Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Nghiên cứu sức hấp dẫn của một số loại hình văn hóa phi vật thể ở Huế đối với khách du lịch

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (194.39 KB, 11 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***********
Phan Hạnh Thục

NGHIÊN CỨU SỨC HẤP DẪN CỦA MỘT SỐ LOẠI
HÌNH VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ Ở HUẾ ĐỐI VỚI
KHÁCH DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC
(CH¦¥NG TR×NH §µO T¹O THÝ §IÓM)

Chuyên ngành: Du lịch học
Mã số:

DL 49C 32

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM

Hà Nội, tháng 11 - 2007

QUỐC SỬ


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, du lị ch thực sự trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng hàng đầu đối với
nhiều quốc gia trên thế giới , trong đó có Việt Nam . Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
đị nh: phát triển du lịch thành “ngành kinh tế mũi nhọn”. Bởi du lị ch không chỉ đơn thuần mang lại lợi í ch
kinh tế mà còn mang lại lợi í ch c ả về mặt chí nh trị , văn hoá và xã hội . Đó là phương tiện hữu hiệu nhất
trong giao lưu văn hoá giữa các quốc gia, giữa các dân tộc trên toàn thế giới.
Chúng ta tự hào với sự phong phú và đa dạng của nguồn tài nguyên du lịch đất nước mình . Mỗi


một vùng miền, mỗi một tộc người đều có một nguồn tài nguyên du lị ch đặ c trưng, mà khi kết hợp lại sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch đất nước nói chung và cho du lịch văn hoá nói riêng.
Xứ Huế là mảnh đất được thiên nhiên ưu ái cho sự giàu có về tiềm năng du lịch , đặc biệt là tiềm
năng cho phát triển loại hì nh du lị ch văn hoá . Bản thân trong lòng Huế có đến 2 di sản văn hoá thế giới ,
một là di sản văn hoá vật thể - Quần thể di tích cố đô Huế, một là di sản văn hoá phi vật thể - Nhã nhạc
cung đình Huế. Trong đó , Nhã nhạc cung đình và những di sản văn hoá phi vật th ể chính là “phần hồn”
của Huế, là tất cả những gì tạo nên một xứ Huế quyến rũ , mộng mơ, sâu lắng và trữ tì nh. Đó là niềm tự
hào cho đất nước nói chung, xứ Huế nói riêng và là lợi thế cho ngành du lị ch.
Thế nhưng, chúng ta đã làm được những gì để phát huy giá trị nguồn di sản văn hóa phi vật thể xứ
Huế và khai thác nguồn tài nguyên du lịch đó một cách có hiệu quả? Đó hẳn là câu hỏi trăn tr ở của rất
nhiều người làm du lịch ở nước ta và đó cũng là lí do khiến tác giả chọn đề tài: “NGHIÊN CỨU SƢ́C

HẤP DẪN CỦA MỘT SỐ LOẠI HÌ NH VĂN HÓA PHI VẬT THỂ Ở HUẾ ĐỐI VỚI
KHÁCH DU LỊCH” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cƣ́u
Như tên đề tài luận văn đã nêu , mục đích của đề tài là nghiên cứu sức hấp dẫn của một số loại
hình văn hoá phi vật thể chủ yếu ở Huế để từ đó đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao khả năng thu hút
của chúng đối với khách du lịch.
Để thực hiện được mục đích đó, nhiệm vụ của đề tài là phải đánh giá được toàn bộ nguồn tài
nguyên di sản văn hóa phi vật thể xứ Huế, xác định những loại hình văn hóa chủ yếu và nghiên cứu thực
trạng về sức hấp dẫn của chúng đối với du khách. Trên cơ sở tiềm năng, thực trạng cũng như những yêu
cầu đặt ra đối với việc khai thác nguồn di sản văn hóa phi vật thể xứ Huế, tác giả đề xuất những giải pháp
nhằm nâng cao sức hấp dẫn của chúng, từ đó xây dựng kế hoạch khai thác nguồn tài nguyên du lịch này
một cách có hiệu quả.


