổi dậy thì.
Những học sinh không hoặc ít giữ được văn hóa truyền thống thường dễ tiếp
nhận những văn hóa ứng xử thiếu lành mạnh, cộng thêm với tâm lý lứa tuổi
thì dễ trượt đến ứng xử thiếu văn hóa. Cùng với nó là học sinh trung học phổ
thông quận Hà Đông có sự đa dạng về nguồn đầu vào, có sự đan xen của đa
sắc mầu văn hóa như văn hóa làng nghề, nông thôn, đô thị cho nên văn hóa

18


ứng xử có nhiều biểu hiện của “xung đột” giá trị, chuẩn mực văn hóa trong
ứng xử. Quá trình xung đột này tạo ra những tiềm ẩn khác nhau. Thậm chí có
những học sinh vốn giữ được văn hóa ứng xử tinh tế, lành mạnh mà chuyển
sang hướng khác một cách khó tưởng. Những đặc điểm ấy cho thấy, văn hóa
ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông đang trong quá trình
tiếp nhận, định hình khuôn mẫu ở một chủ thể chưa khẳng định được những
nét cơ bản của một nhân cách hoàn thiện.
Văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông
hiện nay mang sắc thái truyền thống văn hóa ứng xử vùng, miền. Sắc thái
ấy là sản phẩm của địa văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử văn hóa
của Hà Đông. Cái “nét xưa” được ẩn chứa trong sự thuần khiết ở cốt cách
tâm hồn của người Hà Đông, lắng đọng trong các thế hệ con người và biểu
hiện ra bằng sự tinh tế, linh hoạt, nhanh nhạy và lịch lãm trong văn hóa ứng
xử. Sự tác động của thời kỳ mở cửa giao lưu, hội nhập “đô thị hóa” hiện
nay, những chuẩn mực, giá trị xã hội hiện đại cũng không thể làm mất đi
sắc thái truyền thống, lịch sử quê hương.
1.1.2. Quan niệm về phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung
học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết
phải có con người mới xã hội chủ nghĩa. Theo đó, phát triển văn hóa ứng xử

của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông là vấn đề tất yếu khách quan.
Song, trong tính khách quan ấy cũng bao hàm những dấu ấn chủ quan là nhận
thức, vận dụng cái khách quan và định hướng phát triển văn hóa dân tộc nói
chung và văn hóa học đường nói riêng. Vì vậy, phát triển văn hóa ứng xử của
học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông đã có dấu ấn của chủ thể, đó là sự
nhận thức, định hướng và đưa ra mục tiêu, nội dung, yêu cầu về chuẩn mực văn
hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu các chuẩn
mực của con người mới Việt Nam hiện nay.

19


Từ hướng tiếp cận trên bước đầu luận văn quan niệm: Phát triển văn
hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội là quá trình tiếp nhận chuẩn mực ứng xử và quá trình tự tu dưỡng, rèn
luyện, nâng văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông lên một tầm
cao mới đáp ứng với chuẩn mực văn hóa ứng xử học đường của quận Hà
Đông.
Phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà
Đông là quá trình biện chứng từ thấp đến cao, gắn liền với quá trình nhận thức,
vận dụng, giải quyết những mâu thuẫn mang sắc thái văn hóa ứng xử của một
lớp học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông. Mỗi bước phát triển của văn
hóa ứng xử đều gắn với sự vận động của những mâu thuẫn có sắc thái riêng,
đồng thời xâu chuỗi với nhau có tính lôgic.
Mục đích phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông
quận Hà Đông nhằm phát huy các giá trị đạo đức, văn hóa và văn hóa ứng xử
tốt đẹp của dân tộc và của người Hà Nội, làm phong phú các hoạt động văn
hóa tinh thần, đảm bảo môi trường văn hóa học đường trong sáng, lành mạnh;
đồng thời ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức, văn hóa ứng xử của
một bộ phận học sinh nói chung và học sinh trung học phổ thông nói riêng.

