Tải bản đầy đủ (.doc) (122 trang)

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỐI hợp GIỮA CẢNH sát điều TRA tội PHẠM về XH và CẢNH sát GIAO THÔNG TRONG điều TRA vận CHUYỂN MUA bán TRÁI PHÉP CHẤT MA túy TRÊN QL7 thuộc tỉnh nghệ an

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (460.05 KB, 122 trang )

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây tình hình tội phạm về ma túy nói chung tội
phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng có nhiều diễn biến
rất phức tạp, xảy ra trên hầu hết các tuyến giao thông nói chung và các tuyến
nối liền biên giới Việt Nam với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào nói
riêng. Cụ thể là các tuyến quốc lộ 6, 7, 8, 9 nối liền các tỉnh Sơn La, Lai
Châu, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị với các tỉnh Pôlykhămxay, HủaPhăn,
Xiêng Khoảng, Xạ Vẳn Nạ Khệt... của nước bạn. Nổi bật trong đó là diễn
biến hoạt động của tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên
tuyến quốc lộ 7 nối liền Nghệ An với Pôlykhămxay của Lào.
Trong đấu tranh với loại tội phạm này Công an các địa phương nói
chung và Công an tỉnh Nghệ An nói riêng đã có nhiều cố gắng trong việc duy
trì mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát điều tra (CSĐT) tội phạm
về ma tuý với Cảnh sát giao thông (CSGT) trong phát hiện điều tra, xử lý loại
tội phạm này, bước đầu đã thu được những kết quả nhất định tạo điều kiện
thuận lợi cho việc tổ chức tiến hành có hiệu quả các biện pháp điều tra chứng
minh làm rõ nhiều băng, nhóm tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, việc thực hiện
mối quan hệ trên vẫn chưa được tiến hành thường xuyên, đồng bộ. Nội dung,
phương pháp phối hợp trong nhiều trường hợp không phù hợp với yêu cầu đặt
ra. Một số điều tra viên và CSGT chưa nhận thức được đầy đủ về vai trò tác
dụng cũng như nội dung phương pháp phối hợp giữa hai lực lượng trong phát
hiện điều tra tội phạm về ma túy khi chúng hoạt động trên đường giao thông.
Tình trạng coi thường, xem nhẹ việc của người khác, quan trọng hóa phần
việc của mình, thậm chí gây khó khăn cản trở lẫn nhau giữa hai lực lượng vẫn
còn diễn ra khá phổ biến và chậm được khắc phục.



2

Trong khi đó, việc lãnh đạo chỉ đạo quan hệ phối hợp trong nhiều
trường hợp không kịp thời, thiếu thống nhất. Các quy định hướng dẫn để thực
hiện mối quan hệ phối hợp giữa hai lực lượng vẫn chưa được cụ thể, rõ ràng.
Mặc dù, trên phương diện lý luận đã có nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện quan
hệ phối hợp giữa các lực lượng nghiệp vụ Cảnh sát nhân dân (CSND) trong
đấu tranh phòng chống tội phạm, song các quy định đó chỉ đề cập đến những
vấn đề có tính nguyên tắc chung, nên việc áp dụng để thực hiện mối quan hệ
phối hợp giữa hai lực lượng nghiệp vụ nêu trên vẫn gặp rất nhiều khó khăn.
Tình trạng đó, đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả phát hiện điều tra làm
rõ loại tội phạm. Một số đối tượng và băng nhóm tội phạm về ma túy hoạt
động xuyên quốc gia, thường xuyên vận chuyển, mua bán trái phép chất ma
túy trên quốc lộ 7 vẫn chưa được phát hiện điều tra xử lý kịp thời.
Do vậy, việc nghiên cứu phân tích để làm rõ nhận thức lý luận và
nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy
với CSGT trong phát hiện điều tra tội phạm về ma túy hoạt động trên các
tuyến giao thông đường bộ là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Từ những lý do trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Giải pháp nâng
cao hiệu quả quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm
về ma túy với lực lượng Cảnh sát giao thông trong phát hiện điều tra tội
phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên tuyến quốc lộ 7
thuộc địa bàn tỉnh Nghệ An". để làm luận văn cao học Luật, chuyên ngành
Tội phạm học và Điều tra tội phạm, Mã số: 60.38.70.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm đánh giá tổng quan những vấn đề
lý luận và thực tiễn về mối quan hệ phối hợp giữa Lực lượng CSĐT tội phạm



3

về ma túy với CSGT trong phát hiện điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy trên quốc lộ 7 - tỉnh Nghệ An, trên cơ sở đó đưa ra các
giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của mối quan hệ phối hợp này.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích của đề tài đặt ra, nhiệm vụ nghiên cứu của đề
tài được xác định là:
+ Làm rõ lý luận cơ bản về quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSĐT tội
phạm về ma túy với lực lượng CSGT trong phát hiện điều tra tội phạm mua
bán, vận chuyển trái phép chất ma túy trên các tuyến giao thông đường bộ.
+ Nghiên cứu, làm rõ thực trạng tình hình tội phạm vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy trên quốc lộ 7 thuộc địa bàn tỉnh Nghệ An và mối quan hệ
phối hợp giữa lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy với CSGT Công an Nghệ An
trong phát hiện, điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy.
+ Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quan hệ phối
hợp giữa lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy với CSGT trong phát hiện điều
tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên tuyến quốc lộ 7 tỉnh Nghệ An.
3. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trước tình hình tội phạm về ma túy hoạt động có nhiều diễn biến phức
tạp trên phạm vi toàn quốc, Đảng, Nhà nước và ngành Công an đã chỉ đạo
chính quyền các cấp và các cơ quan bảo vệ pháp luật tổ chức tiến hành nhiều
biện pháp phòng ngừa, phát hiện đấu tranh chống loại tội phạm trên. Cùng với
các biện pháp đấu tranh của các cơ quan chức năng, các cơ quan nghiên cứu,
các nhà khoa học và cán bộ hoạt động thực tiễn đã có nhiều bài báo, tiến hành
nghiên cứu nhiều đề tài khoa học và nhiều luận văn, chuyên đề của học viên,
nghiên cứu sinh đề cập về phòng ngừa, phát hiện đấu tranh chống tội phạm về


