Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

Một số biện pháp để nâng cao chất lượng học sinh yếu - kém môn Tiếng Anh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (260.26 KB, 23 trang )

S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước đang chuyển mình trước sự phát triển không ngừng của nhân loại.
Ngành Giáo dục - Đào tạo cũng không ngừng lớn mạnh để cung cấp cho xã hội
nguồn lực lớn nhất, quý báu nhất, trong đó có nguồn lực trí tuệ - nguồn lực con
người Việt Nam. Những chủ nhân tương lai của đất nước phải là những con người
biết hành động một cách năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh trước sự phát triển
của khoa học công nghệ, sự biến đổi không ngừng của xã hội. Từng người dân
Việt Nam hiếu học, mỗi gia đình và toàn xã hội coi trọng học vấn. Đảng ta xác
định “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Đổi mới giáo dục đóng vai trò quan
trọng cấp thiết trong giáo dục phổ thông.Đổi mới giáo dục là nền tảng, là động
lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để Việt Nam từng bước vững
vàng khi hội nhập nền kinh tế thế giới, vững vàng trước sự phát triển khoa học
công nghệ của nhân loại.
Từ năm học 2002-2003 Bộ giáo dục đào tạo đã thực hiện cuộc cách mạng về
giáo dục, đổi mới cả nội dung và phương pháp dạy học. Năm học 2006-2007 vừa
qua là năm đầu tiên ngành GD- ĐT triển khai cuộc vận động lớn “ Nói không với
tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Cuộc vận động này đã
được toàn xã hội hưởng ứng, làm thay đổi nhiều mặt hệ thống giáo dục, đem lại
những thành công đáng ghi nhận. Từ những thành công khi triển khai cuộc vân
động lớn “ Hai không”, năm học 2007-2008 này, Bộ GD - ĐT thêm vào cuộc vận

1


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
động đó hai nội dung quan trọng là chống ngồi nhầm lớp của học sinh và vi phạm
đạo đức nhà giáo. Đây cũng là những điểm mấu chốt tiếp theo để việc dạy và học
trong nhà trường đi vào thực chất, để Ngành giáo dục tự khẳng định đổi mới vì sự
phát triển của đất nước, của ngành, xây đắp nền móng cho ngôi nhà giáo dục
vươn cao.


Đổi mới về mục tiêu và nội dung dạy học đòi hỏi phải có sự đổi mới về
phương pháp dạy học, là quá trình tích cực hoá hoạt động học tập tích cực của
học sinh dưới sự chỉ đạo hướng dẫn trực tiếp của người giáo viên; học sinh phải
tự giác, chủ động sáng tạo, vận dụng linh hoạt các kiến thức đã thu nhận được
một cách có hiệu quả vào thực tế nhằm nâng cao chất lượng trong nhà trường.
Nền kinh tế thị trường trong giai đoạn mới đang mở cửa, Tiếng Anh từ lâu
được coi là ngôn ngữ giao tiếp quan trọng, càng quan trọng hơn trong xu hướng
hội nhập kinh tế ngày nay bởi học sinh học tốt bộ môn này sẽ có điều kiện sử
dụng ngôn ngữ quốc tế để học tập, giao tiếp, trao đổi thông tin. Người thầy giáo
phải nắm vững phương pháp dạy học một cách vững chắc, vận dụng linh hoạt các
thao tác trong quá trình dạy học. “ Mỗi thầy cô giáo phải là tấm gương sáng về
đạo đức, tấm gương sáng về tự học và sáng tạo”. Coi trọng kỳ vọng rất nhiều
nhưng bản thân từng nhà giáo phải nỗ lực thật lớn mới có thể hoàn thiện mình
trong nghề dạy học. Đặc biệt Tiếng Anh là bộ môn đặc trưng mang những nét đặc
thù riêng, học sinh đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy

2


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
học bộ môn, nhất là việc giảm thiểu tỉ lệ học sinh yếu kém. Giáo viên Tiếng Anh
phải nỗ lực như thế nào đây để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém, thực hiện
tốt nội dung chống học sinh ngồi nhầm lớp trong cuộc vận động “ Hai không” của
Bộ GD-ĐT.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn tiếng Anh, bản thân tôi đã nhiều đêm
trăn trở làm sao để những học sinh thuộc diện yếu kém có thể biết đọc, biết viết,
biết giao tiếp bằng Tiếng Anh những tình huống gần gũi trong cuộc sống. Phải
chăng những học sinh này là những học sinh yếu lõi không được quan tâm một
cách thích đáng, do hoàn cảnh gia đình hay do các em lêu lỏng dẫn đến mất gốc,
chán nản, không thích học ... Vì vậy trong phạm vi của đề tài tôi xin đưa ra một