Khi bước vào bậc trung học phổ thông, học sinh phải hòa nhập vào môi
trường văn hóa học đường hoàn toàn mới, gắn với những tác nhân trong quan
hệ đó là các thầy, cô giáo mới; bạn bè mới; chương trình, nội dung giáo dục
mới; v.v.. Những cái mới xuất hiện tạo ra những mâu thuẫn mới thuộc quá
trình phát triển. Trước những nhân tố mới tác động làm cho mỗi học sinh tự
hình thành mục tiêu, hướng phát triển khác nhau tùy theo thiên hướng, khả
năng của mỗi cá nhân học sinh. Trong tính đa dạng về mục tiêu phấn đấu và
hướng phát triển có thể thấy có hai hướng cơ bản. Một là, tiếp tục phấn đấu
theo con đường học ở cấp cao hơn. Hai là, không theo con đường học ở cấp cao
hơn, tức là bước vào tự lập trong cuộc sống thông qua các hình thức lao động,
hoạt động xã hội. Từ hai hướng mục tiêu cơ bản ấy xuất hiện tiếp nhận văn hóa
20


ứng xử khác nhau. Những học sinh có mục tiêu tiếp tục học lên cấp cao hơn thì
ứng xử trong tiếp thu tri thức; ứng xử trong quan hệ thầy trò và quan hệ bạn bè
v.v. thường giữ vững sắc thái của văn hóa ứng xử học sinh với toàn bộ sự tinh
tế, trong sáng, cầu tiến bộ về tri thức. Học sinh phải đối mặt với những mâu
thuẫn khác nhau trong đó mâu thuẫn giữa mục tiêu, yêu cầu chuẩn văn hóa với
những tác động, sự lôi kéo làm chệch hướng văn hóa. Nhận thức, giải quyết
mâu thuẫn này là cơ sở, động lực cho phát triển văn hóa ứng xử của học sinh
trung học phổ thông quận Hà Đông. Mặt đối lập với phát triển văn hóa ứng xử
học sinh trung học phổ thông luôn là những lực cản từ bên trong và bên ngoài
của học sinh. Nhưng cái tạo nên sắc thái riêng trong phát triển văn hóa ứng xử
của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông là những nét đẹp truyền thống
vốn có của địa phương hòa cùng những giá trị, chuẩn mực văn hóa ứng xử của
các vùng miền đan xen đã tạo ra nét đặc thù trong phát triển văn hóa ứng xử
của đối tượng này. Sự tác động có tính ngược chiều từ những nhân tố có tính
đặc thù ấy làm cho mâu thuẫn trong tiếp nhận văn hóa ứng xử của học sinh
trung học phổ thông cũng khác về tính chất phức tạp.

Chủ thể phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông
quận Hà Đông bao gồm các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, các thầy, cô
giáo ở các nhà trường, cùng gia đình và bản thân học sinh.
Cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể trong và ngoài nhà trường là tiền
đề cho sự thống nhất giữa các chủ thể trong cơ chế hoạt động, là chủ thể
lãnh đạo trong và ngoài nhà trường. Đối với cấp ủy đảng, qua nghị quyết,
tạo dựng sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động và kiểm tra,
hướng dẫn các chủ thể khác thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Ở các nhà
trường, lãnh đạo có chủ trương khắc phục những biểu hiện lệch chuẩn của
từng chủ thể, tiếp tục bổ sung, phát huy những mặt ưu điểm và tạo sự thống
nhất về nhận thức, thái độ, động cơ, ý chí trong toàn trường. Tiếp đến, các
chủ thể quản lý, tổ chức hoạt động, theo chức năng, nhiệm vụ của mình triển
khai nghị quyết lãnh đạo, cụ thể hóa vào từng chương trình hoạt động, đưa
21