3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những di sản văn hóa phi vật thể , phân biết với các di sản văn
hóa vật thể. Trên bình diện chung của nguồn tài nguyên văn hóa phi vật thể, đề tài tập trung nghiên cứu

độ hấp dẫn của một số di sản văn hóa phi vật thể chủ yếu, đó là Nhã nhạc-múa hát-tuồng-lễ hội-các nghi
thức cung đình Huế, ca Huế, các lễ hội dân gian xứ Huế, các truyền thống công nghệ, các sinh hoạt tôn
giáo-tín ngưỡng…và những giá trị văn hóa phi vật thể khác, những gì đã làm nên một phong vị Huế rất
riêng so với các vùng miền khác trong nước.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những di sản văn hóa phi vật thể thuộc Tiểu vùng văn hóa Huế
nằm trong vùng văn hóa Trung Bộ Việt Nam. Đó là khu vực không chỉ có sự thống nhất giữa các địa
phương về mặt địa văn hóa, mà còn nổi bật bởi tính đặc trưng của vùng đất cố đô, nơi mà mọi thành tố
văn hóa đều vừa điển hình cho cả nước, lại vừa được nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống sinh
hoạt cung đình.
4. Phƣơng pháp nghiên cƣ́u

Để thực hiện đề tài này, các phương pháp sau đây đã được vận dụng trong
quá trình nghiên cứu:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu: các tư liệu phục vụ cho đề tài được thu thập từ nhiều
nguồn. Tất cả được tác giả sắp xếp hệ thống lại, có so sánh, đối chiếu, giám định để xác định tính chính
xác của tư liệu.
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống: phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích tìm ra mối
quan hệ tương tác giữa các thành tố văn hóa phi vật thể ở Huế và những yếu tố tạo nên tính hấp dẫn của
một loại hình văn hóa phi vật thể tại tiểu vùng văn hóa này.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: phương pháp này cho phép đi đến những nhận định
chính xác hơn về thực trạng của các loại hình văn hóa phi vật thể ở Huế, từ đó đưa ra những giải pháp cho
việc nâng cao tính hấp dẫn của các loại hình văn hóa đó.
- Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng một số phương pháp khác trong quá trình nghiên cứu như
phương pháp phỏng vấn trực tiếp, phương pháp survey (lấy ý kiến theo các nhóm du khách), phương
pháp thống kê định lượng…để có được cơ sở thực tiễn cho các những lập luận.
5. Đóng góp của luận văn


- Đánh giá một cách có hệ thống nguồn tài nguyên văn hóa phi vật thể ở Huế, trong

đó làm nổi bật những giá trị văn hóa tiêu biểu và đã phân tích ý nghĩa của chúng dưới góc
độ khai thác du lịch.
- Phản ánh được thực trạng của các loại hình văn hóa phi vật thể ở Huế và thực
trạng của việc khai thác du lịch đối với nguồn tài nguyên văn hóa này.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sức hấp dẫn của một số loại hình văn hóa
phi vật thể tiêu biểu ở Huế đối với khách du lịch.
- Góp phần nâng cao nhận thức của mọi người về các giá trị nhân văn và du lịch của văn hóa phi vật
thể ở Huế, từ đó có ý thức trong việc gìn giữ, bảo tồn và khai thác bền vững nguồn tài nguyên vô giá này.
6. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của đề
tài luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Nguồn tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể ở Huế
Chương 2: Thực trạng về sức hấp dẫn của một số loại hì nh văn hoá phi vật thể ở Huế

đối với

khách du lịch.
Chương 3: Những đề xuất nhằm nâng cao sức hấp dẫn của một số loại hì n h văn hoá phi vật thể ở
Huế đối với khách du lịch.


