Tải bản đầy đủ (.pdf) (72 trang)

nghiên cứu sự tác động của sở hữu nước ngoài lên năng suất của các công ty sản xuất trên thị trường chứng khoán thành phố hồ chí minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (788.28 KB, 72 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
------------------

TRẦN THỊ DIỆU THÚY

NGHIÊN CỨU SỰ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU
NƯỚC NGOÀI LÊN NĂNG SUẤT CỦA CÁC
CÔNG TY SẢN XUẤT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

TP. Hồ Chí Minh, Năm 2016.


LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Nghiên cứu sự tác động của sở hữu nước
ngoài lên năng suất của các công ty sản xuất trên thị trường chứng khoán Thành Phố
Hồ Chí Minh” là bài nghiên cứu của chính tôi.

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn chi tiết trong luận văn, tôi
cam đoan rằng toàn phần hay phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố
hay nhận bằng cấp ở những nơi khác.

Không có sản phẩm hoặc nghiên cứu nào của người khác được sử dụng
trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định.

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các
trường Đại học hoặc cơ sở đào tạo khác.



Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015

Trần Thị Diệu Thúy

i


LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới trường Đại học Mở thành
phố Hồ Chí Minh, nơi đã cung cấp và truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên
môn về tài chính ngân hàng ở bậc thạc sỹ. Những kiến thức cơ bản quý báu này là
nền tảng không chỉ giúp tôi hoàn thành luận văn mà còn bổ ích trong cả quá trình
làm việc.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thầy giáo hướng dẫn tôi, TS. Đinh
Công Khải – Giảng viên chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, người đã cung
cấp, định hướng chỉ dẫn, luôn theo sát, tận tình hướng dẫn tôi ngay từ bước đầu tiên
và trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm về
nghiên cứu khoa học và sự tận tình của Thầy là một động lực lớn giúp tôi nhanh
chóng hoàn thành luận văn.

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, những người bạn đã đồng
hành ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015

Trần Thị Diệu Thúy

ii



TÓM TẮT
Nghiên cứu này đánh giá tác động của sở hữu nước ngoài đến năng suất tổng
hợp của các công ty trong ngành sản xuất niêm yết trên sàn HOSE. Đối tượng nghiên
cứu là 90 công ty trong ngành sản xuất, với số liệu được lấy trong 5 năm từ năm 2010
đến năm 2014.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này là phương pháp định
lượng. Do dữ liệu được trình bày theo dạng dữ liệu bảng (Panel data) nên cần có mô
hình ước lượng phù hợp. Hai mô hình ước lượng thường được sử dụng là mô hình tác
động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Đề tài sử dụng kiểm định
Hausman để lựa chọn một trong hai mô hình trên.
Để đo lường năng suất công ty, đề tài sử dụng biến phụ thuộc là năng suất tổng
hợp - TFP. Đồng thời để đo lường tỷ lệ sở hữu nước ngoài, nghiên cứu này sử dụng
“Tỷ lệ sở hữu nước ngoài – OFOR” là biến độc lập làm đại diện. Ngoài ra, nghiên cứu
này còn xem xét đến các yếu tố khác như: quy mô doanh nghiệp (SIZE), vốn tư liệu sản
xuất (CAP), tỷ lệ sở hữu nhà nước (OGOV), tuổi doanh nghiệp (AGE)…
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến “Tỷ lệ sở hữu nước ngoài – OFOR” và “Tuổi
– AGE” có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đối với năng suất tổng hợp công
ty, trong khi đó biến “Tỷ lệ sở hữu nhà nước – OGOV” có tác động ngược chiều với
năng suất tổng hợp công ty.

iii


MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................... i
LỜI CÁM ƠN .............................................................................................................. ii
TÓM TẮT ..................................................................................................................iii

MỤC LỤC .................................................................................................................. iv
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................. vii
DANH MỤC VIẾT TẮT .......................................................................................... viii
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài.................................................................................................... 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu ................................................................................................ 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................... 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................... 3
1.5 Ý nghĩa của đề tài................................................................................................... 3
1.6 Kết cấu của luận văn nghiên cứu ............................................................................ 4
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Các khái niệm ........................................................................................................ 5
2.1.1 Đầu tư nước ngoài ...................................................................................... 5
2.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài ........................................................................ 6
2.1.3 Đầu tư gián tiếp nước ngoài ........................................................................ 6
2.2 Các lý thuyết ......................................................................................................... 7
2.2.1 Hàm sản xuất .............................................................................................. 7
2.2.2 Hàm Cobb - Douglas .................................................................................. 8
2.2.3 Lý thuyết năng suất..................................................................................... 8
iv


2.2.3.1. Năng suất lao động ......................................................................... 9
2.2.3.2. Năng suất lao vốn ......................................................................... 10
2.2.3.3. Năng suất các yếu tố tổng hợp ...................................................... 11
2.2.4 Khung lý thuyết về sự tác động của SHNN lên năng suất công ty ............. 12
2.2.5 Tác động của sở hữu nước ngoài đến năng suất công ty ............................ 13
2.2.6 Các yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất công ty .................................... 16

2.2.7 Các nghiên cứu trước ................................................................................ 18
2.2.8 Mô hình nghiên cứu ................................................................................. 21
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình nghiên cứu và các biến trong mô hình ................................................... 23
3.1.1. Mô hình nghiên cứu ................................................................................. 23
3.1.2. Các biến trong mô hình ........................................................................... 24
3.1.2.1. Biến phụ thuộc ............................................................................. 24
3.1.2.2. Biến độc lập ................................................................................. 26
3.2 Nguồn thu thập dữ liệu ......................................................................................... 27
3.3 Phương pháp hồi quy ........................................................................................... 27
3.3.1 Mô hình hồi quy tác động cố định ............................................................. 28
3.3.2 Mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên ....................................................... 29
3.3.3 Lựa chọn mô hình .................................................................................... 29
3.4 Phương pháp xử lý số liệu .................................................................................... 30
CHƯƠNG 4
PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Phân tích thống kê mô tả ...................................................................................... 31
4.2 Phân tích tương quan ............................................................................................ 33
4.3 Phân tích kết quả hồi quy ..................................................................................... 34
4.3.1 Mô hình Pool ........................................................................................... 34
v