nghị quyết vào thực tiễn. Các chủ thể là cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể
ở địa phương cùng tham gia vào quản lý, nắm bắt hoạt động của những học
sinh trên địa bàn và qua dư luận của khu dân cư để tuyên dương, khen
thưởng những cháu ngoan ngoãn, chăm học, có thành tích cao trong học tập
và rèn luyện; đồng thời có biện pháp sát thực để kịp thời uốn nắn những
cháu có biểu hiện lệch chuẩn, hành vi ứng xử chưa phù hợp với văn hóa và
đạo đức xã hội.
Trong các nhà trường nói chung và các trường trung học phổ thông
quận Hà Đông nói riêng, các thầy, cô giáo là chủ thể quan trọng và trực tiếp
tuân thủ nghị quyết và chương trình, kế hoạch hoạt động của nhà trường, thực
hiện đúng chức năng vừa truyền thụ tri thức, rèn luyện tư duy sáng tạo vừa
giáo dục nhân cách, phẩm chất, lối sống, rèn luyện kỹ năng ứng xử cho học
sinh theo chuẩn mực văn hóa của nhà trường. Các thầy, cô giáo luôn ứng xử
một cách nhân văn, văn hóa là tiền đề giáo dục những thế hệ học trò biết ứng

xử có văn hóa, có phép tắc và nền nếp.
Gia đình học sinh là chủ thể rất quan trọng trong việc thực hiện chức
năng nuôi dạy con cái theo định hướng của nhà trường, của xã hội. Gia
đình là cái nôi giáo dục đầu tiên, là tế bào hạnh phúc suốt đời của mỗi
người. Do đó, giáo dục những giá trị truyền thống gia đình, cách ứng xử
trong gia đình là rất cần thiết đặc biệt là đối với lứa tuổi học sinh trung học
phổ thông hiện nay.
Học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông là chủ thể trực tiếp tiếp
nhận sự tác động của các chủ thể giáo dục và thể hiện văn hóa ứng xử thông
qua thái độ, hành vi và lời nói trong quan hệ với gia đình, thầy cô, bạn bè,
người thân, v.v..
Những chủ thể trên tuân thủ và thực hiện thống nhất theo định hướng
mục tiêu, chức năng, vai trò của mình sẽ tạo cho môi trường phát triển văn
hóa ứng xử của học sinh phổ thông trung học phổ thông hiện nay có những
tác động đồng thuận, cùng chiều tích cực về ý chí, động cơ, thái độ và hành vi
22


trong môi trường văn hóa học đường. Trong quá trình thực hiện, các chủ thể
cùng nhau tháo gỡ những vướng mắc, hạn chế và phát huy những mặt ưu
điểm trong phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận
Hà Đông hiện nay.
Nội dung phát triển văn hóa ứng xử là một vấn đề đang được bàn nhiều
trong các phương tiện thông tin đại chúng, trong các diễn đàn và cả trong các
công trình nghiên cứu khoa học, là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Văn
hoá ứng xử là cái đẹp, cái giá trị trong ứng xử, tức là ứng xử có văn hoá. Nó
bao gồm hệ thống thái độ, khuôn mẫu, kỹ năng ứng xử của cá nhân và cộng
đồng người trong mối quan hệ với môi trường thiên nhiên, xã hội và bản thân,
dựa trên những chuẩn mực xã hội nhằm bảo tồn, phát triển cuộc sống của cá
nhân và cộng đồng người hướng đến chân - thiện - mỹ.

Nội dung quan trọng của phát triển văn hóa ứng xử của học sinh
trung học phổ thông quận Hà Đông là truyền thụ cho học sinh những tri
thức khoa học tự nhiên, xã hội, lịch sử truyền thống của địa phương. Từ đó,
mỗi học sinh nhận thức được vai trò, tác dụng to lớn, tự hào về truyền
thống văn hóa của quê hương và tự hình thành thái độ, động cơ ý chí, trách
nhiệm của mình đối với phát triển văn hóa ứng xử.
Phương thức phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ
thông quận Hà Đông là sự tiếp nối trình độ văn hóa ứng xử của giai đoạn
trước và tiếp tục phát triển đi lên. Trình độ văn hóa ứng xử của học sinh trung
học cơ sở quận Hà Đông còn nhiều dấu hiệu của văn hóa gia đình, khu dân
cư. Với tính chất địa văn hóa, truyền thống văn hóa gia đình, khu dân cư và sự
giao tiếp, quan hệ xã hội còn ở giới hạn hẹp, cho nên sắc thái văn hóa ứng xử
chưa bị pha tạp. Hoạt động, quan hệ xã hội bị giới hạn nhiều trong không gian
gia đình, khu dân cư. Tính chất thuần nhất, đồng đều giữa các học sinh về văn
hóa ứng xử khá cao. Ở đó chưa có nhiều dấu ấn cá nhân, cũng không có nhiều
pha tạp của xã hội rộng, bên ngoài.

