Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

Quản lý cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh bắc ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.59 MB, 114 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐÀO VĂN ĐƯỢC

QUẢN LÝ CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐÀO VĂN ĐƯỢC

QUẢN LÝ CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - CHI NHÁNH BẮC NINH

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số



: 60.34.01.02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ HỮU ẢNH

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn là trung thực và
chưa từng công bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn

Đào Văn Được

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page i


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
các cá nhân, tập thể để tôi có thể hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này.
Trước tiên, cho phép tôi xin trân trọng cảm ơn thầy cô giáo, cán bộ của Học viện
Nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý
báu và tạo điều kiện học tập cho tôi trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Lê Hữu Ảnh,
Trưởng khoa Kế toán & QTKD, đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, chỉ bảo tận

tình để tôi có thể hoàn thành đề tài của mình.
Trong quá trình thu thập thông tin, tôi còn được Ban lãnh đạo và cán bộ,
nhân viên Ngân hàng Thương mại Cổ phân Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi
nhánh Bắc Ninh đã tạo điều kiện cũng như giúp đỡ nhiệt tình. Vì vậy, tôi rất mong
được gửi lời cảm ơn chân thành của mình tới Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp của
tôi.
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan, khách quan, luận văn
nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự
thông cảm và đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn

Đào Văn Được

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ii


MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục


iii

Danh mục các chữ viết tắt

v

Danh mục các bảng biểu

vi

Danh mục các hình

vii

1 MỞ ĐẦU

1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

2

1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2


2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHO VAY DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

4

2.1 Cơ sở lý luận về cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa

4
4

2.1.2 Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp
nhỏ và vừa

13

2.1.3 Nội dung quản lý cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng
thương mại

29

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

36

2.2.1 Kinh nghiệm và bài học quản lý cho vay của các ngân hàng thương
mại ở Việt Nam

36


2.2.2 Kinh nghiệm và bài học quản lý cho vay của ngân hàng thương mại
một số nước trên thế giới

37

2.2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan

41

3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

44

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

44

3.1.1 Khái quát một số tình hình tỉnh Bắc Ninh liên quan đến hoạt động
kinh doanh ngân hàng

44

3.1.2 Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại cổ phần
Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Chi nhánh Bắc Ninh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

45
Page iii



3.1.3 Đặc điểm hoạt động, cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý

47

3.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần
Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Chi nhánh Bắc Ninh

49

3.2 Phương pháp nghiên cứu

52

3.2.1 Thu thập tài liệu, xử lí số liệu

52

3.2.2 Phương pháp phân tích

53

3.2.3 Chỉ tiêu phân tích

54

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

58


4.1 Thực trạng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV Bắc Ninh

58

4.1.1 Doanh số cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV Bắc Ninh

58

4.1.2 Doanh số thu nợ với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV Bắc Ninh

58

4.1.3 Dư nợ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV Bắc Ninh

59

4.2 Đánh giá hoạt động quản lý cho vay tại BIDV Bắc Ninh đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa

61

4.2.1 Thực trạng quản lý đối tượng cho vay

61

4.2.2 Thực trạng quản lý dư nợ theo phương thức vay và loại hình doanh
nghiệp tại BIDV Bắc Ninh

64


4.2.3 Đánh giá hoạt động quản lý nợ cho vay quá hạn đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV - Bắc Ninh

67

4.2.4 Quản lý cho vay qua đánh giá tín nhiệm đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại BIDV Bắc Ninh

69

4.2.5 Đánh giá về quản lý cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV Bắc Ninh

70

4.3 Một số giải pháp tăng cường quản lý cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại
BIDV Bắc Ninh

85

4.3.1 Định hướng cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV
Bắc Ninh

85

4.3.2 Các giải pháp tăng cường quản lý cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại BIDV Bắc Ninh

88

5 KẾT LUẬN


97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

99

PHỤ LỤC

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

100

Page iv


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Có nghĩa là

BIDV-Bắc Ninh

Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển
Việt Nam, Chi nhánh Bắc Ninh