CHƢƠNG 1
NGUỒN TÀI NGUYÊN DU LỊ CH VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ Ở HUẾ

1. TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN DU LỊ CH VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ Ở HUẾ
1.1. Khái niệm di sản văn hoá phi vật thể
Di sản v ăn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lị ch sử , văn hoá , khoa học, được lưu
giữ bằng trí nhớ , chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng , truyền nghề , trình diễn và các hình thức
lưu truyền khác, bao gồm: tiếng nói, chữ viết, các tác phẩm văn hoá, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền

miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, lễ hội, bí quyết công nghệ truyền thống, tri thức về y, dược học cổ
truyền, về văn hoá ẩm thực , về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác . Khái
niệm di sản văn hóa phi vật thể phân biệt với khái niệm văn hóa hữu thể, tuy nhiên, trong nhiều trường
hợp, giá trị văn hóa phi vật thể lại được mang chở, chứa đựng và thể hiện bởi các phương tiện dưới dạng
vật chất, vật thể. Bởi vậy, đây là khái niệm mang tính tương đối, không có sự phân biệt thật rạch ròi với
khái niệm di sản văn hóa hữu thể.
1.2. Tài nguyên du lị ch văn hoá phi vật thể
Các giá trị văn hoá phi vật thể vốn tồn tại như những thành tố tự nhiên của xã hội , khi chưa có
nhu cầu du lị ch thì chúng chưa có tính chất của tài nguyên du lịch.
Khi nhu cầu du lị ch văn hoá phát triển , thực tiễn đòi hỏi phải có sự nghiên cứu đánh giá đầy đủ
các giá trị văn hoá, cả vật thể và phi vật thể. Ham muốn tìm hiểu các giá trị văn hoá của du khách đã tạo
điều kiện thuận lợi cho các giá trị văn hoá trở thành tài nguyên du lị ch.
Điều đó cũng có nghĩa là, không phải bất cứ g iá trị văn hoá nào đều cũng có thể trở thành tài
nguyên du lị ch. Trên thực tế, đó phải là một sự lựa chọn, và có cả một quá trình để chuyển biến từ những
giá trị riêng của văn hoá trở thành những giá trị thực sự mang ý nghĩa du lị ch, đó là tài nguyên du lị ch văn
hoá. Trong trường hợp chúng ta đang đề cập, đó chính là tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể.
1.3. Tổng quan về tài nguyên du lị ch văn hoá phi vật thể Huế
Nhắc đến Huế , trong mỗi người c húng ta ai cũng biết bên c ạnh các giá trị văn hóa hữu thể với
những thành quách, lăng tẩm và các di tích l ịch sử văn hóa khác thì giá trị của những di sản văn hoá phi
vật thể cũng thực sự không kém phần phong phú , đa dạng, bởi đó là thà nh quả của một quá trì nh hội tụ
các giá trị trong nhiều thời kỳ của lịch sử dân tộc tại tiểu vùng văn hóa này.


Thành quả đó bao gồm cả sự hỗn dung và giao thoa văn hoá của người Việt , người Chăm và cá c
dân tộc thiểu số bản đị a; bao gồm cả sự hoà trộn nhuần nhuyễn các yếu tố Trung Hoa, Ấn Độ và các yếu
tố văn hóa ngoại lai khác. Di sản văn hóa đồ sộ đó lại được hun đúc và được nâng lên thành những giá trị
vô giá qua hàng trăm năm xứ Huế đóng vai trò là thủ phủ, là kinh đô của đất nước.
Vì vậy chẳng quá l ời khi cho rằng: di sản văn hoá phi vật thể xứ Huế đó là phần hồn của Huế , là
tất cả những gì làm nên một xứ Huế quy ến rũ, mộng mơ, sâu lắng và trữ tì nh, là những gì tạo nên một xứ
Huế với vẻ đẹp rất riêng, không thể lẫn với bất cứ một khu vực nào trên đất nước.

