Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

Bình luận bản án tranh chấp ly hôn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (203.5 KB, 29 trang )

BÌNH LUẬN CÁC VỤ ÁN ĐIỂN HÌNH
VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
VỤ VIỆC SỐ 1
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn - ông Nguyễn Bá H trình bày:
Ông H và bà M kết hôn năm 1972 có đăng ký kết hôn ngày 21/3/1972 tại UBND xã
TD. Việc ông kết hôn với bà M là do lúc đó ông còn đang đi học, bị bố mẹ ép buộc.
Hai vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 1990 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên
nhân do vợ chồng ông có sự bất đồng về nhận thức, tư tưởng và lối sống, bà M đi theo
đạo Long Hoa Di Lặc, không thờ cúng tổ tiên. Ông H đã khuyên giải nhiều lần nhưng bà
M không nghe. Đặc biệt từ năm 2002 cho đến nay, bà M không tôn trọng chồng, bịa đặt
nhiều chuyện làm mất danh dự của ông H. Thực tế vợ chồng ông H bà M đã ly thân với
nhau từ năm 1990. Nay tình cảm giữa ông với bà M không còn, nên ngày 20/10/2007,
ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà M.
Về con chung: Vợ chồng ông có bốn con chung gồm:
- Nguyễn Thị N, sinh năm 1973.
- Nguyễn Bá D, sinh năm 1980 (đã chết 2001).
- Nguyễn Thị T, sinh năm 1982.
- Nguyễn Thị Lan P, sinh năm 1987.
Các con hiện nay đã trưởng thành, việc ở với ai là do các con tự quyết định.
Về động sản: Ông bà có những tài sản chung sau:
- 02 chiếc giường.
1


- 01 tủ đứng ba buồng.
- 01 bộ bàn ghế ngồi.
- 01 vô tuyến.
Khi

ly



hôn,

những

tài

sản

trên

ông

để

lại

hết

cho



M

sử dụng.
Về bất động sản: Hiện nay, vợ chồng ông đang ở tại nhà đất của bố mẹ ông, gồm 05
gian nhà cổ có từ cách đây trên 70 năm trên diện tích 375m 2 đất. Quá trình ở, vợ chồng
ông đã tu tạo, sửa chữa từ năm 1984: Thay cửa đại hội bằng cửa bức bàn và xây mới 5
gian công trình phụ. Công sức tu tạo này chủ yếu là của ông H, bà M làm ruộng nên công

sức ít hơn; các con khi đó còn nhỏ, đang đi học nên không có công sức gì.
Năm 2006, chị N bỏ tiền để làm chuồng gà nhưng không được sự đồng ý của ông
H. Chị N có lăn sơn tường nhà, trát lại tường cũng không được ông đồng ý. Chị P đi học
không có đóng góp gì. Gia đình ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đứng tên bà M là chủ hộ. Đây là nhà đất của tổ tiên để lại nên khi ly hôn, ông đề nghị
được hưởng toàn bộ, ông sẽ hỗ trợ cho bà M 10.000.000 đồng để bà M lo chỗ ở mới.
Bị đơn - bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà M và ông H lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai gia đình,
có đăng ký kết hôn ngày 21/3/1972 tại UBND xã TD, huyện ĐA, tỉnh H. Cuộc sống vợ
chồng hoà thuận, hạnh phúc và đã có 4 con chung là:
- Nguyễn Thị N - sinh năm 1973.
- Nguyễn Bá D - sinh năm 1980 (đã chết).
- Nguyễn Thị T- sinh năm 1982.
- Nguyễn Thị Lan P - sinh năm 1987.
Suốt thời gian ông H công tác trong miền Nam, một mình bà nuôi dạy các con, gánh
vác công việc gia đình nhà chồng, làm trọn đạo dâu con. Do ông H có quan hệ bất chính
với người phụ nữ khác nên nay có đơn xin ly hôn bà, bà M không đồng ý. Bà M vẫn còn
2


tình cảm với ông H, lúc nào mẹ con bà cũng giang tay đón ông H về, bà đề nghị Toà án
bác đơn ly hôn của ông H, tạo điều kiện cho vợ chồng bà được đoàn tụ. Bà M xác nhận
bà có theo đạo Long Hoa Di Lặc, nhưng với mục đích tu nhân, tích đức làm điều thiện,
không hại ai. Đồng thời, bà M vẫn cúng giỗ tổ tiên bình thường.
Về tài sản:
- Động sản: Vợ chồng bà có: 01 tủ chè, 01 tủ đứng, 02 chiếc giường, 01 khuôn
tranh, 01 ti vi, 01 bộ bàn ghế.
- Về bất động sản: Ngôi nhà cấp 4 năm gian trên diện tích 375m 2 đất là của bố mẹ
chồng bà để lại cho vợ chồng bà. Năm 1998, bà được UBND huyện ĐA cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ở cho hộ gia đình bà. Quá trình ở đây bà có sửa chữa, tu bổ như:

Trát lại tường, thay 1 số cột, đảo ngói, lăn sơn… hết 10.000.000 đồng (năm 2006) đến
năm 2007: Xây mới 04 gian chuồng gà hết 7.000.000 đồng. Ngoài ra còn thay khung mái
chuồng gà cũ. Quá trình sửa chữa nhà và xây dựng các công trình trên, con gái Nguyễn
Thị Lan P có đóng góp cho bà 5.000.000 đồng, còn tất cả là của bà bỏ ra.
Nay ông H cố tình ly hôn, bà M đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật. Bà M
không đồng ý chia nhà, đất, vì nhà đất là của tổ tiên để lại và bản thân bà có rất nhiều
công sức tu bổ, tôn tạo, nên cần phải giữ gìn để thờ cúng tổ tiên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T) trình
bày:
Nhà đất hiện mẹ chị đang ở là của ông bà nội cho bố mẹ các chị. Mẹ các chị là bà M
có rất nhiều công sức tu bổ, tôn tạo nhà cửa và xây mới 1 số công trình như: làm nhà tắm,
xây 04 gian chuồng gà… Các chị đề nghị Toà án bác đơn ly hôn để cho bố mẹ các chị
đoàn tụ gia đình. Đối với các tài sản trong gia đình, các chị thống nhất lời trình bày và
quan điểm của bà M (mẹ các chị).
Chị Nguyễn Thị Lan P trình bày:
3


