Tải bản đầy đủ (.doc) (98 trang)

LUẬN văn THẠC sĩ GIÁ TRỊ đạo đức TRUYỀN THỐNG dân tộc với xây DỰNG đạo đức của SINH VIÊN TRƯỜNG đại học KHOA học xã hội và NHÂN văn hà nội HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (445.57 KB, 98 trang )

MỤC LỤC
Trang
3

MỞ ĐẦU

Chương 1.

LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN
THỐNG DÂN TỘC VỚI XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC
CỦA SINH

VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA

HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
1.1. Quan niệm về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và

9

đạo đức của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn
1.2. Thực chất và những nhân tố quy định đến phát huy vai

9

trò giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng
đạo đức của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã
Chương 2.

hội và Nhân văn
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY



26

VAI TRÒ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN
THỐNG DÂN TỘC VỚI XÂY DỰNG ĐẠO
ĐỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HIỆN
NAY
2.1. Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong phát huy vai trò

42

giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng đạo
đức của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn hiện nay
2.2. Giải pháp cơ bản phát huy vai trò giá trị đạo đức truyền

42

thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

67
84
86
91



Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa tư bản
Đảng Cộng Sản Việt Nam
Giai cấp công nhân
Giai cấp vô sản
Kinh tế thị trường
Nhà xuất bản
Xã hội chủ nghĩa

CNXH
CNTB
ĐCSVN
GCCN
GCVS
KTTT
NXB
XHCN


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh viên là nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát
triển đất nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Một năm khởi đầu
từ mùa xuân. Một đời người khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã

hội". Nếu không có thế hệ trẻ, sẽ không có sự phát triển nối tiếp lịch sử của
mỗi quốc gia, dân tộc, cũng như không có sự phát triển của nhân loại. Sau 30
năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta, nhân dân ta đã
và đang đạt được những thành tựu “to lớn và có ý nghĩa lịch sử”; song chúng
ta cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức. Đặc biệt là
trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm khắc phục,
nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống của một số bộ phận
trong xã hội xuống cấp. Đạo đức truyền thống của dân tộc có biểu hiện bị
xem nhẹ và không được quan tâm.
Sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là một bộ
phận thanh niên ưu tú, giàu tâm huyết, nhiệt tình và say mê với lý tưởng cách
mạng. Họ là những người rất nhạy cảm với cái mới, thích nghi nhanh chóng
với sự thay đổi của điều kiện và hoàn cảnh sống. Tuy nhiên, do tuổi đời còn trẻ,
kinh nghiệm sống chưa nhiều, sinh viên rất dễ bị tác động bởi những yếu tố
tiêu cực từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; những tác động tiêu cực từ thực
tiễn cuộc sống và đặc biệt là sự ảnh hưởng trực tiếp từ những tệ nạn tham
nhũng, lãng phí, niềm tin vào Đảng vào chế độ có mặt bị giảm sút; từ đó làm
cho một bộ phận sinh viên tha hóa về đạo đức, lối sống.
Đặc biệt có một bộ phận không nhỏ sinh viên có lối sống thích hưởng
thụ, thực dụng, xa hoa, lãng phí, xa rời truyền thống đạo đức của dân tộc, thậm
chí có những sinh viên thoái hoá, biến chất, mất niềm tin vào sự nghiệp cách
mạng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những vấn
đề trên đã và đang làm ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống của sinh viên; ảnh
3


hưởng đến lòng yêu nước, tình yêu thương con người, đức tính cần cù, tiết
kiệm, tinh thần đoàn kết, tinh thần hiếu học; ảnh hưởng đến sự hình thành và
phát triển đạo đức sinh viên, đặt sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn trước những thách thức mới. Vì vậy, tác giả chọn vấn đề: “Giá trị

đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề truyền thống và phát huy vai trò giá trị truyền thống đã từng thu
hút sự chú ý, quan tâm của các nhà lãnh đạo, quản lý giáo dục, của giới lý
luận trong và ngoài nước. Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ cách
mạng. Nhiều chủ trương, đường lối nhằm phát huy giá trị truyền thống dân
tộc của Đảng đã được thể hiện trong các Văn kiện của nhiều kỳ Đại hội.
Song, theo hướng nghiên cứu của đề tài có các công trình tiêu biểu sau:
Những công trình Khoa học tiêu biểu nghiên cứu về giá trị và giá trị
đạo đức truyền thống
Về giá trị truyền thống nói chung, giá trị đạo đức truyền thống nói riêng
cũng có nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu. Nhìn
chung, các nhà khoa học đều khẳng định tính bền vững, trường tồn của các
giá trị truyền thống, trong đó, có giá trị đạo đức cũng như vai trò, sự cần thiết
phải bảo vệ, giữ gìn, kế thừa và phát huy chúng trong quá trình xây dựng xã
hội mới. Công trình “Về giá trị văn hóa tinh thần Việt Nam” (tập thể tác giả
gồm 210 tập) và “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” của
GS. Trần Văn Giàu đã phân tích một cách sâu sắc về các giá trị tinh thần
truyền thống của người Việt Nam. Đặc biệt, ở góc độ sử học và đạo đức học,
GS. Trần Văn Giàu đã phân tích sự vận động của những giá trị tinh thần
truyền thống qua những sự kiện phong phú của lịch sử Việt Nam.
GS,TS. Nguyễn Trọng Chuẩn và PGS,TS. Nguyễn Văn Huyên (đồng
chủ biên) công trình: “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn
4


cầu hóa”, gồm các bài viết đề cập đến giá trị truyền thống Việt Nam và những
vấn đề đặt ra trong xu thế toàn cầu hóa; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa. Trong đó, các tác giả nêu lên thực trạng