vài kinh nghiệm của mình về “ Một số biện pháp để nâng cao chất lượng học
sinh yếu - kém môn Tiếng Anh “
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Nghị quyết Trung ương khóa VII của Đảng đã xác định phải “ khuyến khích tự
học ”phải “áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học
sinh năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề ”.
Nghị quyết TW 2 khóa VIII tiếp tục khẳng định “Đổi mới phương pháp giáo
dục đào tạo, khắc phục lối truyền đạt một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng
tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện

3


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
dạy học hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự
nghiên cứu cho học sinh ”.
Luật giáo dục cũng nêu rõ trong điều 28.2 “Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm hứng thú
học tập cho học sinh ”.
Ngành Giáo dục Lệ Thủy đã và đang chỉ đạo một cách tích cực hướng tới sự hoàn
thiện về đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện tốt cuộc vận động hai không với
bốn nội dung của Ngành Giáo dục. Trong đó việc chống học sinh ngồi nhầm lớp
đang là một vấn đề nóng bỏng và nan giải.
Với đối tượng học sinh yếu, đây quả là một bước đột phá đặc biệt hết sức quan
trọng mà người giáo viên cần phải chuẩn bị hết sức kỹ càng công việc của mình,
đòi hỏi nỗ lực không ngừng của những người làm ngành Giáo dục và của toàn xã
hội.
Phương pháp nâng cao chất lượng cho học sinh yếu kém lại là một vấn đề hết sức

thiết thực và quan trọng nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói chung và bộ môn
Tiếng Anh nói riêng ở bậc THCS.
II. TÌNH HÌNH THỰC TIỄN.
1. Tình hình thực tế học sinh.

4


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
Từ những năm qua, theo phương pháp đổi mới trong dạy và học, học sinh được
học chương trình, sách giáo khoa mới; nhưng đối tượng tiếp nhận vẫn chủ yếu là
học sinh khá giỏi. Đối tượng học sinh yếu chưa nắm chắc kiến thức, học theo tính
thụ động, chờ đợi kết quả của bạn mình đưa ra. Nhiều em rất ngại thực hành nói ở
trên lớp, sợ nói ra sẽ bị sai. Một số em chưa đọc thông viết thạo, thậm chí không
thích ghi chép bài học ở trên lớp cũng như không làm bài tập về nhà. Phương
pháp học chưa phù hợp với tình hình đổi mới về giáo dục trong giai đoạn mới.
2. Thực tế của giáo viên trong cách hướng dẫn học sinh yếu học Tiếng Anh.
Trong những năm thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa và phương
pháp dạy học bộ môn Tiếng Anh, giáo viên chỉ chú trọng đến việc đổi mới trong
tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, hoàn thiện các bước dạy theo hướng
đổi mới chứ chưa thật sự chú trọng hướng dẫn cách học và thực hành cho đối
tượng học sinh yếu kém. Giáo viên chỉ dừng lại ở mức độ hướng dẫn còn chung
chung với tất cả các đối tượng học sinh.
3. Cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học.
Với yêu cầu đổi mới giáo dục, cơ sở vật chất của nhà trường ngày càng được
tăng trưởng nhanh. Song sự thiếu đồng bộ hóa trong các khối lớp học, góp phần
ảnh hưởng đến sự tiếp thu bài của học sinh dẫn đến các em có sự chán nản, mệt
mỏi cho các em.

