Tải bản đầy đủ (.pdf) (17 trang)

Vai trò của thanh niên đối với việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (354.23 KB, 17 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

ĐÀO THU HÀ

VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN ĐỐI VỚI VIỆC GIỮ GÌN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

HÀ NỘI, 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

ĐÀO THU HÀ

VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN ĐỐI VỚI VIỆC GIỮ GÌN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 03 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Lƣơng Thùy Liên


HÀ NỘI, 2015


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 3
CHƢƠNG 1: VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN ĐỐI VỚI VIỆC GIỮ GÌN VÀ
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM: MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG ..................................... Error! Bookmark not defined.
1.1. Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam: khái niệm,
một số nội dung và cách thức cơ bản ..................... Error! Bookmark not defined.
1.1.1. Khái niệm giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ........... Error!
Bookmark not defined.
1.1.2. Những nội dung cơ bản của việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống ở Việt Nam ................................... Error! Bookmark not defined.
1.1.3. Những cách thức cơ bản của việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống ở Việt Nam ................................... Error! Bookmark not defined.
1.2. Thanh niên Việt Nam và những yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hiện vai
trò của thanh niên đối với việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền
thống ở Việt Nam hiện nay ..................................... Error! Bookmark not defined.
1.2.1. Thanh niên Việt Nam: đặc điểm và vai tròError!

Bookmark

not

defined.
1.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của thanh niên đối
với việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam hiện nay
........................................................................... Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ............................................ Error! Bookmark not defined.

CHƢƠNG 2: VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN ĐỐI VỚI VIỆC GIỮ GÌN VÀ
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP .................... Error! Bookmark not defined.

1


2.1. Thực trạng thực hiện vai trò của thanh niên đối với việc giữ gìn và phát
huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam hiện nayError! Bookmark not defined.
2.1.1. Vai trò của thanh niên đối với việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống ở Việt Nam hiện nay: những kết quả đã đạt được ................ Error!
Bookmark not defined.
2.1.2. Vai trò của thanh niên đối với việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống ở Việt Nam hiện nay: những mặt còn hạn chếError!

Bookmark

not defined.
2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống của thanh niên ở Việt Nam hiện nayError! Bookmark not defined.
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của thanh niên đối với việc giữ

gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam hiện nayError! Bookmark not de
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ............................................ Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN .................................................................. Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀ I LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 10

2



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển của mình, nhân loại đang trải qua một trong
những thời kì phức tạp và đầy mâu thuẫn – thời kì toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa
là xu thế phát triển khách quan của xã hội. Nó đang hàng ngày, hàng giờ tác
động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của tất cả các quốc gia,
các dân tộc trên thế giới. Quá trình toàn cầu hóa đã và đang đem lại những cơ
hội to lớn cho sự hội nhập và phát triển của dân tộc nhưng đồng thời cũng đặt
ra những thách thức không nhỏ cho sự phát triển của thế giới nói chung, cho
các quốc gia, dân tộc nói riêng, nhất là các nước đang phát triển, các nước
nghèo. Một trong những thách thức mà toàn cầu hóa đặt ra đối với sự phát
triển của các nước là sự phai nhạt dần, thậm chí có khi đánh mất cả giá trị văn
hóa truyền thống của dân tộc mình.
Edonard Herriot đã từng nói: “Văn hóa là cái gì còn lại khi người ta đã
quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả”. Hơn nữa, văn hóa
còn là cái để phân biệt con người với động vật, một cá thể người chỉ thực sự
được coi là người khi người đó có văn hóa. Tuy nhiên, trong khi sử dụng văn
hóa để phân biệt con người với con vật thì không có nghĩa là giữa con người
với nhau không có sự phân biệt về văn hóa, mà trái lại văn hóa chính là cái để
phân biệt người này với người khác, dân tộc này với dân tộc khác. Một khi
hội nhập mà bị hòa tan, hợp tác mà bị lệ thuộc để rồi phải đánh mất giá trị văn
hóa truyền thống thì chẳng khác nào tự đánh mất chính mình. Dân tộc đó sẽ
không thể nào có độc lập, tự do và phát triển bền vững. Bởi vậy, việc giữ gìn
và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình hội nhập quốc tế phải
luôn được đề cao, coi trọng. Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
không chỉ là việc đấu tranh chống tình trạng lệ thuộc vào dân tộc khác, mà
quan trọng hơn là phát huy được sức mạnh vốn có của dân tộc mình để biến