các giá trị truyền thống nói chung và giá trị truyền thống Việt Nam nói riêng
trước xu thế toàn cầu hóa hiện nay, và những giải pháp nhằm giữ gìn, phát
huy các giá trị truyền thống Việt Nam trước thách thức toàn cầu hóa. Cùng
với những vấn đề này còn có những công trình như “Giá trị truyền thống Việt
Nam trước thách thức của toàn cầu hóa” của GS,TS. Đỗ Huy.
Ngoài ra, còn có các công trình tiêu biểu như: Nguyễn Quang Uẩn Nguyễn Thạc - Mạc Văn Trang “Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và
giáo dục giá trị” [57]; Ngô Thị Thu Ngà, Luận án tiến sĩ “Giá trị đạo đức
truyền thống với việc xây dựng đạo đức mới cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện
nay” [50]; Nguyễn Văn Lý, Luận án Tiến sỹ triết học “Kế thừa và đổi mới
các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay”[40]; Nguyễn Văn Huyên, “Giá trị truyền thống
- nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc” [34];
Cao Thu Hằng, Luận án tiến sĩ “Kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống
trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay” [31]; Nguyễn Trọng
Chuẩn "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển" [4];
Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên) “Tìm hiểu
giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá”[5]; Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên) “Giá trị
truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá”..
Những công trình Khoa học tiêu biểu nghiên cứu về đạo đức và đạo
đức của sinh viên
Bàn về vấn đề này có một số công trình tiêu biểu của các tác giả:
Huỳnh Khái Vinh (chủ biên), “Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn
mực giá trị xã hội”. Trong cuốn sách này, các tác giả đã bàn một cách sâu sắc
phạm trù “lối sống”. Tìm hiểu sự tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế,
5


xã hội và xu hướng chuyển đổi lối sống ở nước ta trong giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Luận án tiến sỹ triết học của Nguyễn Văn Lý, “Một số biểu hiện của sự
biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và
giải pháp khắc phục”. Tác giả đã đi vào tập trung phân tích về các vấn đề có
liên quan cả về lý luận và thực tiễn có liên quan đến sự biến đổi giá trị đạo
đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và đề xuất hệ thống giải
giải pháp khắc phục.
Luận án tiến sỹ Triết học của Trần Sỹ Phán, “Giáo dục đạo đức đối với sự
hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay”, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu giáo dục truyền thống, kết hợp giữa
truyền thống và hiện đại trong giáo dục đào tạo, bước đầu đã đưa ra một số giải
pháp giáo dục đạo đức truyền thống cho thanh niên, học sinh, sinh viên.
Lương Đình Hải, “Mấy vấn đề về phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng
viên trong thời kỳ đổi mới” [29]; Trịnh Duy Huy, Luận án tiến sĩ, “Vấn đề xây
dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” [33];
Trần Đình Hượu, “Đến hiện đại từ truyền thống” [35]; Nguyễn Thế Kiệt,
“Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng các giá trị đạo đức
hiện nay” [38]; Trần Sỹ Phán, Luận án tiến sĩ Triết học “Giáo dục đạo đức
đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay”[51]; Phạm Huy Thành, “Đạo đức sinh viên Việt Nam trong
bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay” [52]...
Nhìn chung các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đều ít nhiều đề
cập đến vấn đề đạo đức cũng như kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức
truyền thống vào xây lối sống, giáo dục đạo đức mới ở nước ta. Tuy nhiên,
chưa có một công trình nào trình bày một cách trực tiếp đến giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên Trường Đại học
KHXH&NV trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, đề tài tác giả lựa chọn không
trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào đã được công bố.
6



3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về phát huy vai trò giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng
đạo đức của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; từ đó đề
xuất hệ thống các giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận chứng, làm rõ thực chất những nhân tố qui định phát huy vai trò
giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng đạo đức của sinh viên Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
- Đánh giá thực trạng và luận chứng những vấn đề đặt ra trong phát huy
vai trò giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản phát huy vai trò giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc trong xây dựng đạo đức của sinh viên Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề phát huy vai trò giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên.
* Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề nghiên cứu được giới hạn ở phát huy vai
trò giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội hiện
nay; thời gian khảo sát, điều tra sinh viên hệ chính quy ở Trường Đại học
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội từ
năm 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

7



* Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về đạo đức; giá trị đạo đức truyền thống dân tộc. Luận văn có
vận dụng, kế thừa kết quả của các công trình Khoa học liên quan đến đề tài
nghiên cứu.
* Cơ sở thực tiễn: Luận văn còn dựa vào thực tiễn đời sống đạo đức của
sinh viên nói chung, sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
nói riêng và Báo cáo trung tâm của Đại hội Đảng bộ nhà trường lần thứ XI,
một số báo cáo sơ kết, tổng kết của các cơ quan thuộc nhà trường trong những
năm gần đây. Ngoài ra, tác giả còn trực tiếp tiến hành khảo sát, điều tra xã hội
học ở một số khoa trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương
pháp nghiên cứu cụ thể: phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp,
thống kê và so sánh, các phương pháp chuyên ngành và liên ngành khác; và
phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Luận văn góp phần cung cấp thêm các luận cứ khoa học cả về lý luận
và thực tiễn về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng đạo đức của
sinh viên, trong đó có sinh viên Trường Đại học KHXH&NV hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả phát huy vai trò giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc với xây dựng đạo đức của sinh viên Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay.
- Đồng thời, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham
khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Đạo đức học trong
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm, Mở đầu, 2 chương, (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.

8


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
VỚI XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

1.1. Quan niệm về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và đạo đức
của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
1.1.1. Quan niệm và đặc trưng của giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc Việt Nam
* Quan niệm về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam
Giá trị là hiện tượng có tính lịch sử và tính thực tiễn, mọi giá trị đều bắt
nguồn từ lao động. Do đó, chỉ có trong xã hội loài người mới có giá trị: “Con
người là giá trị cao nhất của tất cả các giá trị, vì con người tạo ra mọi giá trị.
Con người là thước đo của mọi giá trị” [58, tr.64]. Sự đánh giá đúng đắn một
giá trị không chỉ căn cứ vào nhu cầu, lợi ích của chủ thể đánh giá mà còn phải
căn cứ vào hiệu quả xã hội của chủ thể theo đuổi mục đích, lợi ích: “Nói đến
giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao
hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói
đến khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới” [4, tr.16].
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam cho rằng, giá trị là: phạm trù
triết học, xã hội học chỉ tính có ích, có ý nghĩa của sự vật, hiện tượng tự nhiên
hay xã hội có khả năng thoả mãn nhu cầu, phục vụ lợi ích của con người. Ở
đây, các sự vật, hiện tượng được xem xét dưới góc độ đúng hay không đúng
mong muốn, có ý nghĩa tích cực hay không đối với đời sống xã hội [57, tr.97].
Từ những quan niệm trên đây, hiểu giá trị là một phạm trù triết học, phản ánh
sự vật, hiện tượng và những thuộc tính của chúng có ý nghĩa đối với xã hội,
cộng đồng, cá nhân, với tư cách là phương tiện thoả mãn nhu cầu vật chất,

tinh thần, đồng thời thể hiện tính mục đích của con người trong hoạt động.

