Tải bản đầy đủ (.pdf) (85 trang)

Công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật từ thực tiễn trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt thạnh lộc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.12 MB, 85 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN MINH TÂM

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG BẢO
TRỢ NGƯỜI BẠI LIỆT THẠNH LỘC

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN THỊ MAI LAN

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Mai Lan
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung
thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI KHUYẾT TẬT........................................................................... 9
1.1. Khái niệm người cao tuổi khuyết tật và quyền của người cao tuổi khuyết tật ......... 9
1.2. Khái niệm công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật ................... 13
1.3. Nội dung công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật ..................... 15
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết
tật ................................................................................................................................... 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM NUÔI
DƯỠNG BẢO TRỢ NGƯỜI BẠI LIỆT THẠNH LỘC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH ............................................................................................................................ 36
2.1. Khái quát chung về Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc, thành
phố Hồ Chí Minh ........................................................................................................... 36
2.2. Thực trạng người cao tuổi khuyết tật tại Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại
liệt Thạnh Lộc, thành phố Hồ Chí Minh ....................................................................... 39
2.3. Áp dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp người cao tuổi
khuyết tật tại Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc, thành phố Hồ
Chí Minh ........................................................................................................................ 47
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ
NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG
TÂM NUÔI DƯỠNG BẢO TRỢ NGƯỜI BẠI LIỆT THẠNH LỘC, THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH .................................................................................................. 58
3.1. Quan điểm và nguyên tắc đề xuất........................................................................... 58
3.2. Các biện pháp nâng cao hiệu qủa công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc, thành
phố Hồ Chí Minh ........................................................................................................... 59
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 66
PHỤ LỤC ..................................................................................................................... 69



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cơ sở chọn đề tài đó là đề tài được lựa chọn xuất phát từ những cơ sở lý luận và
thực tiễn sau:
Hiện nay, Việt Nam có hàng chục triệu người đang cần loại hình dịch vụ
công tác xã hội và không chỉ có những đối tượng hiện tại mà còn hàng triệu đối
tượng tiềm năng sẽ cần được cung cấp dịch vụ công tác xã hội trong tương lai. Các
đối tượng này bao gồm người cao tuổi (khoảng 7,6 triệu người, trong đó có khoảng
200.000 người già cô đơn); người khuyết tật (6,4 triệu người, trong đó có khoảng
300.000 người khuyết tật nặng không còn khả năng tự phục vụ và lao động); trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt (1,6 triệu em) và hoàn cảnh éo le (3 triệu em) chưa được xác
định là trẻ có hoàn cảnh đặc biệt theo Luật Bảo vệ, Chăm sóc trẻ em như trẻ bị
ngược đãi, bạo lực, bị buôn bán bắt cóc, tai nạn thương tích; hàng trăm nghìn người
tâm thần; hàng vạn người bị rối nhiều tâm trí, nhất là trẻ em không được tư vấn
chăm sóc chu đáo hoặc phải sống trong môi trường không thân thiện; hàng triệu cá
nhân, gia đình, nhóm xã hội nảy sinh các vấn đề xã hội như ly hôn, bạo lực, thiếu
quan tâm đến con cái, căng thẳng vì nghèo đói, xâm hại tình dục, bỏ nhà đi lang
thang, tệ cờ bạc, nghiện hút…; hàng vạn xã, làng, thôn, bản đặc biệt khó khăn và có
vấn đề xã hội.
Các đối tượng này thường chỉ nhận được sự trợ giúp về cung cấp dịch vụ của
đội ngũ cán bộ, nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp (khoảng 15.000
người). Họ là những người làm việc theo bản năng và trực giác, thiếu nhận thức,
hiểu biết và những kỹ năng cần thiết về công tác xã hội, do vậy hiệu quả giải quyết
các vấn đề xã hội không cao và thiếu sự phát triển bền vững.
Cung cấp dịch vụ công tác xã hội bởi những người chuyên nghiệp hoặc bán
chuyên nghiệp nhưng phải được đào tạo cơ bản được thể hiện bằng sự tham gia vào
quá trình giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong mối quan hệ giữa con người,
tham gia vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng cho mỗi cá
nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng có vấn đề xã hội để họ tự vươn lên hoà nhập

cộng đồng và có cuộc sống tốt đẹp hơn. Thông thường, khi các đối tượng yếu thế có
1


vấn đề về mặt xã hội, họ thường thụ động, mặc cảm, tự ti, thiếu khả năng tiếp cận
các nguồn lực và dịch vụ sẵn có do các rào cản xã hội vô hình. Vì vậy, nhân viên
công tác xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc giúp đối tượng phá bỏ rào cản đó
và kết nối với các dịch vụ trợ giúp, tạo lòng tin, ý chí và nghị lực mới hướng tới một
cuộc sống hữu ích hơn .
Công tác xã hội với người cao tuổi nói chung dối với người cao tuổi khuyết tật nói
riêng là vấn đề nghiên cứu dành được nhiều sự quan tân từ các nhà khoa học và cơ sở
giảng dạy nghiên cứu. Bởi vì vấn đề nghiên cứu này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn tốt, đặc
biệt còn mang tính nhân văn sâu sắc Tại Việt Nam người cao tuổi khuyết tật là một những
đối tượng thuộc nhóm xã hội yếu thế. Do vậy, Đảng và Nhà nước có những chủ trương
chính sách cụ thế trợ giúp nhóm xã hội yếu thế này. Từ thực tiễn cho thấy, một trong
những chính sách là công tác xã hội dối với người cao tuổi. Công tác xã hội đối với người
cao tuổi khuyết tật đã thực hiện được rất nhiều nhiệm vụ trợ giúp cho người cao tuổi
khuyết tật và đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề tồn tại
còn bàn luận. Chính vì vậy việc nghiên cứu công tác xã hội đối với người cao tuổi khuyết
tật nói chung và đi sâu vào nghiên cứu các phương pháp công tác xã hội cụ thể như : công
tác xã hội nhóm, công tác xã hội cá nhân rất cần được nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay.
Do vậy việc nghiên cứu đề tài Công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật từ
thực tiễn Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc là rất cần thiết trong giai
đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Luận văn “Công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố
Thanh Hóa” năm 2014 của Đỗ Thị Liên đã khái quát những đặc điểm của người
khuyết tật và thực trạng người khuyết tật trên thế giới và Việt Nam, thực trạng của
công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp người khuyết tật [13].
Báo cáo thực tập “Nhu cầu quan hệ của người già cô đơn, không nơi

nương tựa tại Trung tâm bảo trợ xã hội IV Ba Vì – Hà Nội và vai trò can thiệp
của nhân viên công tác xã hội” năm 2013 của Lê Thảo Vy nhấn mạnh nâng cao
kiến thức và kỹ năng của nhân viên công tác xã hội [32].