BIDV Việt Nam

Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển
Việt Nam


DNNVV

Doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNNQD

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

DSCV

Doanh số cho vay

DSTN

Doanh số thu nợ

DPRR

Dự phòng rủi ro

KCN

Khu công nghiệp

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

NHTM


Ngân hàng thương mại

TCTD

Tổ chức tín dụng

TDNH

Tín dụng ngân hàng

TMCP

Thương mại cổ phần

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page v


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số thứ tự

Tên bảng

2.1


Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa

7

2.2

Mô tả hệ thống xếp hạng doanh nghiệp

3.1

Kết quả hoạt động kinh doanh Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư

35

và Phát triển Việt Nam, Chi nhánh Bắc Ninh

50

3.2

Kết quả phát phiếu khảo sát

53

4.1

Tình hình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại BIDV Bắc Ninh

58


4.2

Tình

hình

thu

nợ

vay

doanh

nghiệp

vừa



nhỏ

tại BIDV Bắc Ninh
4.3

59

Tình hình dư nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tại BIDV Bắc Ninh phân
theo thành phần kinh tế


4.5

60

Tình hình dư nợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại BIDV Bắc Ninh
phân theo thời hạn

4.6

62

Tình hình dư nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tại BIDV Bắc Ninh phân
theo tài sản đảm bảo

62

4.7

Dư nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tại BIDV Bắc Ninh

63

4.8

Tình hình dư nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tại BIDV Bắc Ninh phân
theo phương thức cho vay

4.9


65

Tình hình dư nợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Chi nhánh Bắc Ninh theo loại
hình doanh nghiệp, theo phương thức cho vay

66

4.10

Phân loại nợ đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại BIDV Bắc Ninh

67

4.11

Tình hình trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại BIDV Bắc Ninh

4.12

68

Đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp đối với các DNNVV vay vốn tại
BIDV - Bắc Ninh

4.13

69


Kết quả khảo sát ý kiến khách hàng về hoạt động cho vay doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại BIDV - Bắc Ninh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

70
Page vi


4.14

Kết quả khảo sát ý kiến khách hàng về chất lượng cho vay tại BIDV Bắc Ninh

4.15

73

Vòng quay vốn tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại BIDV
Bắc Ninh

4.16

78

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
BIDV Bắc Ninh

79

DANH MỤC CÁC HÌNH

STT

Tên hình

2.1

Quy trình cho vay của ngân hàng thương mại

3.1

Mô hình tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát
triển Việt Nam, Chi nhánh Bắc Ninh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

31
48

Page vii


1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay ở Việt Nam doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tới 97% tổng
số doanh nghiệp, sử dụng 50% lực lượng lao động của nền kinh tế và đóng góp khoảng
40% GDP hàng năm (chinhphu.vn). Bức tranh kinh tế Việt Nam hiện nay với mức độ
lạm phát cao, và nhiều dấu hiệu cho thấy kinh tế đang rơi vào tình trạng đình đốn thì
việc các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang loay hoay tìm lối đi cho sự phát triển của các
doanh nghiệp mình hiện đang phổ biến.
Hiện nay, trong giai đoạn hội nhập sâu rộng và phát triển kinh tế toàn cầu, các

doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng có rất nhiều cơ hội để phát triển nhưng
cũng gặp không ít những thách thức lớn. Để tồn tại và đứng vững trên thị trường đòi
hỏi mỗi doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Muốn làm được điều đó thì
cần giải quyết hàng loạt vấn đề khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải. Trong đó, vấn đề
quan trọng nhất, có tính chất sống còn đối với DNNVV hiện nay chính là nguồn vốn
cho sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trung gian tài chính cung cấp vốn
hiệu quả cho DNNVV. Mặt khác, trong các ngân hàng thương mại, cho vay là một
trong những hoạt động quan trọng nhất, quyết định sự sống còn, hay thịnh vượng,
nó là nhân tố chính mang lại lợi nhuận hay thua lỗ cho các NHTM; sự thành công
hay thất bại của ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào quy mô và chất lượng hoạt động
cho vay. Trong những năm qua, mặc dù các NHTM đã nỗ lực tìm ra các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với thành phần kinh tế này nhưng đây là
một lĩnh vực khá phức tạp nên khi thực hiện còn gặp nhiều khó khăn và bộc lộ
nhiều hạn chế.
Xuất phát từ thực tiễn nói trên và dựa vào kết quả của việc đi sâu tìm hiểu
thực trạng công tác quản lý cho vay của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Bắc Ninh với các DNNVV trong thời gian qua, tôi đã quyết định lựa chọn
đề tài: “Quản lý cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 1


Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Ninh”
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình. Thông qua luận văn này, tôi mong
muốn góp phần tăng cường công tác quản lý và nâng cao hơn nữa chất lượng của
các khoản cho vay đối với DNNVV vì sự phát triển ngày một bền vững của Chi
nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Bắc Ninh (BIDV Bắc Ninh).