Tài nguyên du lịch văn hoá phi vật thể đó là những sinh hoạt lễ hội cung đì nh và lễ hội dân gian
vô cùng phong phú, độc đáo và diễn ra dày đặc trong năm.
Tài nguyên đó còn là những truyền thống âm nhạc và vũ đạo đa dạng , độc đáo và hấp dẫn bao
gồm từ lễ nhạc , tuồng cung đì nh, múa hát cung đình , ca Huế cho đến múa hát dân gian , dân ca, hò vè ...
mà tiêu biểu và nổi tiếng nhất đó là Nhã nhạc cung đình đã được UNESCO vinh danh là kiệt tác văn hoá
phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Tài nguyên đó cũng là những di sản nghệ thuật ẩm thực đa dạng với hàng n gàn món đồ ăn thức
uống, từ sản phẩm ẩm thực cung đì nh cho tới các món ăn uống bình dân mang đậm sắc thái Huế , từ món
ăn mặn của người thường đến các món ăn chay của những người tu hành Phật giáo. Nhắc đến món ăn
chay, có lẽ không nơi nào trên đất nước ta có sự phong phú bằng ở x ứ Huế, với số lượng món ăn có thể
tính lên đến hàng nghìn. Số nhà hàng đồ ăn chay ở Huế cũng rất nhiều. Có lẽ cũng chỉ có Huế với những
điều kiện đặc biệt của riêng nó mới có thể bảo tồn được các món ăn cung đình và phát huy đến đỉnh cao
của nghệ thuật ẩm thực như hiện nay.
Tài nguyên đó còn bao gồm cả một kho tàng đầy ắp nào là tục ngữ , ca dao, hò vè, lý ... nào là lối
sống với các chuẩn mực và nghi lễ đa dạng của các phong tục tập quán của người dân xứ Huế , mà mỗi
trội hơn cả vẫn là phong cách “Mệ”, phong cách Huế âm trầm, duyên dáng và trữ tì nh.
Tài nguyên đó cũng chính là giá trị của những di sản ngành nghề thủ công truyền thống nỗi tiếng
của xứ Huế như nghề luyện kim đồng phường Đúc, nghề chằm nón Phủ Cam, nghề rèn Hiền Lương, nghề
kim hoàn Kế Môn , nghề gốm Phước Tí ch , nghề rượu An Truyền ... rồi nữa là các nghề làm diều , thêu
may áo dài, làm kẹo mè xửng, kẹo cau ...
Cũng như tài nguyên du lịch văn hoá hữu thể, các giá trị tài nguyên văn hoá phi vật đang được
bảo tồn, khôi phục và phát huy có hiệu quả . Mong rằng rồi đây những giá trị của văn hoá phi vật thể Huế
không chỉ làm cho du khách đến Huế phải ngạc nhiên và bị lôi cuốn qua các kỳ Festival, mà luôn có cảm
giác như thế bất cứ khi nào nghĩ về Huế, đến Huế.


2. NHƢ̃NG DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ TIÊU BIỂU
Văn hoá phi vật thể là một khái niệm rộng , để chỉ những giá trị văn hoá phi vật thể bao gồm cả
những giá trị truyền thống và những giá trị đương đại . Tuy nhiên, những giá trị truyền thống tỏ ra có ưu
thế hơn so với những giá trị đương đại trong v iệc thu hút khách du lị ch . Sau đây là những di sản văn hoá