4.3.2 Mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model - FEM) ........................... 35
4.3.3 Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model_REM) .................. 36
4.3.4 Lựa chọn mô hình .................................................................................... 37
4.3.5 Kiểm định sự phù hợp của mô hình .......................................................... 37
4.3.5.1. Kiểm định phương sai sai số thay đổi ........................................... 37
4.3.5.2. Kiểm định tự tương quan .............................................................. 38

4.4 Mô hình được chọn - Phân tích kết quả hồi quy.................................................... 38
4.5 Phân tích kết quả các biến của mô hình nghiên cứu .............................................. 41
CHƯƠNG 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 Kết luận................................................................................................................ 49
5.1 Kiến nghị ............................................................................................................. 50
5.3 Hạn chế của đề tài ............................................................................................... 50
5.4 Hướng phát triển đề tài ........................................................................................ 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 52
PHỤ LỤC .................................................................................................................. 59

vi


DANH MỤC BẢNG
Trang

Phụ lục 1. Thống kê mô tả các biến số định lượng................................................. 67

Phụ lục 2. Ma trận tương quan ……………………………………………………67

Phụ lục 3. Kết quả hồi quy mô hình Pool (OLS).................................................... 67

Phụ lục 4. Kết quả hồi quy mô hình Fixed Effect………………………………….67

Phụ lục 5. Kết quả hồi quy mô hình Random Effect............................................... 68

Phụ lục 6. Phụ lục 6: Kiểm định Hausman.............................................................. 68

Phụ lục 7. Kiểm định phương sai thay đổi............................................................... 69


Phụ lục 8 Kiểm định tự tương quan.......................................................................... 69

Phụ lục 9. Ước lượng vững của ma trận hiệp phương sai...........................................69

Phụ lục 10. Kết quả hồi quy tỷ lệ sở hữu nước ngoài tổ chức……………………... 70

Phụ lục 11: Kết quả hồi quy tỷ lệ sở hữu nước ngoài cá nhân .................................. 70

vii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CK

: chứng khoán

CP

: cổ phiếu

ĐTNN

: đầu tư nước ngoài

ĐTTTNN

: đầu tư trực tiếp nước ngoài


NSLĐ

: năng suất lao động

TTTC

: thị trường tài chính

viii


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1.

Lý do chọn đề tài
Nâng cao năng suất là một trong những vấn đề đang rất được các nước trên thế giới

quan tâm. Trong môi trường cạnh tranh và nguồn lực kinh tế đang dần bị khan hiếm thì
vấn đề gia tăng năng suất cần được chú trọng nhiều hơn nữa.
Nói về tầm quan trọng của năng suất lao động (NSLĐ), ông Gyorgy Sziraczki Giám đốc ILO tại Việt Nam - đã phân tích một số điểm, gồm: NSLĐ thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, NSLĐ ảnh hưởng đến tất cả mọi người. Đối với doanh nghiệp, tăng NSLĐ tạo ra
lợi nhuận lớn hơn và thêm cơ hội đầu tư. Đối với người lao động, tăng NSLĐ dẫn tới
lương và điều kiện làm việc tốt hơn. Về lâu dài, tăng NSLĐ có ý nghĩa quan trọng đối với
tạo việc làm. Đối với Chính phủ, tăng NSLĐ giúp tăng nguồn thu từ thuế.
Để tăng năng suất lao động thì đều cần phải có vốn - có tiền thì mới có khả năng
đầu tư cho công nghệ cao, hiện đại, đầu tư vào giáo dục, đào tạo nhân lực v.v...Và một
trong những giải pháp để tăng vốn đầu tư cơ bản là thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Điều
đó cho thấy sở hữu nước ngoài có thể có tác động đến năng suất lao động hay năng suất
công ty.

Việc gia tăng sở hữu nước ngoài sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng
năng suất của công ty. Đầu tiên, sự xuất hiện của vốn nước ngoài dài hạn mang lại cho
các công ty không chỉ nguồn vốn cho sự phát triển, mở rộng thị trường, nâng cao uy tín
mà còn là những kĩ năng quản trị nâng cao, kỹ năng kết nối kinh doanh và quản trị nguồn
nhân lực (Stiglitz(2000); Li và cộng sự(2011)). Ngoài ra, vốn nước ngoài có thể cải thiện
chất lượng thông tin trong thị trường chứng khoán nội địa và thúc đẩy cải thiện trong tiến
trình quản trị doanh nghiệp, làm giảm đáng kể chi phí giao dịch và độ nhạy cảm rủi ro
(Lin và cộng sự (2011); Leuz và cộng sự (2009)).
Nghiên cứu sự tác động của sở hữu nước ngoài lên năng suất công ty đã được kiểm
định trong nhiều nghiên cứu công bố trước đây trên thế giới. Tuy nhiên, kết quả kiểm
1