3



thành động lực phát triển. Lịch sử đã chứng minh, không có một quốc gia nào
bị mất giá trị văn hóa truyền thống mà vẫn giữ nguyên được nền độc lập
nước nhà. Nếu có độc lập, có chăng chỉ là độc lập hình thức, thực chất
vẫn chỉ là bị nô dịch, bị phụ thuộc vào các quốc gia bên ngoài. Nếu không
giữ gìn và phát huy được giá trị văn hóa truyền thống thì đất nước ta
không thể tiếp tục hội nhập được hoặc quá trình hội nhập cũng chẳng đem
đến kết quả khả quan như chúng ta mong đợi. Hơn thế, trong nhiều trường
hợp, khả năng giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống còn là
thước đo tính bền vững của một chính phủ. Nếu đất nước ta giữ gìn và
phát huy được giá trị của dân tộc thì chúng ta sẽ có vị thế cao hơn trên
trường quốc tế. Đánh mất bản thân sớm hay muộn cũng phải chịu sự phụ
thuộc, nô dịch của các quốc gia khác.
Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta không phải chỉ
nhằm hướng tới mục đích xác định sự khác biệt giữa dân tộc Việt Nam
với dân tộc khác, điều quan trọng hơn là, nhận thức đúng giá trị văn hóa
truyền thống Việt Nam sẽ trở thành niềm tự hào, thành sức mạnh thúc đẩy
xã hội phát triển. Tự hào là nhân dân của một quốc gia có 4000 năm lịch
sử, với nền văn hiến lâu đời, kết tụ bao giá trị văn hóa, bao tinh hoa của
dân tộc, chúng ta sẽ thêm yêu đất nước Việt Nam, cố gắng, phấn đấu để
xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng ổn định, phồn vinh và hạnh phúc.
Bởi vậy, việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam
là vô cùng quan trọng.
Là một đất nước có truyền thống lịch sử lâu đời, hơn bốn nghìn năm
dựng nước và giữ nước, từ lâu Việt Nam đã được biết đến như là một đất
nước của những con người nghị lực, dũng cảm, giàu lòng yêu nước và mang
đậm tính nhân văn cao cả. Trải qua bao khó khăn, khi là sự khắc nghiệt của
thiên nhiên, lúc lại là sự xâm lược của các thế lực từ bên ngoài, nước Việt

4



Nam vẫn đứng vững, vẫn hiên ngang. Có thể khẳng định rằng, có được thành
quả đó một phần quan trọng là do nhân dân Việt Nam luôn cố gắng giữ gìn và
phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc.
Thanh niên là bộ phận đặc biệt của xã hội, có vị trí quan trọng trong
suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Ngày nay trong
bối cảnh toàn cầu hóa, trước yêu cầu mới của vấn đề giữ gìn và phát huy giá
trị văn hóa truyền thống, thanh niên đã, đang và cần tiếp tục tự khẳng định
mình thực sự là lực lượng xung kích, sáng tạo trong đời sống xã hội, đóng vai
trò quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở
Việt Nam hiện nay. Trong “Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân
dịp Tết Nguyên đán năm 1946” Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một năm
khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của
xã hội”. Người cũng nói: “Đâu cần thanh niên có – Việc gì khó thanh niên
làm” [55, 621].
Với vai trò là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy
sự phát triển xã hội hiện tại và là chủ nhân tương lai của đất nước, thanh niên
Việt Nam đã thực hiện vai trò đối với việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa
truyền thống như thế nào? Và cần phải làm gì để nâng cao hơn nữa vai trò
của thanh niên đối với việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
Việt Nam? Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn, là niềm trăn trở của nhân dân Việt
Nam nói chung và của thanh niên Việt Nam nói riêng. Chúng tôi thiết nghĩ “Vai
trò của thanh niên đối với việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
ở Việt Nam hiện nay” là vấn đề mang tính thời sự cấp bách, luôn luôn có giá trị
và cần được khuyến khích cả về mặt lý luận, cả về mặt thực tiễn.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn có thể chia làm 3
nhóm:


5


Thứ nhất, nhóm những nghiên cứu về văn hóa và giá trị văn hóa
truyền thống Việt Nam
Nghiên cứu về văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam là
một đề tài rộng lớn nhưng không kém phần hấp dẫn. Trong thời gian qua
đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề nói trên.
Có thể kể đến một số công trình:
Tác phẩm “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm,
(NXB TP. Hồ Chí Minh, năm 1997). Trong tác phẩm này, tác giả đã đi sâu
nghiên cứu những nét bản sắc cùng quy luật hình thành và phát triển của
văn hóa. Đó chính là những đặc trưng cơ bản cần thiết cho việc hiểu văn
hóa Việt Nam. Trên cơ sở so sánh nền văn hóa Việt Nam với nền văn hóa
của các dân tộc phương Tây và văn hóa Trung Quốc, cuốn sách đã cho
thấy những nét rất đặc thù, rất khác biệt của bản sắc văn hóa Việt Nam so
với các dân tộc khác. Chính những sự khác biệt ấy đã giúp cho đất nước ta
chống lại sự xâm lược của kẻ thù và phát triển trường tồn qua lịch sử hàng
ngàn năm dựng nước và giữ nước.
Cuốn "Cơ sở văn hóa Việt Nam" (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999) của
Trần Ngọc Thêm thực ra là bản rút gọn chuyên luận khoa học “Tìm về bản
sắc văn hóa Việt Nam”. Tác giả đã đề cập đến một đặc trưng của văn hóa
Việt Nam là sự hài hòa thiên về âm tính. Âm tính được biểu hiện rất rõ trong
đời sống người Việt truyền thống: trong tổ chức gia đình truyền thống, trong
tổ chức xã hội, trong giao tiếp và quan hệ xã hội, trong đối ngoại ứng xử...
Trong cuốn "Bản sắc văn hóa Việt Nam" của Phan Ngọc (NXB Văn
hóa Thông tin, Hà Nội, 2002), tác giả đã nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong
mối quan hệ, trong sự so sánh và đối chiếu với văn hóa Trung Hoa, văn hóa
Pháp. Với việc đưa ra các đặc điểm “độ khúc xạ”, “vượt gộp” trong bản sắc
văn hóa Việt Nam, giáo sư cho rằng truyền thống văn hóa Việt Nam là truyền


6


thống “vượt gộp”. Văn hóa Việt Nam đã tiếp thu cái mới, cải biến cái cũ cho
thích hợp với hoàn cảnh mới nhưng vẫn giữ được truyền thống dân tộc.
Ngoài ra, có thể kể đến một số tác phẩm: Phan Ngọc với tác phẩm
“Một cách tiếp cận văn hóa” (NXB Thanh niên, Hà Nội, 1999); “Văn hóa
Việt Nam xã hội và con người” do Vũ Khiêu chủ biên (NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội, 2000); “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001) của
Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên); tác
phẩm“Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh (NXB Văn hóa –
Thông tin, Hà Nội 2002); “Đại cương về văn hóa Việt Nam” của Phạm Thái
Việt (chủ biên) và Đào Ngọc Tuấn (NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2004);
“Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam” do Ngô Đức Thịnh chủ
biên (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010)…
Có thể thấy rằng, nghiên cứu về văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống
Việt Nam giúp chúng ta hiểu được chính nội tại, tinh túy của dân tộc mình, từ
đó tự bảo vệ được mình trước sức ép của các thế lực bên ngoài và nhất là
trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.
Thứ hai, nhóm những nghiên cứu về vấn đề giữ gìn và phát huy giá
trị văn hóa truyền thống
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn
hóa truyền thống nói chung và trong thời kỳ hiện nay, có thể kể đến một số công
trình:
Tác phẩm “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” của
Trần Văn Giàu (Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, NXB
Thành phố Hồ Chí Minh, 1993): Từ việc phân tích một cách sâu sắc về các
giá trị tinh thần truyền thống của người Việt Nam, tác giả Trần Văn Giàu đã