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động cho vay đối với các DNNVV tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển, Chi nhánh Bắc Ninh (BIDV Bắc
Ninh) nhằm đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động cho
vay đối với DNNVV của ngân hàng.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý cho vay của ngân hàng
thương mại đối với DNNVV.
- Phân tích thực trạng quản lý hoạt động cho vay đối với DNNVV tại BIDV
Bắc Ninh.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động cho
vay đối với DNNVV của BIDV Bắc Ninh.
1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thực trạng quản lý hoạt động cho
vay tại ngân hàng BIDV Bắc Ninh và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản
lý cho vay đối với DNNVV của ngân hàng.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu thực trạng quản lý và giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng quản lý cho vay tại ngân hàng BIDV Bắc Ninh.
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tiến hành tại ngân hàng BIDV Bắc
Ninh.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


- Phạm vi thời gian: Số liệu nghiên cứu được sử dụng từ năm 2012 đến năm

2014, các giải pháp đến 2020.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 3


2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHO VAY DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1. Cơ sở lý luận về cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại
2.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
2.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
• Khái niệm doanh nghiệp
Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một
doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định với một
giá trị nhất định. Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng mỗi tác giả đứng trên nhiều
quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu. Chẳng hạn:
Xét theo quan điểm luật pháp
“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được
đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.” (Luật
Doanh nghiệp, 2014).
Xét theo quan điểm chức năng
Doanh nghiệp được định nghĩa như sau: "Doanh nghiệp là một đơn vị tổ
chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả
của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị
trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa
giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy (M. Francois Peroux, 2001).
Xét theo quan điểm phát triển
Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát
triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch

và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn
không vượt qua được (D. Larua. A Caillat, 1992).
Xét theo quan điểm hệ thống
Doanh nghiệp được các tác giả nói trên xem rằng doanh nghiệp bao gồm một
tập hợp các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


tiêu. Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp bao gồm 4 phân hệ sau: sản xuất,
thương mại, tổ chức, nhân sự.
Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét
doanh nghiệp dưới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh
nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn
bao quát trên phương diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức,
phát triển đến các mối quan hệ với môi trường, các chức năng và nội dung hoạt
động của doanh nghiệp cho thấy đã là một doanh nghiệp nhất thiết phải được cấu
thành bởi những yếu tố sau đây:
* Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các
chức năng quản lý như các bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận hành chính.
* Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tư, thông tin.
* Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thương mại - mua các yếu tố đầu vào, bán
sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra.
* Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà
nước, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tương lai của doanh nghiệp bằng khoản
lợi nhuận thu được.
Từ cách nhìn nhận như trên có thể hiểu về doanh nghiệp như sau: Doanh
nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật

chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản
phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó
tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân. Tư
cách pháp nhân của một doanh nghiệp là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của
doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng định và xác định.
Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư cách là một thực thể
kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh,
mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu dùng, nghĩa vụ đóng góp với
nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 5


về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi phá sản hay
giải thể.
Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế quốc dân)
gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại.
Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ một ý
chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước) quá trình phát
triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp khác thôn tính.
Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất lượng quản lý của
những người tạo ra nó.
Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương
nhất định, sự phát triển cũng như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó.
• Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ và vừa mang đặc điểm chung của một doanh nghiệp, đó là
tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy

định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (Luật Doanh nghiệp, 2014).
Ngoài ra, DNNVV còn có những nét đặc thù riêng đó là những doanh nghiệp
có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có
thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh
nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh
nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp
nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50
đến 300 lao động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp
nhỏ và vừa ở nước mình. Ở Việt Nam, việc xác định DNNVV tại Nghị định số
56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, DNNVV được định nghĩa như sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo
quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng
nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân
đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là
tiêu chí ưu tiên), cụ thể như bảng 2.1.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