định lại cho ra rất khác nhau. Javorcik (2004), Benfratello và Sembenelli (2006) cho rằng
không có ảnh hưởng giữa sở hữu nước ngoài và năng suất công ty. Ngược lại, Dunning
(1977, 1980, 1988), Aitken và Harrison (1999), Djankov và Hoekman (2000), Arnold và
Javorcik (2009) thấy có mối liên hệ tương quan giữa hai yếu tố này.
Mặc dù việc nghiên cứu tác động của sở hữu nước ngoài lên năng suất công là vấn
đề được quan tâm nhiều, đặc biệt là ở các nước thị trường mới nổi nhưng hiện chưa có
nhiều nghiên cứu về vấn đề này ở thị trường Việt Nam. Trong bối cảnh nước ta đang từng
bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài để nâng cao
năng suất, gia tăng cạnh tranh là rất quan trọng đối với các công ty nói riêng và với nền
kinh tế Việt Nam nói chung. Chính vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu sự tác động của sở
hữu nước ngoài lên năng suất công ty tại Việt Nam có giá trị ý nghĩa lớn. Do vậy, bài
nghiên cứu đã tập trung khai thác khoảng trống nghiên cứu trên, và đi theo hướng nghiên
cứu xem xét tác động của dòng vốn nước ngoài đến năng suất công ty như thế nào.
Từ những lý do trên thì câu hỏi đặt ra là sở hữu nước ngoài có tác động tới năng
suất của các công ty sản xuất tại Việt Nam không? Nếu có thì sẽ là tác động tích cực hay
tiêu cực? Để có thể trả lời một cách chính xác câu hỏi trên đòi hỏi cần phải có một nghiên
cứu để làm sáng tỏ vấn đề nêu trên. Chính vì những lý do trên, nghiên cứu đã thực hiện đề

tài: " Nghiên cứu sự tác động sở hữu nước ngoài lên năng suất của các công ty sản
xuất trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh" để trả lời cho các câu hỏi
trên.
1.2.

Câu hỏi nghiên cứu
Sau khi xác định được vấn đề nghiên cứu như đã trình bày ở trên, đề tài sẽ tiến

hành nghiên cứu và tìm lời giải đáp cho các câu hỏi nghiên cứu sau:


Liệu sở hữu nước ngoài có làm tăng năng suất của các công ty sản xuất niêm yết
trên sàn chứng khoán Tp.HCM không?



Giải pháp nào về sở hữu nước ngoài nhằm tăng năng suất của các công ty sản
xuất?

2


1.3.

Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu sau:


Đánh giá tác động của sở hữu nước ngoài đến năng suất của các công ty sản xuất
niêm yết trên sàn chứng khoán Tp.HCM.




1.4.

Đề xuất một số giải pháp về sở hữu nước ngoài nhằm nâng cao năng suất công ty.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và áp dụng phương

pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng. Trong đó nghiên cứu sử dụng Mô hình các nhân tố
cố định (Fixed Effect Model), mô hình tác động ngẫu nhiên (Ramdom Effect Model)
nhằm giải quyết các vấn đề nêu trong nghiên cứu. Nghiên cứu chọn lựa các biến có liên
quan đến đề tài, dùng mô hình kinh tế lượng để xây dựng mô hình và từ đó phân tích ý
nghĩa của các biến trong mô hình.
Để thực hiện nghiên cứu này đề tài thu thập dữ liệu được công bố của các công ty
sản xuất niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh với các số liệu được
trích từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của 90 công ty sản xuất trong giai đoạn
từ năm 2010-2014. Các số liệu thu thập được sẽ được xử lý thông qua phần mềm Stata 12
để tổng hợp và đưa ra câu trả lời về sự tác động của sở hữu nước ngoài đến năng suất
công ty.
1.5. Ý nghĩa của đề tài
Việc thực hiện nghiên cứu này có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực tiễn. Về
mặt khoa học, nghiên cứu tham gia vào việc hoàn thiện mô hình xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến năng suất công ty. Về mặt thực tiễn giúp có cái nhìn rõ nét hơn về năng suất
của các công ty sản xuất tại Việt Nam từ đó đưa ra được những giải pháp thực tế để tăng
năng suất công ty.

3



1.6

Kết cấu luận văn

Nội dung của đề tài nghiên cứu sẽ gồm năm chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nội dung nghiên cứu, bao gồm lý do nghiên cứu,
mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Khảo sát cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu, về các giả thuyết liên
quan đến nội dung nghiên cứu, cũng như các nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên
quan.
Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu, đo lường các biến và thiết kế mô
hình nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Rút ra các kết luận và các mặt hạn chế, đồng thời đề xuất hướng nghiên
cứu cho các nghiên cứu tiếp theo.

4


CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này sẽ trình bày các lý thuyết cơ bản xung quanh các vấn đề nghiên cứu.
Đầu tiên, luận văn sẽ trình bày sơ lược về đầu tư nước ngoài và nội dung của các lý thuyết
có liên quan. Tiếp theo nghiên cứu sẽ trình bày về mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoàivà
năng suất của các công ty sản xuất. Sau cùng, nghiên cứu trình bày tóm tắt các nghiên cứu
thực nghiệm đã được tiến hành về các chủ đề có liên quan.
2.1. Các khái niệm
Hiện nay muốn phát triển nền kinh tế, trước hết phải đảm bảo nhu cầu về vốn đầu
tư. Nhưng nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn từ tiết kiệm trong nước không thì chưa đủ,
các quốc gia cần phải thu hút nguồn vốn từ bên ngoài bao gồm nguồn vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài (FDI) và nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII)
2.1.1. Đầu tư nước ngoài (ĐTNN)
Theo Luật Doanh Nghiệp Việt Nam năm 2005 thì ĐTNN được định nghĩa là việc
nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để
tiến hành hoạt động đầu tư.
Hay nói cách khác, đầu tư nước ngoài là sự dịch chuyển tài sản như vốn, công
nghệ, kỹ năng quản lý từ nước này sang nước khác để kinh doanh nhằm thu lợi nhuận cao
trên phạm vi toàn cầu.
Trên thế giới, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối
với sự phát triển của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu
tư gián tiếp (FII). Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, thì FII
lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả
hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong
nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới, nâng cao vai trò quản lý nhà nước và chất
lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế.