4


ma túy... đã được thực hiện, góp phần đáng kể vào việc đấu tranh ngăn chặn
loại tội phạm nguy hiểm này của xã hội. Cụ thể là:
+ Tác giả Trần Văn Luyện (2000), Phát hiện điều tra tội phạm tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy của lực lượng Cảnh sát nhân
dân. Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học CSND.
+ Tác giả Đinh Viết Thắng (2001), Quan hệ phối hợp giữa lực lượng
Cảnh sát điều tra với lực lượng Cảnh sát phòng chống ma túy trong điều tra
tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn tốt nghiệp cao học Luật, Học viện CSND.
+ Tác giả Nguyễn Văn Điền (2003), Thực trạng và một số giải pháp
góp phần nâng cao hiệu quả điều tra khám phá các vụ án tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh Sơn La của lực
lượng Cảnh sát nhân dân. Luận văn tốt nghiệp cao học Luật, Học viện
CSND.
+ Tác giả Phạm Hữu Tuấn (2004), Mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng
Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy với lực lượng Cảnh sát điều tra
trong điều tra khám phá các vụ án ma túy của Công an tỉnh Lai Châu, Luận
văn tốt nghiệp cao học Luật, Học viện CSND.
+ Tác giả Hoàng Đức Hưởng (2005), Công các xây dựng và sử dụng
mạng lưới cơ sở bí mật trong đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy của
lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Đắc Nông,
Luận văn tốt nghiệp cao học Luật, Học viện CSND.
Các công trình nghiên cứu trên đã rất thành công trong việc phân tích
làm rõ lý luận cơ bản, đặc điểm pháp lý về tội phạm tàng trữ, vận chuyển,
mua bán chất ma túy và và thực trạng quan hệ phối hợp giữa lực lượng cảnh
sát phòng chống tội phạm về ma túy với các lực lượng khác trong điều tra


5


khám phá các tội phạm về ma túy. Song nhìn chung các công trình đó chưa đi
sâu nghiên cứu về quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy
với lực lượng CSGT trong phát hiện điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy trên đường giao thông.
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài trên của tác giả là rất cần thiết mang tính
cấp bách cao cả về lý luận và thực tiễn. Nội dung nghiên cứu của đề tài không
những phù hợp với chuyên ngành đào tạo - chuyên ngành Tội phạm học và Điều tra
tội phạm, mà còn không trùng lặp với bất cứ một đề tài nào nghiên cứu trước đó.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ phối hợp giữa lực
lượng CSĐT tội phạm về ma túy với lực lượng CSGT trong phát hiện điều tra
tội phạm vận chuyển, mua bán ma túy trên các tuyến giao thông đường bộ.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ phối hợp giữa hai lực lượng CSĐT tội
phạm về ma túy với CSGT (ở cấp phòng PC26, PC17 và ở cấp đội nghiệp vụ
thuộc Công an các huyện, thị xã nơi có tuyến quốc lộ 7 chạy qua) trong phát
hiện điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên quốc lộ
7 thuộc tỉnh Nghệ An từ năm 2000 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài lựa chọn cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu là phép
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh
phòng chống tội phạm.
- Trên cơ sở phương pháp luận được xác định, quá trình nghiên cứu đề
tài còn sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: phân tích,


6


tổng hợp, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu điển hình, trao đổi tọa đàm, chuyên
gia, điều tra xã hội học, thống kê hình sự.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần phân tích làm rõ nhận thức lý
luận về mối quan hệ phối hợp giữa CSĐT tội phạm về ma túy và CSGT trong
phát hiện điều tra tội phạm về ma túy hoạt động trên đường giao thông, góp
phần bổ sung, từng bước hoàn thiện lý luận Khoa học điều tra tội phạm nói
chung và điều tra các tội phạm về ma túy nói riêng.
Đề tài luận văn có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ cho yêu cầu
nghiên cứu, học tập và giảng dạy phần nghiệp vụ CSGT và CSĐT tại các trường
CSND.
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có ý nghĩa tổng kết, chỉ đạo
thực tiễn, giúp Công an Nghệ An khai thác sử dụng vào thực tiễn đấu tranh
với loại tội phạm về ma túy nói chung và tội phạm vận chuyển, mua bán trái
phép ma túy trên các tuyến đường bộ nói riêng.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương 9 tiết.


7

Chương 1
NHẬN THỨC LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ PHỐI HỢP
GIỮA CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI PHẠM VỀ MA TÚY VỚI CẢNH SÁT
GIAO THÔNG TRONG PHÁT HIỆN, ĐIỀU TRA TỘI PHẠM VẬN CHUYỂN,
MUA BÁN TRÁI PHÉP CÁC CHẤT MA TÚY TRÊN CÁC TUYẾN
GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ


1.1. Một số nhận thức cơ bản về tội phạm vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy
1.1.1. Khái niệm tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
Tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là một nhóm tội
phạm cụ thể trong số các tội phạm về ma túy - một loại tội phạm đặc biệt
nguy hiểm, đã gây hậu quả nghiêm trọng trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội
và an ninh trật tự. Trong những năm qua tội phạm này diễn biến rất phức tạp,
với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và manh động nhằm trốn tránh và chống trả
lực lượng thi hành pháp luật. Năm 1989, lần đầu tiên tội vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy được Quốc hội nước ta điều chỉnh, bổ sung vào Bộ luật
hình sự (BLHS) năm 1985. Tại Điều 96a BLHS năm 1985 sửa đổi, tội sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy đã được xác định.
Đến năm 1992 trước diễn biến phức tạp của các loại tội phạm về ma túy,
Quốc hội nước ta lại bổ sung điều chỉnh BLHS năm 1985 một lần nữa. Các
tội phạm về ma túy được xây dựng thành một chương riêng (Chương VII A),
bao gồm 13 tội danh, trong đó một số hành vi phạm tội mới đã được kết cấu
thành các tội cụ thể quy định tại các Điều 185g, 185h, 185i, 185m, 185n...
Đến năm 1999, tại Điều 194 BLHS năm 1999 đã qui định: "Người nào
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị
phạt tù từ 2 năm đến 7 năm..." [26, tr. 140].