23


Khi bước vào bậc học trung học phổ thông, học sinh bắt đầu phát triển
văn hóa ứng xử theo đa hướng, giảm dần tính thuần nhất, đồng đều và thậm chí
phân hóa trái ngược nhau. Một hướng giữ được sắc thái văn hóa ứng xử của
bậc học trung học cơ sở có tính chất tích cực thì có chiều hướng vượt lên theo
yêu cầu, mong muốn của gia đình, nhà trường và xã hội. Một hướng trượt khỏi
quỹ đạo, đi lệch định hướng của gia đình, nhà trường và xã hội làm cho tính
chất tiêu cực, phản giá trị văn hóa tăng lên. Nguyên nhân xuất hiện các xu
hướng đó là do học sinh trung học phổ thông có dấu hiệu dần thoát ly khỏi sự
kèm cặp của gia đình, mở rộng quan hệ xã hội, quan hệ ứng xử và những biến
đổi về tâm sinh lý của tuổi chập chững trưởng thành. Tính độc lập, sắc thái riêng

của cá nhân, chủ thể hoạt động, giao tiếp dần tăng lên. Quá trình mở rộng quan
hệ kết hợp với sự trưởng thành về tâm sinh lý cũng như sự kèm cặp của gia đình
đang thu hẹp dần đã tạo ra xu hướng phát triển đa dạng, phong phú hơn. Ở
phương diện này bắt đầu mờ nhạt dần tính chất thuần nhất và thay vào đó là tính
chất đa dạng, tính chủ thể, tính cá nhân của văn hóa ứng xử. Trong khi, văn hóa
ứng xử ở đây vốn đã có sự đan xen, đa dạng so với các quận, huyện khác thì tính
độc lập của chủ thể càng làm cho hướng phát triển văn hóa ứng xử của học sinh
trung học phổ thông quận Hà Đông có tính đa dạng, phong phú nhiều hơn. Song,
hướng phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà
Đông vẫn luôn giữ vững được sắc thái truyền thống. Mặc dù văn hóa ứng xử
vùng miền bên ngoài có xâm nhập, nhưng không đủ mạnh làm biến dạng văn
hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông.
Phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà
Đông diễn ra theo con đường, cách thức “nhập thân văn hóa” với các bước từ
tiếp nhận đến định hình và lan tỏa giá trị từ hoạt động, quan hệ xã hội. Quá
trình ấy diễn ra ở không gian, thời gian, trong môi trường văn hóa rộng của
quận Hà Đông. Phát triển văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông
nằm trong không gian văn hóa và mang đặc điểm văn hóa quận Hà Đông. Tuy
24


nhiên, cũng có những sắc thái riêng mang tính đặc thù theo thời gian được biểu
hiện ở bậc học là trung học phổ thông.
Giai đoạn định hình văn hóa ứng xử thể hiện rõ nhất ở thái độ, động cơ, ý
chí v.v. và việc học sinh tuân thủ những chuẩn mực ứng xử của nhà trường, của
xã hội. Những chứng kiến trong nhận thức, đánh giá giá trị các đối tượng liên
quan đến mình thể hiện tính chủ thể, tức là thoát ra khỏi sự chỉ bảo của các chủ
thể khác. Sự thoát ra càng lớn, sự khẳng định tính cách càng cao và phù hợp với
chuẩn văn hóa của môi trường thì văn hóa ứng xử càng phát triển. Định hình văn
hóa ứng xử cũng phản ánh chừng mực nhất định về sự ổn định, bền vững của