9


Do mục đích cụ thể khác nhau mà người ta phân chia giá trị theo cách
riêng: có giá trị cá nhân và giá trị xã hội, giá trị dân tộc và giá trị toàn cầu, giá
trị thẩm mỹ và giá trị khoa học... Ở cấp độ chung nhất, giá trị được chia thành
hai loại: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Giá trị vật chất được biểu hiện cụ
thể qua đời sống kinh tế với các quan hệ mua bán, trao đổi để thoả mãn nhu
cầu của con người, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Giá trị tinh thần được
biểu hiện trong đời sống tinh thần thông qua các mối quan hệ giữa con người
với con người để thoả mãn các nhu cầu tâm lý, tình cảm. Các giá trị tinh thần
luôn được thể hiện thông qua các phẩm chất trí tuệ, tình cảm, ý chí, tư tưởng,
đạo đức, văn hoá, nghệ thuật, phong tục tập quán. Trong đó, một trong những
nội dung cốt lõi nhất trong giá trị tinh thần chính là giá trị đạo đức.
Sự hình thành và phát triển hệ thống các giá trị đạo đức không tách rời
sự phát triển và hoàn thiện ý thức đạo đức và sự điều chỉnh của đạo đức. Giá
trị đạo đức cũng là một phạm trù lịch sử, nó có quá trình hình thành và phát
triển, luôn chịu sự tác động và thay đổi khi đời sống xã hội biến đổi. Trong
giá trị đạo đức thường có sự kết hợp giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện
đại. Do vậy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải nghiên cứu và làm rõ các tính chất,
chức năng và định hướng của giá trị truyền thống.
Truyền thống: “Đó là những yếu tố của di tồn văn hoá, xã hội thể hiện
trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lối sống
và cách cư xử của cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở
nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài”
[6, tr.9]. Truyền thống là điều kiện duy trì, phát triển cuộc sống của cộng
đồng. Nó bao gồm những đức tính, thói quen, phong tục tập quán xã hội của
các thế hệ nối tiếp nhau, mang các đặc trưng: cộng đồng, có tính ổn định,

được lưu truyền. Trong từng cộng đồng, từng quốc gia, từng dân tộc đều có
những truyền thống khác nhau và chịu sự tác động to lớn của sự biến đổi
trong đời sống xã hội. Truyền thống thường thể hiện tính hai mặt.
10


Một là, truyền thống đóng vai trò to lớn trong việc giữ gìn và phát huy
các chuẩn mực, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, cách ứng xử… của
một con người cũng như của một cộng đồng dân tộc đó. Ở góc độ này, truyền
thống được hiểu là những mặt tích cực, những giá trị tốt đẹp, đóng góp cho sự
phát triển dân tộc trước sự biến động khắc nghiệt của lịch sử.
Hai là, truyền thống có khi lại là nơi dung dưỡng, duy trì các thói quen,
phong tục, tập quán lạc hậu làm kìm hãm sự phát triển của cộng đồng, quốc gia.
Mặt này, chính là những tiêu cực của truyền thống, nó níu kéo, kìm hãm sự phát
triển. Hồ Chí Minh đã viết: “Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch
to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ. Chúng ta lại không thể trấn áp nó,
mà phải cải tạo nó rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài” [49, tr.287].
Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ
hệ thống giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam. Nói đến giá trị đạo đức truyền
thống Việt Nam là chúng ta nói đến các giá trị đạo đức đặc thù của con người
Việt Nam được thử thách qua hàng ngàn năm lịch sử. Theo cách hiểu đó, giá
trị đạo đức truyền thống là những giá trị đạo đức tốt đẹp hình thành trong quá
trình dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và được
lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây là những giá trị nhân văn mang
tính cộng đồng, là sự kết tinh của toàn bộ tinh hoa dân tộc, mang tính ổn định
và được truyền từ đời này sang đời khác.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử với sự “tiếp biến” văn hoá của dân tộc,
đã tạo lập nên hệ giá trị đạo đức truyền thống của con người Việt Nam: giàu
lòng yêu nước, yêu thương con người, cần cù, thông minh, sáng tạo, hiếu
học… Những giá trị đạo đức đó đi sâu vào đời sống của con người Việt Nam

và trở thành những chuẩn mực được nâng niu, quý trọng trong suốt lịch sử
hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam,
trở thành sức mạnh tinh thần to lớn giúp nhân dân ta vượt qua vô vàn khó
khăn, gian khổ để đi đến bến bờ vinh quang.
11


Theo giáo sư Vũ Khiêu, truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam
bao gồm: “Lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng
tạo, tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương và quý trọng con người” [37, tr.7486]. Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng, “các giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc Việt Nam bao gồm: Yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan,
thương người, vì nghĩa” [25, tr.94].
Trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo đức
thường được đề cập đến với tư cách là những giá trị nổi bật. Chẳng hạn, Nghị
quyết của Bộ Chính trị “Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng
hiện nay” đã khẳng định: "Những giá trị văn hoá truyền thống bền vững của
dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo
lý "thương người như thể thương thân", đức tính cần cù, vượt khó, sáng tạo
trong lao động…" [9, tr.19]. Nghị quyết Hội Nghị lần thứ V Ban chấp hành
Trung ương Đảng (khoá VIII) “về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” khẳng định:
“Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm
đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực
tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia
đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý,
đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị
trong lối sống… [11, tr.56]. Từ tiếp cận trên có thể khái quát: giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc Việt Nam là những tinh hoa về đạo đức của dân tộc được
hình thành trong lịch sử dựng nước, giữ nước và được biểu hiện ở hệ thống

các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Như vậy, trong nền tảng văn hoá tinh thần truyền thống của dân tộc Việt
Nam, giá trị đạo đức truyền thống chiếm vị trí quan trọng nhất, chi phối sự vận
động và phát triển lịch sử tư tưởng dân tộc. Đồng thời, trong các giá trị đạo đức
12


