Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

SKKN sáng kiến kinh nghiệm vài biện pháp khắc phục học sinh yếu toán 3

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.01 MB, 26 trang )

A. PHẦN MỞ ĐẦU:

I. BỐI CẢNH:
Hiện nay đất nước ta đang trong sự nghiệp đổi mới toàn diện và sâu sắc, với
mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam từ năm
2001-2020 theo Nghị Quyết TW2( khóa VIII) đã khẳng định: “Đưa đất nước ta
thoát khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho
người dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản đã trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại hóa”. Để tiến hành sự nghiệp đổi mới đó thì
chúng ta phải hết sức coi trọng con người. Nhân tố con người được đặt vào vị trí
trung tâm của chiến lược kinh tế xã hội, xây dựng đất nước. Muốn vậy phải phát
triển giáo dục “Coi giáo dục là quốc sách hàng đầu” mà “Đầu tư cho giáo dục
là đầu tư cho con người”. Như vậy con người được đặt ở trung tâm chiến lược,
trong đó lớp thiếu niên, nhi đồng hôm nay sẽ là những công dân, những người
làm chủ tương lai đất nước sau này.
II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, bậc Tiểu học là một cấp học nền tảng, là tiền đề, cơ sở
ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người. Là nền

2010

Trang:1
2011


tảng của và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Để chuẩn bị nguồn nhân lực
đáp ứng sự phát triển của kinh tế công nghiệp, kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu
hoá mạnh mẽ những năm đầu thế kỉ XXI.
Chương trình giáo dục phổ thông của các nước trong khu vực và trên thế
ngày càng quan tâm đúng mức đến mục tiêu cần đạt, các năng lực cần phát triển
ở học sinh, chăm lo giáo dục toàn diện, đảm bảo sự phát triển hài hòa về đức, trí,


thể, mĩ, các kĩ năng cơ bản, chú ý định hướng nghề nghiệp, hình thành và phát
triển cơ sở ban đầu của hệ thống hoá phẩm chất, năng lực cho lớp người lao động
phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bậc Tiểu học có tính chất phổ cập và phát triển dân tộc hiện đại nhân dân
và dân chủ. Các tính chất trên đều được thể hiện trong cơ cấu tổ chức, trong toàn
bộ các mặt hoạt động giáo dục và dạy học ở bậc Tiểu học. Bậc Tiểu học tạo tiền
đề cơ sở vững chắc cơ bản để nâng cao dân trí.
Nó là một cơ sở ban đầu hết sức quan trọng đã đào tạo ra được thế hệ trẻ,
một mầm móng tương lai của đất mẹ trở thành công nhân cốt lõi, nhân cách con
người Việt Nam trong giai đoạn mới. Những phẩm chất đó là: trí tuệ phát triển, ý
chí cao, tình cảm đẹp giáo dục Tiểu học dù bất cứ hình thức nào đều cũng phải

2010

Trang:2
2011


mang mục tiêu thống nhất của nhà nước và được thể hiện chủ yếu ở nhà trường
Tiểu học.
Để làm được điều đó tôi đã quyết tâm nâng cao chất lượng học tốt môn
toán của lớp mình. Đó cũng là mục đích tôi trọn đề tài:
“Vài biện pháp khắc phục học sinh yếu Toán 3”.
III. PHẠM VỊ ĐỐI TƢỢNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Đề tài nghiên cứu: Vài biện pháp khắc phục học sinh yếu Toán lớp 3.
- Phạm vi áp dụng: Học sinh và giáo viên trường tiểu học Bình An 3 năm
học 2010 – 2011.
IV. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI:
Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào và phát triển những cơ sở ban
đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam cùng các môn học khác,

môn Toán có vị trí quan trọng vì:
- Các kiến thức , kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng
trong đời sống, chúng rất cần thiết cho mọi người lao động, rất cần thiết để học
tập các môn học khác ở Tiểu học và học tập tiếp môn Toán ở trung học.
- Môn Toán giúp học sinh nhận biết được các mối quan hệ về số lượng và