5


2.1.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI-Foreign Direct Investment)
Có rất nhiều định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài khác nhau trên thế giới
nhưng có thể kể đến các định nghĩa sau đây:
- Theo Luật Đầu tư của Việt Nam ban hành ngày 12/12/2005: “Đầu tư trực tiếp
nước ngoài (ĐTTTNN) là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và
tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
- Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF (International Monetary Fund) định nghĩa đầu tư trực
tiếp nước ngoài (ĐTTTNN) là “một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một
tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh
nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều
ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó”.

- Tổ chức Thương mại Thế giới–WTO (World Trade Organization) cho rằng
“ĐTTTNN xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản
ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện
quản lý là cách để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường
hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó nhà đầu tư thường được gọi là công ty mẹ và các tài sản được
gọi là công ty con hay chi nhánh công ty”.
2.1.3. Đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII - Foreign Indirect Investment)
Theo Luật đầu tư của Việt Nam ban hành ngày 12/12/2005, đầu tư gián tiếp nước
ngoài là hình thức đầu tư thông qua việcmua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có
giá khác thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian khác mà
nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Như vậy, trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ
đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm
trực tiếp tham gia vào việc điều hành quản lý đối tượng đầu tư thì đầu tư gián tiếp nước
ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà người chủ sở hữu vốn và người sử dụng vốn là hai

6


chủ thể khác nhau. Người bỏ vốn không trực tiếp thực hiện việc quản lý và điều hành các
hoạt động sử dụng vốn.
Vốn đầu tư có thể là dài hạn hoặc ngắn hạn chính vì thế FII biến động nhiều hơn
FDI do nhà đầu tư có thể thêm hoặc rút vốn nhanh chóng hơn FDI.
2.2. Các lý thuyết
2.2.1. Hàm sản xuất
Hàm sản xuất được sử dụng như một công cụ quan trọng trong phân tích kinh tế.
Có giả thuyết cho rằng Philip (1894) là nhà kinh tế học đầu tiên xây dựng phép toán đại
số thể hiện mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào dưới dạng P = f (x1, x2, ..., xm), tuy nhiên
cũng có giả thuyết cho rằng Johann Von Thünen là người đầu tiên xây dựng nó trong

những năm 1840 (Humphrey, 1997).
Hàm sản xuất là một dạng hàm thể hiện mối quan hệ giữa một lượng đầu vào và
lượng sản phẩm đầu ra. Hàm sản xuất nói chung có dạng:
Y = f(x)
Trong đó:
Y: là lượng sản phẩm đầu ra
x: là các yếu tố đầu vào
Các đặc điểm của hàm sản xuất:
-f(0) = 0: khi các đầu vào bằng 0 thì sản lượng cũng bằng 0.
- Y và x đồng biến với nhau: khi gia tăng các lượng đầu vào thì sản lượng đầu ra
cũng tăng.
-Nếu x không âm và hữu hạn, thì f(x): i) hữu hạn; ii) liên tục; iii) không âm; iv) chỉ
có một giá trị ứng với một giá trị của x.
Trong thực tế, hàm sản xuất có dạng như sau: Y = f (K, L, Mi)
Trong đó Y là sản lượng đầu ra tối đa có thể sản xuất được từ tổ hợp nhất định vốn
(K) (vốn ở đây được hiểu là vốn hiện vật, tồn tại dưới dạng nhà xưởng, máy móc, thiết bị
7


hay hàng tồn kho), lao động (L), M i các yếu tố đầu vào phù hợp khác; f biểu thị Y là một
hàm số của các yếu tố đầu vào K, L, Mi. Một điểm cần lưu ý đối với hàm sản xuất là từ
một tổ hợp yếu tố sản xuất đầu vào xác định, chỉ có thể tạo ra một mức sản lượng đầu ra
tối đa duy nhất. Tuy nhiên, điều ngược lại có thể là không đúng. Để sản xuất ra một sản
lượng đầu ra như nhau, người ta có thể sử dụng các kết hợp đầu vào khác nhau.Để tạo ra
cùng một mức sản lượng, nếu một đầu vào nào đó được sử dụng nhiều hơn, chắc chắn
một loại đầu vào khác phải được sử dụng ít hơn.
2.2.2. Hàm Cobb –Douglas trong kinh tế học:
Hàm sản xuất Cobb –Douglas được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong việc phân
tích tăng trưởng và năng suất, nó thể hiện mối quan hệ giữa một lượng đầu vào và một
lượng đầu ra. Nó được đề xuất bởi Knut Wicksell(1851 -1926) và được thử nghiệm với

bằng chứng thống kê của Cobb và Douglas năm 1928.
Cobbvà Douglas(1928) công bố một nghiên cứu, trong đó họ mô phỏng sự phát
triển của nền kinh tế Mỹ trong thời gian 1899-1922 với quan điểm đơn giản hóa là nền
kinh tế, trong đó sản lượng sản xuất được xác định bởi số lượng lao động tham gia và số
vốn đầu tư. Trong khi có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế mô hình của
họ được chứng minh là khá chính xác.
Lịch sử phát triển của hàm sản xuất Cobb –Douglas khá thú vị, nó được phát triển
không phải dựa trên cơ sở về kỹ thuật, công nghệ và trình độ quản lý trong quá trình sản
xuất mà dựa trên cơ sở toán học, phù hợp với quy luật sản lượng biên có xu hướng giảm
dần,đó là sản lượng biên của một yếu tố sản xuất giảm dần khi tiếp tục sử dụng thêm một
trong hai yếu tố sản xuất trong điều kiện yếu tố sản xuất còn lại được giữ nguyên.
2.2.3. Lý thuyết năng suất
Hiện nay, trong môi trường cạnh tranh, hòa nhập và toàn cầu hóa về kinh tế, năng
suất là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế của một quốc gia, một ngành và trong từng
doanh nghiệp (Steenhuis & Bruijn, 2006).