truyền thống, chủ nghĩa yêu nước là giá trị quan trọng nhất, là bậc thang cao
nhất trong hệ giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam, nó định hướng cho các giá
trị khác cùng phát triển. Chủ nghĩa yêu nước trở thành một triết lý xã hội và
nhân sinh của con người Việt Nam. Cũng như, các giá trị đạo đức truyền thống
đã tạo nên hệ thống lý luận mang tính chất triết lý: cùng một giống nòi, cùng
một đất nước thì phải có nghĩa vụ yêu thương, đùm bọc lẫn nhau; đoàn kết sẽ
có sức mạnh, chung sức, chung lòng thì sẽ dời non, lấp biển thành công.
* Đặc trưng giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam
Như vậy, hệ thống các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam đã được
hình thành trong suốt hàng ngàn năm đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ
nước; trong giao lưu, tiếp thu, cải biến, chọn lọc những giá trị văn hóa của các
tộc khác trên thế giới. Tuy nhiên, cốt lõi của đạo đức truyền thống Việt Nam
hoàn toàn bắt nguồn từ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
Việt Nam. Trong số những giá trị đạo đức truyền thống đó, theo tôi có mấy
đặc trưng nổi bật sau đây:
Thứ nhất, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Yêu quê hương đất nước là một tình cảm tự nhiên của con người được
nảy sinh và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Cùng với sự
phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, tinh thần yêu nước Việt Nam trở
thành chủ nghĩa yêu nước, thành một giá trị to lớn, một động lực tinh thần vô
cùng mạnh mẽ thúc đẩy biết bao nhiêu thế hệ con người Việt Nam anh dũng
hy sinh để bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ phẩm giá của con người Việt Nam. Biểu
hiện của lòng yêu nước đó là tình yêu tha thiết quê hương, đất nước, ý thức

chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Tình cảm ấy, đã được khởi nguồn từ
thời Hùng Vương dựng nước, từ tinh thần của Hai Bà Trưng quyết “đền nợ
nước, trả thù nhà”, từ ý chí quật cường của Bà Triệu “không chịu cúi đầu
khom gối làm tỳ thiếp cho người” mà phải “ cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng
sóng giữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh tan quân Ngô, giành lại giang
13


sơn”. Tình cảm ấy được tiếp nối và phát triển ở sự khẳng định ý chí bảo vệ
độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của Lý Thường Kiệt ở bài
thơ thần đọc trên sông Như Nguyệt làm khiếp đảm tinh thần kẻ xâm lược; ở
hào khí Đông A của nhà Trần với tinh thần “Sát thát” nhấn chìm dã tâm xâm
lược của quân Nguyên Mông; tình cảm ấy còn thốt lên với những câu thơ
sảng khoái, đầy hào khí dân tộc của Vua Quang Trung khi đại phá 20 vạn
quân Thanh: “Đánh cho dài tóc, đánh cho đen răng, đánh cho biết Nam quốc
anh hùng chi hữu chủ”.
Từ hoàn cảnh đặc biệt của mình, nhân dân Việt Nam đã hun đúc tinh
thần yêu nước mãnh liệt, vượt lên những tình cảm thông thường, trở thành ý
thức trách nhiệm bảo vệ giống nòi, cộng đồng, dân tộc. Chủ nghĩa yêu nước
đã trở thành đạo lý, đi sâu vào tâm thức của mỗi con người Việt Nam, trở
thành cơ sở cho sự phân biệt đúng, sai, tốt, xấu. Chủ nghĩa nước được hiểu đó
là một thứ lương tri: “chết đứng còn hơn sống quỳ”. “Nó không phải là một
cái gì duy tâm, siêu hình mà là kết quả của kinh nghiệm đấu tranh, tồn tại, của
ý thức hướng theo lẽ phải, theo cái lý tự nhiên của cuộc sống đúng mực, sống
hữu ích và sống xứng đáng với quá khứ, hiện tại, tương lai của nước nhà” [36,
tr.15]. Bằng lương tri ấy, mỗi con người Việt Nam đã sống, cống hiến cho gia
đình, quốc gia, dân tộc Việt Nam vững bền theo năm tháng trước sự thử thách
khắc nghiệt của lịch sử dựng nước và giữ nước. Để xác định giá trị của chủ
nghĩa yêu nước, ta có thể dùng nhiều tiêu chuẩn, nhưng có một tiêu chuẩn phổ
biến, ứng dụng thì không bao giờ sai lầm: Cái gì có lợi cho nước, cho dân là

phải, là tốt, là nên; không hề thấy cái gì có hại cho nước, cho dân mà phải, mà
tốt, mà bao giờ nên [25, tr.143].
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ là tinh thần yêu nước trên lập trường của giai cấp công nhân đi
theo con đường cách mạng vô sản. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ
bó hẹp trong quốc gia Việt Nam mà được nâng lên tầm cao mới, đi đúng với
14


xu thế phát triển của thời đại, với khát vọng cháy bỏng của loài người: “Độc
lập dân tộc gắn liền với CNXH”. Lòng yêu nước Việt Nam thể hiện mong
muốn, khát vọng của các dân tộc đang bị chủ nghĩa đế quốc, thực dân áp bức,
bóc lột: “Đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc tự
do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người,
niềm vui, hòa bình, hạnh phúc” [45, tr.461]. Yêu nước và tinh thần tự hào dân
tộc đã trở thành truyền thống quý báu của nhân dân ta, nó nổi lên như sợi chỉ
đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ xưa tới nay, đó là bảng giá trị văn
hoá tinh thần lớn nhất của người Việt.
Thứ hai, tình yêu thương và quý trọng con người
Tình yêu thương con người của nhân dân ta được hình thành, phát triển
trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng làng
xã đến cộng đồng dân tộc. Trong ứng xử, người Việt Nam thường lấy cái
nhân nghĩa, sự yêu thương làm gốc, và nâng lên thành một triết lý sống của
con người Việt Nam. Chính trong quá trình lao động, sản xuất và chiến đấu,
cha ông ta đã rút ra một triết lý phát triển: con người là vốn quý, có con người
có tất cả, “một mặt người hơn mười mặt của”, “người sống đống vàng”.
Trong truyền thống đạo lý của con người Việt Nam, chữ “tình” chiếm một vị
trí đặc biệt quan trọng: tình cha con, tình mẫu tử, tình thầy trò, tình huynh đệ,
tình anh em, tình nghĩa vợ chồng, tình đồng bào, đồng chí …
Trong gia đình, thương yêu là một tình cảm tự nhiên của cha mẹ đối

với con cái, của anh em đối với nhau, anh em trong nhà phải “như thể tay
chân” coi “anh thuận, em hoà, là nhà có phúc”. Đối với mọi người xung
quanh thì đặt quan hệ hàng xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”, “bán anh em xa,
mua láng giềng gần”. Trong mối quan hệ vợ chồng, chữ tình luôn được đặt ở
vị trí đầu tiên, trong khó khăn gian khổ cũng phải yêu thương lấy nhau, chia
sẻ ngọt bùi để đảm bảo hạnh phúc gia đình.