2010

Trang:3
2011


hình dạng không gian của thế giới thực.Nhờ đó mà học sinh có phương pháp
nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả
trong đời sống.
- Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy
nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, nó góp phần phát
triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng góp vào
việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động: cần
cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp tác phong
khoa học.
Từ những nguyên nhân trên, để đạt được mục tiêu giáo dục.Với mong
muốn của một giáo viên giảng dạy là làm sao cho các em học sinh học tốt môn
toán, học có phương pháp là mục tiêu hàng đầu trong mọi tiết học toán.
B. PHẦN NỘI DUNG:
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Mỗi môn học ở Tiểu học cùng môn Tiếng Việt và môn Toán có vị trí quan
trọng, vì:
+ Các kiến thức, kỹ năng của môn toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong


2010

Trang:4
2011


đời sống, chúng rất cần để mọi người học tập các môn khác ở tiểu học và học tiếp
toán ở trung học, đại học, cao học.
+ Ở môn Toán giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và hình
thành không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có phương pháp
nhận thức một số mặt bên ngoài và các hoạt động trong đời sồng hằng ngày.
+ Môn toán còn góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy
nghĩ, suy luận, giải quyết vấn đề, nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy
nghĩ độc lập linh hoạt, sáng tạo, nó góp phần vào việc hình thành các phẩm chất
cần thiết và quan trọng của người lao động như: tính cần cù, cẩn thận, ý chí vượt
khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học.
Cùng với tầm quan trọng của môn toán Tiểu học thì Toán ở lớp 3 có nhiệm
vụ giúp học sinh :
- Biết đếm trong phạm vi 100 000.
- Biết đọc, viết các số trong phạm vi 100 000.
- Biết so sánh và sắp xếp các số theo thứ tự từ bé đến lớn và ngược lại.
- Biết thực hiện các phép cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 100 000 như:
học thuộc các bảng tính và biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính hoặc các

2010

Trang:5
2011



trường hợp đơn giản, thường gặp về cộng, trừ, nhân, chia. Biết thực hiện phép
công, trừ số có đến năm chữ số. Thực hiện phép nhân có ba, bốn chữ số cho số có
một chữ số. Biết thực hiện phép chia có năm chữ số cho số có một chữ số( chia
hết và chia có dư)
- Biết tính giá trị biểu thức có đến hai dấu phép tính (có dấu ngoặc hoặc
không có dấu ngoặc).
- Biết tìm thành phần chưa biết của phép tính.
- Biết tìm một trong các thành phần bằng nhau cua một số.
- Biết đo và ước lượng các đại lượng thường gặp như: đơn vị đo độ dài, mối
quan hệ giữa một số đơn vị đo độ dài thường gặp,… đơn vị đo khối lượng, đơn vị
đo thời gian, sử dụng tiền Việt Nam trong sinh hoạt hàng ngày, giới thiệu về đơn
vị đo diện tích (cm2).
- Biết thêm về hình chữ nhật, hình vuông như: góc, đỉnh, cạnh, biết tính chu
vi, diện tích.
- Biết vận dụng các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề thường gặp
như: đọc và sắp xếp các số liệu, giải toán có lời văn (không quá hai bước tính)
trong đó có một số dạng toán như tìm một trong các thành phần bằng nhau của

2010

Trang:6
2011


một số, gấp một số lên nhiều lần, bài toán liên quan đến rút về đơn vị,…
- Thông qua những hoạt động học tập toán để phát triển đúng mức một số
khả năng trí tuệ và thao tác tư duy quan trọng nhất như: so sánh, phân tích, tổng
hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, lập luận có căn cứ, bước đầu làm quen với
những chứng minh đơn giản.
- Hình thành các tác phong học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, có

kiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo, có ý chí vượt khó khăn, cẩn
thận, kiên trì, tự tin.
Nhưng trong thực tế có không ít học sinh yếu toán ở các trường Tiểu học
do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan như: học sinh có nhiều lỗ hỏng
kiến thức, tiếp thu kiến thức bài mới chậm, phương pháp học tập chưa tốt,…

II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:

Trường Tiểu học Bình An 3 là một trường thuộc vùng nông thôn có 2 điểm.
Giao thông đi lại khó khăn nhất là về mùa mưa, nhiều em nhà xa (cách trường
trên 5 km), nhiều học sinh dân tộc khi đi học phải qua sông, đi đò. . .làm ảnh
hưởng đến chất lượng học của học sinh.
Đa số phụ huynh thiếu quan tâm đến việc học của con khi ở nhà, phó mặc

2010

Trang:7
2011


cho nhà trường. Một số gia đình gặp nhiều khó khăn về kinh tế nên bắt các em
phải nghỉ học ở nhà để giữ nhà, giữ em. Hoặc cũng có gia đình phải đi làm mướn
xa theo mùa vụ, để các em ở nhà với nội, ngoại nên không kiểm tra được việc học
tập của con, chỉ tin tưởng phó mặc con tư lo,…
Bên cạnh một số phụ huynh có quan tâm đến việc giúp đỡ con học tập
nhưng lại không biết cách hướng dẫn con học ở nhà: Chẳng hạn: khi con không
giải được bài tập thì lập tức làm hộ, chứ không biết cách hướng dẫn gợi ý để con
giải toán. Cũng có gia đình thì lại dạy trước con mình ở nhà, học sinh đã làm sẵn
bài vào vở nháp, đến tiết học các em chép lại chứ không làm theo giáo viên
giảng…


Về học sinh:
Qua khảo sát đầu năm học lớp có: 8 học sinh yếu toán chiếm tỉ lệ 29.6%.
Trong 27 em học sinh của lớp có các dạng yếu như sau:
Yếu về so

Yếu tìm thành

Yếu toán có lời

sánh số

phần chưa biết

văn

Yếu tính toán
27

2010

SL

TL

SL

TL

SL


5

18,5%

4

14.8%

7

TL

SL

TL

25.9%

11

40.8%

Trang:8
2011


Từ đó tôi tìm hiểu nguyên nhân do học sinh có nhiều lỗ hỏng kiến thức, có
em tính toán chậm khi cộng có nhớ thì lại không nhớ, các em tiếp thhu kiến thức
hình thành kĩ năng thao tác chậm, phương pháp học chưa tốt: chưa nắm vững quy

tắc đã vội làm bài tập, không thử lại sau khi làm bài… Từ những nguyên nhân
trên làm ảnh hhưởng không nhỏ đến kết qủa học toán. Cùng với nhiệm vụ cấp
bách của ngành, lương tâm nghề nghiệp của giáo viên, tôi đã có kế hoạch phụ đạo
học sinh yếu ngay từ đầu năm như sau:
III. NHỮNG GIẢI PHÁP:
1. Giải pháp chung:
Điều quan trọng đầu tiên sau khi nhận lớp, tôi đã theo dõi thường xuyên cụ
thể kết quả học tập của học sinh trên lớp nhằm sớm phát hiện các trường hợp học
sinh gặp khó khăn trong học tập. Từ đó tôi đi sâu tìm hiểu cụ thể, phân tích
nguyên nhân, tình hình đối với từng em trong lớp. Tôi phân loại học sinh yếu
kém theo khảo sát đầu năm theo từng nhóm nguyên nhân chủ yếu: nhóm yếu do
phát triển trí tuệ chậm là 2 em, 4 em có kiến thức không vững chắc, mau quên,
nhiều lỗ hỏng, 2 em có hoàn cảnh khó khăn, cả cha và mẹ đều đi làm xa, em phải
sống với ông bà nội. Cũng từ việc nắm nguyên nhân mà ngay từ đầu năm học tôi

2010

Trang:9
2011


đề ra kế hoạch giúp đỡ thích hợp với từng nhóm đối tượng.
Tôi luôn luôn tìm hiểu, áp dụng phương pháp giảng dạy thích hợp để học
sinh nắm tiếp thu kiến thức trọng tâm, đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng trong
từng bài học, vừa sức với từng nhóm đối tượng. Khi giảng dạy tôi luôn chú ý
nhiều đến các em ngay cả khi hình thành kiến thức mới và hướng dẫn cụ thể, chi
tiết mỗi khi học sinh làm bài tập. Những nội dung bài tập dễ tôi thường tạo điều
kiện cho các em được sửa, nói cách làm và tự sửa bài khi sai. Khi giao nhiệm vụ
tôi luôn kiểm tra, sửa chữa những lỗi học sinh thường mắc. Đặc biệt cần khuyến
khích động viên khi các em có những tiến bộ dù rất nhỏ.