Bảng 2.1. Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ, vừa
Cấp quy mô doanh nghiệp
Siêu
nhỏ
Khu vực

I. Nông, lâm và thủy sản
II. Công nghiệp và xây
dựng

III. Thương mại và dịch
vụ

Vừa

Nhỏ

Số
lao
động
(người)

Tổng
nguồn
vốn
(tỷ
đồng)

Số
lao
động
(người)

Tổng
nguồn
vốn
(tỷ đồng)

Số
lao

động
(người)

< 10

< 20

> 10 - 200

> 20 – 100

> 200 - 300

< 10

< 20

> 10 - 200

> 20 – 100

> 200 – 300

< 10

< 10

> 10 - 50

> 10 - 50


> 50 - 100

(Nguồn: Trích từ Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ)
2.1.1.2. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Những đặc điểm thuộc về thế mạnh
Các DNNVV thường chiếm tỷ trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số
doanh nghiệp. Ở Việt Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì đến nay có gần
500.000 DNNVV, chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế. Các
DNNVV tạo ra 45 đến 50% khối lượng hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đóng góp
20% cho ngân sách nhà nước, thu hút 56% số lao động trong các doanh nghiệp. Đây
là một trong những yếu tố đóng góp tích cực vào an sinh xã hội, xóa đói, giảm
nghèo bởi với tính linh hoạt, các DNNVV có thể đi sâu vào các vùng, miền để tồn tại
và phát triển. Trong một tương lai gần, DNNVV chứ không phải doanh nghiệp lớn sẽ là
nòng cốt của nền kinh tế (Hiệp hội DNNVV Việt Nam, 2012).
Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị
trường với những đặc điểm sau:
• DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh
Với quy mô sản xuất nhỏ nên nhu cầu vốn đầu tư thấp (dưới 10 tỷ đồng), chu
kỳ sản xuất kinh doanh thường ngắn nên khả năng thu hồi vốn rất nhanh góp phần

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7


làm tăng tốc độ vòng quay của vốn, giảm các khoản chi phí vốn mang lại hiệu quả
sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
• DNNVV tồn tại ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế
Nền kinh tế thị trường ở nước ta tồn tại và phát triển bao gồm nhiều thành

phần với nhiều loại hình doanh nghiệp, từ các doanh nghiệp nhà nước, các công ty tư
nhân tới các hợp tác xã. DNNVV được lựa chọn các ngành nghề kinh doanh trong các
lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng... phù hợp quy định của Nhà
nước. Các doanh nghiệp nói chung và các DNNVV nói riêng được kinh doanh bình
đẳng trước pháp luật trong các lĩnh vực của nền kinh tế trên mọi miền đất nước.
• DNNVV có tính linh hoạt và thích ứng cao
Trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển bền vững thì các doanh
nghiệp phải nắm bắt kịp thời các nhu cầu của thị trường. Xuất phát từ đặc điểm có
qui mô sản xuất nhỏ, vốn đầu tư ban đầu không lớn, cơ cấu tổ chức đơn giản, gọn
nhẹ, doanh nghiệp dễ dàng điều chỉnh chuyển hướng sản xuất kinh doanh vào
những ngành nghề khác khi cảm thấy lĩnh vực đó có lợi hơn. Mặt khác, cơ cấu gọn
nhẹ cũng giúp chủ doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc quản lý, giám sát, tiết kiệm
chi phí quản lý, hạn chế sự sai lệch thông tin. Hơn nữa, các DNNVV không gặp
nhiều khó khăn như doanh nghiệp lớn trong việc chuyển đổi địa điểm sản xuất kinh
doanh. Bởi vì các DNNVV thường sử dụng chính những diện tích đất của mình để
làm mặt bằng sản xuất. Ngoài ra, DNNVV có thể nắm bắt được cả những nhu cầu
nhỏ lẻ mang tính khu vực và địa phương. Điều này giúp cho DNNVV khai thác hết
năng lực của mình, đạt tới hiệu quả kinh doanh cao nhất.
• DNNV có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ
DNVVN có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, các mối quan hệ nội bộ không
phức tạp nên dễ dàng trong quản lý, dễ thích ứng vời sự biến động, công tác quản lý
thường trực tiếp và có sự liên kết chặt chẽ giữa người quản lý và người lao động
nên đem lại hiệu quả khá cao.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 8