2


Báo cáo tốt nghiệp “Công tác xã hội với người bại liệt tại Trung tâm nuôi
dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc” năm 2014 của Nguyễn Ngọc Thùy và
khóa luận “An sinh xã hội và công tác xã hội cá nhân đối với người khuyết tật tại
Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc” của Mai Thị Oanh năm
2015 đã khái quát những đặc điểm của người khuyết tật và thực trạng hoạt động
công tác xã hội và thực hành công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật tại Trung
tâm [16, tr.64].
Nhìn chung, tất cả các luận văn, khóa luận, báo cáo trên và rất nhiều công
trình nghiên cứu khác nữa đều chỉ ra các mô hình can thiệp chủ yếu, chính sách xã
hội, thực hành công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi, người khuyết tật.
Song phải nói rằng, các nghiên cứu trên chưa thực sự đề cập cụ thể đến việc phải
làm gì để hoạt động công tác xã hội phát triển và thực sự trở thành nhiệm vụ thường
xuyên ở những cơ sở bảo trợ xã hội, những nơi rất cần những nhân viên công tác xã
hội chuyên nghiệp để nâng cao năng lực đối với người cao tuổi, người khuyết tật có
hoàn cảnh khó khăn, thực hiện chức năng xã hội, hòa nhập cộng đồng.
Kế thừa những công trình nghiên cứu nêu trên, đề tài “Công tác xã hội cá
nhân đối với người cao tuổi khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ
người bại liệt Thạnh Lộc, thành phố Hồ Chí Minh” của học viên hy vọng mang đến
cái nhìn mới về hoạt động công tác xã hội với người cao tuổi, người khuyết tật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác xã hội cá nhân đối với
người cao tuổi khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt

Thạnh Lộc, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá
nhân đối với người cao tuổi khuyết tật tại trung tâm góp phần trợ giúp người cao
tuổi khuyết tật có đời sống tinh thần và vật chất tốt hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-

Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu công tác xã hội cá nhân đối với người

cao tuổi khuyết tật. Trong đó, xây dựng hệ thống khái niệm công cụ (công tác xã
hội cá nhân, người cao tuổi khuyết tật, công tác xã hội cá nhân đối với người cao
3


tuổi khuyết tật), chỉ ra các nhiệm vụ cơ bản của công tác xã hội cá nhân đối với
người cao tuổi khuyết tật và các yếu tố ảnh hưởng tới công tác xã hội cá nhân đối
với đối tượng này.
-

Phân tích thực trạng công tác xã hội cá nhân và áp dụng phương pháp công

tác xã hội cá nhân trợ giúp 01 người cao tuổi khuyết tật tại Trung tâm nuôi dưỡng
bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc, thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu:
-

Phạm vi nghiên cứu về không gian: Khảo sát người cao tuổi khuyết tật tại

Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc.
-


Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Tháng 12/1015 đến tháng 2/2016.

-

Giới hạn nội dung nghiên cứu: Công tác xã hội cá nhân đối với người cao

tuổi khuyết tật.
4.2. Đối tượng nghiên cứu:
Người cao tuổi khuyết tật.
4.3. Khách thể nghiên cứu:
-

Cán bộ lãnh đạo Trung tâm và nhân viên xã hội, bác sĩ, y sĩ, kỹ thuật viên,

điều dưỡng, hộ lý.
- Các cụ sinh hoạt chung cùng phòng với thân chủ.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu
5.1.1. Hướng tiếp cận hệ thống – cấu trúc
Theo định nghĩa của lý thuyết công tác xã hội hiện đại: “Hệ thống là một tập
hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống
nhất”.
Là công cụ trợ giúp nhân viên xã hội sắp xếp, tổ chức những lượng thông tin
lớn thu thập được để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và tìm cách can
thiệp. Việc tổ chức thông tin thành hệ thống sẽ giúp nhân viên xã hội nhìn nhận vấn
đề sáng tỏ hơn.
5.1.2 Hướng tiếp cận thực tiễn
4



Thực tế, ở Việt Nam, có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong phát triển cộng
đồng căn cứ vào từng tiêu chí sắp xếp. Tuy nhiên, xét về chiều hướng tiếp cận, có
thể phân ra hai cách tiếp cận chính: tiếp cận từ nội lực cộng đồng và tiếp cận chủ
quan của chuyên gia. Hướng tiếp cận áp đặt của các chuyên gia vốn được ứng dụng
nhiều trong giai đoạn trước. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam bước
vào thời kỳ đổi mới mạnh mẽ, phát triển nhanh chóng tăng trưởng kinh tế với tốc độ
xóa đói giảm nghèo nhanh của nước có thu nhập trung bình thấp, các hướng tiếp
cận lấy con người làm trọng tâm ngày càng có chỗ đứng trong công tác trợ giúp
chuyên nghiệp. Do đó, hướng tiếp cận dựa vào nội lực hay còn gọi là tiếp cận nhu
cầu với phương pháp ABCD với đặc trưng trao quyền cho cộng đồng, đảm bảo đáp
ứng nhu cầu cấp thiết của cộng đồng cũng như tính bền vững ngày càng được chú
trọng thay vì cách tiếp cận cũ. Đây cũng được xem là xu hướng chủ yếu của phát
triển cộng đồng trên thế giới. Để phát huy tốt phương pháp phát triển cộng đồng
dựa vào nội lực, chúng tôi xin đề xuất những từ khoá sau đây và coi chúng như là
hệ giá trị cho các phương pháp tiếp cận chung:
5.1.3 Hướng tiếp cận công tác xã hội
Quan điểm sức mạnh: Là một mô hình đòi hỏi người nhân viên công tác xã
hội trong quá trình làm việc phải thoát ra khỏi quan điểm tập trung vào vấn đề của
thân chủ, mà nhằm đưa ra các sức mạnh cá nhân và môi trường cũng như sức mạnh
từ phía các nguồn lực có thể góp phần giải quyết vấn đề.
Quan điểm sức mạnh giúp nhân viên xã hội nhận ra và khám phá các nguồn
thông tin quý giá để giải quyết vấn đề thân chủ theo hướng dựa vào sức mạnh. Điều
này có thể khuyến khích hệ thống thân chủ và tạo dựng niềm tin cho tương lai.
Định hướng cho nhân viên xã hội trước khi nói chuyện với thân chủ và góp
khả năng tư duy tích cực của nhân viên xã hội sắc bén hơn khi chuẩn bị các câu hỏi
làm việc cùng thân chủ.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin
-