15


Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam phải
đương đầu với biết bao nhiêu khó khăn, thách thức: thiên tai, địch họa, chiến
tranh liên tục diễn ra với tần suất dày đặc “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung
tàn, vùi con đỏ dưới hầm tai vạ”. Trước hoàn cảnh đó, nhân dân ta vẫn sống
với một sức sống mãnh liệt, họ đã tìm đến với nhau, thương yêu và đồng cảm
với nhau. Họ đã sẵn sàng “thương nhau chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, chăn
sui đắp cùng”, với tinh thần “nhường cơm sẻ áo” “lá lành đùm lá rách”. Cha
ông ta đã làm nên một truyền thống để lại cho con cháu ngàn đời, như một lời
răn dạy: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương
nhau cùng”. Trong cuộc sống, người Việt có cách ứng xử mềm dẻo, vị tha
“chín bỏ làm mười”. Khi xảy ra va chạm, người Việt thường cố gắng giải quyết
cho êm đẹp, vẹn cả đôi đường, với phương châm “có lý có tình” hay là “một bì
cái lý, không bằng một tý cái tình”. Coi trọng cái tình, cho nên con người Việt
coi thường và khinh bỉ những người bạc nghĩa, bạc tình “ ăn cháo, đá bát”.
“Cơm kẻ bất nhân ăn ấy chớ, Áo người vô nghĩa, mặc chẳng thà” [54, tr.40].
Tình yêu thương và quí trọng con người của nhân dân ta còn bao hàm
cả lòng vị tha với những kẻ lầm đường, lạc lối, để họ biết lập công chuộc tội
để trở về với con đường hiếu sinh: “Đánh kẻ chạy đi, ai đánh người chạy lại”.
Đối với kẻ thù khi chúng bị thất bại: “Lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy
chí nhân để thay cường bạo”. Đây là một trong những nét đặc sắc thể hiện

đỉnh cao của nhân ái, của tình yêu thương con người ở dân tộc Việt Nam.
Tình yêu thương và quí trọng con người là một giá trị nhân văn cao đẹp của
dân tộc được hình thành và phát triển trong quá trình giữ nước và dựng nước.
Truyền thống đó, được bổ sung và phát triển lên tầm cao mới kể từ khi có
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng nhân đạo của giai cấp công nhân giải phóng
con người khỏi mọi áp bức bóc lột, mang lại hạnh phúc cho nhân dân được
biểu hiện không chỉ ở mặt lý luận mà còn mang tính thực tiễn.
16


Thứ ba, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động
Đây cũng là một trong những giá trị đạo đức nổi bật trong hệ giá trị đạo
đức truyền thống của dân tộc Việt Nam. Trong quá trình phát triển của dân
tộc, người Việt luôn biết cách tạo ra của cải vật chất từ chính đôi tay và trí tuệ
của mình. Với đức tính cần cù, chịu khó cha ông ta đã sáng tạo ra được những
thành quả lao động hết sức to lớn và vô cùng quý giá, cả về vật chất lẫn tinh
thần. Việt Nam từ một nước có nền nông nghiệp lâu đời, với kết cấu công xã
nông thôn bền chặt.
Hơn nữa, lao động nông nghiệp là loại hình sản xuất vất vả “một nắng,
hai sương”, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, cần nhiều thời gian, công
sức mới có hạt cơm, bát gạo để ăn. Hơn nữa, thiên nhiên lại rất khắc nghiệt,
trung bình một năm Việt Nam chịu ảnh hưởng từ 10 cho đến 12 cơn bão, mùa
nắng thì hạn cháy đồng, mùa mưa thì lũ lụt. Để hạn chế sự tàn phá của thiên
nhiên, người dân Việt Nam quanh năm, suốt tháng phải lo đắp đập, đắp đê,
đào mương lấy nước tưới cho cây trồng.
Cùng với thiên tai khắc nghiệt, những cuộc chiến tranh xâm lược của
các thế lực bên ngoài càng làm cho đời sống nhân dân ta thêm phần khó khăn,
nền kinh tế đất nước bị tàn phá, lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực.
Nhưng trong bất kỳ tình huống nào, người dân Việt Nam vẫn anh dũng bám

đất, bám làng, vừa lao động sản xuất để nuôi sống mình vừa đánh giặc để bảo
vệ đất nước. Đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, như một tất yếu để bảo
đảm cho sự sinh tồn của dân tộc; nó đã đi sâu vào tiềm thức của nhân dân, trở
thành một đức tính của con người Việt Nam. Đức tính cần cù, sáng tạo trong
lao động là nguồn gốc của mọi của cải, là ấm no hạnh phúc của mỗi gia đình:
“năng nhặt, chặt bị”, “kiến tha lâu đầy tổ”, “bây giờ khó nhọc có ngày phong
lưu”. Quý trọng lao động, người Việt luôn tỏ thái độ phê phán thói lười biếng
“ăn không ngồi rồi”, bởi với họ “nhàn cư vi bất thiện”. Trong lao động và học
tập, người Việt luôn bổ sung mọi khiếm khuyết về trí tuệ “cần cù bù thông
minh”, “có công mài sắt, có ngày nên kim”.
17