Những đặc điểm hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa

• Năng lực tài chính thấp
Nhược điểm lớn nhất, dễ thấy nhất và đáng quan tâm nhất của các DNNVV
đó là khả năng tài chính. Việc tiến hành sản xuất kinh doanh của DNNVV chủ yếu
chỉ dựa vào nguồn vốn tự có của một hoặc một số cá nhân. Nguồn vốn này không
đủ để doanh nghiệp có thể đổi mới dây chuyền công nghệ, tăng năng suất, nâng cao
chất lượng sản phẩm... Mặt khác, việc tiếp cận nguồn vốn vay từ các tổ chức tín
dụng còn hạn chế. Nguyên nhân là do ngoài sự yếu kém về quản lý kinh tế thì tài
sản thế chấp không đủ điều kiện, báo cáo tài chính, sổ sách kế toán của doanh
nghiệp không rõ ràng, minh bạch.
• Năng lực quản lý, điều hành thấp
Trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chủ doanh
nghiệp thành lập doanh nghiệp do có sẵn mối quan hệ với các kênh cung ứng với thị
trường. Nhiều chủ doanh nghiệp còn có thói quen điều hành quản trị theo kiểu gia
đình. Việc tách bạch giữa các bộ phận trong doanh nghiệp chưa rõ ràng. Nhiều chủ
doanh nghiệp chưa được đào tạo qua một khóa quản lí chính quy nào, thậm chí
không qua đào tạo nên thiếu hiểu biết về pháp luật, kinh tế... đa số các chủ doanh
nghiệp nhỏ chưa được đao tạo cơ bản đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trương, về
quản trị kinh doanh, họ quản lí bằng kinh nghiệm và thực tiễn là chủ yếu...
• Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế
Do quy mô nhỏ, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ thiết bị công nghệ yếu kém, lạc
hậu nên chất lượng sản phẩm không cao, năng suất lao động thấp. Thêm vào đó, trình
độ tay nghề cũng như khả năng tiếp cận công nghệ mới của người lao động còn hạn
chế. Doanh nghiệp nhỏ và vừa ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao
động có trình độ tay nghề cao do không có khả năng trả lương cao và những chính sách
đãi ngộ hấp dẫn. Ngoài ra, việc tiếp cận thông tin của doanh nghiệp vẫn còn yếu kém
và chưa kịp thời. Tất cả những điều này làm giảm tính cạnh tranh của DNNVV, tạo ra
rào cản làm sản phẩm của doanh nghiệp khó tiếp cận với thị trường, đặc biệt là thị
trường xuất khẩu.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế


Page 9


Như vậy, việc nắm rõ những đặc điểm của DNNVV trong nền kinh tế thị
trường sẽ giúp các định chế tài chính, ngân hàng khai thác được khoảng trống thị
trường, từ đó có thể mở rộng thị trường, hoàn thiện cũng như phát triển sản phẩm,
dịch vụ của mình.
Cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ công nghệ kĩ thuật thường yếu kém, lạc hậu
nhà xưởng, nơi làm việc trực tiếp và trụ sở giao dịch, quản lý của đa phần doanh
nghiệp nhỏ rất chật hẹp. Khả năng liên kết giữa các doanh nghiệp còn thấp.
2.1.1.3. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Thực tế phát triển kinh tế thế giới đã khẳng định DNNVV vẫn giữ một vị trí,
vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy và mở rộng cạnh tranh, đảm bảo ổn
định kinh tế, phòng chống nguy cơ khủng khoảng của một quốc gia. Khu vực
DNNVV được xem là xương sống trong của nền kinh tế ở nhiều quốc gia ở hiện
tại và cả trong tương lai. Đặc biệt, khi cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật - công
nghệ và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển đã tạo điều kiện
cho các DNNVV có nhiều cơ hội tập trung tối đa mọi nguồn lực để nâng cao năng
lực kinh doanh của mình, đáp ứng nhu cầu hội nhập.
Mặt khác, xét trên phạm vi toàn cầu hiện nay tính chất cạnh trạnh giữa các
doanh nghiệp đang chuyển từ cạnh trạnh giá cả sang cạnh tranh về chất lượng và
công nghệ. Sự phát triển của chuyên môn hoá và hợp tác, đã không cho phép một
doanh nghiệp tự khép kín chu trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Mà với mô
hình sản xuất kiểu vệ tinh, trong đó các DNNVV là vệ tinh của các doanh nghiệp
lớn tỏ ra thích hợp hơn. DNNVV ngày càng không thể tan biến trong các tập đoàn
kinh tế lớn và có khả năng mở rộng hợp tác ngày càng tăng.
Thực tế đã chứng minh vai trò quan trọng không thể thiếu được của các
DNNVV trong nền kinh tế, ngay cả ở những nước phát triển cao với những tập đoàn
kinh tế khổng lồ như Mỹ, Nhật Bản… thì DNNVV vẫn được coi là thành phần quan