Phân tích, tổng hợp và đánh giá những công trình nghiên cứu của các tác giả

trong và ngoài nước xung quanh các vấn đề có liên quan đến công tác xã hội cá
5


nhân đối với người cao tuổi khuyết tật, từ đó chỉ ra những vấn đề còn tồn tại hoặc
chưa được đề cập đến trong các nghiên cứu đó để tiếp tục tiến hành nghiên cứu.
-

Xác định những khái niệm công cụ liên quan đến đề tài: công tác xã hội cá

nhân; người cao tuổi khuyết tật, công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
khuyết tật.
-

Tổng hợp và phân tích lý luận về công tác xã hội cá nhân, nội dung chủ yếu

của công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi khuyết tật.
-

Phân tích, tìm hiểu một số báo cáo của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội;

Bộ Tài chính và báo cáo của Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh
Lộc, thành phố Hồ Chí Minh và tình hình công tác xã hội cá nhân đối với người cao
tuổi khuyết tật.
-

Tìm hiểu về các Nghị định, Thông tư hướng dẫn dành cho đối tượng, cán bộ


quản lý, nhân viên công tác xã hội thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội cá nhân đối
với người cao tuổi khuyết tật.
-

Phân tích số liệu từ cơ sở cung cấp.

5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Thu thập thông tin khách quan từ phía người cao tuổi khuyết tật và công
chức viên chức – người lao động Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt
Thạnh Lộc nhằm đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu. Những thông tin khách quan
đó lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự tương tác giữa người phỏng vấn và người trả lời
phỏng vấn.
5.2.3.Điều tra bằng bảng hỏi:
Tiến hành phỏng vấn trực tiếp với khách thể nghiên cứu nhằm thu thập thông
tin để làm rõ thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật tại
Trung tâm
5.2.4. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 16.0 sẽ được dùng để xử lý các dữ kiện
thu được, phục vụ cho việc phân tích số liệu cũng như đảm bảo tối đa yêu cầu định
lượng và tính khách quan trong quá trình nghiên cứu.

6


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Đề tài luận văn đã xây dựng được khung lý thuyết nghiên cứu công tác xã
hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật. Trong đó gồm có các khái niệm: công
tác xã hội cá nhân, người cao tuổi khuyết tật, công tác xã hội cá nhân đối với người

cao tuổi khuyết tật. Luận văn cũng đã chỉ ra những vấn đề lý luận chính về tiến trình
công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật cũng như vai trò và nhiệm
vụ của nhân viên công tác xã hội đối với nhiệm vụ này. Kết quả nghiên cứu lý luận
của luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về công tác xã hội cá nhân với
người cao tuổi khuyết tật vào trong nội dung lý luận của khoa học công tác xã hội
cá nhân.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
khuyết tật tại Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc có ý nghĩa
quan trọng trong việc góp phần vào việc giúp nhân viên công tác xã hội, cán bộ
quản lý công tác xã hội và người cao tuổi khuyết tật thấy được vai trò và ý nghĩa
quan trọng của phương pháp công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết
tật tại Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc. Kết quả nghiên cứu
thực tiễn của đề tài cũng chứng tỏ, đối với người cao tuổi khuyết tật thì việc sử dụng
phương pháp công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp họ là phương pháp tối ưu.
Có thể nhân rộng phương pháp này trên đối tượng người cao tuổi khuyết tật tại các
Trung tâm khác trên địa bàn thành phố. Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể
làm tài liệu tham khảo hữu ích cho hoạt động đào tạo tại các cơ sở đào tạo nói
chung và công tác xã hội đối với người cao tuổi khuyết tật nói riêng. Đồng thời, là
tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho những ai đang quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực
này cũng như nhà trường, giảng viên đánh giá năng lực của bản thân trong quá trình
thực hiện đề tài.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục. Luận văn gồm có 3 chương:
7


Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi
khuyết tật.

Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết
tật từ thực tiễn Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc, thành phố
Hồ Chí Minh.
Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân đối với
người cao tuổi khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt
Thạnh Lộc, thành phố Hồ Chí Minh.

8


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI
CAO TUỔI KHUYẾT TẬT
1.1. Khái niệm người cao tuổi khuyết tật và quyền của người cao tuổi
khuyết tật
1.1.1. Quan niệm về người cao tuổi
Theo quan điểm của Công tác xã hội với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội,
công tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay
đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn
đề trong cuộc sống. Do đó, người cao tuổi là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần
sự trợ giúp của công tác xã hội [31].
Trạng thái tâm lý và sức khỏe của người cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào
nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi
trường văn hóa - tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình. Khi bước sang
giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu trung
những thay đổi thường gặp là:
-

Hướng về quá khứ
Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, người cao


tuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu
chiến binh... Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng
như hướng về cội nguồn: viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…
-

Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”
Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và

nghề nghiệp. Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè)
sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái
tiêu cực xả hơi. Do vậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống
mới. Người ta dễ gặp phải “hội chứng về hưu” [31, tr.30].
 Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi
-

Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn : Con cháu thường

bận rộn với cuộc sống. Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị lãng
9


quên, bị bỏ rơi. Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được
người khác coi mình không là người vô dụng. Họ rất muốn được nhiều người quan
tâm, lo lắng cho mình và ngược lại. Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình.
-

Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân: Đa số người cao tuổi nếu còn sức khỏe

vẫn còn có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình,

hoặc có thể tham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng. Nhưng cũng có một số
người cao tuổi do tuổi tác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụ
thuộc vào con cháu. Do vậy dễ nảy sinh tâm trạng chản nản, buồn phiền, hay tự dằn
vặt mình. Người cao tuổi mà tuổi càng cao thì sức khỏe lại càng giảm sút, đi lại
chậm chạp, không còn khả năng lao động, quan niệm sống khác với thế hệ sau...
nên chỉ một thái độ hay một câu nói thiếu tế nhị có thể làm cho họ tự ái, tủi thân cho
rằng mình già rồi nên bị con cháu coi thường.
-