phi vật thể truyền thống tiêu biểu ở Huế.
2.1. Nhã nhạc cung đình
Nhã nhạc cung đình là loại hình âm nhạc chính thống và được xem là quốc nhạc sử dụng trong
các cuộc tế, lễ của triều đì nh phong kiến Việt Nam. Các triều đại quân chủ Việt Nam hết sức coi trọng và
phát triển nhac nhạc. Loại hình âm nhạc này trở thành biểu tượng cho sức mạnh của vương quyền và sự
tường tồn, hưng thị nh của triều đại. Nhã nhạc ra đời nhằm phục vụ cho triều đình phong kiến Việt Nam
nên các quy đị nh về quy mô dàn nhạc , cách thức diễn xướng, nội dung bài bản ... đều rất chặt chẽ, phản
ánh tính quy củ qua các đị nh chế thẩm mỹ rất cao. Có khả năng phản ánh tư tưởng, quan niệm triết lý của
chế độ quân chủ lúc bấy giờ.
Nhã nhạc ra đời vào thời Lý (1010 - 1225) và hoạt động một cách quy c ủ vào thời Lê (1427 1788) với quy mô tổ chức hoàn thiện và chặt chẽ . Các tổ chức âm nhạc được thành lập , đặt dưới sự cai
quản của nhạc quan ... Triều Lê đã đị nh ra các loại nhạc như sau : Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc ,
Cửu nhật nguyệt lai trùng nhạc , Đại triều nhạc , Thường triều nhạc , Yến nhạc , Cung trung nhạc . Thời
Nguyễn có nhiều loại hì nh tế lễ cần sử dụng nhã nhạc n hư tế Miếu , tế Giao, lễ đăng quang, lễ tang của
vua, lễ mừng sinh nhật vua, hoàng thái hậu, lễ đón tiếp sứ thần. Trong từng tí nh chất lễ hội có các loại thể
hiện như Đại triều nhạc dùng trong lễ Nguyên đán , lễ Ban sóc ... , Cung trung nhạc biểu diễn trong các
cung hoàng thái hậu và thái hoàng thái hậu ..., Miếu nhạc sử dụng tại các nơi thờ v ua, chúa ..., Ngũ tự
nhạc dùng trong tế Xã Tắc, Tiên Nông...
Vào thời Nguyễn, Nhã nhạc có các bài bản rất phong phú với hàng trăm nhạc chương (lời ca bằng
chữ Hán) được sử dụng trong các loại nhạc này. Các nhạc chương đều do Bộ Lễ biên soạn. Nội dung nhạc
chương phù hợp với từng cuộc lễ của triều đì nh . Tế Giao có 10 nhạc chương mang chữ Thành (thành
công); tế Xã Tắc có 7 nhạc chương mang chữ Phong (được mùa); tế Miếu có 6 nhạc chương mang chữ
Hoà (hoà hợp); tế Lị ch Đại Đế Vương có 6 nhạc chương mang chữ Huy (tốt lành); tế Văn Miếu có 6 nhạc
chương mang chữ Văn (trí tuệ); lễ Đại triều dùng 5 bài mang chữ Bình (hoà bình); lễ Vạn Thọ dùng 7 bài
mang chữ Thọ (trường tồn); lễ Đại Yến d ùng 5 bài mang chữ Phúc (phúc lành) ... Từ cơ sở kế thừa các
triều đại trước, triều Nguyễn đã cho bổ sung thêm nhiều loại dàn nhạc như Huyền nhạc, Ty trúc Tế nhạc,
Ty Chung, Ty Khánh, Ty Cổ. Ban Nhã nhạc thường cử nhạc những lúc vua lên kiệu đi từ điện Cần Chánh
sang điện Thái Hoà để cử hành nghi lễ, hoặc khi vua lên ngự trên ngai vàng. Trong những cuộc lễ kéo dài,


tuỳ theo từng tiết mà tấu nhạc. Sách Đại Nam hội điển ghi : “Tế Giao 9 lần tấu nhạc, tế đàn Xã Tắc 7 lần

tấu nhạc, tế Miếu Lị ch Đại Đế Vương 6 lần tấu nhạc, tế miếu Tiên thánh sư Khổng Tử 6 lần tấu nhạc”.
Vào cuối thời Nguyễn vai trò của triều đình mờ dần (do Pháp đô hộ), thì âm nhạc cung đình cùng
các lễ nghi cũng giảm dần vai trò . Do vậy vào cuối thời Nguyễn , chỉ còn duy trì 2 loại dàn nhạc là Đại
nhạc (trống, kèn, mõ, bồng, xập xoã ) và Tiểu nhạc (trống bản, đàn Tỳ bà, đàn Nhị , đàn Tam, Đị ch, Tam
âm, Phách tiền) gọi chung là nhạc lễ.
2.2. Múa, hát cung đình
Trải qua bao nhiêu biến đổi và thăng trầm của lịch sử , ngày nay múa hát cung đình Việt Nam ở
Huế đã có những thay đổi ít nhiều cả về hình thức lẫn nội dung nghệ thuật . Tuy vậy nó vẫn được lưu giữ
trân trọng đến ngày nay như một món quà quý của