Năm 2006, mẹ chị (bà M) có sửa sang nhà cửa, chị có đóng góp 5.000.000 đồng cho
mẹ. Nay chị đồng ý để cho mẹ chị được sử dụng số tiền trên.
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Theo nội dung cung cấp của UBND xã TD, huyện ĐA, tỉnh H trong biên bản xác
minh của Tòa án thì: “Cuộc sống vợ chồng của ông H, bà M hạnh phúc và có 04 con: 03
gái + 01 trai. Các cháu đều đã trưởng thành. Bà M là người phụ nữ chịu thương, chịu
khó, chăm lo xây dựng cuộc sống gia đình, làm trọn nghĩa vụ dâu con với gia đình nhà
chồng và anh em họ hàng, quan hệ tốt với bà con làng xóm, không có điều tiếng gì. Về
phía ông H do có quan hệ với người phụ nữ khác nên xin ly hôn bà M. Đề nghị Toà án
bác đơn ly hôn của ông H vì lý do xin ly hôn của ông H là không chính đáng”.
Công văn số 024 ngày 22/3/2008 của Hội liên hiệp phụ nữ huyện ĐA, tỉnh H có nội

dung xác nhận về sự thiệt thòi của bà M trong nhiều năm qua do phía ông H không quan
tâm. Đồng thời quý Hội cũng đề nghị xem xét và bác đơn xin ly hôn của ông H.
- “Đơn kiến nghị” ngày 15/3/2008 của nội tộc gia đình ông H gửi Toà án với nội
dung xác nhận: Quá trình chung sống hạnh phúc giữa ông H và bà M; bà M là người phụ
nữ chịu thương, chịu khó, sống chung thuỷ với chồng, có hiếu với bố mẹ, hoà thuận với
họ hàng nội ngoại; lý do ông H xin ly hôn bà M là không chính đáng; đề nghị Toà án xử
bác đơn ly hôn của ông H.
Tại phiên toà sơ thẩm: Ông Nguyễn Bá H vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn bà Nguyễn
Thị M. Bà Nguyễn Thị M đề nghị Toà án bác yêu cầu ly hôn của ông H, để vợ chồng bà
có điều kiện đoàn tụ gia đình. Chị Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thị T đề nghị Toà án
giải quyết theo pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho bà M.
Bình luận:
* Về quan hệ hôn nhân của Ông Nguyễn Bá H và bà Nguyễn Thị M:
Ông Nguyễn Bá H và bà Nguyễn Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký
kết hôn tại UBND xã TD ngày 21/3/1972. Quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà M không
vi phạm các điều kiện kết hôn do pháp luật quy định nên là hôn nhân hợp pháp. Quan hệ
4


hôn nhân giữa ông H và bà M xác lập vào năm 1972 nên luật áp dụng để xem xét tính
hợp pháp của quan hệ hôn nhân giữa ông H, bà M là Luật Hôn nhân và gia đình năm
1959. Cần phải căn cứ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 để xác định
tính hợp pháp của hôn nhân, cụ thể các điều 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 1959 đã quy định các điều kiện kết hôn.
Điều 4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:
Con trai và con gái đến tuổi, được hoàn toàn tự nguyện quyết định việc kết hôn của
mình; không bên nào được ép buộc bên nào, không một ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:
Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác.
Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:

Con gái từ 18 tuổi trở lên, con trai từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn.
Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:
Việc để tang không cản trở việc kết hôn.
Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:
Đàn bà goá có quyền tái giá; khi tái giá, quyền lợi của người đàn bà goá về con cái
và tài sản được bảo đảm.
Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:
Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con
nuôi.
Cấm kết hôn giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ
khác cha. Đối với những người khác có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích
thuộc về trực hệ, thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tập quán.
Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:

5


Những người sau đây không được kết hôn: bất lực hoàn toàn về sinh lý; mắc một
trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc, mà chưa chữa khỏi.
Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:
Việc kết hôn phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của bên người con
trai hoặc bên người con gái công nhận và ghi vào sổ kết hôn.
Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị về mặt pháp luật.
* Về căn cứ ly hôn:
Theo ông H thì lý do chủ yếu, quan trọng nhất để ông xin ly hôn bà M là do bà M
theo đạo Long Hoa Di Lặc. Vì theo đạo này, nên bà M đã không thờ cúng tổ tiên (ông bà,
cha mẹ và các anh chị ông). Ngoài ra, bà M không tôn trọng ông. Khi ông đau yếu bệnh
tật, bà M không thăm hỏi. Về phía bà M khẳng định: Những lý do ông H đưa ra để xin ly
hôn bà là không chính đáng. Từ khi bà xây dựng gia đình với ông H đến nay, bà luôn
chăm lo cuộc sống gia đình, chung thuỷ với chồng, sống trọn đạo dâu con với gia đình

nhà chồng. Việc bà theo đạo Long Hoa Di Lặc là với mục đích tu nhân, tích đức làm điều
thiện, không hại ai. Nay ông H xin ly hôn bà là do ông có quan hệ bất chính với người
phụ nữ khác nên bà không đồng ý ly hôn.
Xem

xét

các

tài

liệu,

chứng

cứ



trong

hồ



vụ

án,

cụ thể:

- Theo nội dung cung cấp của UBND xã TD, huyện ĐA, tỉnh H trong biên bản xác
minh của Tòa án thì: “Cuộc sống vợ chồng của ông H, bà M hạnh phúc và có 04 con: 03
gái + 01 trai. Các cháu đều đã trưởng thành. Bà M là người phụ nữ chịu thương, chịu
khó, chăm lo xây dựng cuộc sống gia đình, làm trọn nghĩa vụ dâu con với gia đình nhà
chồng và anh em họ hàng, quan hệ tốt với bà con làng xóm, không có điều tiếng gì. Về
phía ông H do có quan hệ với người phụ nữ khác nên xin ly hôn bà M. Đề nghị toà án
bác đơn ly hôn của ông H vì lý do xin ly hôn của ông H là không chính đáng”.