Nói nhiều hoặc trầm cảm: Vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con

cháu, muốn con cháu sống theo khuôn phép đạo đức thế hệ mình nên họ hay bắt lỗi,
nói nhiều và có khi còn làm cho người khác khó chịu. Với một bộ phận người cao
tuổi bảo thủ và khó thích ứng với sự thay đổi, cộng với sự giảm sút của sức khỏe,
khả năng thực hiện công việc hạn chế, nếu thời trẻ có những ước mơ không thực
hiện được, hoặc không thỏa đáng, không hài lòng... có thể xuất hiện triệu chứng của
bệnh trầm cảm. Họ trở thành những người trái tính, hay ghen tỵ, can thiệp sâu vào
cuộc sống riêng tư của con cháu vì họ cho rằng mình có quyền đó.
-

Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh – tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy người

cao tuổi vẫn sợ phải đối mặt với cái chết. Cũng có những trường hợp các cụ bàn
việc hậu sự cho mình, viết di chúc cho con cháu... có những cụ không chấp nhận,
lảng tránh điều đó và sợ chết [31, tr.31].
1.1.2. Quyền của người cao tuổi
Người cao tuổi có các quyền sau đây: được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về
ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khoẻ; quyết định sống chung với con, cháu hoặc
sống riêng theo ý muốn; được ưu tiên khi sử dụng các dịch vụ theo quy định của
Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; được tạo điều kiện tham

gia hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch và nghỉ ngơi;
10


được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khoẻ, nghề nghiệp và các điều kiện
khác để phát huy vai trò người cao tuổi; được miễn các khoản đóng góp cho các
hoạt động xã hội, trừ trường hợp tự nguyện đóng góp; được ưu tiên nhận tiền, hiện
vật cứu trợ, chăm sóc sức khỏe và chỗ ở nhằm khắc phục khó khăn ban đầu khi gặp
khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc rủi ro bất khả kháng khác; được tham gia Hội
người cao tuổi Việt Nam theo quy định của Điều lệ Hội và các quyền khác theo quy
định của pháp luật [17].
1.1.3. Quan niệm về người khuyết tật
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về người khuyết
tật theo Luật người khuyết tật Việt Nam ban hành vào năm 2010. Đây là định nghĩa
khá đầy đủ, tổng hợp được các cách hiểu khác nhau về khuyết tật và phù hợp với
điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam.
“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể
hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh
hoạt, học tập gặp khó khăn”.
Như định nghĩa trên đây, có hai vấn đề cần quan tâm. Thứ nhất, đó là người
khuyết tật có thể là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể, đó có thể
là những người mất đi các bộ phận cơ thể như cụt chân, tay, tê liệt, bại liệt, hoặc bất
thường về các bộ phận cơ thể khác. Thứ hai, đó là suy giảm chức năng, vấn đề này
thể hiện ở việc các chức năng trên cơ thể người có thể hoạt động không tốt hoặc các
bộ phận không đảm bảo được chức năng của mình như chức năng thị giác, thính
giác hay chức năng suy nghĩ, lý giải…Tuy nhiên, một ý rất quan trọng trong định
nghĩa trên đó là những khiếm khuyết và suy giảm chức năng đã làm cản trở cá nhân
tham gia vào các hoạt động như sinh hoạt, lao động và học tập một cách bình
thường [9, tr.10].
1.1.4. Quyền của người khuyết tật

Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây: Tham gia bình
đẳng vào các hoạt động xã hội; sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; được miễn hoặc
giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; được chăm sóc sức khỏe,
phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp
11


cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn
hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật và
các quyền khác theo quy định của pháp luật [18].
Từ những quan niệm về người cao tuổi, người khuyết tật và quyền của người
cao tuổi, người khuyết tật như đã nêu, học viên chọn lọc đối tượng 60 tuổi trở lên
khuyết tật đang được chăm sóc và nuôi dưỡng ở Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ
người bại liệt Thạnh Lộc, thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện luận văn phù hợp
thực tiễn Trung tâm là:
Người cao tuổi khuyết tật là người có tuổi 60 tuổi trở lên, bị khiếm khuyết
một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng
tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn và có quyền của người cao
tuổi và người khuyết tật.
1.1.5. Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi khuyết tật
 Về tình cảm
Người cao tuổi khuyết tật có đặc điểm tâm lý là giàu tình thương, nhưng
cũng dễ bị tổn thương, trước khi vào Trung tâm mỗi người có thể có những hoàn
cảnh rất khác nhau, mỗi người mỗi cảnh ngộ, lòng tự trọng và tính tự ái rất cao.
Người cao tuổi khuyết tật có phản ứng cảm xúc nhạy bén, vui buồn dễ dàng, dễ hờn
dỗi, bởi các cụ sống thiên về tình cảm hơn là vật chất nên họ dễ có xúc cảm khi gặp
tình huống lạ, có tính tự ti vì mặc cảm sức khỏe, tuổi già thì lực bất tòng tâm, tâm lý
bi quan vì là người thừa từ đó cảm thấy lạnh lùng trống rỗng và trầm lắng, vì thế
hay nảy sinh tính đa nghi, nghĩ ngợi, nhạy cảm với mọi việc, hoài nghi người khác.
Một khi cao tuổi, còn là người cao tuổi khuyết tật thì cảm giác mất mát cô

độc, sự xao xuyến lo âu là tâm trạng thường xuyên của người cao tuổi và ý thức
rằng cuộc đời đã xế chiều lại tàn phế, mọi sinh hoạt cần có người chăm sóc vì nghĩ
rằng chuỗi ngày còn lại là sự cô đơn, vô dụng.., chính vì những trăn trở đó mà
người cao tuổi khuyết tật rất trân trọng tình cảm, sống thiên về tình cảm nhiều hơn,
rất nặng tình cảm hàm ơn người khác nếu được các nhân viên chăm sóc, giúp đỡ dù
là việc nhỏ.
 Về giao tiếp
12


