Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

Thực tiễn giải quyết ly hôn tại tòa án nhân dân quận hai bà trưng, thành phố hà nội theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (521 KB, 13 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH TÖ

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THEO LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000

Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Cừ

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số

: 60 38 30
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2012.

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Có thể tìm hiểu luận văn
tại Trung tâm thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung
tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội


HÀ NỘI - 2012

1

2


2.3.

MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng

2.3.1.
2.3.2.
2.4.

2.4.1.

MỞ ĐẦU

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN VÀ HẬU QUẢ

1
7


2.4.2.

PHÁP LÝ CỦA LY HÔN

1.1.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.3.
1.3.1.
1.3.2.

Khái niệm ly hôn
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về ly hôn
Quyền yêu cầu ly hôn là quyền tự do cá nhân của vợ,
chồng (quyền dân sự)
Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2000
Hậu quả pháp lý của ly hôn
Hậu quả pháp lý của ly hôn dưới góc độ pháp luật
Ảnh hưởng của việc ly hôn đối với gia đình và xã hội
Chương 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÕA

16
30
30
43
47

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

NĂM 2000

2.2.
2.2.1.
2.2.2.

3

60
68
88

88
96
99

LƯỢNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC LY
HÔN TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI
BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

PHỐ HÀ NỘI NHỮNG NĂM QUA THEO

Vài nét về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của quận Hai
Bà Trưng thành phố Hà Nội tác động đến quan hệ hôn
nhân và gia đình nói chung và ly hôn nói riêng
Thực trạng ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành
phố Hà Nội
Nhận xét chung
Tình hình ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành
phố Hà Nội được nghiên cứu trên một số phương diện


60

LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT

7
11
14

ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH

2.1.

Một số nguyên nhân cơ bản của ly hôn trên địa bàn quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Một số nguyên nhân khách quan
Một số nguyên nhân chủ quan
Thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
giải quyết các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội
Hậu quả pháp lý của ly hôn
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP

47

3.1.

3.1.1.

3.1.2.
3.2.
3.3.
3.3.1.
3.3.2.
3.3.3.
3.3.4.

Nhận xét chung về thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000 để giải quyết các vụ việc ly hôn tại Tòa
án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Thuận lợi
Khó khăn
Sự cần thiết phải hạn chế ly hôn
Một số giải pháp hạn chế ly hôn
Giải pháp trong lĩnh vực pháp luật
Giải pháp về mặt xã hội
Giải pháp từ mỗi cá nhân
Giải pháp kinh tế
KẾT LUẬN

52

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

52
53

4


99

100
102
106
108
109
111
115
115
117
119


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau.
Trong đó, gia đình được coi là sản phẩm của xã hội gắn liền với quá trình phát
sinh, phát triển của xã hội, ở bất kỳ chế độ xã hội nào thì gia đình đều thực
hiện những chức năng xã hội cơ bản của nó với vai trò là tế bào của xã hội.
Sớm nhìn thấy vai trò nền tảng của gia đình và mối liên hệ hữu cơ giữa
gia đình và xã hội, sinh thời Bác Hồ của chúng ta đã chỉ rõ: Quan tâm đến
gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì
gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Điều đó nói lên rằng phát
triển xã hội cùng với việc xây dựng xã hội mới phải quan tâm thường xuyên
đến việc củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình (HN&GĐ). Tuy nhiên, trong
những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự
bùng nổ của thời đại công nghệ thông tin và cùng với sự du nhập của nhiều
luồng văn hóa, tư tưởng, lối sống phương Tây đã làm thay đổi rất nhiều quan
điểm, lối sống và lý tưởng ở mỗi người, đặc biệt là trong quan hệ gia đình

biểu hiện rõ nhất là số vụ ly hôn ngày càng gia tăng.
Luật HN&GĐ năm 2000 của Nhà nước ta có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 01 năm 2001 đến nay đã được hơn 10 năm. Quá trình thi hành và
áp dụng Luật đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần xây dựng và củng
cố chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa, xây dựng chuẩn mực pháp
lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, xây dựng gia đình dân
chủ, hòa thuận, hạnh phúc và bền vững, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp
pháp cho các đương sự. Thực tế cho thấy, các tranh chấp từ quan hệ
HN&GĐ xảy ra rất nhiều, trong đó các vụ việc ly hôn chiếm trên 90%.

vợ và các con chưa thành niên. Tuy nhiên, vẫn còn một số vụ việc được giải
quyết theo quan điểm "khiên cưỡng", máy móc dẫn đến việc khiếu kiện kéo
dài qua nhiều cấp xét xử. Nguyên nhân thì có rất nhiều, trong đó có nguyên
nhân xuất phát từ các quy định của Luật HN&GĐ về chế định ly hôn (căn cứ
cho ly hôn, các trường hợp ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn) chưa được
cụ thể, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền chưa đầy đủ dẫn đến cách hiểu khi áp dụng Luật tại các cấp
TAND (trong đó có TAND quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội) chưa có
sự nhất quán. Nhiều vụ việc ly hôn có những tình tiết, nội dung giống nhau
nhưng khi áp dụng Luật giải quyết lại có những phán quyết khác nhau ở các
cấp Tòa án, nhất là việc chấp nhận quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng và
giải quyết hậu quả pháp lý của ly hôn (chia tài sản giữa vợ chồng, giải quyết
quyền lợi của con chưa thành niên…) còn có nhiều bất cập và vướng mắc.
Tình hình đó đòi hỏi việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng Luật giải quyết các
vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội là rất cần
thiết và có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn cũng như các nguyên
nhân, lý do ly hôn và các vấn đề liên quan đã được khá nhiều công trình
nghiên cứu khoa học quan tâm.