8

Như vậy, tại Điều 194 BLHS năm 1999 qui định bốn hành vi phạm tội
về ma túy, trong đó có hành vi vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy.
Hành vi vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là hai trong bốn hành vi
phạm tội về ma túy độc lập với các hành vi tàng trữ, chiếm đoạt trái phép chất
ma túy. Các hành vi phạm tội vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy có
các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của nó. Những dấu hiệu này giúp chúng ta

nhận diện và phân biệt sự khác nhau giữa chúng đối với các hành vi phạm tội
khác về ma túy.
Tội phạm vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi đưa chuyển
chất ma túy một cách bất hợp pháp từ nơi này đến nơi khác, từ địa điểm này
đến địa điểm khác hoặc từ người này đến người khác thông qua các phương
tiện vận chuyển bằng đường sắt, thủy, bộ, đường hàng không, bưu điện... Dấu
hiệu đặc trưng của tội vận chuyển trái phép chất ma túy là sự dịch chuyển
chất ma túy từ nơi này đến nơi khác một cách bất hợp pháp. Hay nói cách
khác, sự chuyển dịch chất ma túy từ nơi này đến nơi khác không có giấy phép
của cơ quan có thẩm quyền hoặc việc chuyển dịch chất ma túy không đúng
địa điểm, không đúng mục đích... mà giấy phép quy định.
Tội phạm mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi, mua bán
giữa một bên là người bán chất ma túy và một bên là người mua chất ma túy
trái với qui định của pháp luật. Việc trao đổi, mua bán trái phép chất ma túy là
hành vi mua bán trái với qui định của pháp luật. Có nghĩa là việc mua bán
trao đổi chất ma túy không được phép của cơ quan có thẩm quyền hoặc tuy có
giấy phép của các cơ quan có thẩm quyền, song việc thực hiện mua bán trao
đổi giữa bên mua và bên bán không đúng qui định của giấy phép, mua bán
trao đổi vượt quá số lượng hoặc mua bán không đúng mục đích sử dụng...
Phương thức thanh toán trao đổi, mua bán trái phép chất ma túy có thể
sử dụng nội tệ, ngoại tệ, vàng bạc đá quí hoặc các lợi ích vật chất khác...
Để phân biệt giữa tội vận chuyển trái phép chất ma túy với tội mua
bán trái phép chất ma túy cần căn cứ vào dấu hiệu đặc trưng của nó. Đó là


9

mục đích của tội phạm. Nếu việc vận chuyển chất ma túy chỉ thuần túy là để
nhận tiền thuê do công vận chuyển, thì cấu thành tội "Vận chuyển trái phép
chất ma túy", còn việc vận chuyển ma túy là để nhằm mục đích bán kiếm lời

từ ma túy, thì trong trường hợp này "hành vi vận chuyển" được ghép với "hành
vi mua bán, trái phép chất ma túy" để cấu thành tội "Mua bán trái phép chất
ma túy".
Chất ma túy là: "Chất gây nghiện, chất hướng thần được qui định
trong các danh mục do Chính phủ ban hành" [2, tr. 4].
Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 01/10/2001 qui định về danh mục chất
ma túy và tiền chất, Nghị định số 133/NĐ-CP ngày 06/11/2003 của Chính
phủ bổ sung chất ma túy và tiền chất. Hiện nay có 228 chất ma túy và 40 tiền
chất ma túy phải được kiểm soát. Danh mục do Chính phủ Việt Nam ban
hành gồm 4 danh mục.
Danh mục I gồm 47 chất ma túy là chất ma túy rất độc, tuyệt đối cấm
sử dụng trong lĩnh vực y tế. Việc sử dụng chất ma túy này trong phân tích,
kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học và điều tra tội phạm theo qui định đặc biệt
của cơ quan có thẩm quyền.
Danh mục II gồm 112 chất ma túy độc hại, được sử dùng hạn chế
trong phân tích, kiểm nghiệm nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc
trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị.
Danh mục III gồm 69 chất ma túy độc dược được dùng trong phân
tích, kiểm nghiệm nghiên cứu khao học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực
y tế theo yêu cầu điều trị.
Danh mục IV gồm 40 tiền chất gồm các hóa chất không thể thiếu
trong quá trình sản xuất, điều chế chất ma túy.
Chất gây nghiện là: "Chất kích thích, ức chế thần kinh dễ gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng" [2, tr. 4].


10

Chất ma túy ức chế thần kinh bao gồm thuốc phiện và các chế phẩm
của nó như heroin, morphin, codeine... dễ gây tình trạng nghiện đối với người

sử dụng. Những chất này có tác hại nhanh chóng đối với người sử dụng. Chỉ
dùng sau vài lần là có thể dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Chính lúc đó người nghiện bị lệ thuộc vào thuốc phiện. Khi đã nghiện loại ma
túy này, người nghiện thường ở trạng thái ức chế thần kinh. Khi lên cơn
nghiện không có chất ma túy đưa vào cơ thể thì lập tức cơ thể người nghiện
có những phản ứng bứt rứt, ngứa ngáy, đau nhức khắp các khớp xương, nằm
co quắp, thậm chí miệng nôn, trôn tháo... đó là hiện tượng "dị cảm".
Chất ma túy kích thích là chất ma túy khi xâm nhập vào cơ thể con
người nó kích thích hệ thống thần kinh, gây ra những phản ứng hưng phấn
quá độ và dễ dàng đưa những người sử dụng ma túy kích thích vào trạng thái
bị lệ thuộc vào chúng. Những chất ma túy kích thích là cocain và các chế
phẩm của nó như doping...
Chất hướng thần là: "Chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc chất gây
ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người
sử dụng" [2, tr. 4].
Chất hướng thần là các loại ma túy tổng hợp hoặc bán tổng hợp tác
động vào cơ thể con người thông qua các phương thức khác nhau như ngậm,
uống... Nó tác động nhanh chóng vào hệ thần kinh trung ương, não bộ, gây ra
những kích thích, gây ảo giác. Nếu sử dụng nhiều lần, tần suất lớn cả về thời
gian và liều lượng dùng thì người sử dụng cũng bị lệ thuộc vào chất hướng thần.
Chất hướng thần tiêu biểu là Amphetamine, Methamphetamine, Ecstasy...
Như vậy, theo quy định của điều luật và các quy định của Chính phủ
thì những chất ma túy nêu trên là đối tượng của tội phạm vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy, số lượng ma túy được vận chuyển, mua bán trái
phép không có ý nghĩa trong việc định tội, mà chỉ có ý nghĩa trong việc xác
định tình tiết tăng nặng định khung.