Con người một khi cao tuổi, khuyết tật thì họ thường gắn bó hơn với đời
sống tâm linh, nghĩ về dòng họ, gia đình và con cháu, hay có thói quen lưu luyến
quá khứ, rất thích nhớ lại, kể lại những chuyện đã qua có thể đó là những kỷ niệm
vui, buồn của cuộc sống cơ hàn thời kỳ đất nước còn nhiều khó khăn. Vì vậy, giao
tiếp đối với người cao tuổi khuyết tật là nhu cầu không thể thiếu, bởi giao tiếp là
phương tiện, công cụ động lực giúp người cao tuổi tránh được sự cô đơn, buồn tủi,
giúp bộc bạch tâm tư, nguyện vọng của bản thân, cảm giác của họ về cuộc sống này
không phải là người “ sống thừa” và đâu đó trong suy nghĩ của họ vẫn còn được tôn
trọng, dành nhiều sự yêu thương của mọi người, đặc biệt là từ những người thân
trong gia đình thì sẽ giúp cho người cao tuổi khuyết tật cởi bỏ hết những phiền
muộn để sống vui hơn trong cuộc đời này.
Chủ đề giao tiếp của người cao tuổi khuyết tật thường xoay quanh những câu
chuyện quá khứ như: những khó khăn vất vả mà họ đã trải qua, cuộc sống chia cách
giữa thời điểm giao thời. Về già đặc điểm tâm lý người cao tuổi khuyết tật có nhiều
thay đổi, chức năng hoạt động của các cơ quan giảm sút, có nhiều bệnh tật về hô
hấp, tim mạch, các cơ quan cảm giác suy giảm... Vì thế khả năng giao tiếp về hô
hấp, tim mạch, các cơ quan cảm giác suy giảm không còn linh hoạt như trước. Mặc
dù vậy, nhu cầu giao tiếp của người cao tuổi khuyết tật lại rất cao, do có nhiều thời
gian rảnh để tiếp chuyện với mọi người, thông qua giao tiếp người cao tuổi khuyết
tật sẽ tăng thêm sức khỏe và thấy mình có ích cho xã hội.

Một khi có tuổi thì đặc điểm sinh lý của các cụ đã suy giảm nên rất nhạy cảm
với tiếng động, âm thanh nên họ thích nghỉ ngơi vào buổi trưa, không thích tiếp
chuyện vào buổi tối và một khi có tuổi tư duy của người cao tuổi kém năng động,
kém linh hoạt tốc độ nói của họ thường chậm, trí nhớ ngắn hạn giảm sút, trí nhớ dài
hạn vẫn ở mức độ cao, hay lưu luyến quá khứ và hay quên những gì mình vừa nói.
1.2. Khái niệm công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật
1.2.1. Khái niệm công tác xã hội
Hiệp hội công tác xã hội quốc tế và các trường đào tạo công tác xã hội quốc
tế (2011) thống nhất một định nghĩa về công tác xã hội như sau: Công tác xã hội là
nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con
13


người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền
lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người.Công tác xã hội sử dụng các học
thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác
của con người với môi trường sống [14, tr.4].
Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm
trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và
tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách,
nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và
phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [14, tr.4].
1.2.2. Khái niệm công tác xã hội cá nhân
Theo Bùi Thị Xuân Mai, Nhập môn công tác xã hội thì công tác xã hội cá
nhân được định nghĩa là “hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã
hội chuyên nghiệp sử dụng, trong đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ
thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những
vấn đề về nội tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, giữa cá nhân, kinh tế xã hội và môi
trường thông qua các mối quan hệ một – một” [14, tr.32].
Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi là phương pháp của công tác xã

hội nhằm giúp đỡ, hỗ trợ người cao tuổi vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác
định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực tự giải quyết
vấn đề. Quá trình giúp đỡ là quá trình khoa học và chuyên nghiệp, trong đó nhân
viên xã hội vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý xã hội, xã hội học, các
khoa học xã hội liên quan khác và các kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp sát cánh cùng
người cao tuổi hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của mình và hướng đến vượt qua
những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai [31, tr.8].
Theo Nguyễn Thị Kim Hoa: “Công tác xã hội với người khuyết tật là hoạt
động chuyên nghiệp của nhân viên công tác xã hội giúp đỡ những người khuyết tật
nhằm tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy
động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ người khuyết tật, gia
đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả,

14


vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên
nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội” [10, tr.38].
1.2.3. Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi khuyết tật
Căn cứ các khái niệm trên và mục đích hoạt động công tác xã hội với người
cao tuổi, người khuyết tật, học viên xin khái quát công tác xã hội cá nhân với người
cao tuổi khuyết tật như sau: Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi khuyết tật
là một phương pháp trợ giúp người cao tuổi khuyết tật, gia đình và cộng đồng nâng
cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, nhân viên xã hội
can thiệp giải quyết vấn đề của người cao tuổi khuyết tật trong mối quan hệ tương
tác với môi trường xã hội của người cao tuổi khuyết tật, đồng thời thúc đẩy môi
trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp người cao tuổi khuyết
tật, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần
bảo đảm an sinh xã hội. Mục tiêu của công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi
khuyết tật là trợ giúp đối tượng có vấn đề, giải quyết được vấn đề của họ và tăng

cường sức mạnh cho đối tượng, làm cho họ tự lực và độc lập giải quyết vấn đề tùy
theo năng lực của mỗi người thông qua sự trợ giúp của nhân viên xã hội. Để thực
hiện việc tương tác trực tiếp đạt hiệu quả cao, nhân viên xã hội cần phải thành thạo
các kỹ năng sử dụng trong đối thoại trực tiếp như kỹ năng tạo lập mối quan hệ ban
đầu; các kỹ năng lắng nghe, vấn đàm, tham vấn, thông cảm, quan sát là những công
cụ kỹ thuật quan trọng. Nó góp phần đạt được những mục tiêu của sự giúp đỡ mà
không tạo ra sự trông chờ, ỷ lại của người được giúp đỡ. Bên cạnh đó công tác xã hội
cá nhân vẫn còn có những hạn chế nhất định, nên nhiều khi cần kết hợp sử dụng các
phương pháp khác của công tác xã hội để trợ giúp cá nhân giải quyết vấn đề [13].
1.3. Nội dung công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật
Có nhiều nhiệm vụ công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật
tại Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc. Tuy nhiên, trong luận
văn chúng tôi sẽ áp dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân (tiến trình 6 bước) để
xem xét các nội dung công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi khuyết tật.
Tiến trình công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi khuyết tật là qúa trình
tương tác hỗ trợ giữa nhân viên xã hội và một thân chủ là người cao tuổi khuyết tật
15