Thứ tư, tinh thần đoàn kết và có ý thức cộng đồng sâu sắc
Với lịch sử dựng nước và giữ nước hết sức đặc biệt, dân tộc Việt Nam
đã xây dựng nên tinh thần đoàn kết bền chặt, có tính cộng đồng sâu sắc trong
suốt chiều dài lịch sử, trở thành một trong những giá trị tinh thần truyền thống
tốt đẹp, một trong những động lực, sức mạnh to lớn giúp nhân dân ta vượt qua
muôn vàn khó khăn, thử thách. Nền kinh tế của nước ta trước đây chủ yếu là
tự cung, tự cấp, dựa vào thiên nhiên. Việc trao đổi, mua bán các sản phẩm
được sản xuất ra ở mỗi vùng, mỗi địa phương đã tạo nên sự gắn chặt nhân dân
mọi miền đất nước lại với nhau. Những tục “kết bạn” không những chỉ thực
hiện giữa các công xã trong từng vùng mà giữa các công xã khác vùng và
khác thành phần dân tộc. Đây là cơ sở kinh tế - xã hội để tạo dựng nên sự cố
kết cộng đồng, tinh thần hợp tác, đoàn kết trong lao động sản xuất, trong sinh
hoạt xã hội.
Điều kiện thiên nhiên buộc con người muốn tồn tại phải hiệp sức lại với
nhau, giữa những người trong vùng, giữa những vùng khác nhau trong cả
nước và ý thức sớm liên kết thành một cộng đồng dân tộc thống nhất, phải tựa
lưng nhau mà sống đã được hình thành. Chính yêu cầu phải hợp sức, hợp lực

trong sản xuất, trong đấu tranh với thiên nhiên từ năm này qua năm khác, đời
này qua đời khác, là nhân tố cơ bản đầu tiên tạo nên ý thức thống nhất dân
tộc, thống nhất quốc gia.
Do có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông, tài nguyên thiên nhiên phong
phú, cho nên, Việt Nam trong tất cả các thời kỳ lịch sử là đối tượng của những
đội quân xâm lược hùng mạnh hơn mình gấp nhiều lần và cực kỳ tàn bạo. Trong
bối cảnh đó, các thành phần dân cư khác nhau đã tự nguyện đoàn kết để bảo vệ
sự sống còn của bản thân mình, bảo vệ quê hương, làng xóm và hình thành nên
một sức mạnh hết sức to lớn. Ngày nay, phát huy truyền thống đại đoàn kết dân
tộc là một chiến lược phát triển lâu dài, một động lực mạnh mẽ trong công cuộc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn
18


kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Suốt cả
cuộc đời Hồ Chí Minh, Người luôn quan tâm tới vấn đề đoàn kết, không chỉ
đoàn kết trong Đảng, đoàn kết dân tộc, mà còn đoàn kết quốc tế.
Thứ năm, tinh thần hiếu học và ham hiểu biết
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, trọng đạo lý làm
người, chính những giá trị đó đã góp phần hun đúc những giá trị đạo đức Việt
Nam. Từ xa xưa cha ông ta đã giáo dục cho con cháu tinh thần hiếu học, kính
trọng thầy giáo, quý mến học trò. “Qua sông thì bắc cầu kiều; muốn con hay
chữ thì yêu lấy thầy”; truyền thống “tôn sư trọng đạo” đã có từ lâu đời và trở
thành đạo lý sống của mỗi con người Việt Nam. Cha mẹ có công nuôi ta lớn
lên, người thầy có công giáo dục ta thành người “cơm cha, áo mẹ, chữ thầy”,
“không có thầy đố mày làm nên”. Người thầy luôn được cả xã hội coi trọng:
“mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”. Trong lịch sử Việt
Nam người thầy luôn luôn được tôn trọng, kính phục. Ở chế độ phong kiến đã
xuất hiện những người thầy mẫu mực: Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm…
Đến thời đại Hồ Chí Minh xuất hiện những người thầy gắn số phận mình với

vận mệnh đất nước: Nguyễn Tất Thành, Đặng Thai Mai, Tạ Quang Bửu... Cố
thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “dạy học là nghề cao quý nhất trong
những nghề cao quý”.
Trong thời kỳ phong kiến mặc dù điều kiện về mọi mặt còn khó khăn
cho giáo dục, ít chú trọng đến khoa học - kỹ thuật... những vẫn đào tạo được
nhiều nhân tài, để lại nhiều công trình nghiên cứu hết sức sâu sắc và có giá trị
khoa học về triết học, sử học, địa lý, kinh tế, pháp luật, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật… góp phần quan trọng vào việc phát triển và giữ gìn bản sắc văn
hoá dân tộc. Đạt được kết quả đó một phần nhờ vào phương thức tuyển chọn
nghiêm ngặt, coi trọng chất lượng, với phương châm như Phan Huy Chú đã
nhận định trong “Lịch triều hiến chương loại chí”: muốn có nhân tài trước hết
phải chọn người có học, phép chọn người có học thì thi cử là đầu.
19


Người Việt Nam học là để: làm người trước đã, rồi mới để làm người
quản lý giỏi. Chính vì vậy cha ông ta thường nói: “Ngọc bất trác bất thành
khí, nhân bất học bất đạo” và “Hiếu nhân, bất hiếu học kỳ tế dã ngu”. Đến
thời đại Hồ Chí Minh thì đạo học của con người Việt Nam là học để làm
người, làm đầy tớ công bộc của nhân dân. Vì vậy, để duy trì và phát triển
những mục tiêu giáo dục đó không chỉ ngày một, ngày hai mà phải giáo dục
con người từ bé và học tập suốt đời.
1.1.2. Quan niệm về đạo đức của sinh viên Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn
Sinh viên Việt Nam là thuật ngữ dùng để chỉ những người đang học tập
ở các trường đại học và cao đẳng trong cả nước. Họ là vốn quý, nguồn nhân
lực chất lượng cao của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Mục tiêu của giáo dục là hình thành, bồi dưỡng nhân cách, phẩm
chất và năng lực công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động
và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần

thực hiện mục tiêu chung cho dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Sinh viên Trường Đại học KHXH&NV là lực lượng tuổi trẻ, có học
thức, nhạy cảm với cái mới, năng động và sáng tạo, ham học hỏi, là những
chủ nhân tương lai của đất nước. Là tầng lớp xã hội được gia đình, nhà
trường, xã hội hết sức quan tâm, chăm sóc. Trong cuộc sống xã hội, sinh viên
Trường Đại học KHXH&NV giữ nhiều vị trí: là sinh viên, là người con,
người anh, người chị, người em, người bạn... Tuy vậy, về vị trí thực trong xã
hội chưa được xác định, bởi vì họ chưa có nghề nghiệp ổn định, mà hoạt động
chính của họ là học tập và bước đầu tham gia vào nghiên cứu khoa học, tham
gia vào các hoạt động xã hội. Trong sự phát triển đất nước, sinh viên nói
chung và sinh viên Trường Đại học KHXH&NV giữ một vị trí quan trọng,
sau khi rời ghế nhà trường họ có thể sẽ giữ những vai trò, những trọng trách ở
20