- Nhóm các luận văn, luận án:

Tại Tòa án nhân dân (TAND) quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
trong những năm qua cũng đã áp dụng Luật HN&GĐ giải quyết nhiều vụ
việc ly hôn. Nhìn chung các vụ việc được TAND quận Hai Bà Trưng giải
quyết theo quy định của pháp luật đạt hiệu quả cao với phương châm "đạt lý,
thấu tình" đảm bảo quyền lợi của các đương sự, nhất là quyền lợi của người

Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nhóm này gồm có: "Chế độ
tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000"
(Nguyễn Văn Cừ, Luận án Tiến sĩ Luật học, 2005); "Xác định chế độ tài sản
của vợ chồng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Nguyễn Hồng Hải, Luận
văn Thạc sĩ, 2002); "Chế định ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam"
(Vũ Thị hằng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, 2006); "Căn cứ pháp lý và thủ tục
giải quyết các vụ kiện ly hôn tại Tòa án Việt Nam" (Nguyễn Thị Túy Hoa,
Luận văn Thạc sĩ Luật học); "Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000" (Nguyễn Thị Lan, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, 2012)… Các công trình này có nghiên cứu liên quan đến

5

6


vấn đề chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn mà chưa nghiên cứu tổng thể về
vấn đề ly hôn nói chung.
- Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo:
Có một số công trình tiêu biểu như: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" (Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị
Hường, 2002, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); "Bình luận khoa học Luật

Hôn nhân và gia đình Việt Nam" (Nguyễn Ngọc Điện, 2002, Nxb Trẻ, thành
phố Hồ Chí Minh); "Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt
Nam" (Đinh Thị Mai Phương - Chủ biên, 2004, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội); "Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam" (Trường Đại học
Luật Hà Nội, 2008)… Những công trình khoa học này thường thiên về bình
luận, giải thích Luật HN&GÐ mà chưa nghiên cứu sâu về tình hình ly hôn,
hậu quả pháp lý của ly hôn và thực tiễn áp dụng Luật HN&GÐ giải quyết
các vụ án ly hôn cũng như chưa đề cập đến các giải pháp nhằm hạn chế ly
hôn ở một địa phương cụ thể.
- Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí:
Một số bài viết tiêu biểu phải kể đến như: "Căn cứ ly hôn trong Cổ luật
Việt Nam" (Nguyễn Thị Thu Vân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
8/2005); "Áp dụng quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 để giải quyết" (Nguyễn Văn Chung, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 21/2008);
"Bắt buộc hòa giải cụ án ly hôn ở cơ sở là không phù hợp với pháp luật hiện
hành" (Lê Thu Hà, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2007); "Cần có hướng dẫn
thống nhất về thụ lý yêu cầu ly hôn hay không công nhận vợ chồng và thủ
tục giải quyết" (Đoàn Đức Lương, Tạp chí Kiểm sát, số 9/2005)… Các bài
viết này đều nghiên cứu phản ánh một số nội dung liên quan đến vấn đề ly
hôn, tuy nhiên cũng chưa phản ánh được một cách toàn diện và đầy đủ về
thực trạng ly hôn tại một địa phương cụ thể.
Đề tài: "Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000" là
công trình khoa học nghiên cứu cụ thể về vấn đề ly hôn, áp dụng pháp luật
giải quyết ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn ở một địa phương cụ thể.

7

3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Về mục đích:

Luận văn nghiên cứu về tình hình ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp
dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 trong việc giải quyết các vụ việc ly
hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng.
- Về nhiệm vụ của luận văn:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ly hôn và căn cứ cho ly hôn, cơ
sở và ý nghĩa của việc quy định căn cứ ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn
theo Luật HN&GĐ năm 2000.
+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng chế định ly hôn theo Luật HN&GĐ
năm 2000 để giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội.
+ Đánh giá những ưu điểm và tích cực khi giải quyết các vụ việc ly hôn
tại TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
+ Đánh giá chất lượng áp dụng Luật HN&GĐ năm 2000 trong việc giải
quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng từ đó tìm hiểu một số
những vướng mắc, hạn chế, nguyên dẫn đến ly hôn.
+ Đề xuất và luận chứng những quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc ly hôn hiện nay tại TAND quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân, vì dân đặc biệt là các quan điểm của Đảng chỉ đạo về cải cách tư pháp.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp của triết học duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử mácxít, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực

8



tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể. Ngoài ra
còn sử dụng các phương pháp của bộ môn khoa học khác như thống kê, so sánh.
5. Những đóng góp của luận văn

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao
chất lượng giải quyết các vụ việc ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội.

- Luận văn phân tích khái niệm, căn cứ ly hôn trong pháp Luật HN&GĐ
Việt Nam qua các thời kỳ và có sự so sánh để đưa ra những nhận định và
đánh giá về căn cứ ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn.
- Đánh giá thực trạng chất lượng áp dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm
2000 trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội trong những năm qua.
- Đề xuất giải pháp phù hợp thực tiễn hiện nay nhằm nâng cao chất
lượng áp dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 của TAND quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn.
6. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận
phục vụ yêu cầu thực tiễn của việc không ngừng nâng cao chất lượng áp
dụng Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 trong hoạt động xét xử nói chung
và trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng nói
riêng trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Kết quả nghiên cứu của
luận văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy khoa học pháp lý nói chung và đào tạo chức danh tư pháp nói
riêng. Nội dung của luận văn cũng có thể góp phần xây dựng kỹ năng nghề
nghiệp của người Thẩm phán, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đặc biệt là đối với
các Thẩm phán dân sự tại TAND quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội

trong việc giải quyết các vụ việc ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000.

Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LY HÔN
VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA LY HÔN
1.1. Khái niệm ly hôn
Ly hôn là việc chấm dứt hôn nhân, là kết quả của hành vi có ý chí của
vợ chồng hoặc một bên vợ hoặc một bên chồng và có giá trị pháp lý khi
được Tòa án có thẩm quyền công nhận. Đây có thể coi là biện pháp cuối
cùng để chấm dứt tình trạng hôn nhân không thể cứu vãn được. Theo quy
định của Luật HN&GĐ năm 2000 "Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do
Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả
hai vợ chồng" (khoản 8 Điều 8). Theo đó, ly hôn là hành vi có ý chí và có lý
trí của vợ chồng, trong quan hệ ly hôn không có chủ thể nào khác có quyền
yêu cầu ly hôn ngoài hai vợ chồng.
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về ly hôn

Chương 2: Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội những năm qua theo Luật Hôn nhân và gia đình
Việt Nam năm 2000.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hôn nhân nói chung, ly hôn
nói riêng là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp. Pháp luật xã hội chủ nghĩa
(XHCN) thừa nhận quan hệ hôn nhân xây dựng trên cơ sở tình yêu chân
chính, tự do và tự nguyện của đôi nam nữ, điều này được thể hiện trong việc
kết hôn cũng như ly hôn. Có thể nói, quyền tự do ly hôn xuất phát từ bản
chất của chế độ xã hội. Ở chế độ XHCN là chế độ duy nhất xây dựng một
nền dân chủ thực sự mà trong đó quyền lợi của tất cả mọi người thuộc các
tầng lớp khác nhau đều được đảm bảo. Ly hôn chính là sự giải phóng cho vợ
chồng khi bản chất cuộc hôn nhân không tồn tại trên thực tế và Nhà nước

cho phép họ ly hôn. Điều này không những đem lại lợi ích cho cả vợ chồng
mà còn bảo vệ được lợi ích của Nhà nước và xã hội.