6


- Hội liên hiệp phụ nữ huyện ĐA xác nhận sự thiệt thòi của bà M trong nhiều năm
qua do phía ông H không quan tâm. Đồng thời, quý Hội cũng đề nghị xem xét và bác đơn
xin ly hôn của ông H.
- Nội tộc gia đình ông H cũng có “Đơn kiến nghị” gửi Toà án với nội dung xác
nhận:
+ Quá trình chung sống hạnh phúc giữa ông H và bà M.
+ Bà M là người phụ nữ chịu thương, chịu khó, sống chung thuỷ với chồng, có hiếu
với bố mẹ, hoà thuận với họ hàng nội ngoại.
+ Lý do ông H xin ly hôn bà M là không chính đáng.
Đồng thời, phía nội tộc gia đình ông H đề nghị Toà án xử bác đơn ly hôn của ông
H.
Với các căn cứ, Hội đồng xét xử thấy việc ông H xin ly hôn bà M là không có cơ sở,
không phù hợp với căn cứ ly hôn được quy định tại Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 và Mục 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000. Lời khai của bà M phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong
hồ sơ, đồng thời bà M vẫn tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông H, để tạo điều kiện cho vợ chồng bà được đoàn tụ, cùng nhau xây dựng
hạnh phúc gia đình. Ông H đưa ra căn cứ ly hôn do bà M theo đạo Long Hoa Di Lặc là

không phù hợp với Điều 18, 22 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong quan hệ hôn
nhân và gia đình, vợ chồng bình đẳng và mỗi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tự do
theo hoặc không theo tôn giáo; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Tình nghĩa vợ chồng
Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau
xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
7


Điều 22 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng
Vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; không được cưỡng
ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào.
Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Căn cứ cho ly hôn
1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định
cho ly hôn.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly
Muc 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Căn cứ cho ly hôn (Điều 89)
a) Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy
tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân
không đạt được.
a.1) Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:
- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào
chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì

sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều
lần.
- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh
đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được
bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.
8


- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người
vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở,
khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;
a.2) Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được,
thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng
dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần,
nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau
hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận
định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.
a.3) Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng;
không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân
phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ,
chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.
Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể được giải quyết như sau:
1. Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông H đối với bà M là đúng pháp luật.
2. Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn nên về con cái, tài sản: không xem xét, giải
quyết.
VỤ VIỆC SỐ 2
Nội dung vụ án:
Chị Trần Thúy L và anh Nguyễn Văn Nh kết hôn năm 1988 có đăng ký kết hôn tại
UBND xã MK. Sau khi cưới, vợ chồng anh chị sống hạnh phúc đến cuối năm 2004 thì
phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do quan điểm sống không hợp nhau, anh Nh ghen

tuông nên đã đánh đập chị L. Nay cả anh Nh và chị L đều khẳng định tình cảm vợ chồng
không còn, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, chị L làm đơn xin ly hôn, anh Nh không
đồng ý, đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng được đoàn tụ.
- Về con chung: Anh chị có 2 con chung:
9


+ Cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 28/02/1989.
+ Cháu Nguyễn Minh H, sinh ngày 03/5/1995.
Cháu T đã trưởng thành. Ly hôn cả chị L và anh Nh đều xin được nuôi cháu H.
- Về tài sản chung:
+ Động sản: Đồ dùng sinh hoạt gồm có: 1 xe máy Trung Quốc biển kiểm soát L4783, 1 tủ tường, 1 vô tuyến, 1 bộ bàn ghế sa lông, 1 quạt cây, 1 quạt bàn, 2 giường đôi, 1
tủ giấy, 1 chăn to, 1 tủ gỗ cũ, 1 bếp gas đôi, 1 nồi cơm điện, 1 nồi gang, 1 bộ loa Trung
Quốc, 3 đồng hồ treo tường, 4 chậu nhôm to nhỏ, 3 chăn cũ, 1 hòm sắt cũ, 1 ấm đun điện,
2 quạt treo tường, 1 vỏ bình gas, 2 gối cũ. Ly hôn anh Nh, chị L thỏa thuận để anh Nh sở
hữu toàn bộ số tài sản trên mà không yêu cầu phải thanh toán chênh lệch tài sản cho chị.
+ Về bất động sản:
Nhà đất tại thửa số 19 tờ bản đồ số 27 thôn PL, xã MK huyện TL, tỉnh H. Nhà tại
thôn PL, xã MK, huyện TL hiện anh Nh đang ở quản lý sử dụng có nguồn gốc đất trước
đây năm 1980 ông Nguyễn Văn T - bố của anh Nh, làm đơn xin cấp đất giãn dân. Sau khi
được cấp đất giãn dân một thời gian ngắn thì ông T mất. Anh Nh đi bộ đội về và ra mảnh
đất này làm nhà cấp 4 để ở. Năm 1988, anh Nh và chị L lấy nhau và ở tại đây. Quá trình
ở, anh Nh, chị L tôn đất trồng cây, xây tường bao quanh. Năm 2003, anh Nh được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 264m 2. Khi làm nhà năm 2004, vợ chồng
anh Nh, chị L phá nhà cũ đi có tận dụng khoảng 60% gạch cũ để xây nhà, xây công trình
phụ, bếp, bể nước, láng sân xi măng, xây tường rào xung quanh nhà, tôn đất lên cao. Nay
ly hôn chị L có yêu cầu xin được chia chỗ ở. Anh Nh không nhất trí với yêu cầu này của
chị L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Nguyễn Văn C - anh trai anh Nh)
trình bày:

Nhà cấp 4 được xây năm 1986 khi anh Nh chưa lấy chị L là do anh C xây cho anh
Nh ở, tường bao xung quanh do anh xây cùng khi làm nhà cấp 4. Năm 2004, khi anh Nh
phá nhà cũ đi tận dụng khoảng 60% gạch cũ để xây nhà. Còn về diện tích đất giãn dân
10


hợp tác xã cấp cho ông T, khi ông T chết có giao lại cho anh C trông nom quản lý. Việc
anh Nh, chị L ở nhà đất này là ở tạm chứ gia đình chưa cho hẳn, nay anh Nh, chị L ly
hôn, anh C không nhất trí tạo điều kiện chỗ ở cho chị L.
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Trong Biên bản lấy lời khai ngày 24/7/2010, anh C khai năm 2004, khi vợ chồng
anh Nh - chị L phá nhà cũ xây năm 1986 để xây nhà mới thì anh C cũng không có ý kiến
gì.
Ngày 09/7/2003, UBND huyện TL đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng 264m 2
đất này cho hộ gia đình anh Nh, thời điểm đó anh C ở ngay gần nhà anh Nh cũng kê khai
xin được cấp Giấy chứng nhận diện tích đất anh C đang ở. Hộ gia đình anh Nh được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh C không có ý kiến phản đối gì.
Cháu H có đơn xin được ở với anh Nh. Chị L, anh Nh đều thống nhất đề nghị Toà
án giải quyết theo nguyện vọng cháu H, chị L không phải đóng góp nuôi con.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị L yêu cầu được chia 75 m 2 đất chiều rộng là 5 m, chiều
dài 15 m tài sản trên đất gồm tường rào, lối đi lát gạch, 06 cây bưởi trong tổng số 264 m 2
đất thửa số 19 tờ bản đồ số 27 thôn PL - xã MK - huyện TL - tỉnh H.
Bình luận:
* Về quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Văn Nh và chị Trần Thúy L:
Anh Nguyễn Văn Nh và chị Trần Thúy L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng
ký kết hôn tại UBND xã MK ngày 05/12/1988. Quan hệ hôn nhân giữa anh Nh và chị L
tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp
pháp. Vì quan hệ hôn nhân giữa anh Nh và chị L xác lập vào năm 1988 nên luật áp dụng
để xem xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân giữa anh Nh, chị L là Luật Hôn nhân và
gia đình năm 1986. Do đó, cần phải căn cứ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình

năm 1986 để xác định tính hợp pháp của hôn nhân giữa chị L và anh Nh, cụ thể tại các
điều 5, 6, 7, 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã quy định các điều kiện kết hôn.
11


Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định:
Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn.
Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định:
Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên
nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
Điều 7 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định:
Cấm kết hôn trong những trường hợp sau đây:
a) Đang có vợ hoặc có chồng;
b) Đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình; đang
mắc bệnh hoa liễu;
c) Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng
cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời;
d) Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.
Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định:
Việc kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong
hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định.
Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở ngoài nước do cơ quan đại diện
ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận.
Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý.
Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 quy định:
Việc kết hôn vi phạm một trong các ddiều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật.
Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có
vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữa

12



Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu
cầu Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ được giải quyết theo nguyên tắc: tài
sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy; tài sản chung được chia căn cứ
vào công sức đóng góp của mỗi bên; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị
cưỡng ép kết hôn được bảo vệ.
Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn.
Vì quan hệ hôn nhân giữa anh Nh và chị L hoàn toàn hợp pháp nên thời điểm xác
lập quan hệ vợ chồng tính từ khi kết hôn và từ thời điểm này phát sinh các quyền và
nghĩa vụ về nhân thân, tài sản giữa vợ và chồng.
* Về căn cứ ly hôn:
Vợ chồng anh Nh - chị L chung sống hạnh phúc đến năm 2004 thì phát sinh mâu
thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống không hợp nhau, anh Nh ghen tuông nên đã đánh
đập chị L. Nay cả anh Nh và chị L đều khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, vợ
chồng không ai quan tâm đến ai. Chị L yêu cầu ly hôn, anh Nh không đồng ý. Tuy nhiên
mâu thuẫn giữa anh Nh và chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, trong
cuộc sống hàng ngày vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau
mà thường xuyên xúc phạm lẫn nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy
định tại Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên yêu cầu của chị L được chấp
nhận.
Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Căn cứ cho ly hôn
1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định
cho ly hôn.

13



2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly
hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn.
* Về việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con:
Anh Nh và chị L có 2 con chung: Cháu Nguyễn Anh T - sinh ngày 28/02/1989,
Cháu Nguyễn Minh H - sinh ngày 03/5/1995. Cháu T đã đủ 18 tuổi, không bị mất năng
lực hành vi dân sự nên theo quy định tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
việc ở với ai là do các cháu tự quyết định, Toà án không xem xét việc giao nuôi cháu T.
Cháu H có đơn xin được ở với anh Nh; chị L, anh Nh đều thống nhất đề nghị Toà án giải
quyết theo nguyện vọng cháu H, chị L không phải đóng góp nuôi con. Sự tự nguyện của
cháu H, anh Nh, chị L là phù hợp với Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn
1. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi
dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,
không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
2. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con
cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín
tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên
không có thoả thuận khác.
* Về tài sản chung:
- Về động sản: Các tài sản là động sản thuộc sở hữu chung của chị L, anh Nh gồm
có: 1 xe máy Trung Quốc biển kiểm soát L-4783, 1 tủ tường, 1 vô tuyến, 1 bộ bàn ghế sa
lông, 1 quạt cây, 1 quạt bàn, 2 giường đôi, 1 tủ giấy, 1 chăn to, 1 tủ gỗ cũ, 1 bếp gas đôi,
14