lịch sử, của các thế hệ nghệ sỹ tiền nhân trong và

ngoài cung đình gởi gắm cho các thế hệ mai sau.
Múa hát cung đình H uế bao gồm 11 vũ khúc cung đình vô cùng độc đáo và thu hút người xem
như : Múa bát dật, lục cúng hoa đăng, tam tinh chúc thọ , bát tiên hiến thọ, tứ linh, trình tường tập khánh,
phiến vũ , nữ tướng xuất quân, song quan, tam quố c, tây du, lục triệt hoa mã đăng , với gần 40 khúc múa.
Trong đó, vở tứ linh gồm 4 khúc múa (long vũ, lân mẫu xuất lân nhi, quang vũ, phụng vũ); múa lục cúng
hoa đăng gồm 6 khúc múa và dâng hương , dâng đèn, dâng hoa, dâng trà , dâng trái cây , dâng bánh, vũ
khúc tam quốc - tây du với 18 bài múa. Và trong mỗi khúc múa đều có phần nhạc nền với âm hưởng của
lễ nhạc và lời ca truyền thống, chỉ trừ 4 khúc múa tứ linh có nhạc mà không có lời ca.
Cũng như nhã nhạc cung đì nh (nhạc lễ), ở đây múa hát cung đình H uế cho thấy sự kết hợp đa
dạng, hài hoà giữa nhạc lễ , hát xướng, múa lễ, múa điển tích tuồng và múa dân gian trên một nền nhạc
mang âm hưởng riêng của cung đì nh Việt Nam.
Múa hát cung đình trước đây được triều đình tổ chức vào các dịp đại lễ và yến tiệc, tiếp sứ thần. Vì vậy,
hệ thống các vũ khúc bao gồm cả múa lễ tế, múa chúc tụng, múa trình diễn tích tuồng. Nhiều vở múa có
tính hoành tráng, quy mô diễn viên với số luợng đông. Múa tam quốc - tây du gồm 72 người, múa bát dật


TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Phan Thuận An, Lễ hội cung đình triều Nguyễn nhìn từ góc độ văn hoá và Du lịch ngày nay , Thông
tin, Tháng 5-2002.
2. Phan Thuận An , Từ yến tiệc hoàng cung đến nét tinh tế trong món ăn Huế , tạp chí Sông Hương s ố
150-2001.
3. Phan Thuận An, Phan Thuận Thảo, thử đi tìm định nghĩa về nhã nhạc Việt Nam, Âm nhạc cung đình
Huế- Kỷ yếu hội thảo, Huế 12-2002
4. Dương Văn An, Ô châu cận lục, NXB văn hoá Á Châu, Sài Gòn, 1961.
5. Tôn Thất Bì nh, Nguồn gốc sự hì nh và các giai đoạn biến chuyển ca Huế , tạp chí Sông Hương số 121
(trang 61-69).
6. Tôn Thất Bì nh, Lễ hội dân gian, NXB Thuận Hoá, 2003.
7. Trương Quốc Bì nh, Từ thực tiễn bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hoá phi vật thể, bàn về
việc đăng ký đưa âm nhạc cung dì nh Huế vào danh mục di sản văn hoá thế giới , Âm nhạc cung đì nh
Huế - Kỷ yếu hội thảo, 12-2002.
8. Dương Đì nh Châu, Trần Hoàng Cẩm Lai; chùa ở Huế; tạp chí Sông Hương số 32-1988.
9. Phan Du Du; Di sản phi vật thể xứ Huế; Thế giới di sản, Số 3 - 2006.
10. Phan Tiến Dũng; giữ gì n và phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể; Sông Hương số 4.
11. Bảo Đàn, Lê Đì nh Hùng; Thuyền rồng du lị ch trên sông Hương - Thực trạng và giải pháp ; Hội thảo
khoa học sản phẩm văn hoá và phát triển du lị ch bền vững 2006.
12. Đại Nam Thực Lục chính biên, quyển 1, HN, NXB sử học, tập II, 1963, tr40.
13. Đại Nam Thực Lục chính biên, đệ nhị kỳ, quyển 61, HN, NXB khoa học, tập IX, 1964, tr 282.
14. Nguyễn Khoa Diệu Hà; Thừa Thiên Huế cuối tuần; 13-04-2006.
15. Nguyễn Bích Hà, Âm nhạc trong lễ tế giao triều Nguyễn, Âm nhạc cung đình Huế- kỷ yếu hội thảo,
Huế 12-2002.
16. Phan Thanh Hải; còn rất nhiều việc phải làm cho di sản Huế; Thế giới di sản, số 3-2006.
17. Nguyễn Mạnh Hào; chấm phá về văn hoá Huế; Sông Hương số 151-2001
18. Hoàng Thị Ái Hoa, Lê Thị Như Khuê; Phố đêm ở Huế - cảm nhận của khách du lịch , Hội thảo khoa
học về sản phẩm văn hoá và phát triển du lịch bền vững 2006.
19. Nguyễn Hồng; Festival Huế 2004 có nhiều tour mới lạ.
20. Nguyễn Huy Hồng, Truyền thống sân khấu Huế, sở văn hoá thông tin Bình Trị Thiên, 1986, trang
116.