mà ở đó diễn ra các bước hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ nhằm hỗ trợ thân chủ
tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề. Học viên thực hiện tiến trình như sau: xác
định vấn đề, thu thập thông tin, đánh giá vấn đề, xây dựng kế hoạch trợ giúp, thực
hiện kế hoạch trợ giúp cuối cùng lượng giá và kết thúc
Bước 1: Xác định vấn đề của người cao tuổi khuyết tật:
Việc xác định đúng vấn đề của người cao tuổi khuyết tật là yếu tố rất quan
trọng và là cơ sở để lập kế hoạch giải quyết vấn đề hiệu quả. Để thực hiện điều đó
nhân viên xã hội cần thực hiện các bước công việc sau:
 Thiết lập mối quan hệ:
Mối quan hệ giữa nhân viên xã hội với các người cao tuổi khuyết tật không
phải là mối quan hệ xã hội thông thường mà đó là mối quan hệ nghề nghiệp. Việc

thiết lập mối quan hệ tốt và tạo sự tin tưởng đối với người cao tuổi khuyết tật là
khâu quan trọng nhất trong bất cứ hoạt động trợ giúp nào, là điều có ý nghĩa sống
còn trong quá trình giúp đỡ và can thiệp giải quyết vấn đề của người cao tuổi khuyết
tật. Có được mối quan hệ tích cực với người cao tuổi khuyết tật, nhân viên xã hội
giúp người cao tuổi khuyết tật đạt được sự đồng thuận trong giải quyết vấn đề của
chính mình. Chính những điều này sẽ đặt nền tảng cho việc hình thành mối quan hệ
tin cậy và hợp tác giữa nhân viên xã hội và người cao tuổi khuyết tật trong suốt tiến
trình hỗ trợ.
Điều quan trọng, người cao tuổi khuyết tật thường mang mặc cảm, tự ti,
ngại giao tiếp và tham gia vào các hoạt động tập thể cho nên nhân viên xã hội cần
phải tôn trọng và chấp nhận họ với những giá trị của con người.
Để có thể tạo lập được mối quan hệ này, nhân viên xã hội phải giới thiệu về
vị trí công việc, vai trò, trách nhiệm và mục tiêu trợ giúp người cao tuổi khuyết tật
của mình và phải sử dụng kỹ năng:
- Thăm và làm việc với người cao tuổi khuyết tật: thông qua hoạt động vãng
gia nhân viên xã hội thể hiện sự quan tâm của mình với người cao tuổi khuyết tật.
Để thiết lập được một mối quan hệ tốt, cần có thời gian và kiên nhẫn, cần phải trực
tiếp đến thăm tại phòng ở, tiếp cận các thành viên trong phòng để tìm hiểu quan sát
những hành vi và cuộc sống đời thường của họ. Để việc thăm và làm việc đạt hiệu
16


quả nhân viên xã hội cần phải:
- Tạo bầu không khí thoải mái bằng một số hình thức khuyến khích, động
viên có thể được phát triển dựa vào tình hình thực tiễn của người cao tuổi khuyết
tật;
- Những biện pháp khuyến khích, động viên dưới hình thức như tặng thực
phẩm, hay vật lưu niệm cũng có tác dụng xây dựng mối quan hệ bền vững nhưng
không lạm dụng;
- Mời người cao tuổi khuyết tật tham gia vào các hoạt động giao tiếp bên

ngoài để tạo môi trường giúp họ có thể trò chuyện cởi mở về những vấn đề của bản
thân;
- Xây dựng mối quan hệ với người cao tuổi khuyết tật dựa trên thời gian biểu
của họ và tiếp xúc với họ vào thời gian và địa điểm phù hợp với họ;
- Cần giữ kín tất cả các thông tin, kể cả hình ảnh, có thể ám chỉ đến một cá
nhân, không chia sẻ những thông tin này với các cá nhân hoặc tổ chức không làm
việc trực tiếp với các vấn đề liên quan đến họ khi chưa được sự đồng ý của người
cao tuổi khuyết tật;
- Trò chuyện với người cao tuổi khuyết tật về quan điểm, khiếm khuyết của
họ giúp ta hiểu được những điểm yếu của họ, nhưng đồng thời cũng gợi nỗi đau cho
những người liên quan. Chúng ta cần thừa nhận và tôn trọng nỗi đau này;
- Việc công nhận sự thành thạo của họ giúp củng cố niềm tin rằng bản thân
họ là những người có ích và thắt chặt thêm mối quan hệ;
- Hãy tôn trọng người cao tuổi khuyết tật, khi người cao tuổi khuyết tật được
đối xử tôn trọng họ sẽ cởi mở hơn, tích cực hơn. Nếu ai đó không làm như thế
nhưng trò chuyện với họ bằng thái độ quan tâm sẽ dễ được người cao tuổi khuyết tật
tôn trọng và tin tưởng;
- Đừng để mình bị phân tâm bởi những việc khác khi đang trò chuyện, nhìn
vào mắt họ để thể hiện đang lắng nghe họ nói; tránh sự im lặng quá lâu;
- Con người nói chung, và nhất là những người bị gạt ra rìa xã hội, những
phép ứng xử lịch sự cơ bản và những lời động viên khen ngợi sẽ giúp cảm nhận về
tính nhân đạo và tình bằng hữu;
17


- Hãy thừa nhận với người cao tuổi khuyết tật nếu bạn học tập được một
điểm mới qua cuộc trò chuyện với người cao tuổi khuyết tật. Đây là một việc rất
đáng làm;
- Nhân viên xã hội có thể khen ngợi một biến chuyển dù rất nhỏ trong người
cao tuổi khuyết tật;

- Thành thật và làm rõ động cơ là điều kiện thiết yếu để hình thành một mối
quan hệ;
- Cần làm cho người cao tuổi khuyết tật hiểu rằng mối quan tâm của nhân
viên xã hội không phải chỉ xuất phát từ nhu cầu công việc. Nhiều nhân viên xã hội
coi công việc của mình là gánh nặng, nếu người cao tuổi khuyết tật cảm nhận được
thái độ tiêu cực này, họ sẽ không còn cởi mở hoặc tin tưởng nữa.
Bước 2: Thu thập thông tin
Khi tiếp nhận một trường hợp người cao tuổi khuyết tật, nhân viên xã hội sẽ
làm thủ tục mở hồ sơ trường hợp, tiếp cận với các thành viên trong gia đình (nếu
có) để thu thập thông tin ban đầu và thực hiện các ghi chép..
 Nội dung thông tin cần thu thập:
-