5



S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
Trang thiết bị được trang cấp khá đầy đủ nhằm phục vụ tối đa cho mục đích
đổi mới dạy học và sách giáo khoa mới, sử dụng có hiệu quả những trang thiết bị
trên trong giai đoạn đầu đổi mới còn khó khăn nhất là trang thiết bị nghe nhìn
chưa được trang cấp đầy đủ, chưa mang tính đặc trưng của bộ môn như phòng
nghe nhìn, băng đĩa, máy móc phục vụ dạy và học trên lớp.
4. Thực trạng đổi mới phương pháp học tiếng Anh tại đơn vị trường THCS
Liên Thuỷ.
Từ năm học 2002- 2003 thực hiện đổi mới giáo dục của Bộ Giáo dục và đào
tạo về cả nội dung và phương pháp, bản thân tôi đã chú trọng nhiều về phương
pháp dạy học. Đặc biệt là phương pháp để nâng cao chất lượng cho học sinh yếu,
kém.Tôi đã xây xựng kế hoạch phụ đạo học sinh yếu - kém dựa trên kế hoạch phụ
đạo của trường và của phòng GD. Số lượng học sinh yếu - kém được tôi phân
thành 3 loại: Trung bình - Yếu;Yếu;Yếu- kém; và tôi đã theo dõi cụ thể diễn biến
của từng học sinh, số lượng học sinh tiến bộ ở cuối học kỳ I so với chỉ tiêu đề ra
đầu năm. Song trong quá trình thực hiện việc đổi mới, chúng tôi vẫn còn lúng
túng nên việc nâng cao chất lượng cho học sinh yếu chưa đạt hiệu quả cao.
Vì vậy, chất lượng của học sinh khối 6,7 chưa được như mong muốn. Cuối
năm 2006- 2007 chất lượng bộ môn Tiếng Anh của khối 6 được thể hiện về các
kỹ năng nghe, đọc, viết,… bởi các chỉ số như sau:
Ngữ pháp

Viết

Đọc

Nghe


6


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
Chưa
Nắm

Chưa
Nắm

nắm
được

Nắm
nắm

được
được

kiến

dụng

thức

S

L

L


50,

vận

dụng

50,

%

vận
dụng

dụng

khá
yếu
S %

thức

vận

dụng

khá

L


thức

vận

dụng

kiến

vận

vận

%

kiến

thức

vận

dụng

được

kiến

thức

vận


được

kiến

thức

nắm

được

kiến

thức

S

nắm

được

kiến

Chưa
Nắm

được

kiến

thức


Chưa

dụng

khá
yếu
S %

S

L

L

43,

56,

%

khá
yếu
S %

S

L

L


56,

%

yếu
S %

43,

L
3 1

62,

6A

16

8

0
53,

8

0
46,

7


8
53,

9

3
46,

9
1

3
66,

7

8
33,

6 7,5 0
6

5
40,

6B

15


8

3
47,

7

7
52,

8

3
52,

7

7
47,

0
1

7
64,

5

3
35,


9
1

0,0 6
5

0
41,

6C

17

8

1

9

9

9

9

8

1


1

7

6

3

0

8,8

7

2

Từ bảng thống kê chất lượng trên ta thấy tỉ lệ học sinh chưa nắm được kiến thức
vận dụng còn yếu ở tất cả các kĩ năng nghe, đọc, viết … còn quá cao.Chứng tỏ
học sinh chưa nắm được phương pháp học tập bộ môn, chưa vận dụng được kiến
thức mà giáo viên đã hướng dẫn để chủ động sáng tạo thể hiện cái tôi của mình
trong hoạt động giao tiếp. Mặt khác, hoàn cảnh gia đình các em chưa động viên
thích đáng, hướng dẫn, định mức thời gian học cho các em.
7


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
Từ những thực tiễn cấp thiết trên tôi tìm tòi, suy nghĩ làm thế nào để nâng cao
chất lượng môn học cao hơn. Từ đó tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn Tiếng Anh ở trường THCS.
III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.

1. Nắm đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh.
Lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi hết sức nhạy cảm thuộc vào giai đoạn giữa
trẻ em và người lớn, không còn là trẻ em nhưng cũng chưa phải là người lớn, mà
các em thích làm người lớn nhưng xử sự như là trẻ con, thích làm theo ý mình,
thích cái lạ, thích bạn bè và bắt đầu cảm thấy chán bộ môn. Tôi nắm bắt được
điểm này ở các em đặc biệt là những em yếu - kém. Do đó tôi đã thay đổi phương
pháp học cho các em,vừa học vừa chơi, tạo cho các em không khí nhẹ nhàng thoải
mái khi hoạt động nhóm, hoạt động cặp.Với những em có vẻ nhút nhát, chưa tự
tin khi hoạt động tập thể , ngại nói tiếng Anh, sợ nói ra dễ bị sai, tôi hỏi học sinh
bằng những câu hỏi dễ nhất để khuyến khích và động viên các em.
Ví dụ: - gọi những học sinh này khi muốn kiểm tra nghĩa Tiếng Việt của từ đã
học
-

nhắc lại từ, cụm từ hay câu mà các bạn hay cô giáo vừa mới nói xong

-

gọi học sinh sửa những lỗi đơn giản như: lỗi chính tả,……

Người giáo viên phải đặt cái “tâm” lên trên hết, bởi chỉ giỏi về chuyên môn
thôi chưa đủ mà phải có đức như câu nói của Bác Hồ “ Người có tài mà không có