11


Từ những phân tích nêu trên, tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy có thể được khái niệm như sau:
Tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là hành vi
nguy hiểm cho xã hội (vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy) được
quy định trong BLHS, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực
hiện bằng lỗi cố ý và đáng bị xử lý bằng hình phạt.
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của tội phạm
Căn cứ vào qui định tại Điều 194 BLHS 1999 thì đặc điểm pháp lý
của tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy được xác định như
sau:
- Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm được xác định là: Các chính sách độc quyền
quản lý nhà nước về chất ma túy, mà trực tiếp đó là các quy định của Nhà
nước về vận chuyển, mua bán chất ma túy. Việc tội phạm xâm hại đến các
quan hệ xã hội trên không những có tác động ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh
tế đất nước, đến tính mạng sức khỏe con người làm thoái hóa nòi giống, là
nguy cơ gây ra "cái chết trắng", là nguồn lan truyền đại dịch HIV/AIDS... Vì
vậy, nó có ảnh hưởng rất xấu đến trật tự an toàn xã hội (TTATXH).
- Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi nguy hiểm cho xã hội mà tội phạm thực hiện ở đây bao gồm:
+ Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy là: Hành vi chuyển dịch
bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào
mà không nhằm mục đích mua bán.
Vận chuyển trái phép chất ma túy có thể được thực hiện bằng các
phương tiện khác nhau, bằng các tuyến đường khác nhau như: đường bộ,
đường sắt, đường hàng không, đường thủy, đường bưu điện. Có thể để trong


12


người: cho vào túi áo, quần, nuốt vào bụng, nhét vào các lỗ tự nhiên của cơ
thể; trong hành lý như: valy, túi xách tay...; trong các phương tiện vận
chuyển: máy bay, ô tô, tàu thủy... Theo quy định của điều luật, thì quãng
đường vận chuyển dài hay ngắn, số lượng chất ma túy vận chuyển ít hay
nhiều không ảnh hưởng tới việc định tội. Người vận chuyển chất ma túy thuê
cho người khác không có mục đích mua bán thì họ đồng phạm về tội vận
chuyển trái phép chất ma túy.
+ Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là: Hành vi mua, bán, trao
đổi ma túy bất hợp pháp hoặc vận chuyển chất ma túy để bán lại bất hợp
pháp. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy được thể hiện là dùng tiền hoặc
các lợi ích vật chất khác để mua bán, trao đổi dưới các hình thức khác nhau:
Có thể là mua bán trực tiếp chất ma túy hoặc có thể là dùng ma túy để đổi lấy
các hàng hóa khác, cho vay, đặt cọc, cầm cố, khấu nợ... một cách trái phép.
Tội phạm được coi là hoàn thành khi chủ thể tội phạm đã thực hiện
các hành vi vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nhất định theo quy
định của pháp luật hình sự.
+ Hậu quả của tội phạm
Tội phạm có cấu thành hình thức và được coi là hoàn thành ngay khi
người thực hiện tội phạm đã thực hiện hành vi vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy. Tức là, tội phạm đã xâm hại đến chính sách độc quyền của Nhà
nước về quản lý khai thác sử dụng chất ma túy, mà chưa cần có những hậu
quả vật chất cụ thể do tội phạm gây ra.
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi (khoản 1) hoặc từ đủ 14 tuổi
trở lên (khoản 2, 3 và 4) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Tại khoản 1 là cấu thành cơ bản, chỉ định tính chất hành vi để định
khung hình phạt, mặt khác tại khoản này, không qui định tình tiết tăng nặng.


13


Chính vì vậy, độ tuổi chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở khoản 1 của
Điều 194 BLHS là người đạt độ tuổi từ đủ 16 tuổi.
Tại các khoản còn lại 2, 3, 4 cấu thành tăng nặng, tội phạm thực hiện
hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Chính vì vậy, luật qui định độ tuổi từ đủ 14.
- Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Có nghĩa rằng, người
phạm tội nhận thức rõ hành vi vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy của
mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy và mong muốn cho hậu quả xảy ra như vận chuyển,
mua bán phát tán chất ma túy trong xã hội, gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội,
như gây ra tệ nạn tiêm chích ma túy, nghiện ma túy và các tệ nạn xã hội khác.
Thậm chí, tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy có mối quan
hệ mật thiết với tội phạm sử dụng chất ma túy, tệ nạn tiêm chích ma túy phát
triển... là một trong nguyên nhân làm phát sinh đại dịch thế kỷ HIV/AIDS.
- Hình phạt dành cho tội phạm
Vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là một loại tội phạm nguy
hiểm, vì thế hình phạt dành cho tội phạm là rất nghiêm khắc. Điều luật qui
định 4 khung hình phạt dành cho tội phạm.
+ Khung 1: Qui định hình phạt tù từ 2-7 năm áp dụng đối với trường
hợp phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
+ Khung 2: Qui định hình phạt tù từ 7-10 năm áp dụng đối với người
phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp sau: Có tổ chức, phạm tội nhiều lần,
lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng danh nghĩa cơ quan tổ chức, vận
chuyển, mua bán qua biên giới, sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán
ma túy cho trẻ em, tái phạm nguy hiểm...


14


+ Khung 3: Qui định hình phạt tù từ 15-20 năm áp dụng đối với một
trong các trường hợp phạm tội qui định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h về
trọng lượng chất ma túy.
+ Khung 4: Qui định hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình
áp dụng đối với 1 trong các trường hợp phạm tội qui định tại các điểm a, b, c,
d, đ, e, g, h về trọng lượng chất ma túy.
Hình phạt bổ sung người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu
đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phân hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1- 5 năm.
1.2. Nhận thức cơ bản về quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh
sát điều tra tội phạm về ma túy với lực lượng Cảnh sát giao thông trong
phát hiện, điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm về mối quan hệ phối hợp
CSĐT tội phạm về ma túy và CSGT là hai lực lượng nghiệp vụ cụ thể
trong biên chế tổ chức của ngành Công an, cả hai lực lượng này đều có trách
nhiệm phòng ngừa, phát hiện đấu tranh chống tội phạm hoạt động trên đường
giao thông (trong đó có tội phạm mua bán vận chuyển ma túy) theo chức năng
nhiệm vụ khác nhau. Trong đó, CSĐT tội phạm về ma túy là cơ quan điều tra
chuyên trách có nhiệm vụ tổ chức, tiến hành các biện pháp trinh sát và điều
tra tố tụng theo quy định của pháp luật để thu thập tài liệu chứng cứ chứng
minh làm rõ tội phạm và người phạm tội về ma túy theo quy định của pháp
luật. Lực lượng CSGT tuy không có trách nhiệm trực tiếp tiến hành các biện
pháp điều tra làm rõ tội phạm về ma túy, nhưng với tư cách là lực lượng
nghiệp vụ của ngành Công an trực tiếp tiến hành các mặt công tác quản lý trật
tự an toàn giao thông (TTATGT), như: Điều tra cơ bản về tuyến địa bàn giao
thông trọng điểm; tuần tra kiểm soát giao thông (TTKSGT) và xử lý vi phạm;
chỉ huy hướng dẫn giao thông; xây dựng cơ sở bí mật (CSBM), tuyên truyền