Về cá nhân:

 Thông tin về cá nhân và vấn đề của cá nhân: họ và tên, tuổi, giới tính, trình
độ văn hóa, nghề nghiệp, việc làm, thu nhập, mối quan hệ với các thành viên trong
gia đình, tâm tư, tình cảm, vấn đề cá nhân đang gặp phải…;
 Nhu cầu cần hỗ trợ của cá nhân: thông qua vấn đàm nhân viên xã hội tìm
hiểu vấn đề cá nhân đang gặp phải là những vấn đề gì, họ có vấn đề cấp bách ảnh
hưởng đến sự an nguy của bản thân hay không, cần cung cấp các dịch vụ khẩn cấp
ngay hay không;
 Thông tin về những trải nghiệm cũng như những cố gắng tự giải quyết vấn
đề của mình như thế nào.
-

Về gia đình:

 Thông tin về hoàn cảnh gia đình: điều kiện hoàn cảnh sống của gia đình như
thu nhập, việc làm, nhà ở, tài sản, phương tiện sản xuất, điều kiện sinh hoạt; những


18


khó khăn, vấn đề cá nhân, gia đình phải đối mặt. Những khó khăn về vật chất, rắc
rối về tình cảm hay xung đột mối quan hệ, vai trò của các thành viên trong gia đình;
 Mối quan hệ của cá nhân trong gia đình: thông tin về các mối liên hệ huyết
thống, tình cảm của các thành viên, ai là người uy tín nhất, ảnh hưởng đến giải
quyết vấn đề của cá nhân, gia đình;
 Kinh nghiệm giải quyết các vấn đề của gia đình: thông tin về những trải
nghiệm cũng như những cố gắng tự giải quyết vấn đề của cá nhân, gia đình mình
như thế nào;
 Thông tin ban đầu đánh giá về nhu cầu: họ đang có nhu cầu gì, họ có cần
cung cấp các dịch vụ khẩn cấp ngay hay không. Việc đánh giá này rất quan trọng vì
nếu như không được đáp ứng những nhu cầu khẩn cấp này, sẽ có nhiều vấn đề trầm
trọng hơn có thể xảy ra. Nếu khi đánh giá thấy cần thiết phải thu xếp các dịch vụ
khẩn cấp, nhân viên xã hội ngay lập tức báo cáo với Ban lãnh đạo Khu quản lý đối
tượng, Phòng Quản lý giáo dục đối tượng và Ban Giám đốc giải quyết;
 Thông tin về các yếu tố trợ giúp người cao tuổi khuyết tật như: nguồn lực
bên trong gia đình bao gồm tình trạng sức khỏe tốt, có nghề nghiệp, công việc làm
đủ và ổn định, có kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… nguồn lực bên ngoài
bao gồm sự hỗ trợ về vật chất;
 Thông tin về các yếu tố cản trở cho người cao tuổi khuyết tật: gia đình có
người bệnh nặng kéo dài, người khuyết tật, người tâm thần, con đông thiếu sức lao
động, trình độ văn hóa, tay nghề thấp, thiếu việc làm, chấp nhận số phận… thiếu
nguồn hỗ trợ từ họ hàng, cộng đồng…
- Về cộng đồng:
 Vai trò của chính quyền địa phương cũng như cộng đồng đối với gia đình
trong nỗ lực thoát nghèo;
 Những dịch vụ tại cộng đồng: thông tin về những chương trình, dịch vụ xã

hội có thể có ích cho quá trình giải quyết vấn đề của cá nhân, gia đình;
 Thông tin về các yếu tố như mối quan tâm của họ hàng, dòng tộc, bà con
hàng xóm nơi gia đình sinh sống;

19


 Thông tin về các tổ chức của địa phương như bệnh viện, các đoàn thể, chính
quyền,…
 Nguồn thu thập thông tin:
Để có thể thu thập được những thông tin về người cao tuổi khuyết tật, nhân
viên xã hội phải thực hiện tiếp cận nhiều lần và sử dụng các kỹ năng công tác xã hội
như: thiết lập mối quan hệ với người cao tuổi khuyết tật, kỹ năng vấn đàm, quan sát,
thu thập thông tin... Thông tin có thể thu thập từ nhiều nguồn khác nhau:
-

Các thành viên trong gia đình: thông qua trò chuyện, tâm sự, lời kể, quan sát

hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ. nhân viên xã hội cần hết sức lưu ý đến phương pháp và
cách thức khai thác thông tin nhằm khuyến khích họ cung cấp thông tin chính xác;
-

Từ các ông/ bà ở cùng phòng;

-

Từ Ban quản lý Khu, y, bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý chăm sóc nuôi dưỡng trực

tiếp;
 Kỹ năng thu thập thông tin:

-

Phỏng vấn (Vấn đàm): Phỏng vấn là cuộc đàm thoại giữa nhân viên xã hội

với một hay nhiều người nhằm mục đích thu thập, cung cấp thông tin cho việc trị
liệu hoặc tìm cách hỗ trợ người cao tuổi khuyết tật.
 Đặc điểm và yêu cầu của phỏng vấn: người thực hiện phỏng vấn có kỹ năng,
phương pháp, nếu không, sẽ không thu thập được thông tin chính xác; cần có sự
chuẩn bị chu đáo cho buổi phỏng vấn; chuẩn bị về mục đích, chương trình, thiết bị,
địa điểm, thời gian, tâm trạng trước khi phỏng vấn; đòi hỏi sự hợp tác tích cực của
hai phía, đặc biệt là người phỏng vấn; một buổi phỏng vấn được diễn ra theo thứ tự
các bước (chuẩn bị, giới thiệu, triển khai, kết thúc); sự thông đạt của buổi phỏng
vấn được thực hiện cả bằng lời và không lời.
 Các loại phỏng vấn: (1) Phỏng vấn tiểu sử: tìm hiểu các thông tin về tiểu sử
thân chủ, gia đình, hoàn cảnh kinh tế, xã hội, vấn đề học tập, sức khoẻ, quan hệ xã
hội…; (2) Phỏng vấn chẩn đoán: thu thập mọi thông tin chi tiết từ nhiều nguồn, liên
quan đặc biệt tới vấn đề của thân chủ để xác định, chuẩn đoán xem vấn đề gì thân
chủ đang gặp phải; (3) Phỏng vấn trị liệu: là loại phỏng vấn trong quá trình đối thoại
nhằm tạo ra những thay đổi bản thân hoặc môi trường của thân chủ.
20