8


Nhà kinh tế học Adam Smith là tác giả đầu tiên đưa ra thuật ngữ năng suất
(productivity) trong một bài báo bàn về vấn đề hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lượng
lao động và khả năng sản xuất vào năm 1776.
Cho đến nay, nhiều người vẫn hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động.
Nhưng thực tế, ý nghĩa của năng suất mang tính toàn diện hơn nhiều. Năng suất không
còn bó hẹp trong phạm vi làm ra bao nhiêu sản phẩm trên một đơn vị thời gian, mà năng
suất gắn liền với thị trường, với cạnh tranh và vì vậy sẽ song hành với yếu tố chất lượng.
Năng suất được hiểu khái quát nhất là quan hệ so sánh giữa đầu ra và đầu vào
(OECD Publications, 2001). Tùy theo các chỉ tiêu đầu ra, đầu vào khác nhau sẽ tính được
các chỉ tiêu năng suất khác nhau. Các phương pháp đo lường năng suất như năng suất lao
động, năng suất vốn, năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) có vai trò quan trọng trong việc

phân tích và thống kê hoạt động của nền kinh tế một quốc gia, ngành, công ty…(Freemạn,
2008)
2.2.3.1. Năng suất lao động
Theo Karl Marx thì năng suất lao động (NSLĐ) là “sức sản xuất của lao động cụ
thể có ích”. NSLĐ thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của con người trong một
đơn vị thời gian nhất định.
Theo quan niệm truyền thống: NSLĐ là tỷ số giữa đầu ra và đầu vào, là lượng lao
động để tạo ra đầu ra đó. NSLĐ được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một
đơn vị thời gian, hoặc bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị
sản phẩm.
Theo quan điểm tiếp cận mới về NSLĐ do Uỷ ban năng suất của Hội đồng năng
suất châu Âu đưa ra: NSLĐ là một trạng thái tư duy. Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm để
cải thiện những gì đang tồn tại.
Như vậy, với quan niệm truyền thống, NSLĐ thể hiện mối tương quan giữa “đầu
ra” và “đầu vào”.Nếu đầu ra lớn hơn đạt được từ một đầu vào thì có thể nói NSLĐ cao
hơn.Quan niệm truyền thống đề cập về mặt tĩnh và chủ yếu nhấn mạnh về mặt số lượng.
Còn theo quan niệm mới thì NSLĐ được hiểu rộng hơn, đó là tăng số lượng sản xuất đồng
9


thời với tăng chất lượng đầu ra. Điều này có nghĩa là sử dụng một lượng lao động để sản
xuất một khối lượng lớn các đầu ra có cùng chất lượng hoặc chất lượng cao hơn. Với
quan niệm như vậy, năng suất có thể hiểu là trả ít hơn và nhận nhiều hơn mà không tổn
hại đến chất lượng.NSLĐ không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc rất lớn vào
chất lượng, đặc điểm của đầu ra và tính hiệu quả trong sản xuất.
Từ những quan niệm trên, ta có thể chỉ ra rằng: NSLĐ là hiệu quả sản xuất của lao
động có ích trong một đơn vị thời gian. Tăng NSLĐ không chỉ đơn thuần là chỉ tiêu phản
ánh lượng sản phẩm sản xuất ra mà nó phải chỉ ra được mối quan hệ giữa năng suất– chất
lượng– cuộc sống– việc làm và sự phát triển bền vững.
2.2.3.2. Năng suất vốn

Theo định nghĩa của Viện Năng Suất Việt Nam: “ Năng suất vốn thể hiện mức độ
hiệu quả sử dụng vốn trong tạo ra giá trị gia tăng. Được đo lường bằng tỷ lệ giữa giá trị
gia tăng và giá trị tài sản”.
Công thức tính: Năng suất vốn = Giá trị gia tăng (hoặc GDP) / Giá trị tài sản
Cả năng suất lao động và năng suất vốn chỉ dựa vào một yếu tố đầu vào duy nhất là
lao động hoặc vốn. Trong khi đó để tiến hành sản xuất chúng ta phải kết hợp các yếu tố
sản xuất,đó là tư liệu sản xuất và con người thể hiện dưới dạng các nguồn lực sản xuất đó
là vốn và lao động. Việc so sánh chỉ dựa trên năng suất lao động hay năng suất vốn chỉ có
ý nghĩa khi giả định các yếu tố đầu vào khác không đổi. Trong thực tế, hai năng suất này
không độc lập nhau. Hiệu quả sử dụng vốn không chỉ phản ánh mức năng suất vốn đạt
được cao hay thấp mà còn biểu hiện thông qua kết quả đạt được của năng suất lao động.
Chẳng hạn khi đầu tư thêm vốn cho sản xuất thì năng suất vốn có thể tăng, có thể không
tăng hoặc thậm chí giảm đi, nhưng bù lại việc tăng thêm vốn, nâng cao mức trang bị vốn
cho lao động sẽ làm tăng năng suất lao động.
Qua đó cho thấy năng suất lao động và năng suất vốn mới chỉ đo được một phần
của năng suất là khía cạnh năng suất bộ phận của nguồn lực hữu hình (gồm yếu tố vốn và
lao động) mà chưa phản ánh được đóng góp của các nguồn lực vô hình.