1 nồi cơm điện, 1 nồi gang, 1 bộ loa Trung Quốc, 3 đồng hồ treo tường, 4 chậu nhôm to
nhỏ, 3 chăn cũ, 1 hòm sắt cũ, 1 ấm đun điện, 2 quạt treo tường, 1 vỏ bình gas, 2 gối cũ.
Đây là tài sản do anh Nh và chị L tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung theo quy
định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Anh Nh và chị L thỏa thuận để
anh Nh sở hữu toàn bộ số tài sản trên mà không yêu cầu phải thanh toán chênh lệch tài
sản cho chị. Sự thoả thuận trên của anh Nh và chị L là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với
quy định của Điều 5, 10 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Điều 95 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000 nên được công nhận.
Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho
chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ
chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế
riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài

sản

chung

của

vợ

chồng

thuộc


sở

hữu

chung

hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy
định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của
cả vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định:
Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
15


1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải
quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện,
đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay
đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp
luật và đạo đức xã hội.
Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định:
Hoà giải trong tố tụng dân sự
Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự
thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn

1. Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì
yêu cầu Toà án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.
2. Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:
a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn
cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy
trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động
có thu nhập;
b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên
bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản
để tự nuôi mình;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp
để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

16


d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào
nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh
toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
3. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả
thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về bất động sản:
Vấn đề cần phải xác định ở đây là 264m 2 đất đó có phải là tài sản chung của anh
Nh, chị L hay không. Căn cứ vào lời khai của anh Nh, anh C và chị L cùng cung cấp cho
UBND xã MK cần khẳng định 264 m 2 đất đó có nguồn gốc do hợp tác xã cấp cho ông
Nguyễn Văn T - bố đẻ anh Nh từ năm 1984. Mặc dù diện tích đất 264 m 2 đúng là hợp tác
xã cấp cho bố anh Nh song ông đã chết năm 1984. Năm 1988, khi anh Nh kết hôn với chị
L, anh Nh và chị L đã quản lý, sử dụng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng thuế của người
sử dụng đất. Quá trình sử dụng, anh Nh, chị L đã làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và kê khai người sử dụng đất là anh Nh, chị L. Chính vì vậy ngày 09/7/2003,

UBND huyện TL đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng 264m 2 đất này cho hộ gia đình
anh Nh chứ không phải cho cá nhân anh Nh. Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho chị L, anh Nh được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và
tại thời điểm đó thì chính anh C có biết (vì anh C ở ngay gần đó cũng kê khai xin được
cấp Giấy chứng nhận diện tích đất anh C đang ở) mà không có phản đối gì.
Do vậy, về căn cứ pháp lý, Nhà nước đã xác nhận quyền sử dụng 264m 2 đất thửa số
19 tờ bản đồ số 27 thôn PL, xã MK, huyện TL, tỉnh H là tài sản chung của anh Nh, chị L
theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003.
Khoản 3 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định:
3. Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định
là việc Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người đó.
Về giá trị xây dựng trên đất là tài sản chung của vợ chồng anh Nh, chị L, nay ly hôn
thì phải chia đôi giá trị xây dựng, còn quyền sử dụng đất thì chia cho chị L ít hơn anh Nh
17


vì nguồn gốc đất là do bố anh Nh để lại. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, chị L chỉ yêu
cầu được chia 75 m2 đất có chiều rộng là 5m, chiều dài 15 m và tài sản trên đất gồm
tường rào, lối đi lát gạch, 06 cây bưởi trong tổng số 264 m 2 đất thửa số 19 tờ bản đồ số 27
thôn PL, xã MK, huyện TL, tỉnh H. Yêu cầu của chị L phù hợp với Điều 5 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2004, như vậy yêu cầu của chị L được chấp nhận.
Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể được giải quyết như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thuý L đối với anh Nguyễn Văn Nh.
Chị Trần Thuý L được ly hôn anh Nguyễn Văn Nh.
2. Về con chung: Có 2 con chung là Nguyễn Anh T - sinh ngày 28/02/1989, Nguyễn
Minh H - sinh ngày 03/5/19950.
- Nguyễn Anh T đã trưởng thành ở với ai là quyền của cháu T, Toà án không giải
quyết.
- Giao anh Nh trực tiếp nuôi cháu H, tạm hoãn việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con
chung của chị L cho đến khi nào anh Nh yêu cầu hay có sự thay đổi khác.

Chị L có quyền đi lại chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
3. Về tài sản chung:
a) Động sản:
Công nhận sự thỏa thuận của chị L, anh Nh để lại cho anh Nh sở hữu toàn bộ số tài
sản gồm có: 1 xe máy Trung Quốc biển kiểm soát L-4783, 01 tủ tường, 01 vô tuyến, 01
bộ bàn ghế sa lông, 01 quạt cây, 01 quạt bàn, 02 giường đôi, 01 tủ giấy, 01 chăn to, 01 tủ
gỗ cũ, 01 bếp gas đôi, 01 nồi cơm điện, 01 nồi gang, 01 bộ loa Trung Quốc, 03 đồng hồ
treo tường, 04 chậu nhôm to nhỏ, 03 chăn cũ, 01 hòm sắt cũ, 01 ấm đun điện, 02 quạt treo
tường, 01 vỏ bình ga, 02 gối cũ. Tất cả trị giá 4.450.000 đồng.
b) Bất động sản:
- Xác nhận 01 nhà cấp 4 có diện tích xây dựng 35m 2, bể, bếp, công trình phụ và
toàn bộ cây cối tường rào nằm trên diện tích đất 264 m 2 thửa số 19 tờ bản đồ số 27 thôn
18