nhiều lĩnh vực khác nhau trong xã hội. Họ có thể sẽ là những nhà chính trị,
nhà ngoại giao, nhà khoa học, hay nhà doanh nghiệp... Lúc đó họ đã có một vị
trí đích thực và đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội.
Sinh viên Trường Đại học KHXH&NV là những lớp trí thức trẻ trong
tương lai, có trình độ, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, là những
người có lòng nhiệt tình và cũng rất nhạy cảm trong cuộc sống. Đây là nét nổi
bật có ở tầng lớp sinh viên. Những ước mơ, những hoài bão lớn là động lực
chắp cánh cho những người sinh viên thời nay bay cao, bay xa. Với lòng nhiệt
tình, tính hăng say, không chịu lùi bước trước những khó khăn thử thách của
cuộc đời, đại bộ phận sinh viên có chí tiến thủ, vươn lên trong học tập.
Bên cạnh những ưu điểm đó, trong đội ngũ sinh viên Trường Đại học
KHXH&NV cũng còn tồn tại một số hạn chế như: tính bồng bột, muốn tự
khẳng định mình trong khi bản thân chưa có đủ điều kiện, và khi thất bại thì dễ
nản chí và trượt dài. Do vậy, hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên là

một vấn đề hết sức quan trọng, để có phương pháp giáo dục, vận động sinh
viên một cách khoa học, thiết thực, phù hợp với từng chuyên ngành đào tạo.
Từ sự tiếp cận trên có thể khái quát đạo đức sinh viên Trường Đại học
KHXH&NV là: một hệ thống giá trị, định hướng giá trị của đạo đức mới,
được thể hiện dưới dạng các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức đặc thù gắn với
mục tiêu phát triển,hoàn thiện nhân cách của người sinh viên Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường.
Theo đó, đạo đức của sinh viên Trường Đại học KHXH&NV chính là
những giá trị và định hướng giá trị của đạo đức mới, được thể hiện dưới dạng
các chuẩn mực đạo đức đặc thù của sinh viên Trường Đại học KHXH&NV
như: lòng yêu nước, yêu thương quí trọng con người; thường xuyên tích cực
tu dưỡng, rèn luyện, không ngừng phấn đấu vươn lên để lập nghiệp, cống hiến
cho gia đình, xã hội và đất nước; ham hiểu biết, cầu tiến bộ, tin tưởng và say
mê với khoa học mà mình đã lựa chọn. Đặc thù ấy còn được biểu hiện qua sự
21


cần cù sáng tạo trong học tập, nhiệt tình, hăng hái, xung kích trong các hoạt
động phong trào của tuổi trẻ. Biểu hiện của hệ thống các giá trị và định hướng
giá trị đạo đức truyền thống qua đạo đức của sinh viên Trường Đại học
KHXH&NV được thể hiện:
Trước hết, đó là lòng yêu nước mà biểu hiện cụ thể là trung với nước,
hiếu với dân, có thái độ chính trị đúng đắn.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trung với nước phải gắn liền hiếu với dân,
bởi nước là nước của dân, còn dân lại là chủ nhân của đất nước. Trung với nước
là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, trung thành với
con đường đi lên CNXH của đất nước; suốt đời phấn đấu cho Đảng, cho cách
mạng. Hiếu với dân thể hiện ở chỗ thương dân, tin dân, phục vụ nhân dân hết
lòng. Trung với nước, hiếu với dân đối với sinh viên hiện nay là: tự nguyện, tự
giác suốt đời phấn đấu cho cho độc lập của Tổ quốc, tự do cho nhân dân, xây

dựng XHCN, biến lý tưởng xã hội của Đảng, của dân tộc thành hiện thực, bất
chấp mọi khó khăn thử thách, kể cả hy sinh tính mạng của mình khi cần thiết, hết
lòng, hết sức phục vụ nhân dân, để cho dân tin, dân phục, dân yêu.
Thái độ chính trị là tình cảm chính trị của mỗi người trước các vấn đề
chính trị, thời sự của đất nước. Có thái độ chính trị đúng đắn, biểu hiện là thái độ
khách quan, được xây dựng trên cơ sở hệ thống tri thức lý luận chính trị khoa
học, xuất phát từ thực tiễn của đất nước, từ lợi ích chung của xã hội; mọi cử chỉ,
lời nói, việc làm biết suy nghĩ thật chín chắn, thận trọng, biết làm chủ mình, luôn
bình tĩnh, sáng suốt, không hấp tấp, không vội vàng; biết dùng sự hiểu biết đúng
đắn của mình, giúp đỡ mọi người cùng hiểu, tổ chức hành động đúng.
Thái độ chính trị đúng có vai trò quan trọng, làm cho mỗi người phấn
chấn, hăng hái, tạo nên sức mạnh tinh thần và thể chất, thúc đẩy mọi người hoàn
thành tốt nhiệm vụ. Thái độ chính trị đúng đắn của sinh viên Trường Đại học
KHXH&NV hiện nay thể hiện ở kết quả học tập và rèn luyện về lý tưởng, về lập
trường giai cấp, về trình độ lý luận chính trị, về thực hiện đường lối của Đảng,
22


chính sách và pháp luật của Nhà nước. Cho nên trong quá trình tu dưỡng đạo
đức cách mạng, mỗi sinh viên phải hết sức coi trọng việc xây dựng thái độ chính
trị đúng nhằm góp phần tích cực thực hiện tốt các mục tiêu đã xác định.
Thứ hai, đạo đức của sinh viên Trường Đại học KHXH&NV còn được
biểu hiện cụ thể ở tình yêu thương con người.
Tình yêu thương là mọi thứ tình cảm tốt đẹp mà sinh viên nhà trường
dành cho nhau, có tình cảm gia đình, tình cảm bè bạn... thậm chí là đối với
những người không hề quen biết. Nó có thể là thứ tình cảm được vun đắp, xây
dựng trong một thời gian dài qua nhiều năm học cùng, ở cùng, nhưng cũng có
thể chỉ là một niềm thương cảm chợt trào dâng khi sinh viên gặp một hoàn
cảnh nào đó. Nhưng dù với bất cứ biểu hiện nào thì tình yêu thương cũng luôn
mang lại những điều kì diệu riêng cho cả người cho đi và nhận về nó. Cái hạnh