Tôi tổ chức cho học sinh khá giỏi giúp đỡ các bạn yếu về cách học, về
phương pháp vận dụng kiến thức như: học nhóm tại nhà đối với những em gần
nhà nhau.
Tổ chức kèm cặp phụ đạo trong 15 phút truy bài (học sinh khá giỏi kiểm tra
những bài tập được giao về xem các em đã làm chưa, nếu làm sai các em sẽ
hướng dẫn cách làm lại để học sinh yếu hiểu và sửa lại bài), kèm 10 phút giờ ra
chơi, 15 phút cuối giờ (Thời gian này chủ yếu là giáo viên hướng dẫn học sinh
hoàn thành các bài tập của tiết toán mới học, do học sinh tiệp thu kiến thức, kĩ

2010

Trang:10
2011


năng giải toán chậm, giao thêm một số bài tập dễ cùng dạng và hướng dẫn để học
sinh làm thêm ở nhà)
Thường xuyên phối hợp với gia đình tạo điều kiện cho các em học tập như:
họp phụ huynh học sinh (một năm khoảng bốn lần) để hướng dẫn cho phụ huynh
biết cách kiểm tra, hướng dẫn con em họ học ở nhà, thông báo kết quả học tập
sau mỗi kì thi. Ngoài ra tôi còn gặp trao đổi riêng với phụ huynh khi nhận thấy
các em có xa sút về kết quả học tập. Đối với những em có hoàn cảnh khó khăn tôi
cũng đến nhà gặp riêng để an ủi, động viên bàn biện pháp khắc phục để con họ
được tới trường đầy đủ, khi thì đề xuất với ban giám hiệu, công đoàn, thư viện
trường giúp đỡ về đồ dùng, tập sách, quần áo,…Ngoài ra tôi còn phát động phòng
trào nuôi heo đất ở chi đội nhằm khuyến khích các em tham gia phong trào tốt,
học có tiến bộ, và các bạn có hoàn cảnh khó khăn, thăm ốm,…
2. Giải pháp cụ thể:
Trước hết bản thân giáo viên phải nắm vững nội dung và khối lượng kiến
thức, kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh trong chương trình toán 3. Muốn vậy,

điều quan trọng là giáo viên phải nghiên cứu kĩ hiểu những tài liệu, văn bản chỉ
đạo của ngành về hướng dẫn thực hiện chương trình, đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ

2010

Trang:11
2011


năng cho từng bài học cụ thể. Trong khi dạy các kiến thức mới tôi cần cho học
sinh nhắc lại các kiến thức cũ có liên quan. Áp dụng các phương pháp dạy học
phát huy tính tích cực vào trong tiết học.
Ví dụ: Khi dạy bài “So sánh các số trong phạm vi 10 000”, tôi cho học sinh
nhắc lại cách so sánh các số có ba chữ số ở lớp 2 bằng một ví dụ cụ thể như: 234
với 235 bằng một số câu hỏi:
+ Số 234 và 352 là số có mấy chữ số? Gồm những chữ số ở hàng nào? Ta so
sánh hàng nào trước? Nếu chữ số hàng trăm bằng nhau thì so sánh hàng nào?... và
làm như vậy để so sánh số có nhiều chữ số ở lớp 3.
Từ đó giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra kết luận so sánh só có nhiều chữ số:
+ Khi so sánh số có nhiều chữ số ta làm như thế nào?( Đếm xem số nào có ít
số hơn thì số đó bé hơn và ngược lại)
+ Nếu hai số có cùng chữ số thì ta làm như thế nào?( Ta so sánh từng cặp
chữ số ở cùng một hàng, kể từ trái sang phải)
+ Nếu hai số có cùng chữ số và từng cặp chữ số cùng một hàng đều giống
nhau thì hai số đó như thế nào?( Bằng nhau)
Đối với nhóm học sinh có nhiều lỗ hỏng kiến thức, trong khi dạy học trên