 Trình tự một cuộc phỏng vấn:
(1) Chuẩn bị: Trước khi tiến hành phỏng vấn, nhân viên xã hội chuẩn bị chu
đáo mọi yếu tố như: Xác định mục đích của buổi phỏng vấn (để lấy thông tin, cung
cấp thông tin hay trị liệu…); chuẩn bị thời gian: thời gian đó có thuận tiện cho thân
chủ không, khoảng thời gian bao lâu; chuẩn bị địa điểm: khung cảnh như thế nào để
tạo sự thoải mái, kín đáo; phương tiện để lưu lại thông tin bút giấy; chuẩn bị nội
dung, câu hỏi sẽ sử dụng; tìm hiểu trước về thân chủ qua nguồn thông tin như lý
lịch, hồ sơ…;

(2) Bắt đầu vào buổi phỏng vấn: Chào hỏi thân chủ; giới thiệu cho thân chủ
biết mục đích của buổi nói chuyện; sử dụng những hành vi, cử chỉ để tạo không khí
thân thiện, dễ chịu; hỏi thăm thân chủ, xây dựng mối quan hệ thiện chí giữa nhân
viên xã hội và thân chủ, tạo lòng tin nơi thân chủ. Đối với thân chủ giai đoạn này có
thể chiếm nhiều thời gian hơn, đòi hỏi sự kiên trì, bình tĩnh;
(3) Giai đoạn triển khai: Đây là giai đoạn cốt lõi, quyết định để đạt mục đích
của buổi phỏng vấn. Trong giai đoạn này nhân viên xã hội cùng thân chủ thảo luận
về nội dung, tính chất và nguyên nhân của vấn đề, khuyến khích và khai thác thân
chủ hoặc gia đình thân chủ (nếu có) những thông tin cần thiết qua các dạng câu hỏi
khác nhau. Thái độ tỏ ra đồng cảm, cởi mở. Luôn định hướng cho thân chủ để cuộc
nói chuyện bám sát mục tiêu của buổi phỏng vấn. Thân chủ có thể bị phân tán bởi
các yếu tố tác động nên đôi khi không tập trung vào trả lời, nhân viên xã hội (người
thực hiện phỏng vấn) phải kiên trì, chấp nhận sự lơ lễnh đó và có thể thay đổi cách
khai thác qua các câu hỏi bằng trò chuyện, hình vẽ, trò chơi. Không nên cưỡng ép
thân chủ trả lời nếu họ không muốn;
(4) Giai đoạn kết thúc: Thông thường, buổi phỏng vấn kết thúc khi đạt được
mục đích, không nên kéo dài quá thời gian. Nếu thấy có những thông tin cần được
làm sáng tỏ thì nên sắp đặt buổi phỏng vấn khác. Khi buổi phỏng vấn sắp kết thúc
nên kiểm tra, tóm tắt lại những thông tin đã được trao đổi. Đối với những thông tin
mang tính riêng tư của thân chủ, nếu thấy cần thiết phải chia sẻ với người khác, nên
thảo luận với thân chủ để tạo lòng tin và sự hợp tác những lần sau. Sắp xếp thời
gian, địa điểm cho buổi gặp lần sau.
21


 Một số kỹ năng cần có trong phỏng vấn:
(1) Lắng nghe tích cực: Tập trung cao độ khi nghe (nghe và quan sát); phản
ánh lại tâm trạng và suy nghĩ của đối tượng (ví dụ nghe ông/ bà nói thì tôi hiểu ông/
bà đang rất buồn có phải không?); làm sáng tỏ để khẳng định sự hiểu đúng ý của đối
tượng; tránh phân tích, diễn giải nhiều;

(2) Quan sát: Theo dõi những biểu hiện nét mặt, hành vi, âm điệu, giọng nói;
ghi chú những khác biệt giữa những thông tin bằng ngôn ngữ và thông tin không lời,
sự khác nhau giữa những điều nói ra và ý nghĩa của nó;
(3) Cách giao tiếp, nói chuyện với thân chủ: Cách đưa ra những nhận xét,
những đề nghị; cách giới thiệu làm quen; cách gợi ý thông tin hay giải thích; tạo bầu
không khí thoải mái, làm đối tượng yên tâm, cảm thấy dễ chịu; giọng nói, âm điệu
bình tĩnh, thân mật; thể hiện sự đồng cảm;
(4) Cách đưa ra câu hỏi: Hỏi vừa phải, không hỏi liên tục; câu hỏi rõ ràng, dễ
hiểu, gắn liền với những đồ vật, con người gần gũi với thân chủ; sử dụng nhiều câu
hỏi mở để lấy thông tin;
(5) Định hướng, dẫn dắt buổi phỏng vấn: Đi theo đà của thân chủ song
không để đi quá xa hay lạc chủ đề mà phải bám sát mục tiêu; sử dụng câu hỏi để
định hướng đi vào chủ đề, mục tiêu; dẫn dắt và kiểm soát được câu chuyện.
-

Kỹ năng quan sát: Quan sát là quá trình sử dụng mọi khả năng của các giác

quan và các phương tiện kỹ thuật, tập trung và có định hướng vào một thân chủ nhất
định, nhằm tìm hiểu, nắm vững và đánh giá một cách khách quan, khoa học về
những khả năng, tính cách và những vấn đề liên quan đến thân chủ.
 Các đặc điểm của quan sát: Các thông tin thu thập từ quan sát nhằm làm
sáng tỏ một số vấn đề; trước khi quan sát ta suy nghĩ và ấn định sẵn những vấn đề
có liên quan như mục tiêu, đối tượng, thời gian, không gian, hành vi, các phương
tiện hỗ trợ...; quan sát phải hoàn toàn khách quan; người quan sát và thân chủ quan
sát bị chi phối càng ít càng tốt;
 Kết quả quan sát phải được ghi chép lại: Các kết quả của sự quan sát chủ
đích phải được ghi chép lại kỹ càng. Vì vậy biên bản, ghi chép của người quan sát
thường diễn tiến theo các tiêu chuẩn được định trước (dùng bảng biểu, thống kê...).
22



×