8


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
đức là người vô dụng” . Do đó người giáo viên lên lớp phải nắm được đặc điểm
tâm sinh lý của học sinh, hết sức nhẹ nhàng, bình tĩnh, coi học sinh như là người
con, người em trong gia đình, cùng trò chuyện tâm sự với các em vào giờ ra chơi

và những lúc rảnh rỗi, tôi luôn dành tình cảm cho học sinh đặc biệt là những học
sinh có hoàn cảnh khó khăn để các em hiểu rằng các em được chia sẽ và cảm
thông, giúp các em tránh xa sự mặc cảm từ đó không ngừng phấn đấu vươn lên
trong học tập. Tôi đã thực sự cảm thông, chia sẽ với các em, luôn mang trong
mình tình cảm “Cô giáo như mẹ hiền”, phấn đấu suốt đời vì sự nghiệp dạy học “
Tất cả vì học sinh thân yêu”.
2. Đặt tên, phân chỗ ngồi cho học sinh yếu kém:
Đối tượng học sinh yếu luôn có những khía cạnh khác nhau: em thì vì hoàn
cảnh gia đình nghèo khó, túng thiếu không đủ điều kiện cho việc học hành dẫn
đến học kém, em thì do gia đình quá nuông chiều ít quan tâm đến việc học của
các em dẫn đến các em chơi bời, lêu lỏng, không chú tâm vào việc học. Có em
chăm học song vì thiếu sự đầu tư, chăm sóc, hướng dẫn từ các lớp dưới, dẫn đến
mất gốc ...
Trong quá trình dạy, tôi thường đặt cho học sinh những cái tên nhí nhảnh,
khác nhau từ tên của một số loài trái cây, một số đồ vật, con vật hay màu
sắc……, vừa tạo không khí vui vẻ, nhẹ nhàng vừa giúp cho các em khắc sâu từ

9


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
vựng, bằng cách đó các em nhớ được từ vựng mà không cần phải mất thời gian để
học nhiều.
Ví dụ: You are “an orange”; You are “a dog”; Your name is “red”; …etc.
Chỗ ngồi của học sinh yếu - kém cũng là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng học tập của các em. Bởi lẽ khi đến lớp các em không
những chỉ học ở thầy cô, mà còn phải học ở bạn rất nhiều, bạn bè chính là nơi để
các em luyện tập, giao tiếp, trao đổi thông tin và cả những kiến thức đã lĩnh hội
được từ thầy cô. Do đó bạn giao tiếp theo nhóm hay theo cặp phải là những đối
tượng nhằm hỗ trợ hoạt động của các em,các em cùng thi đua với nhau theo từng

nhóm hay cặp; hay là các em trở thành những đôi bạn cùng tiến, nhóm bạn cùng
tiến
Ví dụ: Với đối tượng học sinh trung bình - yếu, các em sẽ được ngồi cạnh
những học sinh giỏi của lớp; đối tượng học sinh yếu ngồi cạnh những em khá giỏi, đối tượng học sinh kém được ngồi cạnh những em khá.
Tuy nhiên cũng theo đặc điểm tình hình học sinh yếu kém của từng lớp mà bố
trí chỗ ngồi cho các em phù hợp với khả năng của từng em; tránh sự mặc cảm, tự
ti về trình độ; nắm chắc vị trí chỗ ngồi của từng học sinh yếu - kém; thường
xuyên kiểm tra, theo dõi sự tiến bộ của các em.
3. Dành sự quan tâm thích đáng đối với học sinh yếu kém ở trên lớp:

10


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
Đây là một hoạt động khá quan trọng và hết sức cần thiết nhằm nâng cao chất
lượng bộ môn cho học sinh yếu kém. Từ trước đến nay mỗi một giáo viên khi lên
lớp đều mong muốn được hướng dẫn hết những kiến thức cơ bản của bài học
trong phạm vi của một tiết dạy nên phần lớn đều tập trung cho tất cả các đối
tượng mà chưa dành sự quan tâm thích đáng đến đối tượng học sinh yếu kém. Bởi
lẽ đối tượng này sẽ làm “ cháy” giáo án nếu chúng ta không biết vận dụng linh
hoạt và sáng tạo các phương pháp tổ chức hoạt động trong lớp cho các em.
Trong khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu kiến thức bài học, ngoài việc kết hợp
nhuần nhuyễn các đối tượng học sinh tôi còn đặc biệt chú ý đến sự tiếp thu của
đối tượng học sinh yếu kém bằng cách nhấn mạnh, nói chậm rãi hay nhắc lại kiến
thức cần lưu ý để đối tượng này dễ hiểu bài hơn.
Khi kiểm tra, đánh giá tôi cũng dành những câu hỏi dễ, gợi mở để giúp các em
tự tin trả lời câu hỏi.
Khi sử dụng đồ dùng dạy học, tôi dùng tranh trái cây, đồ vật , con vật…để học
sinh đọc lên từ tiếng Anh. Ngoài tranh ảnh, cards, posters, băng, đài...tôi còn
hướng dẫn cho các em làm một bảng phụ cá nhân. Chỉ bằng một tờ lịch hay một