2010

Trang:12

2011


lớp tôi luôn quan tâm phát hiện những lỗ hỏng nào điển hình thì có kế hoạch phụ
đạo ngay.
Ví dụ 1: Dạng toán chia hết và chia có dư.
Đặt tính rồi tính 32 : 5, học sinh thường đưa ra cách chia sai như:
32

5

7

51

2
Từ cách giải sai của học sinh tôi tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sai lầm đó là
do:
- Không thuộc bảng nhân, bảng chia.
- Không nắm được đặc điểm của phép chia (số dư ở bước 2 không bao giờ
lớn hơn số chia), và không lấy số dư chia thêm một lần nữa.
Hiểu được nguyên nhân, tôi khắc phục dạng toán này như sau:
- Hướng dẫn học sinh ước lượng thương dựa vào bảng nhân.
- Hướng dẫn học sinh nhân nhẩm thương đến 5 x 6 = 30 và 5 x 7 = 35.
- Số 32 có trừ được 35 không? Vậy ta phải bớt thương đi mấy đơn vị? Kết
quả là mấy lần?

2010

Trang:13

2011


- Hướng dẫn học sinh tự nhận thấy cái sai và sửa bài đúng.
32 5
2

6

Ví dụ 2: Dạng tính giá trị biểu thức.
* Biểu thức không có dấu ngoặc, sai của học sinh là:
69 + 20 x 4 = 89 x 4
= 356
* Biểu thức có dấu ngoặc, sai của học sinh là:
( 65 + 15) x 2 = 65 + 30
= 95
Từ phát hiện cách giải sai của học sinh tôi thấy nguyên nhân chính do học
sinh không nắm được quy tắc. Tôi đã trực tiếp hướng dẫn học sinh chữa bài như
sau:
+ Gọi một học sinh khác nhận xét bài làm của bạn.
+ Vì sao bài của bạn làm sai? (do không nhớ cách tính).
- Yêu cầu học sinh làm sai đứng lên kiểm tra lại lời nhận xét của bạn.
+ Biểu thức trên có mấy phép tính? Là phép tính nào? (có hai phép tính, là

2010

Trang:14
2011



phép cộng và phép nhân).
+ Trong biểu thức không có dấu ngoặc ta thực hiện như thế nào?( Thực hiện
phép nhân trước)
+ Trong biểu thức có dấu ngoặc ta làm như thế nào? (Ta thực hiện trong
ngoặc trước).
+ Vậy vì sao bài làm của em sai?
- Yêu cầu học sinh nhắc lại cách tính và sửa bài.
69 + 20 x 4 = 69 + 80
= 149
* Biểu thức có dấu ngoặc.
( 65 + 15) x 2 = 80 x 2
= 160
Ví dụ 3: Dạng tìm thành phần chưa biết.
* Tìm số chia: sai của học sinh là lấy số bị chia nhân với thương.
12 : x = 2
x = 12 x 2
x = 24

2010

Trang:15
2011


* Tìm số trừ: sai của học sinh là lấy số bị trừ cộng với hiệu.
8462 – x = 762
x = 8462 + 762
x = 9224
Từ phát hiện cách giải sai đối với dạng toán này, nguyên nhân chính vẫn là
không hiểu bản chất của phép cộng, phép trừ, không thuộc quy tắc. Khi vận dụng

làm bài tập theo “máy móc” nghĩ rằng cho là phép chia thì đổi lại khi làm là phép
nhân, cho phép trừ đổi lại khi làm là phép cộng. Tôi đã trực tiếp hướng dẫn các
em chữa bài đối với dạng này như sau:
Đối với dạng tìm số chia, tôi ghi bài sai lên bảng lớp, yêu cầu học sinh giải
đúng nhận xét.
Giáo viên

Học sinh

- Em hạy nhận xét bài của bạn.

- Bài bạn làm sai.

- Vì sao bài bạn sai?

- Cách làm của bạn sai.