9

10

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Lý luận chung về ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn.


1.2.1. Quyền yêu cầu ly hôn là quyền tự do cá nhân của vợ, chồng
(quyền dân sự)

hôn; 2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất
tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn".

Khi nói đến tự do hôn nhân tức là nói đến hai mặt: Tự do kết hôn và tự
do ly hôn nhưng thực ra kết hôn là mặt chủ yếu, còn ly hôn chỉ là mặt trái
không phổ biến. Tuy vậy, ly hôn vẫn là một mặt không thể thiếu được của hôn
nhân tự do, Nhà nước chủ trương hôn nhân tự do cũng như đã công nhận quyền
ly hôn chính đáng của vợ chồng, việc ly hôn chỉ được pháp luật công nhân khi
đáp ứng một điều kiện luật định, Điều đó không ngoài mục đích để xây dựng và
củng cố gia đình hạnh phúc, trong đó vợ chồng yêu thương nhau, kính trọng
nhau, giúp đỡ nhau cùng lao động sản xuất và nuôi dạy con cái. Tự do kết
hôn chính là đảm bảo cho hai bên nam nữ yêu nhau có quyền xây dựng gia
đình hạnh phúc trên cơ sở tình yêu chân chính. Nhưng vì nguyên nhân nào
đó mà giữa vợ chồng không thể điều hòa được, nẩy sinh những mâu thuẫn

trầm trọng thì ly hôn cũng là một điều không thể thiếu trong xã hội.

Như vậy, theo quy định trên có hai căn cứ cho ly hôn: Tình trạng trầm
trọng, đời sống chung không thể thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được. Pháp luật quy định căn cứ ly hôn hết sức khái quát. Điều đó có nghĩa là
Tòa án chỉ cho phép vợ chồng ly hôn khi tình trạng vợ chồng đã trầm trọng,
đời sống chung không thể tiếp tục, mục đích của hôn nhân không đạt được.

1.2.2. Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000
1.2.2.1. Khái niệm căn cứ ly hôn
Nhà nước XHCN, giải quyết ly hôn là dựa vào thực chất của quan hệ vợ
chồng để từ đó đánh giá một cách khách quan thực trạng quan hệ hôn nhân.
Nhà nước XHCN Việt Nam quy định căn cứ ly hôn mang tính khoa học,
phản ánh thực chất mối quan hệ vợ chồng đã bị phá vỡ không thể tồn tại
được nữa. Việc Tòa án giải quyết cho ly hôn chính là công nhận một thực tế
trong mối quan hệ vợ chồng là không thể cải thiện được.
Mặc dù có quy định khác nhau nhưng pháp luật của mỗi nhà nước trong
từng thời kỳ quy định về căn cứ ly hôn đều thể hiện ý chí của Nhà nước cho
phép chấm dứt quan hệ vợ chồng trong những điều kiện nào để Nhà nước có
thể kiểm soát việc ly hôn, qua đó có thể đảm bảo lợi ích của gia đình và con
cái, cũng như sự ổn định trong xã hội.

1.3. Hậu quả pháp lý của ly hôn
1.3.1. Hậu quả pháp lý của ly hôn dưới góc độ pháp luật
1.3.1.1. Quan hệ nhân thân giữa vợ chồng
Theo nguyên tắc chung, khi bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có
hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồng được chấm dứt. Người vợ, chồng đã ly
hôn có quyền kết hôn với người khác. Sau khi ly hôn, các quyền và nghĩa vụ
nhân thân giữa vợ chồng sẽ chấm dứt hoàn toàn, dù vợ chồng có thỏa thuận
hay không thỏa thuận được Tòa án cũng sẽ quyết định. Nghĩa là những quyền

và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phát sinh khi kết hôn, vợ chồng có nghĩa
vụ thương yêu kính trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau tiến bộ, nghĩa vụ chung thủy
giữa vợ chồng, quyền đại diện cho nhau… sẽ đương nhiên chấm dứt. Một số
quyền nhân thân khác mà vợ chồng với tư cách là công dân thì không ảnh
hưởng, không thay đổi dù vợ chồng ly hôn (như họ tên, nghề nghiệp…).
1.3.1.2. Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Trước hết, việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn sẽ do vợ chồng tự
thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được, vợ, chồng có quyền yêu cầu Tòa án
giải quyết. Nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định: "1. Tòa án xem xét yêu
cầu ly hôn, nhưng xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể
kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án quyết định cho ly

Đối với tài sản riêng của mỗi bên: Trước hết theo nguyên tắc được quy
định tại Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 thì việc chia tài sản khi ly hôn do
các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải
quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó (khoản 1
Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000). Nếu vợ chồng không thỏa thuận được với
nhau thì sẽ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

11

12

1.2.2.2. Nội dung căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam


Đối với tài sản chung của vợ chồng: Theo quy định tại Điều 95 Luật
HN&GĐ năm 2000 thì việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn do

các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải
quyết. Về nguyên tắc, phần của vợ, chồng trong khối tài sản chung là ngang
bằng nhau, do đó khi vợ chồng ly hôn thì tài sản chung sẽ được chia đôi. Tuy
nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên và lợi ích khác, trong từng
trường hợp cụ thể tài sản chung của vợ chồng không thể chia đôi mà còn
phải tuân thủ theo các nguyên tắc khác.
1.3.1.3. Giải quyết cấp dưỡng giữa hai vợ chồng khi ly hôn
Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng phát sinh từ mối quan
hệ hôn nhân hợp pháp được xuất phát từ thời điểm kết hôn. Quyền và
nghĩa vụ cấp dưỡng là một trong những quyền và nghĩa vụ tài sản gắn
liền với nhân thân của vợ chồng. Pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo
đảm thực hiện quan hệ cấp dưỡng giữa vợ chồng kể cả trong trường hợp
vợ chồng ly hôn.
Điều 60 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: "khi ly hôn, nếu bên khó
khăn túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có
nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình".
1.3.1.4. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con sau khi ly hôn
Luật HN&GÐ năm 2000 quy định vợ, chồng thỏa thuận về người trực
tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con;
nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên
trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín
tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Và về nguyên tắc, con
dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa
thuận khác.