khẳng định tính bền vững, trường tồn của các giá trị truyền thống. Đặc biệt, ở

7


góc độ sử học và đạo đức học, tác giả đã phân tích sự vận động của những giá
trị tinh thần truyền thống qua những sự kiện phong phú của lịch sử Việt Nam.
Từ đó, tác giả đã khẳng định sự cần thiết phải bảo vệ, giữ gìn và kế thừa, phát
huy giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình xây dựng xã hội mới.
Tác phẩm “Toàn cầu hóa và vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc” do
Trường Lưu biên soạn (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003). Trên cơ sở
nghiên cứu lý luận về phát triển bền vững gắn liền với tình hình thực tiễn
đang diễn ra trong nước và trên thế giới, cuốn sách đã đề cập những vấn đề cơ
bản của toàn cầu hóa và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc như: đặc điểm, bản
chất, tính hai mặt của toàn cầu hóa, đạo đức môi trường, kinh tế tri thức, nhân
tố con người trong văn hóa, hệ giá trị tư tưởng. Tác phẩm khẳng định phải
bảo tồn tính dân tộc và hiện đại hóa văn hóa truyền thống trước xu thế toàn
cầu hóa. Điều quan trọng là phải tìm trong chính sức mạnh nội sinh của mình
để đứng vững trước thử thách của toàn cầu, bảo tồn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc nhưng không đề cao thái quá và tràn lan để tránh nguy cơ dẫn đến
tình trạng bài ngoại, đóng cửa làm cho đất nước ngày càng bị tụt hậu so với
các nước phát triển.
Với việc đưa ra câu chuyện về “toàn tháp Babel” trong Kinh thánh của
đạo Cơ Đốc, Nguyễn Văn Dân trong cuốn “Văn hóa và phát triển trong bối
cảnh toàn cầu hóa” (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006) đã nhận định vấn
đề hội nhập về văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay là một xu thế
khách quan, một quá trình không thể đảo ngược được. Ông cho rằng trong bối
cảnh toàn cầu, loài người cần phải có sự hợp lực, đồng lòng và hiểu biết lẫn
nhau, như vậy mới có thể phát triển, mới có thể đạt tới ước mơ xây dựng một
ngôi nhà chung là tòa tháp Babel, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho

toàn nhân loại. Con đường đó vô cùng gian nan và không thể phủ nhận vai trò
vô cùng quan trọng của văn hóa, của bản sắc dân tộc. Giữ gìn và phát huy giá

8


trị văn hóa truyền thống dân tộc là điều cần phải làm của mỗi dân tộc ngay lúc
này, có như vậy mới có sự phát triển bền vững cho toàn nhân loại.
Tác giả Nguyễn Duy Bắc (chủ biên) với tác phẩm “Sự biến đổi các giá
trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
nay” (NXB Từ điển bách khoa và Viện văn hóa, Hà Nội, 2008). Tác phẩm đã
xây dựng được hệ thống lý luận cơ bản về văn hóa, giá trị văn hóa, biến đổi
giá trị văn hóa. Bên cạnh đó, tác phẩm cũng chỉ ra được thực trạng biến đổi
các giá trị văn hóa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Từ đó tác phẩm góp phần bổ sung
và hoàn thiện hệ thống đường lối, chính sách về phát triển văn hóa và con
người, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
hình thành các giá trị văn hóa mới trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong bài báo “Khả năng phát triển giá trị truyền thống Việt Nam
trước xu thế toàn cầu hóa” (Tạp chí Triết học, số 3, tháng 8 – 2001), Nguyễn
Tài Thư đã chỉ ra những cơ hội và đặc biệt là thách thức của văn hóa truyền
thống Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa. Trước tình hình đó, tác giả cho
rằng chúng ta cần phải chủ động đón nhận thách thức của toàn cầu hóa để hội
nhập và đưa giá trị truyền thống dân tộc lên một bước mới. Ví toàn cầu hóa
như “một dòng nước lớn” đang lan tràn khắp mọi nơi, ông cho rằng chúng ta cần
phải “bơi” theo nó, có bản lĩnh sẽ không bị “chết chìm”, có thông minh và sáng
tạo sẽ tranh thủ được nhiều cơ hội, tránh khỏi nhiều nguy cơ. Giá trị văn hóa
truyền thống có thể qua đây mà được giữ gìn, nâng cao và phong phú hơn.
Ngoài ra, chúng ta còn có thể đề cập đến nhiều công trình khác như:

“Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiê ̣n
đaị hóa” do Lê Như Hoa chủ biên (NXB Văn hóa - thông tin, Hà Nội, 1996);
“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Viê ̣t Nam tiên tiế n, đâm
̣ đà bản sắ c

9


DANH MỤC TÀ I LIỆU THAM KHẢO
1.

Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Văn hóa –

Thông tin, Hà Nội.
2.

Nguyễn Thục Anh, “Bản sắc văn hóa dân tộc trong sự giao lưu và hội

nhập văn hóa”, Tạp chí Triết học số 2 (108), tháng 4 – 1999, tr 32.
3.

Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2004), Tài liệu nghiên cứu Kết

luận Hội nghị lần thứ mười, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4.

Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Vụ tuyên truyền và Hợp tác quốc

tế (2004), Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của

nước ta, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
5.

Nguyễn Duy Bắc (chủ biên) (2008), Sự biến đổi các giá trị văn hóa

trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, NXB Từ
điển bách khoa và Viện văn hóa, Hà Nội.
6.

Nguyễn Chí Bền (chủ biên) (2010), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh

hội nhập kinh tế quốc tế, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7.

Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên)

(2001), Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
8.

Nguyễn Văn Dân (2006), Văn hóa và phát triển trong bối cảnh toàn

cầu hóa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
9.

Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo dục đại học - chất lượng và

đánh giá, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội.
10.


Vũ Cao Đàm (2006), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học , NXB.

Khoa ho ̣c và kỹ thuâ ̣t, Hà Nội.
11.

Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban

Chấp hành Trung ương khóa VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

10


12.

Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
13.

Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban

Chấp hành Trung ương khóa VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
14.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
15.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc


lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
16.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Đại biểu toàn quốc thời kỳ

đổi mới (Khóa VI, VII, VIII, IX, X), phần II, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
18.

Nguyễn Khoa Điề m(chủ biên) (2001), Xây dựng và phát triển nề n văn hóa

Viê ̣t Nam tiên tiế n, đậm đà bản sắ c dân tộ,cNXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2007), Báo cáo chuyên đề

“Định hướng giá trị cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay” của Ban Thanh
niên trường học, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hà Nội.
20.

Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2008), Văn kiện Đại hội Đại

biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Thanh niên, Hà Nội
21.


Hà Minh Đức (2008), Một nền văn hóa văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc

với nhiều loại hình nghệ thuật phong phú, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
22.

Phạm Duy Đức (2008), Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn

hóa, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
23.

Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt

Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
24.

Phạm Minh Hạc - Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) (2003), Về phát triển

văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội.

11


25.

Phạm Minh Hạc - Thái Duy Tuyên (chủ biên) (2012), Định hướng giá

trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
26.


Hồ Hoàng Hoa (chủ biên) (2002), Văn hóa Nhật những chặng đường

phát triển, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
27.

Lê Như Hoa (chủ biên) (1996), Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong

bố i cảnh công nghiê ̣p hó,ahiê ̣n đại hóa, NXB Văn hóa - thông tin, Hà Nội.
28.

Lê Huy Hòa – Hoàng Đức Nhuận (Tuyển chọn và giới thiệu), Văn hóa

Việt Nam truyền thống và hiện đại, Nghiên cứu của các giáo sư chuyên gia về
văn hóa, NXB Văn hóa, Hà Nội.
29.

Hội đồng Quốc gia biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ

điển Bách khoa Việt Nam I, Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt
Nam, Hà Nội.
30.

Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc (1995), NXB Chính trị Quốc gia,

Hà Nội.
31.

Đỗ Huy, “Giao tiếp văn hóa và hệ giải pháp hình thành những giá trị

văn hóa mới ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học số 4, tháng 12 – 1992, 20 - 25.

32.

Đỗ Huy (2005), Văn hóa và phát triển, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

33.

Nguyễn Văn Huyên, “Giá trị truyền thống – nhân lõi và sức sống bên

trong của sự phát triển đất nước, dân tộc”, Tạp chí Triết học số 4 (104), tháng
8 – năm 1998, 8 - 11.
34.

Nguyễn Văn Huyên, “Lối sống người Việt Nam dưới tác động của toàn

cầu hóa”, Tạp chí Triết học số 151, tháng 12 – năm 2003, 33 – 34.
35.

Vũ Khiêu (chủ biên) (1974), Đạo đức mới, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

36.

Vũ Khiêu (chủ biên) (2000), Văn hóa Việt Nam xã hội và con người,

NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
37.

Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang (chủ biên) (1996), Các giá trị truyền

thống và con người Việt Nam hiện nay, tập 2, NXB Hà Nội.


12


38.

V.I.Lênin (1970), Bàn về cách mạng tư tưởng văn hóa, NXB. Tiến Bộ,

Matxcơva.
39.

V.I.Lênin (2004): V.I.Lênin bàn về thanh niên, NXB Thanh Niên, Hà Nội.

40.