15


giáo dục quần chúng tham gia giữ gìn TTATGT và TTATXH trên các tuyến
đường địa bàn giao thông công cộng... Lực lượng CSGT có trách nhiệm phát
hiện, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật và hoạt động của bọn tội
phạm (trong đó có các tội phạm về ma túy) trên các tuyến đường địa bàn giao
thông công cộng. Do vậy, để thực hiện có hiệu quả yêu cầu nhiệm vụ đấu
tranh chống tội phạm ma túy hoạt động trên đường giao thông, lực lượng
CSĐT tôi phạm về ma túy phải phối hợp với nhiều lực lượng và tổ chức tiến
hành nhiều biện pháp nghiệp vụ khác nhau, trong đó quan hệ phối hợp với lực
lượng CSGT luôn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong phát hiện, điều tra
tội pham về ma túy hoạt động trên đường giao thông. Mối quan hệ phối hợp
đó vừa mang tính khách quan, vừa mang tính pháp lý quy định về quan hệ
phối hợp giữa một bên là cơ quan điều tra chuyên trách (Cơ quan CSĐT tội
phạm về ma túy) với một bên là cơ quan nghiệp vụ quản lý chuyên ngành (lực
lượng CSGT) để thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ riêng của từng lực lượng và
yêu cầu nghiệp vụ chung mà cả hai bên cùng quan tâm.
Khi đề cập đến vấn đề nêu trên, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự
(TCĐTHS) năm 2004 đã chỉ rõ: "Quan hệ giữa các Cơ quan điều tra với nhau,
giữa Cơ quan điều tra với cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra, giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra với nhau là quan hệ phân công và phối hợp trong hoạt động
điều tra. Các yêu cầu bằng văn bản của Cơ quan điều tra phải được cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nghiêm chỉnh thực
hiện" [30]
Như vậy, theo quy định của pháp luật, nội dung của mối quan hệ phối
hợp trên là việc phân công trách nhiệm và phối hợp hành động giữa các lực
lượng có liên quan để giải quyết những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong hoạt
động điều tra vụ án. Vì vậy, trong mối quan hệ này cơ quan có trách nhiệm
tiến hành điều tra tội phạm giữ vai trò chủ động trong việc xây dựng nội



16

dung, yêu cầu, nhiệm vụ, cũng như phương tiện, lực lượng tham gia và các
phương pháp, biện pháp phối hợp.
Tương tự như vậy, quá trình phát hiện điều tra tội phạm mua bán, vận
chuyển ma túy trên đường giao thông, thì quan hệ phối hợp giữa CSĐT tội
phạm về ma túy với CSGT vừa mang tính khách quan là yêu cầu tự thân của
quá trình điều tra, vừa mang tính thỏa thuận phân công phối hợp giữa các cơ
quan có thẩm quyền hành chính ngang nhau, song nó cũng mang tính bắt buộc
theo chức năng nhiệm vụ của từng lực lượng và sự chấp hành, phục tùng
mệnh lệnh theo sự lãnh đạo, chỉ huy của ngành Công an. Trong mối quan hệ
phối hợp đó, thì quyền chủ động phối hợp thuộc về lực lượng CSĐT tội phạm
về ma túy, lực lượng CSGT có trách nhiệm tham gia phối hợp để thực hiện
các yêu cầu nhiệm vụ mà hoạt động điều tra đặt ra có liên quan đến chức
năng, nhiệm vụ và điều kiện công tác của lực lượng CSGT.
Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định mối quan hệ trên là vấn đề rất
phức tạp, nhìn nhận đánh giá nó ở từng góc độ khác nhau, cũng thể hiện
những quan điểm khác nhau. Có người cho rằng quan hệ phối hợp giữa CSĐT
với các lực lượng nghiệp vụ trong hoạt động điều tra hình sự chỉ "là hoạt
động thỏa thuận về mục đích, nhiệm vụ, lực lượng, biện pháp, phương tiện,
thời gian và địa điểm tiến hành..." [29]. Hoặc, có người lại cho rằng "Đây là
quan hệ phân công và phối hợp hoạt động điều tra theo luật định giữa các
chủ thể, trên cơ sở thẩm quyền và phương thức hoạt động của các chủ thể
phối hợp nhằm mục đích chung khám phá điều tra, phòng ngừa tội phạm" [8,
tr. 15-16].
Rõ ràng việc xác định như vậy, về cơ bản đã thể hiện khá đầy đủ nội
dung, bản chất của mối quan hệ phối hợp ở từng mức độ khác nhau, song nó
vẫn chưa làm rõ được tính khách quan của mối quan hệ phối hợp, cũng như
tính chủ động thực hiện quan hệ phối hợp của cơ quan CSĐT và tính mệnh

lệnh, bắt buộc... trong quá trình thực hiện quan hệ phối hợp giữa các bên.


17

Với cách phân tích tiếp cận vấn đề như đã nêu, cũng như thực tiễn
phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm về ma túy, cho thấy quan hệ
phối hợp giữa CSĐT tội phạm về ma túy với lực lượng CSGT trong phát hiện,
điều tra tội phạm mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy trên đường giao
thông: Là sự thống nhất về mục đích, nhiệm vụ, lực lượng, phương tiện,
biện pháp tiến hành giữa lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy với lực
lượng CSGT, trên cơ sở các quy định của pháp luật và sự chỉ huy, chỉ đạo
tập trung, thống nhất của lãnh đạo cấp trên để phát hiện, thu thập tài liệu
chứng cứ chứng minh làm rõ tội phạm mua bán, vận chuyển trái phép chất
ma túy trên các tuyến giao thông đường bộ theo quy định của pháp luật.
Như vậy, bản chất của quan hệ phối hợp giữa hai lực lượng là sự thỏa
thuận trên cơ sở bàn bạc, thống nhất về mục đích, nhiệm vụ và có sự chỉ huy,
chỉ đạo của cấp trên để tiến hành phát hiện, thu thập các thông tin, tài liệu,
chứng cứ theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng lực lượng đã được
pháp luật quy định tạo thuận lợi cho việc áp dụng các biện pháp, phương
pháp, chiến thuật điều tra nhằm chứng minh làm rõ tội phạm và người thực
hiện hành vi mua bán vận chuyển ma túy trên các tuyến giao thông đường bộ
theo quy định của pháp luật. Vì vậy, sự phối hợp trên là nhằm khai thác khả
năng chuyên môn, biện pháp, phương tiện nghiệp vụ... của từng lực lượng để
thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ, giải quyết những yêu cầu nhiệm vụ cụ
thể đặt ra trong hoạt động điều tra, góp phần giải quyết vụ án được nhanh
chóng, thuận lợi và đem lại kết quả.
Trong mối quan hệ đó CSĐT tội phạm về ma túy là lực lượng chủ
động đưa ra các nội dung, yêu cầu quan hệ phối hợp. CSGT là lực lượng tham
gia phối hợp theo yêu cầu của CSĐT tội phạm về ma túy. Thông qua các các