Yêu cầu học sinh giải sai đứng lên kiểm tra lại lời nhận xét của bạn đúng hay sai
bằng cách đặt câu hỏi:

2010

Trang:16
2011


Học sinh

Giáo viên


- Hãy nêu tên gọi các thành phần và kết 12: là số bị chia.
quả trong phép tính chia:

x: là số chia

12 : x = 2

2: là thương.

Giáo viên ghi:
Số bị chia Số chia

12

:

x

Thƣơng

=

2

Số chia(x) em tìm bằng bao nhiêu?

24

24 so với 12 như thế nào?


24 lớn hơn 12

12 có chia được 24 không?

Không.

12 chia mấy để bằng 2?

6

Muốn tìm số chia ta làm như thế nào?

Muốn tìm số chia ta lấy số bị chia chia
cho thương.

Vì sao bài trên em làm sai?

Không thuộc quy tắc.

Yêu cầu học sinh tự sửa bài.

12 : x = 2
x = 12 : 2
x=6

2010

Trang:17
2011



Với các trường hợp sai đối với dạng tìm thành phần chưa biết, tôi cũng áp
dụng cách sửa bài như trên. Học sinh tự phát hiện cái sai, dẫn dắt học sinh bằng
hệ thống câu hỏi có liên quan, để học sinh nhớ lại kiến thức đã học,vận dụng sửa
bài. Với cách làm đó giúp học khắc sâu kiến thức, nhớ bảng nhân, bảng chia,…
thuộc quy tắc.
Đối với toán có lời văn ở lớp 3 dạng “Bài toán giải bằng hai phép tính”. Khi
dạy giải toán có lời văn, chủ yếu dạy học sinh biết cách giải bài toán (phương
pháp giải toán). Giáo viên không nên làm thay hoặc áp đặt cách giải, mà chỉ cho
học sinh làm mỗi phép tính để tìm ra kết quả. Cố gắng để học sinh tự tìm ra cách
giải bài toán (tập trung vào ba bước: tóm tắt bài toán, để biết bài toán cho biết gì,
hỏi gì, tìm cách giải quyết, thiết lập mối quan hệ giữa các giữ kiện của đề bài với
phép tính tương ứng. Trình bày bài giải, viết câu trả lời phép tính tương ứng và
đáp số). Qua tình hình thực tế tôi thấy học sinh yếu toán lời văn rất nhiều.
Ví dụ: Dạng toán có lời văn:
Bài toán: Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn em 7 tấm bưu ảnh. Hỏi cả hai anh
em có bao nhiêu tấm bưu ảnh?
Học sinh thường đưa ra cách giải như :

2010

Trang:18
2011


Cả hai anh em có số tấm bưu ảnh là:
15 + 7 = 22( tấm)
Đáp số: 22 tấm
Từ cách giải sai trên tôi thấy do các em không đọc kĩ đề bài (chỉ đọc câu hỏi
nên thấy bài hỏi tất cả thì lập tức làm tính cộng), chưa có kĩ năng phân tích đề bài

toán nên không biết cách giải quyết vấn đề. Hiểu được nguyên nhân, tôi khắc
phục sai lầm đối với dạng toán này như sau:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh hiểu đề toán.
Học sinh

Giáo viên

- Anh có bao nhiêu tấm bưu ảnh? - 15
- Em như thế nào so với anh?

- Ít hơn anh 7 tấm.

- Bài hỏi gì?

- Hỏi cả hai anh em có bao nhiêu tấm bưu ảnh?

Bước 2: Hướng dẫn học sinh tóm tắt.
15tấm
Anh:
7tấm

? tấm bưu ảnh

Em:

2010

Trang:19
2011



Bước 3: Hướng dẫn học sinh giải và trình bày bài giải.
Học sinh

Giáo viên

- Để tìm số tấm bưu ảnh của hai anh em ta làm - Lấy số bưu ảnh của anh
như thế nào?

cộng với số bưu ảnh của em.

- Số tấm bưu ảnh của em biết chưa?

- Chưa.

- Để tìm số tấm bưu ảnh của em ta làm tính gì? - Tính trừ.
- Để tìm được số bưu ảnh của hai anh em ta
cần tìm số bưu ảnh của ai?