1.3.2. Ảnh hưởng của việc ly hôn đối với gia đình và xã hội
1.3.2.1. Ảnh hưởng tích cực của ly hôn
Ly hôn giúp giải phóng chính bản thân vợ chồng và các thành viên khác
trong gia đình và đặc biệt là con cái của họ thoát khỏi cuộc sống chung của
họ đầy mâu thuẫn và bế tắc.

Ly hôn sẽ giúp một trong hai bên hoặc cả hai bên vợ chồng thoát khỏi
sự trói buộc của chính bản thân, thoát ra khỏi mối quan hệ giả dối, hình thức
mà trong đó cá nhân mỗi thành viên đang phải sống và "chịu đựng" lẫn
nhau, không niềm vui, không hạnh phúc thậm chí còn bị bóp méo những tư
tưởng về cuộc sống gia đình, mất dần đi những niềm tin, niềm say mê, yêu
thích cuộc sống, niềm hy vọng vào một tương lai tươi đẹp đang chờ phía trước.
1.3.2.2. Ảnh hưởng tiêu cực của ly hôn
Họ đã làm tiêu hao đáng kể công quỹ của nhà nước.
Nhưng nghiêm trọng hơn là họ đã và đang gieo rắc căn bệnh tâm lý cho con
cái mình đó là bệnh trầm uất, bệnh nghi kỵ, mất niềm tin vào cuộc sống lứa đôi…
Ly hôn không chỉ ảnh hưởng đến vợ, chồng và các thành viên khác
trong gia đình.
Với những phân tích như trên, rõ ràng ly hôn là một vấn đề hết sức phức
tạp đòi hỏi khi tiếp cận phải chú ý ở nhiều phương diện mới mong có cái
nhìn toàn diện hiểu được bản chất của ly hôn.
Chương 2
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI NHỮNG NĂM QUA
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000

Ngoài ra, để bảo vệ quyền và lợi ích của con đặc biệt là con chưa
thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,
không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, pháp luật
quy định sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc,
giáo dục, nuôi dưỡng.

2.1. Vài nét về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của quận Hai Bà
Trưng thành phố Hà Nội tác động đến quan hệ hôn nhân và gia đình nói
chung và ly hôn nói riêng


13

14

Nhìn chung, trong giai đoạn hiện nay dưới sự tác động của nền kinh tế,
văn hóa, xã hội thì các giá trị tiên tiến và hiện đại được tiếp nhận có chọn


lọc, các giá trị truyền thống mặc dù đang được phục hồi và bảo lưu thông
qua sự truyền bảo của thế hệ trước cho thế hệ sau và được bổ sung những
yếu tố mới cho phù hợp với xã hội nói chung và thời đại nói riêng nhưng bên
cạnh đó cũng còn nhiều mặt trái mà xã hội cần phải quan tâm đó là vấn đề ly
hôn của thanh niên quận Hai Bà Trưng có vẻ: "Đơn giản và nhẹ nhàng" hơn
khi một bên hoặc cả hai bên vợ chồng đưa ra lý do ly hôn như quan điểm, lối
sống khác biệt nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung hoặc một bên
vợ hoặc chồng cho rằng bên kia không chung thủy, "bồ bịch" hoặc do bạo lực
gia đình từ người vợ hoặc chồng… Trước thực trạng trên, một yêu cầu lớn
được đặt ra cho quận Hai Bà Trưng đó chính là cần có một sự quan tâm thỏa
đáng bên cạnh việc chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch cũng cần
phải quan tâm đến việc giữ gìn và phát huy truyền thống gia đình, giáo dục
tầng lớp trẻ sống có trách nhiệm với chính bản thân, với gia đình và xã hội.
2.2. Thực trạng ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
2.2.1. Nhận xét chung
Quận Hai Bà Trưng là một quận nội thành của thành phố Hà Nội với địa
bàn rộng, dân cư đông lại trong quá trình đô thị hóa nhanh, tình hình kinh tế
phát triển năng động và đa dạng. Bên cạnh những thuận lợi để phát triển
kinh tế, trên địa bàn quận vẫn còn tồn tại nhiều các tệ nạn xã hội, các vụ án
về HN&GĐ mà TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết nhiều hơn so
với một số đơn vị quận, huyện khác trong địa bàn thành phố Hà Nội.
Trong những năm gần đây, số lượng các vụ việc về ly hôn được TAND

quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết tương đối lớn và ngày càng có chiều
hướng gia tăng với các nguyên nhân mà các đương sự đưa ra ngày càng đa
dạng hơn. Có thể thấy được điều này qua số liệu sau:
Bảng 2.1: Thống kê các vụ việc về ly hôn được TAND
quận Hai Bà Trưng thụ lý và giải quyết từ năm 2008 đến năm 2011
Năm
Số vụ án thụ lý (vụ)

2008
516

2009
556

2010
614

2011
738

Nguồn: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Báo cáo tổng kết ngành
Tòa án từ năm 2008 đến năm 2011, Hà Nội

15

2.2.2. Tình hình ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố
Hà Nội được nghiên cứu trên một số phương diện
2.2.2.1. Về chủ thể
2.2.2.2. Về độ tuổi ly hôn
Bảng 2.3: Thống kê độ tuổi ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

từ năm 2008 đến năm 2011
Năm
Độ tuổi
18  30 tuổi
30  50 tuổi
50 tuổi trở lên

2008

2009

2010

2011

37,5 %
52,9 %
9,6 %

38,1 %
50,1 %
11,8 %

35,3 %
56 %
8,7 %

34,5 %
54 %
11,5 %


Nguồn: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Báo cáo tổng kết ngành
Tòa án từ năm 2008 đến năm 2011, Hà Nội
2.2.2.3. Về thành phần xã hội
Trong các báo cáo thống kê số liệu của TAND quận Hai Bà Trưng cũng
cho thấy trong tình hình ly hôn về thành phần xã hội, việc ly hôn diễn ra ở
mọi đối tượng, thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội như: Cán bộ, công
chức, viên chức, công nhân, hưu trí, buôn bán dịch vụ, nội trợ… Qua một
cuộc điều tra xã hội nhỏ và cuộc phỏng vấn tự do tại 3 phường Bạch Mai,
Phạm Đình Hổ, Ngô Thì Nhậm, kết quả như sau:
Bảng 2.4: Số lượng người được phỏng vấn tự do của tác giả luận văn
thực hiện tại 3 phường Bạch Mai, Phạm Đình Hổ, Ngô Thì Nhậm
quận Hai Bà trưng
Nghề nghiệp

Phường
Bạch Mai

Cán bộ, viên chức
Công nhân
Buôn bán - dịch vụ
Nội trợ
Hưu trí
Tổng số

7
4
5
2
3

21

Phường
Phạm
Đình Hổ
10
5
6
2
2
25

Nguồn: Tác giả luận văn.