tấm bìa cũ có bao giấy trong ở ngoài, bài học sẽ trở nên rất hứng thú thông qua
các trò chơi như “Bingo”, “Guessing”; hoặc tôi tổ chức cho các em làm bài tập
trắc nghiệm qua trò chơi “ Rung chuông vàng” mà các em thường hay xem ở trên

11


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
truyền hình. Bằng cách đó sẽ lôi cuốn được tất cả các đối tượng học sinh, đặc biệt
là những em hằng ngày thường tỏ ra nhút nhát cũng tham gia rất sôi nổi.
Ví dụ: Unit 4 - English 7: Muốn khắc sâu những tính từ trong dạng câu
“Compliments” từ sáu từ mới: delicious, interesting, bad, wet, great, bright. Tôi
cho học sinh chọn bốn trong sáu từ trên, mỗi em viết vào bảng phụ của mình bốn
từ đã chọn.Giáo viên đọc đáp án, học sinh nghe và đối chiếu kết quả của mình với
đáp án. Học sinh nào đúng với đáp án thì giơ bảng phụ lên và hô to “Bingo”. Giáo
viên dán những bảng phụ đúng lên bảng, học sinh dưới lớp dễ dàng đọc thấy đáp
án để kiểm tra.
4. Dạy phụ đạo theo lịch của nhà trường:
*Các nguyên tắc mà tôi đã dựa vào để có tiết dạy phụ đạo tốt:
-Giáo viên luôn soạn giáo án chu đáo, chuẩn bị đồ dùng kỹ lưỡng và phù hợp với
nội dung bài soạn.
-Tạo sự tự do, thoải mái cho học sinh.
(Đây là những buổi học mà học sinh yếu kém cảm thấy tự do trong khuôn phép,
thoải mái nhất bởi xung quanh không còn đối tượng để mặc cảm. Do đó tôi đã
vận dụng điểm này để cho các em luyện tập nội dung bài học một cách nhẹ
nhàng).
-Củng cố kiến thức cơ bản các em đã được học ở các tiết trước hoặc kiến thức của
lớp dưới mà các em bị hỏng.

12



S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
-Đơn giản hoá nội dung bài tập và nâng độ khó từ từ một cách phù hợp với trình
độ của các em.
-Luôn cho các em học theo nhóm, cặp để tạo sự phối hợp nhịp nhàng, đoàn kết và
chắc chắn về kiến thức mà các em còn nhớ được.
-Bầu một cán sự bộ môn của lớp học phụ đạo (HS này là trợ lý đắc lực giúp tôi
thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc làm bài tập ở nhà của các em, kiểm tra
những nhiệm vụ mà giáo viên đã giao ở tiết trước. Kiểm tra việc chuẩn bị bài vở,
SGK, SBT và cả việc ghi chép ở trên lớp).
-Khôn khéo, mềm dẻo nhưng cứng rắn, phải biết nói bằng “mắt” khi học sinh tỏ
thái độ không nghe lời.
Những buổi học phụ đạo theo lịch của nhà trường là những buổi rất thuận lợi để
tôi hướng dẫn phương pháp làm các dạng bài tập một cách cụ thể cho học sinh
yếu kém. Mỗi lớp có hai tiết học liên tục trong một buổi, tôi dành hướng dẫn
phương pháp làm mỗi dạng bài tập vào một buổi, buổi này hướng dẫn dạng bài
tập ngữ pháp - từ vựng; buổi sau hướng dẫn dạng bài tập ngữ âm; trắc nghiệm;
đọc hiểu; nghe hiểu; Khi đảm bảo HS đã nắm chắc kiến thức cơ bản tôi bắt đầu
luyện bài tập tổng hợp theo tháng hoặc kỳ. Với mỗi dạng bài tập tôi hướng dẫn
học sinh làm bài trình tự theo các bước:
*Ví dụ:
-Tôi ra dạng bài tập: Multiple choice

13


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
1. This is … new classmate.
2. … name is Hoa.