- Của em trước.

- Yêu cầu học sinh tìm câu lời giải đầu dựa
vào dấu chấm hỏi phần tóm tắt, dựa vào câu
hỏi của bài tìm câu lời giải sau bỏ từ “ hỏi”, “
bao nhiêu” thêm vào từ “ số”, “là”.
Học sinh trình bày bài giải vào vở, giáo viên theo dõi giúp đỡ thêm nếu các
em còn chậm trong qua trình giải.
Sau khi trình bày bài toán đúng cho học sinh so sánh với bài sai để giáo dục,
rút kinh nghiệm. Nhắc nhở các em cần đọc kĩ, phân tích đề rồi mới giải quyết vấn
đề. Nhìn chung mỗi dạng toán học sinh yếu là do nắm kiến thức mới không vững


2010

Trang:20
2011


nên sau mỗi giờ học toán tôi cho các em yếu ghi lại lài toán đơn giản theo từng
nhóm, từng dạng bài để học sinh làm thêm ở nhà. Tôi dành ít thời gian tiết toán
hôm sau để sửa bài cho nhóm học sinh yếu. Trong khi hướng dẫn bản thân giáo
viên phải nhẹ nhàng dẫn dắt để các em dễ nhớ cách làm. Ngoài việc phụ đạo kiến
thức “bị hỏng” tôi còn tạo điều kiện cho các em yếu tích cực tham gia vào các trò
chơi, từ đó tạo không khí vui vẻ, thích học toán.
Qua các cách giải trên tôi đã giúp các em học sinh của lớp nắm vững kiến
thức cơ bản, trọng tâm, đặc biệt là tôi đã giúp các em rèn luyện về phương pháp
học tốt: tính toán cẩn thận, đọc kĩ đề , phân tích đề rồi giải quyết vấn đề, thuộc
quy tắc, bảng nhân, bảng chia,…Giúp các em tự tin hơn khi học toán.
IV. KẾT QUẢ:
Bằng sự nỗ lực của bản thân như: có kế hoạch và phương pháp phụ đạo phù
hợp tôi đã thành công ở lớp 3/3 với kết quả cao. Tất cả 8 học sinh yếu theo khảo
sát đầu năm của lớp đã đạt từ trung bình trở lên, có 3 em đầu năm khảo sát yếu đã
vươn lên khá. 17 học sinh yếu toán có lời văn( theo khảo sát đầu năm) đã có 14
em nắm được cách giải , biết phân tích đề toán và giải được toán có lời văn, còn 3
học sinh dạng toán có hai câu lời giải, bước đầu đã biết cách tìm ra đáp số nhưng

2010

Trang:21
2011



còn lúng túng ở câu lời giải đầu. Nhìn chung học sinh học tập rất tích cực, hứng
thú, chủ động trong việc lĩnh hội tri thức, không khí lớp học sôi nổi, hào hứng.
Các em được tự mình phát hiện tìm tòi cái mới, kiến thức mới, các em cảm
thấy thú vị và thích thú. Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức điều khiển các
hoạt động định hướng, gợi mở, dẫn dắt học sinh lĩnh hội kiến thức mới. Cụ thể
đến học kì 2 tôi vẫn duy trì nề nếp, phương pháp học, quan tâm đến các em học
sinh còn chậm ở trong lớp. Đến giữa học kì 2 lớp chỉ còn 10 em đạt trung bình
môn toán chiếm 37.0%.
Tôi nhận thấy kết quả học tập của học sinh tốt hơn, tỉ lệ học sinh khá, giỏi
tăng lên, tỉ lệ học sinh yếu kém đã được khắc phục. Điều này cho thấy việc nâng
cao hiệu quả môn Toán là rất quan trọng và hết sức cần thiết đối với bậc Tiểu học
nói chung và Toán 3 nói riêng.
IV.KẾT LUẬN:
Trong quá trình vừa nghiên cứu vừa thực hiện, tôi thấy rằng mọi học sinh có
sức khỏe bình thường đều tiếp thu được các tri thức trọng tâm trong chương trình
mà chuẩn kiến thức yêu cầu. Nhưng cũng không phải tất cả các em đều tiếp thu
kiến thức toán học như nhau. Để giúp các em học tốt môn toán hơn đòi hỏi người