mặt công tác đảm bảo TTATGT, lực lượng CSGT cung cấp các tài liệu giúp
cho CSĐT tội phạm về ma túy nắm chắc tình hình địa bàn, tình hình đối
tượng nghi vấn và các vấn đề khác có liên quan đến hoạt động mua bán vận


18

chuyển ma túy trên đường giao thông; thực hiện yêu cầu phối hợp để phát
hiện, truy đuổi, bắt giữ số đối tượng ma túy đang hoạt động trên đường giao
thông; tuyên truyền giáo dục quần chúng phát hiện, tố giác tội phạm về ma
túy... theo yêu cầu quan hệ phối hợp phát hiện điều tra tội phạm ma túy hoạt
động trên đường giao thông. Quá trình thực hiện mối quan hệ phối hợp trên,
lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy còn có điều kiện kiểm tra rà soát đưa vào
diện quản lý đối tượng sưu tra, quản lý địa bàn tụ điểm; tổ chức lực lượng,
phương tiện xây dựng mạng lưới bí mật và tiến hành các biện pháp kiểm tra,
xác minh, xác lập chuyên án đấu tranh triệt phá các tổ chức đường dây ma túy
lớn hoạt động trên các tuyến đường, địa bàn giao thông đường bộ.
Ngược lại, để thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ đảm bảo TTATGT,
phát hiện đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật trên
đường giao thông (trong đó có các tội phạm về ma túy), trong những trường
hợp cụ thể lực lượng CSGT cũng là bên chủ động đặt ra các yêu cầu đòi hỏi
có sự phối hợp của lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy. Chẳng hạn như:
Khai thác tài liệu từ kết quả điều tra, nắm tình hình các đối tượng về ma túy,
phương thức, thủ đoạn cất giấu, vận chuyển ma túy; địa bàn, tuyến trọng điểm
tội phạm về ma túy thường hoạt động... để phục vụ cho yêu cầu điều tra cơ
bản, lập hồ sơ, vẽ sơ đồ địa bàn, tuyến đường trọng điểm về ma túy; xây dựng
mạng lưới CSBM; xây dựng các phương án TTKSGT trọng điểm; kiểm tra,
khám xét, truy đuổi, bắt giữ các các đối tượng mua bán, vận chuyển trái phép
chất ma túy trên đường giao thông... của lực lượng CSGT
Từ những phân tích lập luận trên đây, cũng như qua tổng kết đánh giá

thực tiễn cho thấy quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy
với CSGT trong đấu tranh, phòng chống tội phạm mua bán vận chuyển chất
ma túy hoạt động trên đường giao thông có những đặc điểm sau:
- Mối quan hệ phối hợp trên diễn ra thường xuyên liên tục trong suốt
quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của từng lực lượng


19

Lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy và CSGT là hai lực lượng
nghiệp vụ của ngành Công an cùng có trách nhiệm phát hiện, đấu tranh chống
tội phạm về ma túy hoạt động trên đường giao thông theo các chức năng
nhiệm vụ khác nhau. Mặc dù, việc phát hiện điều tra tội phạm về ma túy theo
trình tự tố tụng hình sự để xử lý tội phạm và người phạm tội theo quy định
của pháp luật hình sự thuộc chức năng chính của cơ quan CSĐT tội phạm về
ma túy, lực lượng CSGT chỉ có trách nhiệm phối hợp hỗ trợ khi có yêu cầu
bằng văn bản của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, để thực hiện được quy định
trên, mối quan hệ phối hợp giữa CSĐT tội phạm về ma túy với CSGT không
chỉ diễn ra trong các trường hợp CSĐT yêu cầu lực lượng CSGT tiến hành
các biện pháp cụ thể để hỗ trợ CSĐT thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ cụ thể
trong một vụ án, mà mối quan hệ phối hợp trên còn đòi hỏi có sự chủ động
của cả hai lực lượng trong việc thực hiện các mặt các công tác cơ bản của
từng bên, như: Điều tra cơ bản về địa bàn tuyến mua bán, vận chuyển ma túy
trọng điểm; xây dựng mạng lưới bí mật nắm tình hình địa bàn, tình hình đối
tượng ma túy; xây dựng cơ chế trao đổi thông tin, sơ kết tổng kết chuyên đề;
xây dựng các phương án quan hệ phối hợp trong một số tình huống đấu tranh
chống tội phạm ma túy hoạt động trên đường giao thông... Như vậy, sự chủ
động phối hợp một cách thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình thực hiện
các mặt công tác cơ bản của từng lực lượng là điều kiện cần thiết để phục vụ
tốt cho yêu cầu đấu tranh chuyên án, thực hiện các biện pháp TTKSGT công

khai để phát hiện bắt quả tang đối tượng vận chuyển ma túy cùng tang vật của
vụ án, chuyển hóa tài liệu trinh sát thành chứng cứ pháp lý để tổ chức phá án
hoặc thực hiện các phương án truy đuổi "chặn đầu, khóa đuôi" bắt giữ kịp
thời các đối tượng mua bán vận chuyển ma túy bỏ chạy trên đường giao
thông... phục vụ tốt cho yêu cầu điều tra trong những trường hợp cần thiết.
- Mối quan hệ phối hợp vừa mang tính "bàn bạc, thỏa thuận", vừa
mang tính "pháp lý bắt buộc" giữa hai lực lượng nghiệp vụ có sự bình đẳng