16

Phường
Phỏng
Ngô Thị
Tổng số
vấn tự do
Nhậm
8
8
33
5
2
16
7
1

19
3
1
8
2
0
7
25
12
83


2.3. Một số nguyên nhân cơ bản của ly hôn trên địa bàn quận Hai
Bà Trưng, thành phố Hà Nội
2.3.1. Một số nguyên nhân khách quan
2.3.1.1. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quận Hai Bà Trưng làm một trong số những quận nội thành của Hà Nội
có địa bàn rộng, dân cư tập trung đông đúc lại là quận đang trong quá trình
đô thị hóa nhanh, năng động và đa dạng.
Có thể nói, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo đó là sự
phát triển của công nghệ thông tin cũng như nhiều vấn đề khác, đã làm việc
tìm hiểu, yêu đương và kết hôn có thể thực hiện một cách dễ dàng, nhưng
chính do việc không tìm hiểu kỹ thông tin về người bạn đời đã làm cho
nhiều người rơi vào tình cảnh khóc dở mếu dở, tình trạng kết hôn chưa bao
lâu đã ly hôn luôn diễn ra.
2.3.1.2. Tác động của cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường cũng làm thay đổi quan niệm về HN&GĐ. Họ có
những suy nghĩ thoáng hơn về kết hôn cũng như ly hôn khi cuộc sống hôn
nhân không còn hạnh phúc. Do không còn tình cảm với nhau nữa nên giữa
vợ hoặc chồng lại có chiều hướng đem chồng (vợ) của mình để so sánh chê

bai không bằng vợ (chồng) của người khác, không biết cách làm giàu, làm ra
kinh tế để nuôi sống gia đình… dẫn đến những mâu thuẫn và rạn nứt trong
quan hệ vợ chồng như những cuộc bất đồng về quan điểm sống, về tính cách
không hợp nhau dẫn đến những va chạm như chồng đánh đập ngược đãi vợ,
vợ thiếu sự quan tâm chăm sóc chồng con hoặc thiếu sự chung thủy của một
hoặc hai bên vợ chồng.
2.3.1.3. Về tình yêu thực dụng
Đây cũng là một trong những nguyên nhân gián tiếp làm tan vỡ hạnh
phúc HN&GÐ… Tình yêu thực dụng ở đây được hiểu là hai bên nam và nữ
đến với nhau không xuất phát từ tình yêu chân chính với đúng nghĩa của nó
là tình cảm thực sự của trái tim về thương yêu, tôn trọng lẫn nhau và cùng
nhau hướng tới một mái ấm gia đình hạnh phúc. Hai bên nam nữ nếu không
xuất phát từ tình cảm trên thì tình yêu đôi lứa ở đây được hiểu không đúng

17

nghĩa với bản chất của nó mà là hành vi có tính chất vụ lợi được núp dưới
hình thức tình cảm hôn nhân để đạt được mục đích tầm thường và thấp hèn.
2.3.1.4. Về tình yêu cảm tính
Tình yêu cảm tính là một nguyên nhân gián tiếp của tình trạng ly hôn.
Thực tế cho thấy không chỉ có ở thanh niên quận Hai Bà Trưng nói riêng mà
ngay cả thanh niên ở Hà Nội nói chung cho thấy họ đến với nhau, tìm hiểu
một thời gian không nhiều chỉ một, hai tháng đã đi đến kết hôn. Điều đó xuất
phát từ tình yêu hời hợt, nông cạn nhất thời của hai bên. Họ chỉ thiên về hình
thức bên ngoài và yêu theo cảm tính như người đó đẹp trai, xinh gái hay có
duyên, vui tính… Hay một số nam thanh niên đến với tình yêu như một sự
thách thức có người yêu để bằng bạn bằng bè, coi nó như một món ăn tinh thần.
2.3.1.5. Các nguyên nhân khách quan khác
Ngoài những tác động của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, ảnh
hưởng của cơ chế thị trường, tình yêu thực dụng hay tình yêu cảm tính thì

tình trạng ly hôn diễn ra ngày càng nhiều còn xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác, đó có thể là do sự khác biệt về tôn giáo, nguồn gốc gia đình, về
lối sống hay một số gia đình vẫn còn mang tư tưởng phong kiến, tập quán lạc
hậu, mâu thuẫn giữa mẹ chồng, nàng dâu, hay giữa anh, chị, em chồng với
chị em dâu, hay giữa những chị em dâu với nhau, thậm chí do điều kiện hoàn
cảnh của chiến tranh, lịch sử để lại… cũng là một trong những nguyên nhân
làm phát sinh tình trạng ly hôn hiện nay trên địa bàn Quận.
2.3.2. Một số nguyên nhân chủ quan
Theo báo cáo tổng kết của TAND quận Hai Bà Trưng năm 2010 -2011
thì ly hôn trên địa bàn quận tập trung trên các nguyên nhân chủ quan sau:
mâu thuẫn gia đình, bị đánh đập, ngược đãi; ngoại tình; bệnh tật, không có
con; do nghiện ma túy, rượu chè, cờ bạc; mâu thuẫn kinh tế…
Như vậy, các hình thức biểu hiện của mâu thuẫn trong gia đình rất đa dạng,
phức tạp, từ nặng đến nhẹ, từ thái độ khó chịu, im lặng, giận dỗi đến phản ứng ra
mặt, sử dụng bạo lực tinh thần, lời nói mắng chửi, cãi nhau đến bạo lực thân thể,
đánh đập nhau. Các hình thức này biểu hiện cũng tùy thuộc vào trình độ học
vấn, tầng lớp xã hội, môi trường sinh sống của những người có liên quan.