(a. we
(a. she

3. We are … class 7a.
4. Hoa is … Hue.

(a. on
(a. from

5. Her parents still … there.
6. Hoa has … of friends in Hue.

c. our)

b. her

c. hers)

b. in

c. at)

b. of

(a. lives
(a. some

b. us


c. on)
b. living.

b. lots

7. Her new school is … than her old school. (a. bigger

c. live)

c. lot)
b. big

c. biggest)

*Chỉ đẫn phương pháp làm bài theo yêu cầu của bài tập:
-Tôi hướng dẫn các em đọc đáp án và tập trung vào từ loại mà đáp án đề cập đến.
+Câu 1, 2 đều có đáp án là đại từ chủ từ, đại từ túc từ, tính từ và đại từ sở
hữu.
+Câu 3, 4 đều có đáp án là giới từ
+Câu 5 đáp án liên quan đến dạng của động từ.
+Câu 6 đáp án là các tính từ số lượng.
+Câu 7 đáp án có liên quan đến tính từ so sánh
*Gợi ý để học sinh làm - làm mẫu:
+Câu 1:
? Chổ trống này có cần chủ ngữ không

-Không. Chủ ngữ của câu là

“This”.


14


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
? Vậy trước một cụm danh từ từ loại gì được dùng -Tính từ. (Sẽ có em trả lời là
“túc từ”)
-Cô giáo cần phải khẳng định ngay là dùng “Tính từ”
? Em hãy xác định đáp án của câu
-Giáo viên sẽ nhận được có thể là cả ba đáp án, không phải là một. Việc các em
quên từ loại về đại từ chủ từ, túc từ và tính từ sở hữu là dễ nhận thấy. Tôi đã
chuẩn bị một “poster” với các từ loại này và cấu trúc câu có sử dụng chúng: S +
V + O/ S + V + adj +N/ S + be + adj
Đại từ chủ từ

Đại từ túc từ

Tính từ sở

hữu
I
Me
My
He
Him
His
She
Her
Her
We
Us

Our
You
You
Your
They
Them
Their
It
It
Its
-Bây giờ thì học sinh dễ dàng để đọc đáp án của mình trước lớp. Nhiều buổi học
và nhiều bài tập được sử dụng các từ loại tương tự sẽ làm cho các em nhớ điểm
ngữ pháp và hiẻu bài hơn.
-Giáo viên tiếp tục hướng dẫn các em chọn đáp án theo cách làm trên để các em
tự tin và tiếp tục làm những câu còn lại của bài tập.
-Học sinh tự làm theo nhóm hoặc theo cặp, tự phân tích và cùng nhau chọn đáp án
đúng.

15


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
-Kiểm tra và đánh giá: Ở bước cuối cùng này, tôi cho học sinh tự đánh giá bài làm
của bạn mình bằng cách chấm chéo bài với đáp án giáo viên đã chuẩn bị trước:
1.c, 2.b, 3.b, 4.a, 5.c, 6.b, 7.a. Làm như thế học sinh không những hứng thú hơn
mỗi khi làm bài tập mà còn cảm thấy tự tin hơn khi được giáo viên giao nhiệm vụ.
(Giáo viên có thể kiểm tra sự hiểu bài của các em với câu hỏi: Tại sao em chọn
đáp án này?)
*Với bài tập ngữ âm: Hãy chọn một từ có cách phát âm của chữ gạch dưới khác
những từ còn lại:

1. A. appliance

B. amazing

C. calendar

2. A. famous

B. math

C. equation

3. A. drawing

B. author

C. area

? Yêu cầu của bài tập này là gì.
-Chọn từ có cách phát âm của chữ gạch dưới khác với những từ còn lại.
? Hãy đọc to từ của các đáp án (HS đọc to từ và nhận thấy âm được đọc khác biệt
với những âm còn lại. Đáp án:1.c, 2.b, 3.c)
Cũng tương tự như thế với một bài tập từ vựng: Hãy tìm một từ sai trong ba từ, và
sửa lại trong ngoặc trống.
1. A. area

B. horible

C. favorite


(B.

horrible)

16


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
2. A. phisycal

B. appear

C. summer

(A.