20

về thẩm quyền hành chính và có cùng trách nhiệm phát hiện đấu tranh chống
tội phạm về ma túy hoạt động trên đường giao thông.
Rõ ràng, xét về tổ chức bộ máy của ngành Công an, thì lực lượng CSĐT
tội phạm về ma túy và lực lượng CSGT là hai lực lượng có thẩm quyền hành
chính ngang nhau. Vì thế, quan hệ giữa họ trong việc phát hiện đấu tranh chống
tội phạm về ma túy hoạt động trên đường giao thông là quan hệ bình đẳng,
mang tính bàn bạc thỏa thuận, thống nhất về mục đích, về yêu cầu nhiệm vụ,
về lực lượng, phương tiện, thời gian, biện pháp tiến hành để đạt được một yêu
cầu nhiệm vụ nào đó mà cả hai lực lượng đã đặt ra.
Tuy nhiên, mối quan hệ phối hợp đó còn mang tính pháp lý bắt buộc,
chịu sự chi phối ràng buộc bởi các quy định của ngành Công an về quan hệ
phối hợp giữa các lực lượng nghiệp vụ trong ngành Công an và các quy định
khác của Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh TCĐTHS, Luật Phòng, chống ma
tuý... về quan hệ phối hợp giữa một bên là cơ quan điều tra chuyên trách, với
một bên là các lực lượng nghiệp vụ chuyên ngành của ngành Công an trong
quá trình phát hiện, điều tra tội phạm.
Do vậy, ngoài tinh thần hợp tác, bàn bạc, thỏa thuận mang tính khách
quan, bình đẳng giữa hai lực lượng nghiệp vụ, trong quá trình thực hiện quan
hệ phối hợp để phát hiện điều tra tội phạm mua bán, vận chuyển ma túy trên

đường giao thông, đòi hỏi từng bên phải thực hiện đúng các quy định của
pháp luật về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi hoạt động của từng
lực lượng, đồng thời phải thực hiện nghiêm túc mệnh lệnh của cấp trên và các
quy định của ngành Công an về quan hệ phối hợp để đảm bảo quan hệ phối
hợp có hiệu quả, tài liệu chứng cứ thu được qua phối hợp có giá trị chứng
minh, làm rõ tội phạm theo quy định của pháp luật.
- Mối quan hệ phối hợp đòi hỏi có sự khai thác sử dụng tổng hợp
nhiều biện pháp, phương tiện, điều kiện công tác theo chức năng nhiệm vụ
của từng bên quan hệ.


21

Xuất phát từ mục đích của mối quan hệ phối hợp là để nhanh chóng
phát hiện điều tra tội phạm mua bán vận chuyển chất ma túy trên đường giao
thông, đòi hỏi từng lực lượng tham gia quan hệ phải thực hiện một cách tốt
nhất biện pháp, phương pháp, phương tiện, chiến thuật theo chức năng nhiệm
vụ của mình để khai thác triệt để điều kiện công tác, lợi thế vốn có của từng
lực lượng và tăng cường sức mạnh chung giữa hai lực lượng trong phòng
ngừa, phát hiện tội phạm cũng như điều tra khám phá tội phạm vận chuyển
trái phép chất ma túy trên các tuyến đường giao thông. Thực tế, nếu chỉ dựa
vào các biện pháp trinh sát và điều tra tố tụng của một mình Cơ quan CSĐT
tội phạm về ma túy để phát hiện đấu tranh với tội phạm, sẽ khó khai thác
được hết các kênh, nguồn thông tin trong phát hiện tình hình có liên đến tội
phạm ma túy hoạt động trên đường giao thông hoặc sẽ gặp khó khăn trong
chuyển hóa tài liệu trinh sát, trong truy đuổi, bắt giữ tội phạm trên đường giao
thông... Điều đó đòi hỏi bên cạnh các biện pháp cơ bản của cơ quan điều tra
chuyên trách, CSGT - lực lượng có trách nhiệm quản lý TTATGT trên tuyến
phải thông qua việc sử dụng các biện pháp quản lý TTATGT để kiểm tra kiểm
soát tư trang, hành lý và phương tiện vận chuyển của đối tượng nghi vấn; sử

dụng các phương tiện tuần tra truy đuổi, bắt giữ đối tượng theo yêu cầu của
Cơ quan điều tra; cung cấp các thông tin về tuyến về địa bàn để xây dựng các
phương án "chặn đầu khóa đuôi" đối tượng trong các trường hợp cần thiết của
quá trình điều tra.
1.2.2. Nguyên tắc phối hợp
Để quan hệ phối hợp giữa hai lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy và
lực lượng CSGT trong đấu tranh chống tội phạm vận chuyển, mua bán chất
ma túy có hiệu quả, tránh được sai lầm, thiếu sót... trong quá trình thực hiện
quan hệ phối hợp cần quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quan hệ phối
hợp


22

Tuân thủ pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản, bao trùm
toàn bộ mối quan hệ phối hợp giữa hai lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy
và CSGT trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm ma túy hoạt động
trên các tuyến đường giao thông. Tuân thủ pháp chế xã hội chủ nghĩa là
nguyên tắc cơ bản, đảm bảo cho hoạt động thực thi pháp luật của hai lực
lượng CSĐT tội phạm về ma túy và CSGT thực hiện một cách nghiêm túc
theo đúng qui định của pháp luật.
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong phối hợp đấu tranh chống
tội phạm ma túy trên các tuyến đường giao thông giữa hai lực lượng CSĐT
tội phạm về ma túy và CSGT được thể hiện trên những nội dung sau:
Lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy và CSGT thực hiện các yêu cầu
nhiệm vụ quan hệ phối hợp phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật nhà
nước và các quy định của ngành Công an. Tôn trọng và bảo bệ quyền lợi hợp
pháp chính đáng của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân.
Nội dung các biện pháp tiến hành trong quá trình quan hệ phối hợp

phải được tổ chức tiến hành theo đúng chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của
từng lực lượng tham gia quan hệ.
Hoạt động quan hệ phối hợp phải phục tùng nghiêm chỉnh sự lãnh
đạo, chỉ huy, phân công, tổ chức điều hành của lãnh đạo có thẩm quyền.
- Đảm bảo tính mục đích trong quan hệ phối hợp
Đây là nguyên tắc xuyên suốt quá trình thực hiện mối quan hệ phối hợp,
nó đảm bảo định hướng đúng đắn của quá trình quan hệ phối hợp là để cùng
phát hiện điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên
đường giao thông một cách có hiệu quả. Trong mọi trường hợp quan hệ phối
hợp giữa hai lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy và CSGT phải luôn tuân
thủ việc thực hiện mục đích đã được xác định. Tuy nhiên, trong từng tình
huống điều tra cụ thể sẽ xuất hiện các mục đích cụ thể, nhưng tuyệt đối không