18


2.3.2.1. Bạo lực gia đình
Vấn đề bạo lực gia đình cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao về một trong
những nguyên nhân dẫn đến ly hôn ở quận Hai Bà Trưng. Qua số liệu tổng
kết năm 2010 và năm 2011 cho thấy nguyên nhân dẫn đến ly hôn về lý do bị
đánh đập, ngược đãi của năm 2010 là 42 vụ, còn năm 2011 là 54 vụ án. Bạo
lực gia đình ở đây được đề cập đến có thể là bạo lực về vật chất hay bạo lực
về tinh thần. Trên thực tế thì bạo lực tinh thần được biểu hiện ở những hành
vi như thóa mạ, sỉ nhục hay bỏ rơi nạn nhân, không một chút quan tâm đoái
hoài đến họ, cấm đoán cách ly không cho gặp con cái… Bạo lực được hiểu

có thể là bạo lực giữa người chồng đối với người vợ hoặc có khi là ngược lại
là hành vi bạo lực của người vợ đối với người chồng.
2.3.2.2. Ngoại tình
Bên cạnh nạn bạo lực trong gia đình, ngoại tình cũng là một trong những
nguyên nhân cơ bản dẫn đến ly hôn. Nguyên nhân ngoại tình dẫn đến tình trạng
ly hôn chiếm tỷ lệ tương đối cao, nếu như năm 2010 theo báo cáo thống kê số
liệu của TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý là 80 vụ án thì đến năm 2011 số
vụ án ly hôn với nguyên nhân ngoại tình đã gia tăng lên đến 92 vụ trên tổng
số 738 vụ án ly hôn mà TAND quận Hai Bà Trưng đã thụ lý và giải quyết.
2.3.2.3. Nguyên nhân kinh tế
Hiện nay tình trạng ly hôn xuất phát từ nguyên nhân kinh tế ngày càng
có xu hướng gia tăng và trong tương lai không xa nó sẽ chiếm tỷ lệ cao trong
năm 2011, TAND quận Hai Bà Trưng đã thụ lý 43 vụ ly hôn có mâu thuẫn
liên quan đến kinh tế. Kinh tế tăng trưởng, thu nhập cao làm cải thiện cuộc
sống gia đình nhưng đồng thời trong nhiều gia đình chính yếu tố kinh tế lại
là nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn gia đình hay nói cách khác đó là "sự va
chạm đồng tiền và cách làm ăn".

trạng này đều phải tiếp nhận sự bất ổn về nhiều mặt trong gia đình "rượu vào
thì lời ra", các hành vi, quan hệ ứng xử nói chung của kẻ nghiện rượu dễ trở
lên mất thăng bằng thiếu tế nhị và nặng nề thô bạo.
Theo Báo cáo tổng kết năm 2010 của TAND quận Hai Bà Trưng số vụ
án ly hôn thụ lý về nguyên nhân do cờ bạc, rượu chè, nghiện hút là 41 vụ và
năm 2011 là 66 vụ án. Có thể nói, tệ nạn xã hội không chỉ ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe, đạo đức con người, ảnh hưởng đến trật tự xã hội mà nó còn
làm tan vỡ hạnh phúc gia đình.
2.3.2.5. Xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự
Trong những nguyên nhân thuộc nhóm nguyên nhân xuất phát từ bản
thân người vợ, chồng thì việc bị xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình
sự cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc ly hôn. Trường hợp

một bên vợ hoặc chồng bị xứ lý trách nhiệm hình sự thì cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến cuộc sống của gia đình bởi khi bị xử lý hình sự thì những
người thân của họ cũng phải gánh chịu con mắt không thiện cảm của mọi
người xung quanh, muốn rũ bỏ cái tiếng là gia đình có người bị pháp luật
trừng trị, không muốn con cái mình chịu tiếng là có cha (mẹ) là người bị
tù… Tất cả những lý do đó khiến họ nhanh chóng đi đến kết cục ly hôn, nhanh
chóng quên đi tình nghĩa vợ chồng chỉ vì tính ích kỷ, vị kỷ của cá nhân.
2.3.2.6. Bệnh tật, không có con

Tệ nạn xã hội là hiện tượng bao gồm những hành vi sai lệch với chuẩn
mực xã hội, vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả xấu về mọi mặt đối
với đời sống xã hội, có nhiều loại tệ nạn nhưng rượu chè, cờ bạc, nghiện hút
là các tệ nạn xã hội mà phần lớn các gia đình có chồng hoặc vợ rơi vào tình

Bên cạnh các nguyên nhân kể trên, thì việc một bên bị bệnh, không có
con hoặc do hai vợ chồng không có khả năng có con cũng là một trong
những lý do được đương sự trình bày để xin ly hôn. Trong xã hội hiện đại
ngày nay thì tình trạng vô sinh của phụ nữ và đàn ông ngày càng gia tăng
điều đó dẫn đến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Điều đó cho thấy hạnh phúc
của các gia đình sẽ được gắn chặt nhiều hơn đó chính là đứa trẻ, là sợi dây
gắn kết tình cảm vợ chồng, duy trì hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, trên thực
tế cũng có rất nhiều cặp vợ chồng vì lý do sức khỏe của bên một bên, họ mắc
phải một số bệnh nan y hay bệnh tâm thần thì bên kia cũng vẫn làm đơn xin
ly hôn để sớm ổn định cuộc sống mới vì họ cho rằng mục đích cuộc hôn
nhân giữa hai bên không đạt được.

19

20


2.3.2.4. Một bên tham gia các tệ nạn xã hội


2.3.2.7. Các nguyên nhân chủ quan khác
Bên cạnh những nguyên nhân kể trên, qua tìm hiểu các lý do ly hôn tại
TAND quận Hai Bà Trưng Hà Nội cho thấy các nguyên nhân dẫn đến ly hôn rất
đa dạng, bên cạnh các nguyên nhân kể trên thì việc tình trạng ly hôn còn xuất
phát từ nhiều nguyên khác như: Sự ích kỷ cá nhân của vợ hoặc chồng trong cuộc
sống chung dẫn đến sự xói mòn và tan vỡ hạnh phúc gia đình dẫn đến ly hôn; tính
tình không phù hợp hay là khả năng kém thích ứng giữa vợ và chồng bất đồng
trong việc nuôi dạy con cái; thời gian tìm hiểu nhau quá ngắn hay vốn kiến thức
hiểu biết trong cuộc sống gia đình của vợ chồng có sự khác biệt chênh lệch nhau...
2.4. Thực tiễn áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 giải
quyết các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội
2.4.1. Các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng,
thành phố Hà Nội
2.4.1.1. Áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
TAND quận Hai Bà Trưng khi giải quyết các vụ việc ly hôn đều áp
dụng Luật HN&GĐ năm 2000 giải quyết dựa trên nguyên tắc tự do hôn
nhân, trong đó đảm bảo quyền ly hôn của vợ chồng. Trong đó áp dụng quy
định tại Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị quyết số 02/2000/NQHĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, bởi vậy khi có
các căn cứ luật định: Tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích hôn nhân không đạt được và vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mất
tích, TAND sẽ giải quyết cho các bên được ly hôn.
2.4.1.2. Đường lối giải quyết các trường hợp ly hôn tại Tòa án nhân
dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