PL, xã MK, huyện TL, tỉnh H là tài sản chung thuộc quyền sở hữu sử dụng của anh
Nguyễn Văn Nh và chị Trần Thuý L.
+ Chia cho chị L 75m2 đất thửa số 19 tờ bản đồ số 27 thôn PL, xã MK, huyện TL,
tỉnh H có chiều rộng 5 m, chiều dài 15 m và tài sản trên đất gồm tường rào, lối đi lát
gạch, 06 cây bưởi.
+ Chia cho anh Nh 189m2 đất còn lại trên có 07 cây bưởi, nhà cấp 4, mái tôn, nhà vệ
sinh, bể nước, tường rào, sân, đường lát gạch, cổng ra.
- Các bên có trách nhiệm cùng xây ngăn ranh giới hoặc một bên có quyền xây ngăn
ranh giới.
VỤ VIỆC SỐ 3
Nội dung vụ án:
Nguyên đơn - chị Nguyễn Mai Kh trình bày:
Chị Kh kết hôn với anh Nguyễn Đức Q trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại
UBND quận HK ngày 06/12/1996. Trong thời gian chung sống, anh chị không hợp nhau,
luôn bất đồng quan điểm. Năm 2001, cả gia đình sang Ba Lan sinh sống và làm việc, tình

trạng hôn nhân không được cải thiện. Đến năm 2003, vợ chồng sống ly thân, anh Q trở về
Việt Nam sinh sống cho đến nay. Hiện tại, chị vẫn đang cư trú, làm ăn sinh sống tại Ba
Lan, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Toà giải quyết cho chị được
ly hôn anh Q.
Về con: Vợ chồng anh chị có 1 con chung là Nguyễn Hồng K (trai) sinh ngày
18/7/1997. Cháu hiện đang ở Ba Lan cùng chị Kh. Nguyện vọng của chị là muốn được
nuôi con, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng và cháu K cũng có đơn xin được ở với mẹ
Về tài sản chung: Không có. Không yêu cầu Toà giải quyết.
Về nhà ở: Xin tự thoả thuận. Không yêu cầu Toà giải quyết.
Do điều kiện công tác không về được nên chị Kh đề nghị Toà án giải quyết và xét
xử vắng mặt.
19


Bị đơn - anh Nguyễn Đức Q trình bày:
Về thời gian và điều kiện kết hôn như chị Kh trình bày. Vợ chồng sống hạnh phúc
cho đến năm 2004, do sức khoẻ của anh Q bị giảm sút và hoàn cảnh gia đình có một mẹ
già không có người chăm sóc nên anh phải về nước chăm sóc mẹ và chữa bệnh cho bản
thân còn chị Kh vẫn ở lại Ba Lan để làm ăn. Nay chị Kh làm đơn xin ly hôn, anh tôn
trọng ý kiến của chị Kh. Nhưng chưa nhất trí ly hôn khi chưa thoả thuận xong về tài sản.
Về con: Vợ chồng anh chị có 1 con chung như chị Kh trình bày, anh Q đồng ý với
yêu cầu của chị Kh và nguyện vọng của cháu K.
Về tài sản chung của vợ chồng:
- Số tài sản tại Việt Nam gồm:
+ Nhà 1A - NC - nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn R (bố đẻ anh Q) được Xí
nghiệp quản lý nhà HBT phân năm 1989 cho một nhà cấp 4, diện tích = 12m 2. Công trình
phụ dùng chung. Sau khi kết hôn anh Q và chị Kh về đây ở. Trong quá trình ở, năm 2000
anh chị đã phá nhà cũ và xây lại thành nhà 2 tầng như hiện tại. Hiện anh Q đang làm thủ
tục để mua nhà theo Nghị định số 61-CP. Nhà này hiện do anh Q quản lý, hợp đồng thuê
nhà đứng tên anh và chị Kh. Khi ly hôn anh Q yêu cầu chia cho anh được hưởng toàn bộ

giá trị xây dựng và giá trị quyền thuê nhà của nhà 1A - NC theo hợp đồng thuê nhà số
140/ĐM-HĐNC ngày 05/9/1998 của Xí nghiệp quản lý nhà quận HBT.
+ 01 nhà tại số 12 lô C2 phố NHT - phường XL - quận TH là nhà 3 tầng, diện tích =
281m2. Năm 2003, chị Kh đã mua nhà này. Khi đó giá gốc là 261.000 đô là Mỹ (USD).
Nhưng phải mua với giá 350.000 USD. Giấy tờ mua bán nhà đứng tên ông Nguyễn Văn
T (bố đẻ chị Kh). Nguồn gốc tiền là của vợ chồng anh. Vợ chồng anh gửi tiền qua dịch
vụ. Nhưng anh không có căn cứ để chứng minh. Hiện ngôi nhà này gia đình ông T đang
quản lý.
+ Chị Kh có đóng góp cổ phần tại Công ty dệt len xuất khẩu tại km 18 - TS là 1,2 tỷ
đồng. Giấy tờ đứng tên chị Kh. Hiện chị Kh đang quản lý.
- Số tài sản tại Ba Lan:
20