trọng tạo nguồn lực làm tăng sức sống cho nền kinh tế. DNNVV là một bộ phận
hợp thành quan trọng trong cơ cấu quy mô nhiều tầng của các doanh nghiệp.
Trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam, thì việc phát triển DNNVV
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 10


là rất phù hợp. Bởi vì ngoài vai trò là bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân,
tạo ra công ăn việc làm, góp phần tăng trưởng kinh tế, các DNNVV còn có vai trò
quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xoá đói giảm nghèo và góp phần
giải quyết những vấn đề mang tính chất xã hội.
Trong những năm qua, DNNVV đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc
dân với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực
kinh tế. Cùng với những lợi thế là không đòi hỏi nhiều vốn đầu tư, quản lý đơn
giản, dễ thay đổi linh hoạt theo thị trường, các DNNVV đã và đang phát huy những
mặt tích cực và ngày càng khẳng định được vị thế, vai trò của mình trong nền kinh
tế thể hiện ở các mặt sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút lao động, giải quyết áp lực xã hội về việc
làm, góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ phân bố rộng khắp và khá đa dạng trong nhiều
ngành nghề kinh doanh (phần lớn các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực thương
mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng...) hơn nữa các DNNVV không đòi hỏi trình
độ quá cao nên có khả năng thu hút nhiều lao động, tạo công ăn việc làm và tăng
thu nhập, đảm bảo đời sống cho người lao động, góp phần giải quyết các vấn đề xã
hội của mỗi quốc gia.
Các DNNVV ngày một gia tăng cả về số lượng và chất lượng. Cho nên, nếu
có sự quan tâm hỗ trợ đúng mức của Nhà nước, của các tổ chức kinh tế xã hội thì
khả năng đóng góp của thành phần kinh tế này vào tăng trưởng kinh tế sẽ ngày càng
cao hơn.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa cung cấp các sản phẩm, dịch vụ phong phú đa dạng
đáp ứng các nhu cầu thị trường trong nước cũng như xuất khẩu
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu cuộc sống của con người cũng ngày
càng tăng lên. Với kinh nghiệm và tính đa dạng ngành nghề, các DNNVV có thể
cung cấp những sản phẩm, các dịch vụ tiện lợi cho thị trường, đáp ứng các nhu cầu
dân sinh trong xã hội. Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất hàng thủ công, mỹ

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 11


nghệ, kỹ thuật tinh xảo có thể phân tán rộng đến từng cơ sở, từng hộ gia đình. Đây
là lợi thế của DNNVV so với doanh nghiệp lớn.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng
hoá
Trong xã hội phát triển, sản phẩm hàng hoá sản xuất ra chủ yếu tập trung tại
các khu công nghiệp, các thành phố lớn. Các doanh nghiệp lớn không thể tự tổ chức
riêng mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng hóa. Do lợi thế về quy mô nhỏ của mình,
việc phân phối và điều tiết lưu thông hàng hoá thông qua mạng lưới bán lẻ đối với
các DNNVV rất thích hợp, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh thương mại. Điều
này giúp cho các doanh nghiệp lớn giảm các khoản chi phí vận chuyển, bảo quản
hàng hoá, tạo điều kiện cho người tiêu dùng dễ tiếp cận với sản phẩm, dịch vụ của
nhà sản xuất. Hơn nữa, nó cũng tạo ra tính liên kết giữa các DNNVV với doanh
nghiệp lớn trong tổng thể nền kinh tế.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai
đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
DNNVV góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, tạo ra sự cân đối giữa các thành