23

được xa rời mục đích chính của mối quan hệ phối hợp. Bởi vì, mục đích của
mối quan hệ phối hợp chính là cơ sở để lựa chọn phương pháp, chiến thuật
phối hợp, phạm vi phối hợp và công tác lãnh đạo, chỉ đạo mối quan hệ phối
hợp.
- Đảm bảo tính kế hoạch trong quan hệ phối hợp
Để đảm bảo cho các lực lượng tham gia phối hợp cùng chung mục
đích, cùng chung ý chí và hành động mang lại hiệu quả trong đấu tranh chống
tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy thì cần thiết phải lập kế
hoạch quan hệ phối hợp. Khi lập kế hoạch, lực lượng CSĐT tội phạm về ma
túy và lực lượng CSGT cần bàn bạc, thảo luận để xác định rõ yêu cầu nhiệm
vụ, thời gian, địa điểm, lực lượng, phương tiện, công tác lãnh đạo chỉ đạo và
các phương pháp chiến thuật tiến hành của từng lực lượng. Bản kế hoạch phối
hợp giữa hai lực lượng có thể trình bày lồng ghép trong bản kế hoạch điều tra
nói chung, đồng thời phải thường xuyên có sự điều chỉnh, bổ sung, thay đổi

kịp thời với từng tình huống xảy ra và với tiến độ điều tra vụ án nói chung.
- Đảm bảo tính độc lập và phân định thẩm quyền trong quan hệ phối
hợp
Với hai lực lượng Cảnh sát có chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền
không giống nhau trong phòng ngừa, phát hiện đấu tranh chống tội phạm về
ma túy, CSĐT tội phạm về ma túy là cơ quan điều tra chuyên trách trực tiếp
tổ chức tiến hành các biện pháp trinh sát và điều tra tố tụng để chứng minh
làm rõ tội phạm và người phạm tội vận chuyển mua bán trái phép chất ma tuý
theo quy định của pháp luật. CSGT là cơ quan quản lý nhà nước về TTATGT
có nhiệm vụ đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ,
TTKSGT, phát hiện xử lý các hành vi vi phạm hành chính về TTATGT, hoạt
động của bọn tội phạm và các hành vi vi phạm khác trên các tuyến đường địa
bàn giao thông công cộng. Do vậy, CSGT là lực lượng hoạt động công khai,


24

thực hiện chức năng phòng ngừa tội phạm (trong đó có các tội phạm về vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy), phòng ngừa TNGT và các hành vi vi
phạm pháp luật khác xảy ra trên đường giao thông.
Chính vì chức năng nhiệm vụ của mỗi lực lượng khác nhau, điều kiện
và khả năng phát hiện điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy trên đường giao thông của từng lực lượng cũng khác nhau. Do vậy,
trong quan hệ phối hợp ngoài việc thực hiện các quy định chung của mối quan
hệ phối hợp đặt ra, từng lực lượng phải đảm bảo nguyên tắc độc lập, phân
định tiến hành các biện pháp phát hiện, điều tra theo chức năng nhiệm vụ của
mình, không được "xé rào, lấn sân", tùy tiện tiến hành các biện pháp nghiệp
vụ trái với quy định của ngành và của pháp luật. Chính vì vậy, sự phối hợp
giữa hai lực lượng trong phát hiện điều tra tội phạm vận chuyển trái phép chất
ma túy trên đường giao thông là rất cần thiết, là điều kiện bổ sung cho nhau,

hỗ trợ nhau để tổ chức tiến hành đồng bộ có hiệu quả các biện pháp điều tra tố
tụng, trinh sát bí mật và quản lý hành chính nhà nước trong quá trình đấu
tranh chống tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên các
tuyến giao thông đường bộ hiện nay.
- Đảm bảo có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất trong quan hệ phối
hợp đấu tranh chống tội phạm
Do tính chất hoạt động của tội phạm vận chuyển, mua bán ma túy
diễn ra rất phức tạp, tội phạm hoạt động với nhiều phương thức, thủ đoạn
khác nhau gây rất nhiều khó khăn cho phát hiện điều tra của các cơ quan
chức năng. Hơn nữa, quan hệ phối hợp giữa CSGT và CSĐT tội phạm về ma
túy là quan hệ giữa hai lực lượng có thẩm quyền hành chính ngang nhau, có
điều kiện khả năng phát hiện đấu tranh chống tội phạm về ma túy khác nhau
sẽ diễn ra rất phức tạp. Do vậy, trong quá trình tổ chức duy trì mối quan hệ
phối hợp đó để phát hiện điều tra tội phạm về ma túy rất cần có sự chỉ đạo
tập trung thống nhất của các cấp lãnh đạo để chủ động điều phối, phân công


25

tổ chức hợp lý nội dung công việc, biện pháp, phương tiện thời gian, địa
điểm hoàn thành cho phù hợp với điều kiện, khả năng công tác của từng bên
quan hệ.
1.2.3. Phân công trách nhiệm và tổ chức lực lượng giữa Cảnh sát
điều tra tội phạm về ma túy và Cảnh sát giao thông trong đấu tranh, phòng
chống tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên các tuyến
giao thông đường bộ
- Trách nhiệm và tổ chức lực lượng của CSĐT tội phạm về ma túy
Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy (nay là lực lượng CSĐT tội
phạm về ma túy) được thành lập theo Quyết định số 192/QĐ/BNV(X13) ngày
12 tháng 3 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Nhằm

đáp ứng yêu cầu mới trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm về
ma túy cũng như hệ thống các văn bản có liên quan, ngày 02 tháng 3 năm
2005 Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quyết định số 191/2005/QĐBCA(X13) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Cục
CSĐT tội phạm về ma túy. Trong đó xác định: CSĐT tội phạm về ma túy là lực
lượng chủ công, nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống tội phạm về ma túy.
Trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện đấu tranh chống tội phạm thì
CSĐT tội phạm về ma túy được tiến hành các biện pháp nghiệp vụ trinh sát
theo những văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ Công an để phát hiện tội
phạm, đồng thời tổ chức tiến hành các hoạt động điều tra theo trình tự tố tụng
hình sự đối với các tội phạm về ma túy theo quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự và Pháp lệnh TCĐTHS để xác định tội phạm, người thực hiện hành vi
phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, làm rõ những nguyên nhân và điều kiện
phạm tội và đề xuất các biện pháp khắc phục ngăn ngừa tội phạm.
Để thực hiện nhiệm vụ trên, lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy
được tổ chức ở cả ba cấp:


×