+ 1 nhà tại Ba Lan, diện tích = 60m2 tại phố T - W - P. Ngôi nhà này mua, cải tạo
sửa chữa và mua nội thất hết 80.000 USD. Hợp đồng mua bán đứng tên chị Kh. Hiện chị
Kh đang quản lý.
+ 1 ô tô 4 chỗ Poro của Pháp - Không rõ biển số, mua khoảng 20.000 USD. Giấy tờ
mua bán đứng tên chị Kh, hiện chị Kh đang quản lý.
+ Tivi, tủ lạnh, bếp ga… và vốn làm ăn tại Ba Lan khoảng 3 tỷ đồng Việt Nam.
Hiện chị Kh đang quản lý.
- Về tài sản chung của vợ chồng cho vay:
Năm 2002, chị Kh có cho bà Đ (mẹ đẻ chị Kh) vay 150.000.000 đồng Việt Nam.
Việc bà Đ đã trả cho chị Kh hay chưa anh Q không biết vì anh Q chưa được cầm đồng
nào. Theo anh Q đây là tài sản chung của vợ chồng. Ly hôn anh đề nghị Toà giải quyết
theo pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - bà Phan Kim Đ (mẹ của chị Kh) và
ông Nguyễn Văn T (bố chị Kh, do bà Phan Kim Đ) trình bày:
Tài sản chung của vợ chồng chị Kh và anh Q chỉ có 1 nhà tại 1A - NC, phường ĐM,
quận HBT, thành phố H. Nguồn gốc nhà này là của Xí nghiệp quản lý nhà quận HBT

phân cho chồng bà, nhưng hiện nay hợp đồng thuê nhà đứng tên anh Q và chị Kh, diện
tích = 12m2 nhà cấp 4 công trình phụ dùng chung. Quá trình ở năm 2000 vợ chồng phá
nhà cũ xây lại thành nhà 2 tầng như hiện tại.
Ngoài ra, năm 2002 bà Đ có vay của chị Kh 150.000.000 đồng để sửa lại nhà của bà
tại số 246 - BT. Năm 2003, bà Đ đã trả lại cho chị Kh 120.000.000 đồng hiện còn nợ
30.000.000 đồng. Số tiền này để mẹ con bà tự giải quyết, bà Đ không yêu cầu Toà giải
quyết. Nay nếu anh Q, chị Kh ly hôn đề nghị Toà giải quyết theo pháp luật.
Nhà đất tại số 12 lô C2 phường XL, quận TH, thành phố H là tiền của vợ chồng bà
Đ, ông T bỏ ra mua với giá 261.360 USD. Hợp đồng mua bán nhà đứng tên ông Nguyễn
Văn T. Nay nhà đất trên là thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bà Đ. Chứ không phải là
thuộc quyền sở hữu của anh Q, chị Kh. Nay anh Q đòi chia vợ chồng bà Đ không nhất trí.
21


Công ty quản lý và phát triển nhà H do ông Lê Văn C - Phó Giám đốc uỷ quyền
cho Xí nghiệp quản lý và phát triển nhà số 4 đại diện trình bày:
Nhà 1A - NC là nhà của Nhà nước quản lý. Ông Nguyễn Đức Q và bà Nguyễn Mai
Kh đứng tên chủ hợp đồng thuê nhà số 140/ĐM-HĐNC ngày 05/9/1998; diện tích ở =
12m2 tầng 1. Diện tích phụ dùng chung. Hiện gia đình ông Q đã cải tạo thêm 2 tầng mái
bằng, diện tích 12,92m2. Tháng 02/2007, ông Q đã làm thủ tục mua nhà theo Nghị định
số 61-CP. Công ty đang giải quyết theo quy định. Hiện tại chưa có thông báo chấm dứt
hợp đồng thuê nhà và Công ty xin được giải quyết vắng mặt.
Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Trong quá trình giải quyết phần tài sản mà chị Kh và anh Q thống nhất bao gồm:
- Về nhà tại 1A - NC, phường ĐM, quận HBT, thành phố H là nhà của Công ty
quản lý và phát triển nhà thành phố H ký hợp đồng thuê nhà với anh Nguyễn Đức Q và
chị Nguyễn Mai Kh số 140/ĐM-HĐNC ngày 05/9/1998. Diện tích thuê 1 buồng tầng 1 là
12m2. Công trình phụ sử dụng chung. Trong quá trình ở năm 2000, vợ chồng anh Q, chị
Kh đã cải tạo lại thành nhà 2 tầng đổ trần và công trình phụ 1 tầng đổ trần như hiện tại.
Tiền xây dựng là do vợ chồng anh chị bỏ ra.

Toà đã có thông báo giao nộp chứng cứ số 197 ngày 01/3/2007 yêu cầu anh Nguyễn
Đức Q cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến phần tài sản có tranh chấp ở Ba Lan.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, chị Kh trình bày vợ chồng chị
Kh và anh Q không có số tài sản như anh Q đã trình bày ở trên. Anh Q cho rằng, anh
không có chứng cứ nào để xuất trình cho Toà vì toàn bộ các giấy tờ và tài sản trên hiện
chị Kh đang quản lý.
Ngày 20/6/2010, Toà án thành phố H đã có Công văn số 632 uỷ thác tư pháp gửi Bộ
Tư pháp và Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan đề nghị lấy lời khai của chị Kh có liên quan
đến phần tài sản mà anh Q nêu ra, nhưng vẫn không có kết quả trả lời.

22


Hợp đồng mua bán nhà số 12 lô C2 phường XL, quận TH giữa bên bán là Công ty
trách nhiệm hữu hạn phát triển khu đô thị NTL với bên mua là ông Nguyễn Văn T với giá
261.360 USD.
Bình luận:
* Về căn cứ ly hôn:
Chị Nguyễn Mai Kh và anh Nguyễn Đức Q xây dựng gia đình với nhau do tìm hiểu
tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND quận HK ngày 06/12/1996. Trong quá trình
chung sống đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do bất đồng quan
điểm sống. Năm 2001, vợ chồng anh chị cùng sang Ba Lan làm ăn sinh sống. Nhưng mâu
thuẫn của vợ chồng không hề cải thiện được nên đến năm 2003, anh Q trở về Việt Nam
sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay trong một thời gian dài. Mặc dù anh
Q không đồng ý ly hôn vì chưa thoả thuận xong về tài sản. Toà án cũng đã để một thời
gian để vợ chồng có điều kiện suy nghĩ nhưng vẫn không có kết quả. Như vậy, có cơ sở
để khẳng định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân giữa anh Q và chị Kh đã không đạt
được. Mặt khác, do điều kiện của chị Kh và anh Q xa cách, sống ly thân đã nhiều năm
nên khả năng đoàn tụ của 2 người là khó. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị Kh và anh