phúc mà tình yêu thương đem lại cho cuộc sống là dành cho cả 2 phía. Người
cho đi yêu thương được nhận một cảm giác ngọt ngào, êm dịu và bình yên. Và
hầu như là họ cũng sẽ nhận lại được tình thương từ người mình vừa trao tặng.
Tình yêu thương đó không chỉ ở suy nghĩ mà phải hiện thực hóa bằng
hành động như: luôn luôn biết làm điều có lợi, tránh điều hại cho bạn, coi
trọng việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè, đồng chí để giúp nhau
cùng tiến bộ. Với sinh viên Trường Đại học KHXH&NV hiện nay trong môi
trường toàn cầu hóa giao tiếp con người càng rộng thì lòng yêu thương cần
được mở rộng ra hơn, đó là động lực để mỗi sinh viên hợp tác cùng nhau nâng
cao hiểu biết, tích cực cải thiện cuộc sống con người, chỉ có yêu thương mới
xoa dịu những ngăn cách giàu nghèo, những bất đồng nghi kỵ. Tạo ra thế giới
hòa bình, hạnh phúc, văn minh và giàu mạnh.
Thứ ba, đạo đức của sinh viên Trường Đại học KHXH&NV còn biểu
hiện cụ thể qua tinh thần hiếu học, ham hiểu biết, biểu hiện qua sự cần cù,
sáng tạo trong học tập của lớp lớp thế hệ sinh viên nhà trường.

23


Hiếu học là một quá trình tích luỹ lâu dài, không chỉ giới hạn vào việc
đạt kết quả cho riêng một giai đoạn nào. Không tự thoả mãn với thành tích
của mình mà hãy rèn luyện để có một tinh thần ham học hỏi, cầu thị: học thầy
cô, học anh chị khoá trên, học bạn và học trong cuộc sống... Truyền thống
hiếu học, ham hiểu biết là một trong những giá trị truyền thống quý báu được
hình thành và hun đúc từ dòng chảy lịch sử ngàn đời của dân tộc Việt. Đó
chính là tinh thần quả quyết, tính kiên trì, nhẫn nại và ham học hỏi. Sự hiếu
học ấy đã tạo điều kiện sản sinh nhiều bậc lương đống, các trung thần, những
anh hùng dân tộc… Dù xuất thân mỗi người tuy khác nhau nhưng họ đều có
điểm chung là tinh thần hiếu học. Đức tính hiếu học này sẽ được kế tục và
phát huy bởi sinh viên Trường Đại học KHXH&NV. Tự hào là thế hệ sinh

viên của nhà trường, với tinh thần dám suy nghĩ một cách độc lập, sáng
tạo, tự tin vào khả năng của bản thân để có thể vượt khó thực hiện cho kỳ
được ước mơ và hoài bão của mình, để bay cao và bay xa hơn nữa.
Ngay từ những ngày sau Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí
Minh đã đặt ra yêu cầu phải xây dựng con người mới để phù hợp với một xã
hội mới. Người nêu ra những chuẩn mực đạo đức như “cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư”. Trong đó đức tính cần cù được Bác rất đề cao, coi
trọng. Không có một thành quả lao động nào vững bền nếu không được tích
lũy vào đó sự cần cù siêng năng và sáng tạo. Đó là tầm quan trọng của sự cần
cù, siêng năng đã được rút đúc từ bao đời của cha ông ta.
Sinh viên Trường Đại học KHXH&NV xác định tốt tầm quan trọng của
cần cù, sáng tạo trong học tập cho nên thường xuyên chăm học, chăm làm,
siêng năng thức khuya dậy sớm, chịu khó cần cù học hành, luyện tập. Biết
“học ngày chưa đủ, tranh thủ học đêm”. Muốn có đủ tri thức, kỹ năng, bản
lĩnh và sẵn sàng hội nhập với lòng yêu nước nồng nàn, đưa đất nước đi lên,
lớp lớp sinh viên Trường Đại học KHXH&NV tâm niệm một điều: học là để

24


lấy kiến thức, nên học đều các môn chứ không giành sự ưu ái cho bất kỳ môn
nào, tất cả các môn khoa học tự nhiên và xã hội đều có tầm quan trọng của
riêng nó. Chỉ có chí thú trong sự học, không bị đòi hỏi mà vẫn học, dốc lòng
dốc sức theo đuổi tiến bộ thì khát vọng thành công cho cuộc sống sau này của
bạn chắc chắn trở thành sự thật.
Thứ tư, đạo đức của sinh viên Trường Đại học KHXH&NV còn được
biểu hiện rõ ở tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc của các thế hệ
sinh viên nhà trường.
Người Việt Nam có một truyền thống vô cùng quý báu “ tinh thần đoàn
kết”, đó là một phẩm chất tốt đẹp của dân tộc. Đức tính này được Bác nhắc

đến trong câu nói nổi tiếng: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công,
thành công, đại thành công”. Quả thực vậy, “đoàn kết” tạo nên một sức mạnh
vô cùng lớn lao. Tinh thần đoàn kết ấy được chứng minh thông qua quá trình
dựng nước và giữ nước của cha ông. Nhờ có sự đoàn kết mà dân tộc ta đã ba
lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thành công. Trong kháng chiến
chống thực dân xâm lược, hình ảnh đoàn kết được thể hiện rõ hơn khi mọi
người cùng chung tay góp gạo “Một nắm khi đói bằng một gói khi no”.
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc của sinh viên Trường Đại
học KHXH&NV được biểu hiện cụ thể đó là họ biết xung kích trong mọi hoạt
động của trường. Qua hoạt thực tiễn hoạt động của các thế hệ sinh viên mới
thấy tình cảm mà mọi người dành cho trường, cho đất nước và cho con người
nhiều như thế nào. Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng luôn là một truyền
thống quý báu được mọi thế hệ sinh viên nhà trường coi trọng và đề cao. Tinh
thần ấy cũng là một yếu tố quan trọng để quyết định thành công của mỗi sinh
viên Trường Đại học KHXH&NV trong thực tại và tương lai.

25


×