- Thuận tình ly hôn
Thuận tình ly hôn là trường hợp cả hai vợ chồng cùng yêu cầu chấm dứt

hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng.
Khi vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, TAND quận Hai Bà Trưng thụ lý đơn
và tiến hành thủ tục hòa giải, mục đích là để vợ chồng rút đơn yêu cầu ly hôn và
đoàn tụ với nhau. Trường hợp sau khi hòa giải các bên đương sự rút đơn thì
TAND quận Hai Bà Trưng sẽ áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ
luật Tố tụng dân sự và ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Trường hợp sau
khi hòa giải các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm ly hôn thì TAND quận
Hai Bà Trưng sẽ áp dụng Điều 186, Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự và ra
quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự.
- Ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu
Theo quy định tại Điều 91 Luật HN&GĐ năm 2000: "Khi một bên vợ
hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án
xem xét, giải quyết ly hôn". Về trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên
vợ hoặc chồng, Nghị quyết số 02/2000/HĐTP hướng dẫn tại điểm b, mục 10
như sau: Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Tòa án phải tiến
hành hòa giải. Nếu hòa giải đoàn tụ không thành mà người yêu cầu ly hôn
rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án áp dụng Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân
sự ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Trong trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành thì Tòa án lập biên bản
hòa giải đoàn tụ không thành, đồng thời tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án
ly hôn theo thủ tục chung.
2.4.2. Hậu quả pháp lý của ly hôn

Trong quá trình thụ lý và giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai
Bà Trưng luôn xác định rõ quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân của vợ
chồng. Dù ly hôn do một bên yêu cầu hay thuận tình ly hôn thì khi giải quyết ly
hôn TAND quận Hai Bà Trưng vẫn phải đảm bảo đúng đường lối vừa tôn trọng
quyền ly hôn của vợ chồng, vừa đảm bảo giải quyết các vụ án ly hôn một
cách chính xác, không mắc sai lầm trong quyết định cho phép vợ chồng ly hôn.


Ly hôn ảnh hưởng trực tiếp đến hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng đến lợi
ích của vợ chồng, của các con và lợi ích của xã hội. Chính vì vậy khi giải
quyết ly hôn TAND quận Hai Bà Trưng luôn phải thận trọng để có những
quyết định đúng đắn, tránh những sai sót dẫn đến Tòa án cấp trên sửa hoặc
hủy án. Về mặt pháp lý, khi Tòa án quyết định cho vợ chồng ly hôn thường
dẫn tới các hậu quả như: về quan hệ nhân thân vợ chồng, chia tài sản của vợ
chồng, nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con sau khi ly hôn, nghĩa vụ cấp
dưỡng của vợ chồng khi ly hôn.

21

22


Chương 3
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC LY HÔN
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
3.1. Nhận xét chung về thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 để giải quyết các vụ việc ly hôn tại Tòa án nhân dân
quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
3.1.1. Thuận lợi
Trong những năm qua TAND quận Hai Bà Trưng luôn đảm bảo 100% số
thẩm phán tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ do TANDTC tổ chức cho các
thẩm phán Tòa án địa phương và giới thiệu các văn bản mới về luật HN&GĐ và
các văn bản pháp luật có liên quan trong việc giải quyết các vụ án về HN&GĐ.
Trong công tác xét xử, TAND quận Hai Bà Trưng đã làm cố gắng áp
dụng đúng các quy định của pháp luật HN&GĐ, pháp luật dân sự và áp dụng
thực hiện những hướng dẫn của TAND tối cao trong việc áp dụng giải quyết
các vụ án ly hôn cụ thể.

3.1.2. Khó khăn

Hậu quả mà ly hôn để lại trước hết là sự khủng hoảng tinh thần của các
thành viên trong gia đình. Trong lòng họ những vết thương hầu như không
bao giờ lành sẹo. Ly hôn gây ra sự đảo lộn trong cuộc sống. Sự xáo trộn
trong sinh hoạt sẽ nẩy sinh trong tâm hồn họ những phản ứng tiêu cực dẫn
tới việc chống đối lại cuộc sống hiện tại.
3.3. Một số giải pháp hạn chế ly hôn
3.3.1. Giải pháp trong lĩnh vực pháp luật
Thứ nhất, cần cụ thể hóa hơn nữa các quy định của pháp luật.
Thứ hai, hoàn chỉnh hệ thống chính sách pháp luật nhất là Luật HN&GĐ
để có thể vận dụng một cách có hiệu quả trong đời sống, hạn chế bớt những
hậu quả mà ly hôn đem lại là điều hết sức quan trọng, đặc biệt là chính sách
trợ giúp những gia đình sau ly hôn cũng là biện pháp ở tầm vĩ mô.
Thứ ba, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền pháp luật HN&GĐ
cũng như các ngành Luật khác khi ban hành đều có hiệu lực trên phạm vi
toàn quốc.
Thứ tư, cần đưa yếu tố lỗi là một trong những điều kiện để ly hôn mà
trước đó pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định.

Bên cạnh những thuận lợi thì việc giải quyết của TAND quận gặp không ít
khó khăn. Trên thực tế, mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp
luật HN&GĐ điều chỉnh vấn đề ly hôn nhưng do tác động của nhiều nguyên
nhân khác nhau nên các án kiện và ly hôn ngày càng gia tăng và phức tạp về
tính chất tranh chấp như chia tài sản, cấp dưỡng khi ly hôn, giải quyết vấn đề
con cái...

Thứ năm, thực hiện công tác đào tạo bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên
môn cho đội ngũ Thẩm phán thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn
của Thẩm phán trong việc xét xử.