phần kinh tế, sự hợp lý giữa cơ cấu giữa các ngành, các vùng kinh tế. DNNVV tạo
công ăn việc làm cho người lao động, giảm bớt áp lực về việc làm cho xã hội.
DNNVV có thể thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh, đổi mới công nghệ,
trang thiết bịtheo nhu cầu ngày càng cao của thị trường, nâng cao khả năng cạnh
tranh của sản phẩm hàng hoá nhờ đó mà nền kinh tế cũng trở nên năng động và nhạy
bén hơn. Ngoài ra, các DNNVV còn là những nhà thầu phụ cho doanh nghiệp lớn.
Chính vì thế, DNNVV được xem như những thanh giảm xóc giữ ổn định nền kinh tế.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tận dụng các nguồn lực một cách hiệu quả
Với quy mô nhỏ vừa phải, yêu cầu vốn đầu tư ban đầu không lớn nên có
nhiều nhà đầu tư muốn tham gia vào khu vưc này. Trong quá trình hoạt động, doanh
nghiệp có thể huy động vốn từ họ hàng, bạn bè... và nhiều nguồn vốn nhàn rỗi khác
từ các tầng lớp dân cư. Số lượng DNNVV đông và phân tán ở nhiều địa phương, vì

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


thế sẽ tận dụng được lao động, nguyên vật liệu, các sản phẩm phụ ở địa phương đó.
DNNVV tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng, thúc đẩy
chuyên môn hóa chi tiết lắp ráp cho một sản phẩm hoàn chỉnh. Một số DNNVV
hoạt động trong các ngành nghề truyền thống như thủ công mỹ nghệ, dệt may. Đây
là điều kiện tốt để tăng cường sản phẩm xuất khẩu, góp phần điều chỉnh cân bằng
cán cân thanh toán quốc tế.
Với vai trò ngày một quan trọng đối với nền kinh tế, các DNNVV rất cần
nhận được sự khuyến khích cũng như hỗ trợ của Chính phủ để khu vực này phát
triển, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Trong thời gian trước mắt, cả doanh
nghiệp và các NHTM đều cần phải nỗ lực hơn nữa để nguồn vốn tín dụng đến được
với các DNNVV, góp phần hỗ trợ đắc lực cho doanh nghiệp trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh.

2.1.2. Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ

và vừa
2.1.2.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
“Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện
thanh toán” (Luật các tổ chức tín dụng, 2010).
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng,
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và
cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Căn cứ vào Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì “Cho vay là hình thức
cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo
thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Hoạt động cho vay của tổ chức tín
dụng (TCTD) theo quy định của pháp luật gồm những yếu tố cấu thành sau:
Thứ nhất, về chủ thể hoạt động cho vay bao giờ cũng gồm hai bên tham gia
là bên đi vay và bên cho vay. Trong đó, bên cho vay là người có tài sản chưa dùng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 13


đến và muốn cho người khác sử dụng để thỏa mãn một số lợi ích của mình. Bên đi
vay chính là những người đang cần sử dụng loại tài sản đó để thỏa mãn nhu cầu về
kinh doanh, tiêu dùng...
Thứ hai, hình thức pháp lí của hoạt động cho vay chính là hợp đồng tín dụng
tài sản. Hợp đồng này được các bên xác lập và thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện
và thống nhất về ý chí, nguyên tắc tự định đoạt...

Thứ ba, sự kiện cho vay được phát sinh bởi hai hành vi căn bản: Hành vi
ứng trước và hành vi hoàn trả một số tiền nhất định là các vật cùng loại. Hành vi
ứng trước tài sản do người cho vay thực hiện còn hành vi hoàn trả được thực hiện
bởi người vay sau đó một khoảng thời gian theo sự thỏa thuận
của hai bên.
Thứ tư, việc cho vay bao giờ cũng dựa trên sự tín nhiệm giữa người cho vay
đối với người đi vay về khả năng hoàn trả tiền vay.
Bên cạnh những dấu hiệu chung về quan hệ cho vay thì hoạt động cho vay
tín dụng của tổ chức tín dụng còn thể hiện những đặc điểm riêng có, đặc thù của
mình, đó là: Việc cho vay của Tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh
doanh thường xuyên, mang tính chức năng. Không những thế, nó còn là hoạt động
kinh doanh có điều kiện, thể hiện: TCTD phải thỏa mãn một số điều kiện nhất
định như phải có vốn pháp định, phải được NHNN cấp giấy phép hoạt động ngân
hàng trước khi tiến hành việc ĐKKD theo quy định của pháp luật. Và ngoài việc
phải tuân thủ các quy định chung của pháp luật về hợp đồng, hoạt động cho vay
của TCTD còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật về ngân hàng, thậm
chí kể cả các tập quán thương mại về ngân hàng.
Theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 có khái niệm về
hoạt động cho vay như sau:
“Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho
khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định
theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Như vậy, cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 14