10


Mặt khác để tăng đầu ra không nhất thiết phải tăng vốn hay lao động. Kết quả đầu
ra vẫn có thể khả quan hơn nếu biết sử dụng tối ưu nguồn lao động và vốn bằng cách phối
hợp sử dụng tốt nhất các yếu tố đầu vào kết hợp cải tiến tổ chức sản xuất, đổi mới công
nghệ, áp dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng lao động... . Nhờ tác động
tổng hợp các yếu tố nêu trên sẽ tạo ra giá trị gia tăng mới cao hơn. Như vậy ngoài phần
đóng góp của từng nhân tố đầu vào, chúng ta còn thấy một phần giá trị mới do nhân tố vô
hình tạo ra. Bộ phận này được thể hiện thông qua Năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP –
Total Factor Productivity).
2.2.3.3. Năng suất các yếu tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP)

Khái niệm TFP bắt nguồn từ những phân tích vĩ mô, nhưng nó đã trở thành
phương pháp đo lường được sử dụng rộng rãi trong các phân tích ở cấp độ doanh nghiệp.
Khái niệm TFP được tóm tắt ngắn gọn bởi Cororaton (1995) và Caparat (1999) như sau:
“TFP là một khái niệm tân cổ điển, nó có 2 đặc trưng chính. Thứ nhất, TFP chính
là thước đo về năng suất mà có tính đến tất cả các yếu tố sản xuất. Thứ hai, TFP là một
yếu tố trong hàm sản xuất”.
Vì năng suất của các yếu tố tổng hợp là tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó gồm
các yếu tố khó định lượng được, vì vậy TFP không được đo bằng giá trị tuyệt đối mà
được đánh giá dựa trên hai chỉ số tương đối do Tổ chức Năng suất châu Á APO đã giới
thiệu: Tốc độ tăng TFP (là tỉ lệ tăng lên của kết quả sản xuất do nâng cao năng suất tổng
hợp theo nguồn lực) và Chỉ tiêu tỉ phần đóng góp của tốc độ tăng TFP (là tỉ lệ của tốc độ
tăng TFP trên tốc độ tăng của GDP hay AV (value added-giá trị gia tăng), phản ánh mức
độ đóng góp của TFP so với tăng trưởng GDP hay AV).
TFP suy cho cùng là kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
và lao động (các nhân tố hữu hình) nhờ vào tác động của các nhân tố vô hình như đổi mới
công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ lao động...(gọi chung
là các nhân tố tổng hợp). Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn kết quả sản xuất cùng với
đầu vào. Điều này rất là quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn nền
kinh tế. Đối với người lao động, nâng cao TFP sẽ có góp phần tăng lương, nâng thưởng,
điều kiện lao động được cải thiện, công việc ổn định hơn. Đối với doanh nghiệp thì có
11


khả năng mở rộng tái sản xuất. Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh trên
trường quốc tế, nâng cao phúc lợi xã hội. Như vậy, chỉ có tăng trưởng kinh tế nhờ vào
tăng TFP mới là sự tăng trưởng có tính chất ổn định và bền vững, nâng cao năng lực cạnh
tranh và mang lại thặng dư cho xã hội, mở rộng sản xuất và góp phần nâng cao đời sống
của nhân dân.
TFP được tiếp cận theo mô hình Số dư Solow. Solow (1956) xác định năng suất
tăng khi sản lượng tăng với mức đầu vào vốn và lao động không đổi. Hay còn được gọi là

“giá trị còn lại”, vì đó là một phần của kết quả tăng trưởng kinh tế ngoài phần tăng trưởng
do gia tăng tích lũy vốn hoặc sự tích tụ về lượng của các yếu tố truyền thống khác như đất
đai, lao động. Số dư Solow đôi khi được gọi là tốc độ tăng của năng suất yếu tố tổng hợp.
Mô hình của Solow giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế trong
ngắn hạn. Solow (1956) sử dụng hàm sản xuất Cobb - Douglas với hai yếu tố đầu vào là
vốn (K) và lao động (L). Theo mô hình này, tăng vốn đầu tư chỉ có thể giúp thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế trong ngắn hạn bởi vì tỷ lệ vốn trên lao động sẽ tăng lên (mỗi lao động sẽ
có nhiều vốn khả dụng hơn).
Mối quan hệ giữa TFP ở cấp độ doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế là hiển nhiên,
chẳng hạn như nghiên cứu của Goldberg và các cộng sự (2005) đã cho thấy gia tăng TFP
của các doanh nghiệp là một đặc trưng thiết yếu của tăng trưởng kinh tế.Trên thực tế, các
quốc gia giàu có là những nước có năng suất cao. Bởi vì TFP ở cấp độ doanh nghiệp cao
hơn sẽ gắn liền với sản lượng đầu ra của nền kinh tế cao hơn. Trong một vài phạm vi, khi
đề cập đến TFP ở cấp độ doanh nghiệp, có nghĩa là chúng ta đang nói đến khả năng
chuyển đổi yếu tố đầu vào thành đầu ra của nền kinh tế. Vì vậy, TFP ở cấp độ doanh
nghiệp có thể là một sự phản ánh gián tiếp tốt nhất cho hiệu quả hoạt động sản xuất của
nền kinh tế và có nhiều triển vọng cho việc gia tăng sản lượng đầu ra của một quốc gia
trong dài hạn.
2.2.4. Khung lý thuyết về sự tác động của sở hữu nước ngoài lên năng suất công ty
Blomstrom and Sjoholm (1999) đề xuất hàm năng suất lao động như sau:

12


Trong đó: Y là giá trị tăng thêm; L là số lao động; K là quy mô vốn của doanh
nghiệp; Skill là tỷ lệ lao động có kỹ năng; FDI là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; Scale là
quy mô của doanh nghiệp, Dindustry là ngành sản xuất của doanh nghiệp.
Một số nghiên cứu thực nghiệm của Liu và cộng sự. (2001); Javorcik (2004);
Yingqi và cộng sự (2004); Pham Xuan Kien (2008),... đã kiểm tra sự tác động của sở hữu
nước ngoài lên năng suất lao động ở các doanh nghiệp trong nước bằng cách phân tích hồi

quy dựa trên biến đại diện cho yếu tố nước ngoài và các biến độc lập thể hiện đặc điểm
của doanh nghiệp. Mô hình phân tích chung được các tác giả đề xuất là:
LP= F(KL,FS,LQ,CU,SIZE,OV)
Trong đó, LP đại diện cho năng suất lao động; KL là tỷ lệ vốn -lao động đo lường
bằng mức độ vốn trên mỗi lao động trong doanh nghiệp; FS là biến đại diện cho sự hiện
diện của yếu tố nước ngoài trong doanh nghiệp; LQ thể hiện chất lượng lao động trong
mỗi doanh nghiệp; CU là biến đại diện cho việc sử dụng vốn, được định nghĩa bằng tỷ lệ
giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng; SIZE thể hiện quy mô của doanh nghiệp,
OV là các biến giải thích khác có tác động ảnh hưởng lên năng suất lao động. )…
2.2.5. Tác động của sở hữu nước ngoài đến năng suất công ty
Tác động của sở hữu nước ngoài đến năng suất được giải thích liên quan đến hai lý
thuyết gồm: lý thuyết tổ chức doanh nghiệp, lý thuyết tăng trưởng nội sinh.
-Lý thuyết tổ chức doanh nghiệp: nghiên cứu ảnh hưởng của đầu tư nước ngoài
đến quốc gia tiếp nhận đầu tư một cách gián tiếp, cụ thể làm rõ vai trò của sở hữu nước
ngoài trong chuyển giao công nghệ và truyền bá kiến thức, cũng như tác động của sở hữu
nước ngoài lên cơ cấu thị trường và cạnh trạnh tại những quốc gia tiếp nhận đầu tư
(Hymer (1976); Buckley và Casson (1976); Dunning (1993); Caves (1996)). Lý thuyết
này lập luận rằng, các công ty đa quốc gia phải tận dụng lợi thế của mình để vượt qua
khó khăn khi đầu tư ở nước ngoài, việc gia nhập vào thị trường nước ngoài được biểu
hiện qua nhập khẩu vốn của các nước tiếp nhận đầu tư. Đầu tư nước ngoài không chỉ
đơn thuần là nguồn vốn, mà còn là kênh chuyển giao công nghệ và lan tỏa kinh nghiệm
quản lý tại quốc gia tiếp nhận đầu tư. Để bảo vệ và duy trì thị phần của mình buộc các
13


công ty này phải giới thiệu công nghệ qua đó rò rỉ công nghệ, học tập công nghệ nước
ngoài và có thể vì thế sản xuất hiệu quả hơn. Vì vậy, hiệu quả của cạnh tranh, hợp tác
liên doanh và học hỏi của công ty nội địa có thể thúc đẩy năng suất (Blomstrom và
Kokko, 1996).
-Lý thuyết tăng trưởng nội sinh: cho rằng đầu tư nước ngoài thúc đẩy nâng cao

năng suất và kích thích phát triển công ty bằng sự đổi mới công nghệ, chuyển giao
kỹ thuật. Lý thuyết này được nghiên cứu bởi Lucas(1988); Romer(1986) xem xét đầu tư
nước ngoài có vai trò quan trọng cho việc phát triển vốn con người(human capital) (kỹ
năng, kinh nghiệm, kiến thức...), chuyển giao công nghệ và lan tỏa khắp nước
(Grossman và Helpman, 1991) và vì thế đầu tư nước ngoài được mong đợi ảnh hưởng tích
cực đến sự phát triển công ty tiếp nhận đầu tư. De Mello(1997) đưa ra hai kênh chính mà
thông qua đầu tư nước ngoài có thể làm đẩy mạnh tăng trưởng. Đó là: đầu tư nước ngoài
khuyến khích việc áp dụng các công nghệ mới vào quá trình sản suất thông qua hiện
tượng lan tỏa từ công ty nước ngoài tới công ty nội địa; kích thích chuyển giao kinh
nghiệm, kỹ năng quản lý hiện đại cũng như đào tạo lao động có tay nghề. Hee Ng(2006)
cũng cho rằng có hai kênh mở rộng thông qua đầu tư nước ngoài ảnh hưởng đến kinh tế:
cung cấp vốn tăng cường khả năng sản xuất cho doanh nghiệp một cách trực tiếp; cung
cấp công nghệ tiên tiến và bí quyết tổ chức thúc đẩy nâng cao hiệu quả hay năng suất của
đầu tư một cách gián tiếp. Nhìn chung, đầu tư nước ngoài cung cấp nguồn vốn dài hạn với
công nghệ mới, nâng cao kỹ năng quản lý, tạo việc làm cho người lao động, nâng cao kỹ
năng quản lý điều hành, kích thích sự sáng tạo và đổi mới áp dụng khoa học kỹ thuật vào
sản xuất Findlay(1978).
Duning (1977, 1980, 1988); Djankov và Hoekman (2000); Arnold và Javorcik
(2009) đều cho rằng các công ty có tỷ lệ sở hữu nước ngoài có mối quan hệ đồng biến với
năng suất công ty.Ngoài ra, Keller & Yeaple (2003) đã tìm thấy mối quan hệ chặt chẽ
giữa đầu tư nước ngoài trực tiếp và tăng trưởng năng suất trong các doanh nghiệp sản
xuất ở Mỹ giai đoạn 1987 – 1996. Cụ thể, khoảng 14% tăng trưởng năng suất giai đoạn
này liên quan đến ảnh hưởng của công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Griffith, Redding và
Simpson (2003) cũng tìm thấy ảnh hưởng tích cực của vốn đầu tư nước ngoài đến tăng
trưởng năng suất của các doanh nghiệp sản xuất tại Anh.Dunning (1993), Cave(1996) cho
14