Bên cạnh đó, khi tiến hành giải quyết ly hôn, TAND quận Hai Bà Trưng
cũng mắc phải một số sai phạm từ việc điều tra không đầy đủ, chưa làm rõ
nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, nên chưa đánh giá được đúng mức tình
trạng hôn nhân.
Nhìn chung khi cuộc hôn nhân đã chấm dứt bằng sự chia tay của đôi vợ
chồng do bất kỳ nguyên nhân nào cũng kéo theo những hậu quả đáng buồn.

Trước hết phải nói đến vai trò của gia đình, dòng họ, bạn bè, cộng đồng
xã hội. Ngay từ khi tìm hiểu đến khi kết hôn, chính sự giúp đỡ của cha mẹ,
họ hàng trong việc đưa ra những lời khuyên, ý kiến tham khảo trong việc
chọn vợ, chọn chồng cho con cái mình như tìm hiểu tính nết, tư cách đạo
đức, mà các mối quan hệ xã hội của cô dâu, chú rể tương lai đã góp phần
giúp con cái họ có sự lựa chọn đúng đắn trong việc lựa chọn người bạn đời
của mình. Chính vì vậy mà trước kia quan niệm về hôn nhân của các bậc làm

23

24

3.2. Sự cần thiết phải hạn chế ly hôn

Thứ sáu, Bộ Tư pháp, TANDTC nên triển khai thành lập một Tòa chuyên
trách xét xử các vụ án HN&GĐ, độc lập với Tòa dân sự.
3.3.2. Giải pháp về mặt xã hội


cha làm mẹ trước hết phải tìm nơi "môn đăng hộ đối" tiếp sau đó là "Công,
dung, ngôn, hạnh" đối với con dâu. Nếu chọn con rể thì phải "khỏe mạnh, có
chữ nghĩa, đạo đức tốt, làm ăn giỏi".

3.3.3. Giải pháp từ mỗi cá nhân
Gia đình là một trong những phạm trù của xã hội mà ở đó các thành
viên là hạt nhân cơ bản trong việc tạo lập cuộc sống gia đình, gia đình tốt thì
xã hội mới tốt. Thực tế mọi sự cố gắng của cộng đồng, của gia đình bạn bè
cũng không thể có kết quả như chính những người trong cuộc không tự cố
gắng cứu vãn cuộc hôn nhân của mình. Hạnh phúc của mỗi gia đình không
tự nở hoa kết trái nếu tình yêu không được vun xới từng ngày cũng như đời
sống vợ chồng không phải là một màn kịch để chúng ta khi không thích vai
chính này có thể thay bằng một vai chính khác.
3.3.4. Giải pháp kinh tế
Vợ chồng có mâu thuẫn về kinh tế không chỉ xảy ra ở những gia đình
túng thiếu mà ngay cả những gia đình có điều kiện kinh tế khá giả cũng xảy
ra đó là sự va chạm về cách làm ăn của vợ chồng. Vì vậy trong giai đoạn
phát triển kinh tế hiện nay việc giải quyết công ăn việc làm tạo điều kiện cho
nam nữ thanh niên vay vốn tự phát triển sản xuất kinh doanh là một trong
những yêu cầu cấp bách của xã hội và đồng thời cũng là một giải pháp chiến
lược làm cho gia đình và cộng đồng ổn định phát triển bền vững.

KẾT LUẬN
Hiện nay, khi mà tình trạng ly hôn trên địa bàn quận Hai Bà Trưng
thành phố Hà Nội đang có chiều hướng gia tăng với nhiều nguyên nhân khác
nhau đã và đang là vấn đề nhức nhối quan tâm không chỉ trên địa bàn quận
mà là vấn đề quan tâm của thành phố Hà Nội và toàn xã hội.

trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, du lịch cũng có sự tác động
mạnh mẽ đến chế độ gia đình- đó cũng là sự lý giải tại sao hiện nay tỷ lệ ly
hôn tại quận Hai Bà Trưng lại chiếm tỷ lệ cao như vậy.
Ly hôn tập trung ở nhiều chủ thể, nhiều lứa tuổi, nhiều thành phần xã
hội và với nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó bao gồm cả nguyên nhân
khách quan, chủ quan và để lại hậu quả tiêu cực cho xã hội là không nhỏ.

Không ai phủ nhận rằng ly hôn cũng có những mặt tích cực là giải pháp tốt
nhất cho một cuộc hôn nhân đã thực sự tan vỡ nhưng bên cạnh đó ly hôn
cũng đem lại những bi kịch cho mỗi cá nhân mà đối tượng chịu nhiều hậu
quả thiệt thòi nhất là phụ nữ và trẻ em. Chính vì vậy mà HN&GĐ luôn là
vấn đề được Nhà nước và toàn xã hội quan tâm. Bởi lẽ, gia đình là tế bào của
xã hội, là tổ ấm của con người do đó xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng,
tiến bộ, hạnh phúc luôn là vấn đề cơ bản và cấp bách, đó cũng là mục tiêu
được đặt ra và ghi nhận tại Điều 1 của Luật HN&GĐ năm 2000: "Góp phần
xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây
dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình,
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và
phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây
dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững".
Đề tài "Thực tiễn giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000"
không chỉ có ý nghĩa phản ánh các đặc điểm tiêu cực và tích cực của ly hôn
hiện nay trên địa bàn quận Hai Bà Trưng mà qua đó còn giúp cho bản thân
mỗi người cần có một cách nhìn đúng đắn về quan hệ HN&GĐ, để từ đó
sống có ý nghĩa và trách nhiệm hơn với bản thân, với gia đình và toàn xã hội.

Trong tình hình bối cảnh hiện nay quận Hai Bà Trưng với địa bàn rộng,
dân cư đông, nhiều thành phần khác nhau đang trong quá trình đô thị hóa
nhanh, phát triển kinh tế năng động và đa dạng hòa nhập với thủ đô Hà Nội
bước vào nền kinh tế thị trường mở cửa giao lưu hội nhập quốc tế đa phương

Đề tài luận văn chủ yếu nghiên cứu dưới hai góc độ xã hội và pháp lý
kết hợp với thực tiễn giải quyết các vụ án ly hôn tại TAND quận Hai Bà
Trưng để từ đó tìm hiểu một số vướng mắc hạn chế trong quá trình áp dụng
Luật giải quyết các vụ việc ly hôn tại TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố
Hà Nội, từ đó đưa ra những kiến nghị, những giải pháp hạn chế ly hôn tại

khu vực quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

25

26



×