hoạt động cho vay, ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình

thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xã hội (quỹ
cho vay) để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống.
Cho vay là quyền của NHTM với tư cách là người cho vay (chủ nợ) yêu cầu
khách hàng của mình - người đi vay muốn vay được vốn phải tuân thủ những điều
kiện nhất định, những điều kiện này là cơ sở ràng buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho
người cho vay có thể thu hồi được vốn (gốc + lãi) sau một thời gian nhất định. Để
thu hồi được vốn, các ngân hàng có quyền yêu cầu người đi vay đáp ứng những
điều kiện vay cụ thể dựa trên cơ sở mức độ độ tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau giữa
ngân hàng và khách hàng.
Mặt khác, cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người
sở hữu (NHTM) sang người sử dụng (người vay - khách hàng) sau một thời gian
nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Hay cho vay là
một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và người vay), trong đó một bên
(NHTM) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia (người vay) sử dụng trong một
thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc
và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời hạn đã thoả thuận.
Như vậy, bản chất của cho vay là một giao dịch về tiền hoặc tài sản trên cơ
sở có hoàn trả mà thực chất là sự vay mượn dựa trên cơ sở tin tưởng, tín nhiệm lẫn
nhau. Trong đó, sự hoàn trả là đặc trưng thuộc về bản chất của cho vay, là nguyên
tắc để phân biệt phạm trù cho vay với cấp phát của ngân sách Nhà nước.
2.1.2.2. Phân loại cho vay của ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau (có nhiều loại tín dụng
khác nhau). Việc áp dụng từng loại cho vay tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối
tượng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý tín dụng có hiệu quả và phù
hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín dụng.
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn tín dụng, cần thiết phải phân loại cho
vay. Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế


Page 15


một số tiêu thức nhất định. Nếu việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học sẽ là tiền đề
để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín
dụng. Có nhiều tiêu thức phân loại cho vay, tuy nhiên trên thực tế, người ta thường
phân loại cho vay theo các tiêu thức thời hạn cho vay, theo phương thức cho vay,
theo đối tượng cho vay, theo mục đích sử dụng vốn, theo xuất xứ tín dụng, theo hình
thức bảo đảm tiền vay...
Phân loại cho vay theo thời hạn cho vay
Căn cứ vào tiêu chí này, hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng (TCTD) có thể
phân thành các loại:
• Cho vay ngắn hạn
Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Quyết định số 1627/2001/QĐ - NHNN
ngày 31/12/2001 ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng thì “Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng”.
Như vậy, ta có thể thấy đây là loại hình cho vay có thời gian không quá 1 năm, vì
thế mà mục đích của loại hình cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư
vào tài sản lưu động, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của khách hàng trong hoạt
động kinh doanh hoặc thỏa mãn các nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng trong thời
gian ngắn, cụ thể ở đây là 12 tháng.
• Cho vay trung hạn
Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Quyết định số 1627/2001/QĐ - NHNN
ngày 31/12/2001 ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng thì “Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
đến 60 tháng”. Đây là loại hình cho vay trong đó các bên thỏa thuận thời hạn sử
dụng vốn vay là từ 1-5 năm. Mục đích của loại cho vay này nhằm tài trợ cho việc
đầu tư vào tài sản cố định hay được sử dụng để mua sắm các loại tài sản của khách
hàng trong kinh doanh hoặc thảo mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng...

• Cho vay dài hạn
Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Quyết định số 1627/2001/QĐ –
NHNN ngày 31/12/2001 ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 16


×