V.I.Lênin (1978), Toàn tập, Tập 31, NXB Tiến bộ, Mátxcơva.

41.

V.I.Lênin (1977), Toàn tập, Tập 37, NXB Tiến bộ, Mátxcơva.

42.

Trường Lưu (2003), Toàn cầu hóa và vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc,

NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
43.

C.Mác - Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội.

44.


C.Mác - Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 3, NXB Sự thật, Hà Nội.

45.

C.Mác - Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 4, NXB Sự thật, Hà Nội.

46.

C.Mác - Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 36, NXB Sự thật, Hà Nội.

47.

C.Mác - Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị Quốc gia,

Hà Nội.
48.

C.Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 8, NXB Chính trị Quốc Gia,

Hà Nội.
49.

Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

50.

Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

51.


Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 7, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

52.

Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 8, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

53.

Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 10, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

54.

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

55.

Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

56.

Hồ Chí Minh (2009), Toàn tập, tập 6, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

57.

Nguyễn Bá Ngọc - Trần Văn Hoan (đồng chủ biên) (2002), Toàn cầu

hóa: Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam, NXB Lao động – Xã
hội, Hà Nội.
58.


Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa Thông

tin, Hà Nội.

13


59.

Phan Ngọc (1999), Một cách tiếp cận văn hóa, NXB Thanh niên, Hà Nội.

60.

Phan Ngọc (2006), Sự tiếp xúc văn hóa Việt Nam với Pháp, NXB Văn

hóa thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội.
61.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa

VII: Về công tác thanh niên trong thời kỳ mới, số 04 – NQ/HNTW, ngày 1401 - 1993.
62.

Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X): Về tăng cường sự lãnh đạo của

Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, Số 25-NQ/TW, ngày 25 - 7 - 2008.
63.


Trần Quy Nhơn (2003): Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của thanh

niên trong Cách mạng Việt Nam, NXB Thanh Niên, Hà Nội.
64.

Vũ Ngọc Phan (2008), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, NXB Văn học.

65.

Hoàng Phê (chủ biên) (1997): Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.

66.

Nguyễn Trường Phước (2003), Đạo đức sinh viên trong quá trình

chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Thực trạng, vấn đề và giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học, Mã số QG.0118, Đại học quốc gia Hà Nội.
67.

M.Rôdentan, P.Iuđin (1978), Từ điển triết học, Bản dịch và in lần thứ 3

của NXB Sự thật, Hà Nội.
68.

Đỗ Tiến Sâm - Phạm Duy Đức (2010), Văn hóa Đông Á trong tiến

trình hội nhập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
69.

Hồ Bá Thâm (2003), Bản sắc văn hóa dân tộc, NXB Văn hóa – thông


tin, Hà Nội.
70.

Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.

71.

Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB

Thành phố Hồ Chí Minh.
72.

Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2010), Những giá trị văn hóa truyền thống

Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

14


73.

Lưu Thu Thủy (2000), Thực trạng tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống

của học sinh, sinh viên qua kết quả khảo cứu tư liệu, Kỷ yếu Hội thảo quốc
gia “Thực trạng và giải pháp giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống
cho học sinh, sinh viên Việt Nam”, Hà Nội.
74.

Nguyễn Tài Thư, “Khả năng phát triển giá trị truyền thống Việt Nam


trước xu thế toàn cầu hóa”, Tạp chí Triết học, số 3, tháng 8 – 2001, 29 – 32.
75.

Lê Ngọc Tòng - Lê Hữu Nghĩa (đồng chủ biên) (2004), Toàn cầu hóa

những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
76.

Thái Duy Tuyên (chủ biên) (1994), Tìm hiểu định hướng giá trị của

thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường, NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
77.

Từ điển triết học, NXB Tiến Bộ, Mátxcơva, 1986.

78.

Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang (1995): Giá trị -

Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị, Chương trình Khoa học
công nghệ cấp nhà nước, KX07, Đề tài KX.07-14, Hà Nội.
79.

Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2004), Báo cáo tổng kết kết quả

nghiên cứu đề tài “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải
pháp”, Hà Nội.
80.


Phạm Thái Việt, “Bản sắc văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Tạp

chí Triết học, số 8 (159), tháng 6 – 2004, 33 – 37.
81.

Phạm Thái Việt (chủ biên) – Đào Ngọc Tuấn (2004), Đại cương về văn

hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.
82.

Trần Quốc Vượng (chủ biên) (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB

Giáo dục, Hà Nội.

15



×