phong cách ứng xử, lối sống, lẽ sống của học sinh theo chuẩn văn hóa. Quá trình
định hình văn hóa ứng xử cũng phản ánh và giải quyết mâu thuẫn biện chứng
giữa theo chuẩn văn hóa và lệch chuẩn văn hóa. Hai mặt này được học sinh tiếp
nhận và chỉ có bằng thái độ, động cơ, ý chí, lương tâm chiến thắng những tác
động tiêu cực, sự cám dỗ về vui chơi, tính tự do, tùy tiện buông thả của lứa tuổi
chập chững bước vào giai đoạn từ sự kèm cặp của gia đình, định hướng của
thầy, cô. Định hình văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà
Đông cũng phản ánh, thể hiện sắc thái chưa thật vững chắc. Bởi đây là giai
đoạn đầu của toàn bộ tiến trình khẳng định tính chủ thể, học sinh trung học phổ
thông gần như độc lập trong ứng xử và quan hệ xã hội, cho nên có thể bị cực
đoan và dễ dao động trước những tác động của ngoại cảnh. Trường hợp thể
hiện tính chủ thể cao mà phù hợp với định hướng của nhà trường, gia đình và
xã hội thì sớm trưởng thành, khi đó học sinh trung học phổ thông có nhiều lợi
thế cho định hình vững chắc. Tính cực đoan trong định hình văn hóa mà không
phù hợp với định hướng, với yêu cầu của chuẩn mực văn hóa thì chạy theo
hướng tiêu cực và rất khó xoay chuyển. Trường hợp, định hình văn hóa ứng xử
chưa thật vững chắc cũng có hai chiều hướng tích cực và tiêu cực. Một là, vẫn
có thể tiếp tục định hình phù hợp với yêu cầu chuẩn mực văn hóa theo định
hướng của nhà trường, gia đình và xã hội, nhưng có dấu hiệu của sự chậm
25


chạp, chưa tương xứng. Hai là, cũng dễ theo hướng lệch chuẩn văn hóa ứng xử.
Những chiều hướng phát triển khác nhau ấy vừa phản ánh những mâu thuẫn
biện chứng trong quá trình định hình văn hóa vừa thể hiện khá sâu sắc tính đặc
thù của phát triển văn hóa ứng xử.
Động lực cho phát triển văn hóa ứng xử ở giai đoạn định hình văn hóa
vẫn là sức mạnh tinh thần từ nhận thức được yêu cầu chuẩn mực văn hóa đến
thái độ, động cơ, ý chí vượt qua những trở lực bên trong và bên ngoài. Trước
những trở lực ấy, học sinh tự chiến thắng mình trước những cám dỗ về sự lôi

kéo và tâm lý lứa tuổi ham chơi, hiếu động để khuôn mẫu phong cách ứng xử
theo chuẩn mực văn hóa. Trong động lực tinh thần để chiến thắng những lực
cản thì danh dự, lương tâm, trách nhiệm đối với gia đình, cộng đồng, xã hội là
rất quan trọng. Những học sinh nhận thức và quý trọng công sức nuôi dưỡng
của cha mẹ, công sức dạy dỗ của thầy cô, truyền thống quê hương thì sẽ có sức
mạnh bên trong cho định hình văn hóa ứng xử nhanh và vững chắc.
Chu trình của phát triển văn hóa ứng xử phải đạt đến làm lan tỏa giá trị
văn hóa từ trong quan hệ ứng xử thì mới hoàn thành. Giai đoạn lan tỏa giá trị
từ văn hóa ứng xử của học sinh trung học phổ thông quận Hà Đông là giai
đoạn làm lan tỏa giá trị trong môi trường văn hóa. Thông qua ứng xử xã hội,
tri thức, thái độ, niềm tin v.v. đi vào thực tiễn. Trình độ phát triển cũng như
tính chủ thể của học sinh đến đâu thì khả năng sáng tạo, lan tỏa giá trị văn hóa
trong môi trường đến đó. Tuy nhiên, từ định hình văn hóa đến làm lan tỏa giá
trị văn hóa là một khoảng cách mà chủ thể văn hóa phải vượt qua. Cản trở của
quá trình sáng tạo, làm lan tỏa giá trị văn hóa qua ứng xử ở từng quan hệ xã
hội phù hợp với chuẩn mực, yêu cầu của cộng đồng, xã hội mà cụ thể là môi
trường giáo dục trung học phổ thông quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Mỗi
trường đều có nội quy và những quy định cụ thể cho học sinh thực hiện,
những quy định đều có tính hành chính, pháp lý chứa đựng những chuẩn mực,
yêu cầu về văn hóa. Biểu hiện việc tuân thủ các chuẩn mực về văn hóa là sự
26


×