Q đã trầm trọng, khả năng đoàn tụ là không còn, chị Kh kiên quyết xin ly hôn vì vậy chấp
nhận yêu cầu của chị Kh là phù hợp với khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 và hướng dẫn tại Mục 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
* Về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung:
Chị Kh và anh Q có 1 con chung là cháu Nguyễn Hồng K (trai) sinh ngày
18/7/1997, nay ly hôn chị Kh có nguyện vọng nuôi cháu K, không yêu cầu anh Q cấp
dưỡng. Mặt khác, hiện cháu K cũng đang ở Ba Lan cùng chị Kh và có đơn xin ở với chị

23


Kh vì vậy giao cho chị Kh nuôi dưỡng cháu K đến khi đủ 18 tuổi là đảm bảo quyền lợi
mọi mặt của cháu theo quy định tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
* Về tài sản chung:
- Phần tài sản mà chị Kh và anh Q thống nhất bao gồm:
+ Tài sản là nhà tại 1A - NC, phường ĐM, quận HBT, thành phố H là nhà của Công
ty quản lý và phát triển nhà thành phố H ký hợp đồng thuê nhà với anh Nguyễn Đức Q và
chị Nguyễn Mai Kh số 140/ĐM-HĐNC ngày 05/9/1998. Diện tích thuê 1 buồng tầng 1 là
12m2. Công trình phụ sử dụng chung. Trong quá trình ở năm 2000, vợ chồng anh Q, chị
K đã cải tạo lại thành nhà 2 tầng đổ trần và công trình phụ 1 tầng đổ trần như hiện tại.
Tiền xây dựng là do vợ chồng anh chị bỏ ra.
Chị Kh đề nghị Toà giải quyết theo pháp luật. Anh Q yêu cầu chia cho anh được
hưởng toàn bộ giá trị xây dựng và giá trị quyền thuê nhà của nhà 1A - NC theo hợp đồng
thuê nhà số 140/ĐM/HĐNC ngày 05/9/1998 của Xí nghiệp quản lý nhà quận HBT.
Xét thấy, nhà 1A - NC, phường ĐM, quận HBT, thành phố H là nhà thuê của Nhà
nước. Hợp đồng thuê nhà số 140/ĐM-HĐNC ngày 05/9/1998 đứng tên anh Nguyễn Đức
Q và chị Nguyễn Mai Kh. Trong quá trình ở, anh Q và chị Kh đã bỏ tiền ra cải tạo xây
dựng lại trên diện tích thuê của Nhà nước. Bản thân cháu K còn nhỏ, không có công sức

đóng góp gì vào ngôi nhà này, hơn nữa trong hợp đồng thuê nhà không có tên cháu
Nguyễn Hồng K. Do đó, công sức của anh Q và chị Kh tại nhà 1A - NC là ngang nhau.
Vì vậy, chia đôi mỗi người được hưởng 1/2 là hợp lý. Hiện tại chị Kh đang sống tại Ba
Lan và cháu K cũng không sống tại nhà 1A - NC mà đã nhập hộ khẩu với ông bà ngoại
tại số 246 - BT. Hiện tại cháu K đang ở với mẹ tại Ba Lan và cháu không có công sức
đóng góp gì vào ngôi nhà này. Như vậy là nhu cầu về nhà ở của chị Kh và cháu K là
không có. Vì vậy, chia cho anh Q được hưởng toàn bộ giá trị xây dựng và giá trị quyền
thuê nhà của nhà 1A - NC theo hợp đồng thuê nhà số 140/ĐM-HĐNC ngày 05/9/1998
của Xí nghiệp quản lý nhà quận HBT nhưng anh Q phải có trách nhiệm thanh toán lại 1/2
tiền chênh lệch về tài sản cho chị Kh là phù hợp với Điều 95 Luật Hôn nhân gia đình năm
24


2000 và Điều 28 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Theo biên bản xem xét và định giá nhà ngày 17/7/2010 của Toà án thành phố H thì
nhà 1A - NC, phường ĐM, quận HBT, thành phố H là nhà 2 tầng mái bằng và công trình
phụ xây riêng biệt 1 tầng mái bằng.
Có giá trị xây dựng là: 62.007.290 đồng.
Giá trị sử dụng đất 17,6m + 2 ở + 8,53m2 phụ = 26,13m2 x 12.000.000 đồng/m2 =
313.560.000 đồng.
Tổng cộng: 375.567.290 đồng.
Mặc dù, trong quyết định có ghi công trình phụ sử dụng chung. Nhưng trong quá
trình ở, vợ chồng anh Q, chị K có mua thêm 8,53m 2 đất và xây công trình phụ từ năm
1999. Từ đó đến nay không có ai tranh chấp. Do vậy, phải xác định là tài sản thuộc quyền
sở hữu và sử dụng của vợ chồng anh Q và chị Kh. Vậy anh Q, chị Kh mỗi người được
hưởng là: 375.567.290 đồng : 2 = 187.783.645 đồng.
Như đã nhận định ở trên giao cho anh Nguyễn Đức Q được tiếp tục quản lý và sử
dụng toàn bộ nhà đất tại 1A - NC, phường ĐM, quận HBT, thành phố H có tổng trị giá là:
375.567.290 đồng. Nhưng phải có trách nhiệm thanh toán lại tiền chênh lệch về tài sản

cho chị Kh số tiền là: 187.783.645 đồng. Anh Q phải chấp hành các quy định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 28 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Giải quyết quyền lợi của vợ chồng khi ly hôn đối với nhà ở thuê của Nhà nước
Việc giải quyết quyền lợi của vợ chồng khi ly hôn đối với nhà ở do vợ hoặc chồng
hoặc cả vợ và chồng được thuê của Nhà nước trước hoặc sau khi kết hôn, được thực hiện
theo quy định sau đây:

25


×