rằng so với các công ty nội địa thì các công ty có vốn nước ngoài thì thường có năng suất
cao hơn. Nghiên cứu của Dahlquist và cộng sự (2003) đưa ra bằng chứng cho thấy sở hữu

nước ngoài ảnh hưởng tích cực đến quản trị doanh nghiệp thông qua chuyển giao kiến
thức và kinh nghiệm từ đó tác động đến năng suất công ty. Nghiên cứu của
Patibandla(2006) cũng cho thấy, những cổ đông nước ngoài có ảnh hưởng đến lợi
nhuận nhiều hơn những tổ chức tài chính địa phương.
Giả thuyết 1: tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có mối quan hệ đồng biến
(+) với năng suất công ty.
Nhưng có phải việc công ty có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đều đem lại
những mặt tích cực như trên?
Để trả lời cho câu hỏi đó tác giả phân loại nhà đầu tư nước ngoài chia thành hai
loại: tổ chức nước ngoài (Foreign Firms); cá nhân nước ngoài (foreign individuals). Theo
Li, Lu và Ng (2009) nếu nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức thì sẽ nhiều kinh nghiệm, thông
tin đánh giá tình hình hoạt động , sự vận động luồng vốn, cơ cấu tổ chức cũng như hiệu
quả quản lý của các công ty mà họ đầu vào. Chính vì thế các nhà đầu tư này sẽ mang theo
những công nghệ, kỹ năng quản lý chuyên nghiệp, sản phẩm có thương hiệu, gia tăng lợi
nhuận của những tài sản độc quyền đến những thị trường mới, nên có tác động cải thiện
năng suất công ty. Còn loại hình nhà đầu tư là cá nhân vốn như một nhà đầu tư mạo hiểm,
họ không có chuyên môn cao về kỹ năng quản lý hay những công nghệ kỹ thuật hiện đại
nên ảnh hưởng không rõ ràng đến năng suất công ty.
Vì khả năng và động cơ đầu tư của các loại nhà đầu tư nước ngoài là khác nhau
nên có những ảnh hưởng khác nhau lên năng suất công ty.Kết quả này đã làm rõ hơn kết
quả của Dunning (1977, 1980, 1988) khi cho rằng không phải tất cả các nguồn vốn từ nhà
đầu tư nước ngoài là có tác động rõ ràng đến năng suất công ty.


Giả thuyết 2: tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức có mối quan hệ
đồng biến (+) với năng suất công ty.



Giả thuyết 3: Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân thì tác động

không rõ ràng đến năng suất công ty.

15


2.2.6. Các yếu tố khác ảnh hưởng đến năng suất công ty
Ngoài sở hữu nước ngoài tác động đến năng suất công ty, nghiên cứu còn phân tích
những biến khác có tác động đến năng suất công ty.
Như chúng ta đã biết, trong môi trường cạnh tranh hiện nay việc trang bị, xây dựng
thêm cơ sở vật chất mới, hiện đại, công nghệ cao là điều tất yếu. Doanh nghiệp nào có sự
đầu tư lớn về cơ sở vật chất sẽ tạo được ưu thế cao so với các đối thủ khác.
Đầu tư phát triển công nghệ sản xuất mới nhằm cải tiến chất lượng sản phẩm và
dịch vụ. Vì việc đổi mới khoa học công nghệ và trang thiết bị hiện đại sẽ giúp giảm thời
gian lao động, giảm chi phí sản xuất và tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, tăng sức
cạnh tranh trên thị trường từ đó góp phần làm tăng năng suất công ty (Li, Lu và Ng
(2009)). Thông qua cơ cấu lại vốn, các doanh nghiệp sẽ hoạch định tốt hơn nhằm tăng
hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Giả thuyết 4: Có mối tương quan đồng biến (+) giữa vốn tư liệu sản xuất và
năng suất công ty
Theo nhận định của Romer (1990) đầu vào có chất lượng của nguồn lao động làm
tăng năng lực sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao-yếu tố rất quan trọng
làm tăng TFP. Ở quốc gia đang phát triển, vai trò của vốn nhân lực là tiếp thu, ứng dụng
những tiến bộ khoa học và công nghệ; nâng cao kỹ năng, tay nghề. Tuy nhiên, các công ty
với quy mô lao động lớn nhưng chất lượng lao động thấp, trình độ quản lý của đội ngũ
cán bộ của các công ty chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, điều này đã tác động đến
việc gia tăng chi phí, giảm năng suất công ty.
Trong khi đó, những doanh nghiệp quy mô nhỏ có xu hướng đổi mới nhiều hơn về
mặt kinh tế so với các công ty lớn hơn. Chúng linh hoạt, dễ chuyển đổi, dễ đổi mới, tiết
kiệm chi phí sản xuất nên dễ dàng thích ứng ngay với các điều kiện kinh tế và những nhu
cầu thay đổi nhanh chóng của khách hàng, thông qua những giải pháp kỹ thuật sáng tạo

nhằm giải quyết các vấn đề trong sản xuất.
Trong bài nghiên cứu của Li, Lu và Ng (2009) và Palangkaraya, Stierwald, Yong
(2005) cho rằng công ty sử dụng càng nhiều lao động thì năng suất càng thấp
16


×