B. ahead

C. apertment

(C.

physical)
3. A. accident
apartment)
Học sinh xem qua bài tập và cho biết yêu cầu của bài tập này làm gì, HS trả lời là
phải tìm một từ sai chính tả trong ba từ A; B hoặc C. Vậy câu 1 các em hãy nhận
biết xem từ nào sai chính tả? Có em chọn A, có em chọn B, có em lại chọn C. Tôi
hỏi: Tại sao các em chọn B? Trò trả lời từ đúng B phải là “ horrible”. Tôi đồng ý:
OK; rồi viết từ đúng vào ô trống ở cuối câu. Tương tự học sinh làm theo nhóm

câu 2 và 3. Tôi kiểm tra và đưa ra đáp án 2. A. physical; 3. C. apartment. Sau đó
từng nhóm đổi chéo bài, chấm điểm.
4. Củng cố và hướng dẫn phương pháp làm bài tập về nhà cho học sinh yếu
kém:
Đây là một hoạt động rất quan trọng và cần thiết bởi sau một tiết học các em cần
biết mình đã học được những gì. phải học và vận dụng những kiến thức cơ bản
nào vào bài tập, cách làm bài tập trong sách bài tập như thế nào. Đối với học sinh
yếu kém hoạt động này đòi hỏi phải có sự cụ thể và tỉ mỉ hơn.
Ví dụ: Yêu cầu học sinh mở SBT ( trang 16 - 17), đọc và nêu yêu cầu của bài
tập, giáo viên hướng dẫn cách làm bài tập với hình thức so sánh hơn và hơn nhất
của những tính từ trong ngoặc. Gợi ý làm mẫu từ 1 đến 2 câu.

17


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
Bài tập 2 (a): Fruit is ................ candy. ( good)
Đối tượng làm bài là HS yếu kém cho nên với câu bài tập trên tôi thêm từ “ than”
vào,
Fruit is ............. than candy. ( good) ;
? Điểm ngữ pháp của bài tập này là gì.
- Hình thức so sánh hơn.

(có em nói là hình thức so sánh hơn nhất.)

? Tại sao em biết dó là hình thức so sánh hơn.
- Có sử dụng “than” ở trong câu. “
? Thế hình thức so sánh hơn nhất có đúng không
- Không đúng.
GV khẳng định điểm ngữ pháp của câu trên là so sánh hơn nhờ có “than” ở trong

câu.
Em hãy cấu tạo hình thức so sánh hơn “ good”
Đáp án của câu trên sẽ là:

- “better”.

Fruit is better than candy.

*Dạng bài tập chia động từ trong ngoặc
1. He (go) ……. to the zoo yesterday.
2. Lan (go) …… to school every day.
3. They (have) ….. a party tonight.
4. The students (visit) …… their old teacher next week?
5. She (not eat) …….. bread for breakfast now.

18


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
6. My mother (read) …… books after dinner.
? Thời động từ nào được dùng ở câu 1 - hiện tại đơn, quá khứ đơn
-Các câu trả lời trên các em suy nghĩ và xác định bằng kiến thức mà các em nhớ
được. Tuy nhiên giáo viên có thể khẳng định “quá khứ đơn” để tiếp tục gợi mở
hướng các em tới câu trả lời đúng
? Tại sao em biết dó là thì quá khứ đơn.
-HS nhận ra được là có dấu hiệu nhận biết “yesterday” ở trong câu.
? Thế thì hiện tại đơn có đúng không?”. (GV vừa đưa ra các dấu hiệu cụm thời gian
của hiện tại đơn: always, often, … every day, every time …)
-HS sẽ thấy được đáp án đúng là quá khứ đơn.
? Em hãy chia động từ “go”


-went

-He went to the zoo yesterday.
Trên đây chỉ đơn cử một vài ví dụ về dạng bài tập và phương pháp gợi mở, dẫn dắt
các em vận dụng kiến thức cơ bản vào thực hành và giao tiếp.
Dạy học là một nghệ thuật, các cách thức tổ chức dạy học trên lớp chỉ có thể là
một nghệ thuật khi nó được tiến hành dưới sự điều khiển tài nghệ của GV. Làm tốt
các hình thức trên học sinh sẽ được tiếp thu một cách có hiệu quả.
Sau khi áp dụng các phương pháp trên tôi tiến hành kiểm tra lại chất lượng học
sinh. Kết quả chất lượng thể hiện qua bảng số khảo sát khối lớp 7 kỳ II năm học
2007-2008 như sau:

19


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
Ngữ pháp
Chưa
Số
Nắm
nắm
lượ
được
được
ng
kiến
kiến
Lớp HS
thức

thức
yếu
vận
vận
kém dụng
dụng
khá
yếu
S
S
%
%
L
L
1 68,
31,
7A
16
5
1 8
2
1 66,
33,
7B
15
5
0 7
3
1 70,
29,

7C
17
5
2 6
4

Viết
Chưa
Nắm

Đọc
Chưa
Nắm

nắm
được

nắm
được

được
kiến

được
kiến

kiến
thức

kiến

thức

thức

thức

vận

vận
vận

dụng

vận
dụng

dụng

dụng

khá

khá
yếu

S

S
%


L
1

yếu
S

%
L

81,

18,

S
%

L
1

L
87,

3
3
1

3
80,

7

20,

0
88,

4
1

5
86,

2

5
13,
2

0
11,

3
1

7
82,

2
5

12,

2

3
2
1

%

3
17,
3

8

4

4

6

Nghe
Chưa
Nắm
nắm
được
được
kiến
kiến
thức
thức

vận
vận
dụng
dụng
khá
yếu
S
S
%
%
L
L
1 81,
18,
3
3 3
7
1 66,
33,
5
0 7
3
1 82,
17,
3
4 4
6

Như vậy cả năm học lớp 6 và cho đến cuối kỳ II lớp 7, sự hướng dẫn cẩn thận
về phương pháp học cho đối tượng học sinh yếu, tôi nhận thấy, chất lượng học tập

của các em đã có sự chuyển biến rõ rệt. Các em nắm được nhiều từ mới, từ đó
ngữ pháp chắc hơn, cách phát âm chuẩn hơn, phương pháp nghe đã có sự chuyển
biến, các em tiếp thu bài nhanh hơn, luôn hứng thú và thích hoạt động trong mỗi

20


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
tiết học, chủ động hơn trong mọi hoạt động của mình và đặc biệt giao tiếp tiếng
Anh của các em không còn rụt rè như trước nữa.
IV. KẾT LUẬN
Việc học tập bộ môn Tiếng Anh để rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết là
công việc lâu dài vất vả, khó nhọc đối với học sinh nhất là học sinh ở các lớp đầu
bậc học THCS. Do vậy người giáo viên ngoài nhiệm vụ truyền đạt kiến thức còn
phải tìm cách làm cho giờ học trở nên hấp dãn, thú vị nhằm thu hút các em hứng
thú hăng say học tập. Hướng dẫn cho học sinh phương pháp học ở trên lớp và tự
học ở nhà có hiệu quả là điều quan trọng nhất. Đặc biệt là phương pháp học cho
đối tượng học sinh yếu trong thời điểm cả ngành giáo dục đang thực hiện cuộc
cách mạng “Hai không” là vô cùng cần thiết và cấp bách bởi lẽ không để cho học
sinh ngồi nhầm lớp tức là các em được trang bị đầy đủ kiến thức cơ bản, tự tìm tòi
sáng tạo nâng cao kiến thức của mình, hình thành thói quen làm việc độc lập tự
chủ dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của giáo viên, đồng thời học sinh có khả năng hợp
tác làm việc với bạn bè nhằm đáp ứng yêu cầu của bài học. Đây chính là nền tảng
để xây dựng tác phong làm việc của thế hệ người Việt nam trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thời kỳ hội nhập hiện nay.
Là một giáo viên đứng trên bục giảng tôi luôn mong muốn mang đến cho học
sinh của mình những giờ học thực sự hấp dẫn và lôi cuốn, tạo mọi điều kiện cho
các em học thật tốt từ đó nâng cao chất lượng học tập và kết quả bộ môn ngày

21



S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh
càng cao hơn. Với kinh nghiệm và khả năng còn có hạn này chắc chắn các bạn
đồng nghiệp sẽ rất hài lòng khi tiếp nhận nó, đóng góp thêm và cùng nhau thực
hiện mục đích đẩy lùi việc đánh giá học sinh không chính xác dẫn đến học sinh
ngồi nhầm chỗ , góp một phần sức lực nhỏ bé của mình thực hiện tốt cuộc vận
động “Hai không “của Bộ Giáo dục và Đào tạo để “ Ngôi nhà giáo dục mãi mãi
vươn cao”.
Lệ Thủy, ngày 10 tháng 5 năm 2008
NGƯỜI
THỰC HIỆN

Phạm
Thị Hạnh

22


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: n©ng cao chÊt l îng HS yÕu kÐm m«n TiÕng Anh

23



×