2010

Trang:22
2011


giáo viên phải biết:
1. Lập kế hoạch bài học
- Để có được tiết dạy Toán đạt hiệu quả cao , người giáo viên phải có bài
soạn tốt . Bởi thế giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung chương trình và mức độ
cần đạt của từng bài học. Từ đó có kế hoạch bài học chu đáo thể hiện rõ từng hoạt

động học tập ,có chốt kiến thức sau mỗi hoạt động , mỗi bài . Dự kiến sai lầm học
sinh thường mắc phải, để sửa sai kip thời cho từng học sinh . Sự chuẩn bị bài chu
đáo ,kĩ lưỡng giúp giáo viên thêm tự tin .
2. Tổ chức hoạt động lên lớp
- Giáo viên cần khéo léo sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học ,các
hình thức dạy học như dạy học cá nhân , theo nhóm, tổ chức tốt các trò chơi học
tập để dẫn dắt học sinh để các em tự phát hiện , tự giải quyết nhiệm vụ của bài ,
tự chiếm lĩnh kiến thức mới.
- Phụ đạo học sinh yếu từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Giáo viên
cần chú ý đến tính vững chắc của kiến thức. Hướng dẫn học sinh thuộc và biết
vận dụng quy tắc để làm bài tập. Nếu học sinh chưa nhận ra kiến thức đã học
trong bài tập thì giáo viên nên gợi ý, hướng dẫn để học sinh nhớ kiến thức, cách

2010

Trang:23
2011


làm, hoặc có thể nhờ học sinh khác giúp bạn chứ tuyệt đối không được vội làm
thay học sinh.
- Xây dựng tốt nề nếp học toán cho học sinh , luôn động viên khuyến khích
học sinh trong các hoạt động học tập, luôn quan tâm đến mọi đối tượng học sinh
nhất là học sinh yếu .
- Đặc biệt người giáo viên phải yêu nghề, mến trẻ, có tâm huyết với ngành,
có kiến thức kĩ năng. Người giáo viên phải thể hiện hết vai trò trách nhiệm của
mình trong công tác chủ nhiệm thì mới quản lí tốt, có kế hoạch phù hợp với lớp
mình. Từ đó từng bước giải quyết nhiệm vụ năm học đạt hiệu quả cao.
3. Sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả
- Sự chuẩn bị chu đáo đồ dùng dạy học trước mỗi tiết học và biết lựa chọn

từng đồ dùng hợp lí vào các tiết dạy, làm nên thành công của tiết dạy . Kết hợp
sử dụng đồ dùng dạy học hiện đại trong dạy học toán, để các tiết dạy sinh động
hơn, nhẹ nhàng và hiệu quả hơn.
4. Tích cực phối hợp với ban giám hiệu nhà trường hội phụ huynh học
sinh.
- Thường xuyên gặp gỡ phụ huynh học sinh để báo cáo kết quả học tập,

2010

Trang:24
2011


hướng dẫn phụ huynh về cách dạy con học ở nhà.
- Phối hợp vớ nhà trường để thăm hỏi, động viên những học sinh có hoàn
cảnh khó khăn. Từ đó tạo niềm tin cho các em trong khi học toán nói riêng và học
các môn khác nói chung.
Trên đây là vài kinh nghiệm của bản thân mà tôi đã rút ra qua nhiều năm
giảng dạy và thành công ở lớp 3/2 trong năm học 2010- 2011. Tuy kết quả có khả
quan, nhưng không tránh khỏi những khiếm khuyết. Tôi rất mong sự đóng góp ý
kiến của Ban giám hiệu Trường Tiểu học Bình An 3 và các đồng nghiệp để
đề tài mang tính khả thi hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Trân trọng kính trào!
Bình An, ngày 12 tháng 04 năm 2011
Người viết

Nguyễn Thị Minh Nguyệt

2010


Trang:25
2011


×