21. Nguyễn Trọng Huấn; cảm nhận Huế; tạp chí Sông Hương số 138-2000.


22. Đào Hùng; Đầu năm lại bàn về món ăn Huế; Sông Hương số 11-1985.
23. Văn Thị Minh Hương, việc sử dụng thuật ngữ nhã nhạc ở Việt Nam, Âm nhạc cung đình Huế- kỷ
yếu hội thảo, Huế 12-2002.
24. Sông Hương-dòng chảy văn hoá , NXB văn hoá thông tin, 1983-2003
25. Trần Văn Khê ; giữ gì n và phát huy di sản văn hoá phi vật chất của vùng Huế

; Sông Hương số 5 -

1994.
26. Trần Văn Khê; Bách khoa số 101  102 - 1961.
27. Lê Văn Kinh ; Bản tham luận nói về sản phẩm thủ công mỹ nghệ trong phát triển du lịch ; Hội thảo
khoa học : sản phẩm văn hoá và phát triển du lịch bền vững 2002
28. Hoàng Châu Ký, Nghệ thuật Tuồng thế kỷ XIX, nghiên cứu nghệ thuật, số 1, 1963, trang 62-72.
29. Trần Thuỳ Mai; viết về Huế; tạp chí Sông Hương số 18-1986
30. Hà Sâm; Giữ gì n vốn cổ âm nhạc; Huế Xưa 5-2000 (trang 64-71)
31. Vương Hồng Sển; Lai rai nhớ lại những món ăn xứ Huế; Nghiên cứu Huế; tập 4-2002.
32. Trần Thị Thanh; Điện Hòn Chén và các sắc phong của vua triều Nguyễn ; tạp chí sông Hương; số 11995.
33. Tô Ngọc Thanh; Tương đồng và đa dạng; Âm nhạc cung đì nh Huế - Kỷ yếu và hội thảo; 12-2002.
34. Bùi Quang Thắng; Một số giải pháp kinh tế - xã hội nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn
hoá phi vật thể - loại sản phẩm văn hoá độc đáo , Hội thảo khoa học; sản phẩm văn hoá và phát triển
du lị ch bền vững 2006.
35. Trần Đức Thanh; phương pháp luận nghiên cứu khoa học.
36. Trần Văn Thông; Qui hoạch du lị ch; tài liệu lưu hành nội bộ 2003.
37. Trương Thì n; các giải pháp nhằm bảo tồn và làm sống lại các di sản phi vật chất vùng Huế ; tạp chí
Sông Hương 11-1995 (trang 65).
38. Ngô Đức Thịnh, Vùng văn hóa xứ Huế, Văn hoá nghệ thuật số 171,1998.
39. Hoàng Phủ Ngọc Tường; Mấy đặc trưng văn hoá ăn vùng Huế; Sông Hương số 100 -1997.

40. Quốc sử quán Triều Nguyễn, Đại Nam nhát thống chí, tập I( Phạm Trọng Điềm dịch), NXB Thuận
Hoá Huế, 1992.
41. Nguyễn Văn; Đôi điều suy nghĩ về Festival; Huế 01-2004
42. Hồ Vĩ nh; Giữ hồn cho Huế; NXB Thuận Hoá; 2006
43. Trần Đại Vinh, tín ngưỡng dân gian Huế, NXB Thuận Hóa, Huế 1995
44. Philip Kotler, Marketing căn bản( sách dịch), NXB Thống kê, Hà Nội
45. Philip Kotler, Quản trị Marketing( sách dịch), NXB Thống kê, Hà Nội
46. www.Netcodo.com.vn
47. www.Hue.com.vn




×